Có ý kiến cho rằng nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ TTTT như chỉ định trọng tài viên thì TTTT coi như vô hiệu và tòa án có thẩm quyền thụ lí vụ kiện, kể cả trong trường hợp bên kia v
Trang 1Một số vấn đề cơ bản về thỏa thuận trọng tài trong thương mại quốc tế
Trần Hữu Huỳnh * rọng tài trong thương mại quốc tế là
phương thức giải quyết tranh chấp có
lịch sử phát triển lâu đời Ngày nay,
trong nền kinh tế thế giới với hai đặc
điểm chủ yếu là toàn cầu hóa và tự do
hóa, trọng tài càng được giới kinh doanh
quốc tế thường xuyên sử dụng Họ tăng
cường khai thác các ưu thế truyền thống
của phương thức giải quyết tranh chấp
này đồng thời kết hợp với việc sử dụng
các phương tiện hiện đại của kĩ thuật
thông tin điện tử để nâng cao hiệu quả
của nó Pháp luật trọng tài của nhiều
quốc gia cũng đ> thường xuyên được sửa
đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn
giải quyết tranh chấp hiện nay và xu thế
phát triển của trọng tài trong tương lai
Nhiều vấn đề ngày hôm qua đang còn là
vấn đề tranh luận của giới học thuật thì
hôm nay đ> trở thành các quy định cụ thể
trong pháp luật trọng tài của nhiều nước
Một số vấn đề khác tưởng như không có
gì phát triển hơn thì cùng với thời gian,
đ> có những bổ sung khá cơ bản Thỏa
thuận trọng tài trong thương mại quốc tế
là một trong những vấn đề như vậy
Thỏa thuận trọng tài (TTTT) là thỏa
thuận của các bên có liên quan đưa tranh
chấp đ> hoặc có thể sẽ xảy ra để giải
quyết thông qua phương thức trọng tài
TTTT không thay thế các phương thức
giải quyết tranh chấp tiền trọng tài truyền
thống khác như trung gian, hòa giải Tuy
nhiên, thông qua TTTT, các bên gián tiếp
thỏa thuận khước từ thẩm quyền xét xử
của tòa án quốc gia Như vậy, yếu tố cơ bản nhất trong phương thức trọng tài phải
là yếu tố thỏa thuận Nếu không có thỏa thuận, sẽ không có trọng tài Nếu trọng tài được tiến hành không dựa trên cơ sở thỏa thuận thì trọng tài này bị pháp luật coi là vô hiệu Khi đ> thỏa thuận, các bên phải thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ các thỏa thuận này và không bên nào
được đơn phương thay đổi hoặc vi phạm nghĩa vụ trọng tài Nếu một bên vi phạm, bên kia có quyền yêu cầu tòa án can thiệp buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ hoặc nếu không, tòa án sẽ áp dụng các quy định của pháp luật để cho TTTT
được thực hiện Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ TTTT không dẫn đến chế tài phạt như trong chế tài phạt hợp đồng Có
ý kiến cho rằng nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ TTTT (như chỉ định trọng tài viên) thì TTTT coi như vô hiệu và tòa
án có thẩm quyền thụ lí vụ kiện, kể cả trong trường hợp bên kia vẫn muốn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ý kiến này không phân biệt được sự khác nhau giữa việc kí kết TTTT (tương tự như kí hợp đồng) với việc không thực hiện nghĩa
vụ trọng tài (tương tự như việc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng) Sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng không làm cho hợp
đồng vô hiệu cũng như việc không thực hiện nghĩa vụ trọng tài không làm cho
T
* Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
Trang 2TTTT vô hiệu Thay cho chế tài buộc
