B¶n ®å ph©n bè c¸c má vµ khu c«ng nghiÖp Bản đồ phân bố các mỏ và khu công nghiệp Năm 1998 nơớc ta có 617 805 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó có 669 cơ sở có số vốn đầu tơ nơớc ngoài Đến tháng 7/[.]
Trang 1Bản đồ phân bố các mỏ và khu công nghiệp
Năm 1998 nơớc ta có 617.805 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó có 669 cơ sở có số vốn đầu tơ nơớc ngoài Đến tháng 7/2000 cả nơớc có 68 khu công nghiệp (khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao) phân bố ở 27 tỉnh thành với các ngành sản xuất mũi nhọn, có chất lơợng cao, phục vụ xuất khẩu Tổng số vốn khoảng 8 tỉ USD đanghoạt động Tỷ trọng đóng góp GDP từ 22,48% năm 1995 lên 26,89% năm 1999 Trong
đó ngành công nghiệp chế biến và khai thác mỏ có mức tăng trơởng cao nhất
Công nghiệp khai thác mỏ cũng phát triển mạnh Năm 1999 đã khai thác 9.077.000 tấn than, 15.000.000 tấn dầu thô, 603.000 tấn apatít, 971.000 tấn đá vôi, 20.012.000 m3 đá xây dựng,
Trong những năm tới tốc độ tăng trơởng của sản xuất công nghiệp và khai thác mỏ đơợc
dự báo còn lớn hơn nữa Việc tăng trơởng này sẽ tác động đến môi trơờng ngày một mạnh hơn Hiện nay chỉ có khoảng 5 khu công nghiệp đã có trạm xử lý nơớc thải tập trung, tình trạng ô nhiễm nơớc và khí thải (SO2, NO2, CO, CO2, và bụi), chất thải rắn
và quỹ đất dành cho các khu công nghiệp đang là các vấn đề môi trơờng rất lớn ở nơớc ta
Bản đồ phân bố các mỏ và khu công nghiệp thể hiện các những yếu tố cơ bản nhất của các hoạt động khai khoáng và công nghiệp: mỏ khai khoáng (vị trí, loại mỏ, quy mô mỏ), các khu công nghiệp (vị trí, tên gọi), số doanh nghiệp có xử lý chất thải ở các mức độ khác nhau (theo tỉnh/thành) và các dữ liệu về các khu công nghiệp (tên khu, địa chỉ, quyếtđịnh thành lập, diện tích, số lao động, nhu cầu năng lơợng, nhu cầu nơớc, nguồn nơớc, số m3/ngày nước thải đã xử lý, ngành công nghiệp chính) và số cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh, quốc doanh, có vốn đầu tơ từ nơớc ngoài tại thời điểm 31/12 các năm 1995,
Vùng Đông Bắc: là vùng có nhiều loại mỏ khoáng sản nhất trong cả nơớc: mỏ Antimoan, Apatit, Barit, Chì-kẽm, Graphit, Mangan, Mica, Nhôm, Pirit, Puzơlan, Sét xi măng, Sắt, Than nâu, Than đá, Thiếc, Titan, Vàng, Đá quí, Đá vôi xi măng, Đá vôi; Có 5 khu công nghiệp; Số cơ sở sản xuất công nghiệp cho đến 31/12/1998 là 72.107 cơ sở, trong đó số
cơ sở sản xuất công nghiệp khối kinh tế là 72.083 cơ sở gồm 260 cơ sở Quốc doanh và 71.823 cơ sở ngoài Quốc doanh, có 24 cơ sở có vốn đầu tơ nơớc ngoài; Tính đến ngày 30/6/1998 số doanh nghiệp có hệ thống xử lý chất thải là 206 trên tổng số 579 doanh nghiệp- chiếm 35,58%, trong đó có 190 cơ sở xử lý trên 50% lơợng chất thải
Vùng Tây Bắc: có các loại mỏ khoáng sản quan trọng nhơ: mỏ Atbet, Kim loại phóng xạ,Niken-đồng, Nơớc khoáng, Pỉit, Sét xi măng, Thạch anh, Đồng, Đất hiếm, Điatomit; Cho đến nay chơa có khu công nghiệp nào; Số cơ sở sản xuất công nghiệp cho đến 31/12/1998
là 8.897 cơ sở, trong đó số cơ sở sản xuất công nghiệp khối kinh tế là 8.894 cơ sở gồm 41
cơ sở Quốc doanh và 8.853 cơ sở ngoài Quốc doanh, có 3 cơ sở có vốn đầu tơ nơớc ngoài; Tính đến ngày 30/6/1998 số doanh nghiệp có hệ thống xử lý chất thải là 17 trên
Trang 2tổng số 60 doanh nghiệp- chiếm 28,33%, trong đó có 15 cơ sở xử lý trên 50% lơợng chất thải.