thực hiện, phạt hoặc bồi thường thiệt hại
trong hợp đồng thông thường là các quy
định của pháp luật bảo đảm cho TTTT
được thực hiện mà không phụ thuộc vào ý
chí của bên vi phạm Yếu tố thỏa thuận
trong TTTT quan trọng đến mức như một
số luật gia châu Âu cho rằng, nếu giữa
các bên đ> có TTTT kèm theo quy tắc tố
tụng thì trọng tài quốc tế sẽ là quá trình
tự động, độc lập với luật quốc gia ý kiến
này, tuy là thái quá nhưng cũng cho thấy
vai trò thỏa thuận ý chí chọn “quyền lực
tư" trong phương thức trọng tài Đây là
điểm khác biệt cơ bản với phương thức
giải quyết tranh chấp thông qua tòa án,
nơi quyền lực công giữ vai trò chi phối
toàn bộ quá trình tố tụng thông qua các
quy định phần lớn là bắt buộc của pháp
luật công Xét về phạm vi và mức độ chi
phối tiến trình trọng tài, TTTT được
nhiều nhà nghiên cứu coi là "hòn đá
tảng" Xét về ý nghĩa chủ đạo, TTTT
được coi là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt toàn
bộ hoạt động trọng tài, kể từ lúc khởi đầu
trọng tài cho đến khi công nhận và thi
hành phán quyết Trên phương diện lí
thuyết và cả trong thực tiễn áp dụng,
TTTT chiếm vị trí đặc biệt Nhiều công
ước quốc tế về trọng tài (các công ước
Giơnevơ 1923, 1927, Luật mẫu của ủy
ban luật thương mại quốc tế của Liên hợp
quốc - UNCITRAL ) cũng như hầu hết
luật trọng tài các nước trên thế giới đều
có chương riêng về TTTT với các quy
định đầy đủ và chi tiết Điều này cho thấy
TTTT không thể coi là yếu tố riêng biệt,
độc lập với luật quốc tế hoặc luật quốc
gia mà ngược lại, thỏa thuận này phải
được pháp luật quốc tế hoặc quốc gia
điều chỉnh Luật nào điều chỉnh TTTT cụ
thể, điều này phụ thuộc vào ý chí của các bên Còn vì sao đ> có TTTT mà vẫn cần
có pháp luật điều chỉnh thì điều này phụ thuộc vào mối quan hệ giữa quyền tự do của các chủ thể với chính sách công cũng như về điều kiện và khả năng cụ thể của mỗi quốc gia trong việc hỗ trợ và kiểm soát hoạt động trọng tài Bài viết này chủ yếu bàn về TTTT trong mối quan hệ giữa quyền tự do thỏa thuận của các bên với các quy định chung của pháp luật nhằm góp phần làm rõ thêm ý nghĩa của chế
định đang rất cần thiết cho kinh doanh và pháp luật kinh doanh trong điều kiện hội nhập và mở cửa hiện nay
TTTT tồn tại dưới hai dạng đó là điều khoản trọng tài và TTTT riêng biệt Điều khoản trọng tài (ĐKTT) trong hợp đồng
là thỏa thuận giữa các bên hợp đồng chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp có thể xảy ra trong tương lai Điều khoản này thường nằm ở phần cuối của hợp đồng, không phải do nó không quan trọng bằng các điều khoản khác mà có lẽ là do trình
tự đàm phán, sau khi các bên đ> thỏa thuận xong phần lớn các điều khoản chủ yếu khác rồi mới thỏa thuận điều khoản này và thông thường được thực hiện vào lúc muộn nhất của ngày nên nó còn được gọi một cách hình ảnh là “điều khoản nửa
đêm" Do tranh chấp hợp đồng chưa xảy
ra hoặc có thể không bao giờ xảy ra nên
điều khoản trọng tài thông thường là rất ngắn gọn, đôi khi quá đơn giản, ví dụ:
"Trọng tài: Theo quy tắc của ICC; Luật
áp dụng: Luật Việt Nam; Nơi xét xử: Singapore" Mặc dù không ai khuyến khích soạn ĐKTT đơn giản theo kiểu này nhưng với điều khoản như vậy thì việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vẫn
có thể tiến hành được TTTT riêng biệt