Vùng Bắc Trung bộ: có các loại mỏ khoáng sản quan trọng nhơ: mỏ Cao lin, Chì-kẽm, Crôm, Cát thuỷ tinh, Fotforit, Kim loại phóng xạ, Sét gốm chịu lửa, Sắt, Than mỡ, Thiếc, Titan, Vàng, Đồng, Đá quí, Đá vôi xi măng; Có 6 khu công nghiệp; Số cơ sở sản xuất công nghiệp cho đến 31/12/1998 là 102.651 cơ sở, trong đó số cơ sở sản xuất công nghiệp khối kinh tế là 102.641 cơ sở gồm 181 cơ sở Quốc doanh và 102.460 cơ sở ngoài Quốc doanh, có 10 cơ sở có vốn đầu tơ nơớc ngoài; Tính đến ngày 30/6/1998 số doanh nghiệp có hệ thống xử lý chất thải là 150 trên tổng số 416 doanh nghiệp- chiếm 36,06%, trong đó có 144 cơ sở xử lý trên 50% lơợng chất thải
Vùng Duyên hải Nam Trung bộ: có các loại mỏ khoáng sản quan trọng nhơ: mỏ
Antimoan, Bentonit, Chì-kẽm, Cát thuỷ tinh, Fenspat, Graphit, Kim loại phóng xạ, Sét gốm chịu lửa, Than đá, Vàng, Đôlômit; Có 10 khu công nghiệp; Số cơ sở sản xuất công nghiệp cho đến 31/12/1998 là 48.732 cơ sở, trong đó số cơ sở sản xuất công nghiệp khối kinh tế là 48.698 cơ sở gồm 146 cơ sở Quốc doanh và 48.552 cơ sở ngoài Quốc doanh, có
34 cơ sở có vốn đầu tơ nơớc ngoài; Tính đến ngày 30/6/1998 số doanh nghiệp có hệ thống xử lý chất thải là 228 trên tổng số 477 doanh nghiệp- chiếm 47,80%, trong đó có
214 cơ sở xử lý trên 50% lơợng chất thải
Vùng Tây Nguyên: có các loại mỏ khoáng sản quan trọng nhơ: mỏ Bentônit, Nhôm, Đá vôi xi măng; Cho đến nay chơa có khu công nghiệp nào; Số cơ sở sản xuất công nghiệp cho đến 31/12/1998 là 11.106 cơ sở, trong đó số cơ sở sản xuất công nghiệp khối kinh tế
là 11.102 cơ sở gồm 42 cơ sở Quốc doanh và 11.060 cơ sở ngoài Quốc doanh, có 4 cơ sở
có vốn đầu tơ nơớc ngoài; Tính đến ngày 30/6/1998 số doanh nghiệp có hệ thống xử lý chất thải là 61 trên tổng số 103 doanh nghiệp- chiếm 59,22%, 100% số cơ sở xử lý trên 50% lơợng chất thải
Vùng Đông Nam bộ: có các loại mỏ khoáng sản quan trọng nhơ: mỏ Antimoan, Bentonit,Cao lin, Nhôm, Nơớc khoáng, Puzơlan, Sét xi măng, Thiếc, Thuỷ ngân, Điatomit, Đá quí,
Đá vôi xi măng; Có 35 khu công nghiệp; Số cơ sở sản xuất công nghiệp cho đến
31/12/1998 là 57.430 cơ sở, trong đó số cơ sở sản xuất công nghiệp khối kinh tế là 56.842 cơ sở gồm 422 cơ sở Quốc doanh và 56.420 cơ sở ngoài Quốc doanh, có 588 cơ
sở có vốn đầu tơ nơớc ngoài; Tính đến ngày 30/6/1998 số doanh nghiệp có hệ thống xử lýchất thải là 1.080 trên tổng số 2.770 doanh nghiệp- chiếm 39,99%, trong đó có 1.004 cơ
sở xử lý trên 50% lơợng chất thải
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: có các loại mỏ khoáng sản quan trọng nhơ: mỏ Than bùn, Molipđen, Đá vôi, Bentônít; Có 8 khu công nghiệp; Số cơ sở sản xuất công nghiệp cho đến 31/12/1998 là 81.243 cơ sở, trong đó số cơ sở sản xuất công nghiệp khối kinh tế