được lập khi giữa các bên đ> có tranh
Trang 3chấp xảy ra (có thể là tranh chấp hợp
đồng hoặc tranh chấp ngoài hợp đồng)
Do các bên đ> biết rõ về loại tranh chấp,
tính chất và mức độ của tranh chấp nên
TTTT riêng biệt thường được các bên
soạn thảo một cách chi tiết, cụ thể và do
vậy, thường có hiệu quả hơn Ví dụ, dự
thảo TTTT riêng biệt bao gồm 20 chi tiết
có thể thấy trong cuốn “Luật và thực tiễn
trọng tài thương mại quốc tế “(1) của các
tác giả Alan Redfern, Martin Hunter Tuy
nhiên, đàm phán cho TTTT riêng biệt khi
giữa hai bên đ> có tranh chấp xảy ra
thường phức tạp hơn rất nhiều nếu so với
đàm phán về ĐKTT trong hợp đồng
Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Việt
Nam cho thấy bên vi phạm nghĩa vụ
thường lảng tránh vấn đề này hoặc cố
tình kéo dài thời gian đàm phán để chiếm
dụng vốn hoặc làm mất thời hiệu khởi
kiện và kết quả là nguyên đơn buộc phải
đưa bị đơn ra tòa trong trường hợp hai
bên không đạt được phương thức giải
quyết bằng trọng tài mặc dù nguyên đơn
không muốn như vậy Pháp luật trọng tài
của một số quốc gia, nhất là một số nước
Mỹ Latin hoặc vùng Trung Đông đ>
không thừa nhận tính đương nhiên của
TTTT áp dụng cho các tranh chấp tương
lai mà quy định phải có một số điều kiện
bổ sung Tuy nhiên, trong các công ước
quốc tế về trọng tài hoặc có liên quan đến
trọng tài đ> không có sự phân biệt giữa
TTTT cho các tranh chấp hiện tại và
TTTT cho các tranh chấp tương lai Ví
dụ: Công ước của Liên hợp quốc về công
nhận và thi hành phán quyết trọng tài
nước ngoài (Công ước New York 1958)
chỉ đưa ra khái niệm chung là "thỏa thuận
trọng tài"
Theo pháp luật trọng tài của phần lớn
các nước trên thế giới thì TTTT phải được
lập bằng văn bản Quy định này cho thấy tính chất quan trọng của TTTT, nhất là trọng tài quốc tế Thật vậy, để chứng minh là giữa các bên đ> có TTTT thì không gì thuận lợi và đáng tin cậy hơn là xuất trình văn bản Pháp luật quốc tế và của nhiều quốc gia về trọng tài quan niệm hình thức văn bản theo nghĩa tương
đối rộng Văn bản có thể là ĐKTT trong hợp đồng, TTTT riêng biệt hoặc TTTT
được lập thông qua các hình thức trao đổi thư từ, công văn, qua các phương tiện thông tin điện tử như telex, fax và các phương tiện thông tin điện tử khác Khoản 2 Điều 7 Luật mẫu của UNCITRAL quy định: “TTTT phải được lập thành văn bản Thỏa thuận là văn bản nếu nó nằm trong một văn kiện do các bên kí kết hoặc sự trao đổi qua thư
từ, telex, telegram hoặc các hình thức trao đổi viễn thông khác mà ghi nhận thỏa thuận đó hoặc trao đổi thông qua
đơn kiện và bản tự bào chữa trong đó tồn tại thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không từ chối Sự dẫn chiếu trong một hợp đồng đến một văn kiện chứa đựng một điều khoản trọng tài hình thành thỏa thuận trọng tài với điều kiện hợp đồng này phải là văn bản và sự dẫn chiếu đó là một bộ phận của hợp đồng này" Điều 4 Công ước New York 1958 quy định hồ sơ yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài phải có bản TTTT gốc hoặc bản sao thỏa thuận đó có chứng nhận hợp lệ mà thiếu nó, tòa án sẽ
từ chối công nhận và thi hành phán quyết trọng tài Theo khoản 2 Điều 2 Công ước New York thì văn bản TTTT bao gồm
ĐKTT trong hợp đồng hoặc TTTT được các bên kí kết hoặc được ghi trong các thư tín trao đổi
Một trong những nội dung cơ bản của TTTT là các bên phải thỏa thuận đưa
Trang 4tranh chấp ra trọng tài giải quyết Nhưng
không phải bất kì tranh chấp nào cũng
được phép giải quyết bằng trọng tài hay
nói cách khác, kể cả khi các bên thỏa
thuận chọn trọng tài trên cơ sở hoàn toàn
tự nguyện để giải quyết các tranh chấp
phát sinh giữa họ với nhau thì thỏa thuận
này cũng sẽ bị pháp luật coi là vô hiệu
nếu những loại tranh chấp này không
được pháp luật cho phép giải quyết bằng
trọng tài Với phạm vi rộng hẹp khác
nhau, pháp luật của các nước tuy có
những quy định về việc cho phép các loại
tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài
nhưng cũng có thể thấy một số đặc điểm
chung như sau :
Thứ nhất, pháp luật trọng tài các nước
không liệt kê các loại tranh chấp được
phép giải quyết bằng trọng tài mà chỉ quy
định những loại quan hệ pháp luật nhất
định, nếu có tranh chấp phát sinh thì
không được giải quyết bằng trọng tài
(phương pháp loại trừ ) Ví dụ: Pháp luật
một số nước không cho phép giải quyết
bằng trọng tài các vụ việc hình sự, hành
chính với quan điểm cho rằng đây
thuộc chính sách công của quốc gia hoặc
không cho phép giải quyết tranh chấp về
quyền sở hữu trí tuệ, hợp đồng đại lí độc
quyền, hợp đồng lao động bằng trọng
tài
Thứ hai, pháp luật trọng tài nhiều
nước quy định nguyên tắc cho phép giải
quyết tranh chấp bằng trọng tài dựa trên
đặc điểm của các quan hệ pháp luật mà từ
đó tranh chấp phát sinh Ví dụ: Điều 1
Luật trọng tài của Brazil ngày 23 tháng 9
năm 1996 quy định: "Những người có
khả năng kí kết hợp đồng có thể đưa ra
trọng tài để giải quyết các tranh chấp
liên quan đến các quyền về tài sản mà họ
có quyền quyết định" Theo quy định này
thì các tranh chấp đủ hai điều kiện (thứ nhất, phát sinh từ các quan hệ liên quan
đến quyền tài sản; thứ hai, chủ thể là những người có khả năng kí kết hợp
đồng) đều được giải quyết bằng trọng tài Thứ ba, pháp luật trọng tài của một số nước quy định vấn đề này bằng cách kết hợp các nguyên tắc trên, nghĩa là xác
định trọng tài bằng các quy định cho phép lẫn quy định loại trừ Ví dụ: Luật trọng tài của Trung Quốc quy định mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng hoặc quyền sở hữu giữa các công dân, pháp nhân hoặc các tổ chức khác trên cơ sở bình đẳng có thể được giải quyết bằng trọng tài (Điều 2) đồng thời loại trừ các tranh chấp không được giải quyết bằng trọng tài gồm các tranh chấp liên quan
đến hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ và thừa kế, tranh chấp hành chính (Điều 3) Vấn đề xác định các loại tranh chấp nào có thể (hoặc không thể) giải quyết
được bằng trọng tài có ý nghĩa rất quan trọng đối với các bên trong thực tiễn TTTT dù được các bên tự nguyện kí kết, vẫn có thể bị tòa án (nơi xét xử của trọng tài) tuyên là vô hiệu theo đề nghị của một bên trong TTTT Nếu đề nghị không được
đưa ra tại thời điểm này hoặc tuy được
đưa ra nhưng bị tòa án bác và phán quyết trọng tài vẫn được ủy ban trọng tài tuyên thì phán quyết này có thể bị tòa án (nơi phán quyết được yêu cầu công nhận và cho thi hành) không công nhận với lí do