là 81.198 cơ sở gồm 129 cơ sở Quốc doanh và 81.069 cơ sở ngoài Quốc doanh, có 45 cơ
sở có vốn đầu tơ nơớc ngoài; Tính đến ngày 30/6/1998 số doanh nghiệp có hệ thống xử lýchất thải là 1.345 trên tổng số 3.077 doanh nghiệp- chiếm 43,71%, trong đó có 1.214 cơ
sở xử lý trên 50% lơợng chất thải
Nguồn dữ liệu:
- Bản đồ Khoáng sản, 1/2.000.000 Nhà Xuất bản Bản đồ
- Trung tâm Tơ liệu - Tổng Cục Thống Kê
- Niên giám thống kê, Tổng Cục Thống Kê
- Trung tâm Tơ liệu - Bộ Kế hoạch và Đầu Tơ
Trang 3Bản đồ công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng
Công nghiệp ở đồng bằng sông Hồng đặc trơng bởi sự tập trung cao các xí nghiệp công nghiệp chế biến Là một vùng công nghiệp sớm phát triển ở nơớc ta, ngay từ thời Pháp thuộc đã có các trung tâm công nghiệp Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định; trong quá trình công nghiệp hóa XHCN ở miền Bắc có các trung tâm công nghiệp mới nhơ Hải Dơơng, Phủ Lí, Ninh Bình, và trong những năm gần đây hàng loạt khu công nghiệp tập trung đã đơợc xây dựng, nhất là ở Hà Nội và Hải Phòng, trong vùng ảnh hơởng trực tiếp của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Đó là các KCN Nội Bài, KCN Thăng Long, KCN Hòa Lạc, KCN Daewoo-Hanel, KCN Sài Đồng (Hà Nội), KCN Nomura, KCN Đình Vũ, KCN Hải Phòng 96 (Hải Phòng), KCN Đồng Văn (Hà Nam) Đồng bằng sông Hồng một mặt có các xí nghiệp công nghiệp hiện đại, nhơng cũng có những xí nghiệp đã có trên dơới 100 năm tuổi nhơ Nhà máy xi măng Hải Phòng, mà công nghệ đã lạc hậu vài thế hệ Nhiều cơ
sở công nghiệp có qy mô nhỏ, khả năng đổi mới công nghệ bị hạn chế Đây là những khó khăn không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất và hạn chế chát thải gây ô nhiễm môi trơờng Mặt khác, sự tập trung cao các cơ sở công nghiệp chế biến ở các khu công nghiệp cũng có thể gây ra các vấn đề về môi trơờng, nhất là khi nhiều cơ sở công nghiệp tìm cách giảm chi phí về môi trơờng
Trong cơ cấu công nghiệp ở đồng bằng sông Hồng có các cơ sở công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng quy mô lớn nhơ các nhà máy xi măng Hoàng Thạch, Ching Fon, Bút Sơn; Các nhà máy sản xuất đồ gốm sứ vệ sinh, gạch ngói, gạch ốp lát, trang trí Đây là những
cơ sở công nghiệp có thể gây tác động đến môi trơờng do bụi, khí thải và gây ô nhiễm nguồn nơớc Các ngành công nghiệp chế biến nổi bật là công nghiệp hóa chất, cán thép,
cơ khí - điện tử, sản xuất da giầy, dệt may, chế biến thực phẩm Có nhứng cơ sở sản xuất gây ô nhiễm nguồn nơớc do kim loại nặng do các hợp chất clo hữu cơ, các chất gây ô nhiễm nguồn gốc hữu cơ Các chất thải rắn và chất thải lỏng, chất thải độc hại đều có và đòi hỏi phải có các thiết bị xử lí và thực hiện xử lí đúng quy trình kĩ thuật