là TTTT này bị vô hiệu căn cứ vào luật áp dụng mà các bên chọn hoặc nếu không có chỉ dẫn nào về điều này thì theo luật quốc gia - nơi ra phán quyết hoặc theo luật quốc gia - nơi tòa án xét yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết
Trang 5Chủ thể kí kết TTTT cũng là một
trong những vấn đề quan trọng bởi không
phải bất kì ai cũng có thể được kí kết
TTTT cũng như không phải ai cũng được
quyền kí kết hợp đồng Tuy nhiên, những
người được quyền kí kết hợp đồng thì
cũng có nghĩa là họ được quyền kí TTTT
Điều 1 Luật trọng tài Brazil ngày 23
tháng 9 năm 1996 quy định: "Những
người có khả năng kí kết hợp đồng có thể
đưa ra trọng tài để giải quyết các tranh
chấp liên quan đến các quyền về tài sản
mà họ quyết định" Năng lực chủ thể kí
kết hợp đồng được pháp luật quy định
khác nhau Nếu là cá nhân thì phụ thuộc
vào quốc tịch hoặc nơi cá nhân này
thường trú Nếu là doanh nghiệp thì phụ
thuộc vào nơi thành lập hoặc nơi tiến
hành hoạt động kinh doanh Vì không đủ
năng lực chủ thể để kí TTTT, phán quyết
trọng tài có thể bị từ chối công nhận và
thi hành theo quy định tại mục a khoản 1
Điều V Công ước New York 1958 Tuy
nhiên, theo quy định này thì năng lực chủ
thể của các bên được quy định bởi luật áp
dụng mà không phụ thuộc vào luật quốc
tịch và thực tế cho thấy có thể có xung
đột luật trong trường hợp luật quốc tịch
mâu thuẫn với luật điều chỉnh TTTT
Vấn đề mới đây đang là đề tài tranh
luận khá gay gắt trong giới trọng tài học
quốc tế và hiện nay đang được thảo luận
khá sôi nổi trong quá trình soạn thảo
Pháp lệnh trọng tài tại Việt Nam, đó là
mối quan hệ giữa ĐKTT với hợp đồng
chính (hợp đồng có chứa ĐKTT) Quan
điểm chung của giới trọng tài học quốc tế
mà hiện nay đ> được cụ thể hóa thành các
quy định trong pháp luật trọng tài của
nhiều quốc gia là ĐKTT độc lập với hợp
đồng chính, sự vô hiệu của hợp đồng
chính không tự động làm vô hiệu ĐKTT
Sở dĩ phải quy định như vậy là vì nguyên nhân làm cho hợp đồng chính vô hiệu hoặc hết hiệu lực không phải bao giờ cũng trùng với nguyên nhân làm cho
ĐKTT vô hiệu Ví dụ, các trường hợp bất khả kháng kéo dài khiến hợp đồng không thể thực hiện được, các bên phải chấm dứt hợp đồng nhưng ĐKTT vẫn còn hiệu lực để có thể thành lập tổ chức trọng tài xem xét hậu quả pháp lí và nghĩa vụ của các bên và tương tự như vậy, trong trường hợp hợp đồng được các bên thực hiện xong Hợp đồng có thể bị vô hiệu vì đối tượng hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng ĐKTT thì vẫn có hiệu lực Hợp đồng có thể bị vô hiệu từng phần hoặc vô hiệu toàn bộ nhưng trong hai trường hợp này cũng không tự động kéo theo sự vô hiệu của ĐKTT Về lí thuyết, có quy định như vậy thì mới có cơ
sở pháp lí để lập ra ủy ban trọng tài để ủy ban này có thẩm quyền xem xét tính hiệu lực của hợp đồng Pháp luật của nhiều nước cũng như Công ước New York 1958 quy định khi giữa các bên đ> có TTTT thì tòa án sẽ không thụ lí vụ kiện mà chuyển
đến cho trọng tài xét xử trừ trường hợp TTTT này là vô hiệu hoặc không thể tiến hành được Trong trường hợp giữa các bên đ> có TTTT thì tòa án không thể xem xét vấn đề hiệu lực của hợp đồng trước khi xem xét sự vô hiệu hoặc không thể thực hiện được của TTTT căn cứ theo các quy định của pháp luật Tuy nhiên, trong một số trường hợp, sự vô hiệu của hợp
đồng chính sẽ làm cho ĐKTT cũng trở nên vô hiệu, nhất là trong trường hợp nguyên nhân làm cho hợp đồng chính vô hiệu trùng hợp với nguyên nhân làm cho
ĐKTT vô hiệu Ví dụ, trường hợp chủ thể
kí kết hợp đồng không đủ năng lực hành
vi dân sự để kí kết hợp đồng và do vậy
Trang 6cũng sẽ không đủ năng lực hành vi kí kết
ĐKTT
Liên quan tới quan điểm cho rằng
ĐKTT độc lập với hợp đồng chính là
quan điểm về thẩm quyền của thẩm
quyền Theo quan điểm này thì chính ủy
ban trọng tài do các bên thành lập mới có
thẩm quyền xem xét thẩm quyền của
chính mình Quy định tính độc lập của
ĐKTT với hợp đồng chính là để cho ủy
ban trọng tài được thành lập và chính ủy
ban sẽ xem xét mình có thẩm quyền xét
xử tranh chấp hay không Quy định về
tính độc lập của ĐKTT với hợp đồng
chính có trong pháp luật trọng tài quốc tế
và của hầu hết các nước Điều 16 Luật
mẫu của UNCITRAL quy định: "ủy ban
trọng tài có thể quy định thẩm quyền xét
xử của chính mình, kể cả đối tượng tranh
chấp là sự có hiệu lực hoặc không có
hiệu lực của điều khoản trọng tài Vì mục
đích này, điều khoản trọng tài hình thành
như một bộ phận của hợp đồng sẽ được
coi là một thỏa thuận độc lập với các
điều khoản khác của hợp đồng Quyết
định của ủy ban trọng tài về hợp đồng bị
vô hiệu không làm cho điều khoản trọng
tài bị vô hiệu một cách tương ứng" Luật
pháp các nước có những quy định khác
nhau về vấn đề này Có nước quy định
khi một bên khiếu nại về thẩm quyền của
ủy ban trọng tài tới tòa án thì tòa án sẽ
tiến hành xem xét khiếu nại này và yêu
cầu trọng tài tạm đình chỉ việc xét xử chờ
khi có kết quả cuối cùng của tòa án Có
nước thì lại cho phép ủy ban trọng tài vẫn
tiến hành xét xử bình thường trong khi
tòa án xem xét về thẩm quyền của chính
ủy ban trọng tài này Quy định để ủy ban
trọng tài có thẩm quyền xem xét thẩm
quyền của chính mình không có nghĩa là
không có cơ chế giám sát từ phía nhà nước Nhà nước giám sát thông qua quy
định cho phép các bên khiếu nại đưa vấn
đề này ra trước tòa án quốc gia để kiểm tra về thẩm quyền trọng tài như phân tích trên đây Ngoài ra, nguy cơ tái kiểm tra vẫn có thể xảy ra khi bị đơn cho rằng ủy ban trọng tài không có thẩm quyền để không chịu thi hành phán quyết và tòa án
có thẩm quyền, nơi phán quyết được yêu cầu công nhận và thi hành, lại một lần nữa sẽ xem xét vấn đề này theo yêu cầu của bị đơn như quy định tại khoản 1 Điều
5 Công ước New York 1958
Vấn đề vô hiệu của TTTT đ> được bàn trên đây Tuy nhiên, TTTT có thể không vô hiệu nhưng lại không thể thực hiện được hoặc không có khả năng thực hiện (theo như thuật ngữ được dùng tại Công ước New York 1958 là "inoperative
or incapable of being performed") Cho
đến nay, vẫn chưa có một cách giải thích chính thức và có hệ thống về các thuật ngữ này Khoản 3 Điều 2 Công ước New York 1958 quy định: "Tòa án của một quốc gia thành viên, khi nhận được đơn kiện về một vấn đề mà đối với vấn đề đó, các bên đM có thỏa thuận theo nội dung của điều này, sẽ theo yêu cầu của một bên, đưa các bên tới trọng tài, trừ khi tòa
án thấy rằng thỏa thuận nói trên không
có hiệu lực, không thể thực hiện được hoặc không có khả năng để thực hiện" Quy định này, một mặt, tạo điều kiện cho trọng tài được phát triển thông qua cam kết của các quốc gia thành viên Công ước không can thiệp vào vụ việc khi giữa các bên đ> có TTTT, mặt khác, sẵn sàng hỗ trợ trong trường hợp TTTT này có
"khuyết tật" khiến cho việc thực hiện thỏa thuận là không thể được nếu như một trong các bên không có thiện chí
Trang 7thực hiện
Các TTTT có khuyết tật khá đa dạng
Tại Việt Nam, do trọng tài trong thương
mại quốc tế còn khá mới mẻ đối với
nhiều doanh nghiệp, các khuyết tật này
thường gặp dưới các dạng sau đây:
Thứ nhất, ĐKTT trong hợp đồng
không rõ ràng Các bên không thể hiện
được ý chí thực của họ là chọn trọng tài
hay chọn tòa án, ví dụ điều khoản trọng
tài sau: "Tranh chấp phát sinh từ hợp
đồng này sẽ được giải quyết tại tòa án
hoặc bằng trọng tài" Với điều khoản như
vậy cho thấy giữa các bên chưa có thỏa
thuận thực sự bởi lẽ đ> chọn tòa án thì thôi
chọn trọng tài hoặc ngược lại Với điều
khoản như vậy, khi có tranh chấp xảy ra,
một bên đưa tranh chấp ra tòa án trong khi
bên kia lại đưa tranh chấp ra trọng tài, dẫn
đến sự xung đột thẩm quyền
Thứ hai, tuy hai bên đ> chọn trọng tài
để giải quyết tranh chấp nhưng ĐKTT lại
quá đơn giản Ví dụ: "Tranh chấp sẽ được
hai bên giải quyết bằng trọng tài" Vấn đề
chưa được làm rõ ở đây là trọng tài nào,
trọng tài vụ việc (ad-hoc) hay trọng tài
thường trực? Nếu trọng tài vụ việc thì quy
tắc tố tụng áp dụng cho trọng tài này là
quy tắc nào? Nếu là tổ chức trọng tài
thường trực thì đó là tổ chức nào? Để
ĐKTT này được thực hiện, hai bên lại
phải tiếp tục đàm phán và khi tranh chấp
đ> xảy ra, việc đàm phán đó sẽ không dễ
dàng chút nào
Thứ ba, hai bên tuy đ> thỏa thuận
chọn tổ chức trọng tài thường trực nhưng
lại không chọn quy tắc tố tụng của tổ
chức này mà lại chọn quy tắc tố tụng của
tổ chức trọng tài khác Trong thực tế,
điều này gây khó khăn cho việc thực hiện
TTTT, nhất là khi các quy tắc tố tụng này lại không tương đồng với nhau Ví dụ: Hai bên chọn Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) nhưng lại chọn quy tắc
tố tụng trọng tài của Phòng thương mại quốc tế (ICC) để xét xử, mặc dù, theo quy định, VIAC chỉ xét xử các tranh chấp theo quy tắc tố tụng của VIAC
Thứ tư, hai bên chọn tổ chức trọng tài
để xét xử nhưng lại thỏa thuận phán quyết trọng tài không được coi là chung thẩm, mặc dù, theo quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài này thì phán quyết phải là chung thẩm Phán quyết đó, theo thỏa thuận của hai bên, có thể bị kháng cáo trước tổ chức trọng tài khác hoặc trước tòa án quốc gia Trong thực tế, không tổ chức trọng tài nào lại phúc thẩm phán quyết của tổ chức trọng tài khác Pháp luật của hầu hết các nước cũng không cho phép tòa án "xử lại" nội dung nêu trong phán quyết trọng tài Tòa án chỉ có thẩm quyền công nhận hoặc không công nhận phán quyết trọng tài dựa trên cơ sở pháp
lí quy định tại Điều 5 Công ước New York 1958
Trên đây, chỉ là một số trong số những sai sót phổ biến nhất trong thực tiễn soạn thảo ĐKTT cho các hợp đồng mua bán ngoại thương mà các doanh nghiệp Việt Nam thường mắc phải Còn rất nhiều dạng khác nhau của các ĐKTT khuyết tật Vấn đề khó khăn nhất ở đây là
do pháp luật trọng tài chưa hoàn chỉnh nên cách giải quyết không thống nhất, kéo dài, làm tốn kém thời gian và tiền bạc của các bên tranh chấp Hiện nay, do chưa có luật hoặc pháp lệnh về trọng tài nên việc giải quyết ĐKTT khuyết tật còn phụ thuộc nhiều vào quan niệm chủ quan
Trang 8của các thẩm phán Khoản 5 Điều 32
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
kinh tế quy định tòa án từ chối thụ lí vụ
kiện nếu trước đó, các bên đ> thỏa thuận
vụ việc được giải quyết bằng trọng tài
Căn cứ vào quy định không đầy đủ như
vậy, một số tòa án địa phương đ> từ chối
một số vụ kiện với lí do các vụ này đ>
được các bên thỏa thuận trước là giải
quyết bằng trọng tài mặc dù các thỏa
thuận này hoặc không rõ ràng hoặc mâu
thuẫn hoặc không thể thực hiện được
Trong một số trường hợp khác, thay vì
tòa án phải quyết định là ĐKTT này hoặc
bị vô hiệu hoặc không thể thực hiện được
để thụ lí vụ kiện thì tòa lại yêu cầu các
bên hỏi ý kiến của các tổ chức trọng tài
và sau khi các tổ chức này từ chối thụ lí
vì không đúng thẩm quyền thì tòa mới
thụ lí Điều này làm cho vụ kiện bị kéo
dài và tốn kém Một số vụ kiện đ> bị
"treo" như vậy cho đến khi hết thời hiệu
khởi kiện Đây là thực tế cần được xem
xét khi sửa đổi Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án kinh tế và cần được đưa
vào Pháp lệnh trọng tài sắp tới
TTTT hoàn chỉnh sẽ giúp các bên hạn
chế được các rủi ro xảy ra Sự chặt chẽ,
cụ thể của TTTT sẽ hạn chế phần nào sự
vi phạm TTTT của các bên, tạo điều kiện
cho quyền lợi hợp pháp của bên không vi
phạm được bảo vệ một cách có hiệu quả
Một TTTT đầy đủ phải bao gồm nhưng
không giới hạn bởi các nội dung sau:
Hình thức tổ chức trọng tài (vụ việc hoặc
quy chế), quy tắc tố tụng áp dụng cho
trọng tài (không nên để xung đột như đ>
nêu trên), luật áp dụng, địa điểm trọng
tài, ngôn ngữ xét xử
Có TTTT hoàn chỉnh là điều kiện pháp lí rất cơ bản, tạo thuận lợi cho cả tiến trình trọng tài về sau bao gồm từ việc khởi kiện, thành lập ủy ban trọng tài, xét
xử trọng tài cho đến khi yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết Trọng tài sẽ giải quyết rất đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện cho các bên trong trường hợp tất cả các bên đều có thiện chí giải quyết tranh chấp một cách trung thực và hợp tác Trong trường hợp ngược lại, nếu một bên thiếu thiện chí thì pháp luật, thông qua tổ chức có thẩm quyền là tòa án, phải
có các biện pháp hữu hiệu để buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ trọng tài Việc xây dựng Pháp lệnh trọng tài phải thể hiện được yêu cầu này nếu không trọng tài chỉ là giải pháp nửa vời, thiếu hiệu quả, không phát huy được lợi thế truyền thống vốn có của nó Các quy định trong Dự thảo Pháp lệnh trọng tài đang
được soạn thảo ở Việt Nam phải phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam hiện nay, có tính đến sự phát triển của phương thức này trong tương lai đồng thời phải tương thích với thông lệ và tập quán trọng tài quốc tế TTTT - chế định trung tâm trong Pháp lệnh trọng tài cũng phải đáp ứng được các yêu cầu này Có như vậy, trọng tài mới thực sự hấp dẫn các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài có quan hệ kinh tế với Việt Nam, làm tăng thêm sự hấp dẫn của môi trường kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam./
(1) Xem: Alan Redfern, Martin Hunter "Luật và thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế", Nxb Sweet & Maxwell, 1991