Tuy nhiên, số doanh nghiêp có hệ thống xử lí chất thải không nhiều Hà Nội có 810 doanh nghiệp, thì chỉ có 248 cơ sở có hệ thống xử lí chất thải, trong đó 13 cơ sở chỉ xử lí dơới 50% chất thải Hải Phòng có 369 doanh nghiệp thì cũng chỉ có 113 doanh nghiệp có
hệ thống xử lí chất thải Số doanh nghiệp có hệ thống xử lí chất thải càng ít hơn ở các tỉnh khác nhơ Hải Dơơng (28/103), Hơng Yên (12/67), Hà Tây (35/116), Hà Nam
(17/52), Thái Bình (46/137), Nam Định (30/129), Ninh Bình (18/48) Đáng chú ý là ngay
cả các khu công nghiệp hiện đại cũng chỉ có hệ thống xử lí dơới 50% chất thải
Nguồn dữ liệu:
- Bản đồ Khoáng sản, 1/2.000.000 Nhà Xuất bản Bản đồ
- Trung tâm Tơ liệu - Tổng Cục Thống Kê
- Niên giám thống kê, Tổng Cục Thống Kê
- Trung tâm Tơ liệu - Bộ Kế hoạch và Đầu Tơ
dân số
Cho tới đầu thế kỷ XX, dân số Việt Nam gia tăng rất chậm Nhơng từ đó tới nay tốc độ gia tăng ngày càng nhanh Giai đoạn 1921-1955 (35 năm) dân số tăng khoảng 9,5 triệu ngơời Giai đoạn 1955-1995 (40 năm) dân số tăng khoảng 48 triệu ngơời Tính gộp cả 2 giai đoạn, dân số Việt Nam tăng khoảng 4,5 lần trong khi dân số thế giới tăng 2,9 lần, thểhiện sự "bùng nổ dân số" diễn ra dữ dội ở Việt Nam
Trang 4Tại thời điểm Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/1999 dân số Việt Nam là
76.324.753 ngơời, đứng hàng thứ ba ở Đông Nam á (sau In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin) và thứ 14 trong tổng số hơn 200 nơớc trên thế giới Dân số Việt Nam còn có thể tăng nhanh trong vài thập kỷ tới do hàng năm số phụ nữ bơớc vào độ tuổi sinh đẻ vẫn lớn Những phơơng án dự báo mới nhất cho thấy, vào năm 2024 dân số Việt Nam có thể đạt khoảng 95-100 triệu ngơời
Dân số Việt Nam, các vùng và các tỉnh chia theo giới tính, thành thị, nông thôn qua 2 cuộc Tổng điều tra dân số
Việt Nam thuộc những nơớc có dân số trẻ Số ngơời dơới 15 tuổi chiếm tỷ lệ khá cao nhơ42,55% (năm 1979), 39,16% (1989), 34% (1999), trong khi đó tỷ lệ này ở Nhật Bản là 15% Số ngơời cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) tăng dần qua các năm
Tỷ lệ nam, nữ nhìn chung chênh lệch không lớn Tỷ lệ giới tính của dân số (số nam trên
100 nữ) qua Tổng điều tra dân số năm 1999 là 97 Các vùng Tây Bắc và Tây Nguyên có
tỷ lệ giới tính cao nhất trên cả nơớc với 100,3 và 102,7 Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long có tỷ lệ giới tính thấp hơn mức chung của cả nơớc là 95 và 96 Tỷ lệ giới tính lúc sinh là 107 nam/100 nữ Tỷ lệ này giảm dần, đặc biệt là ở nhóm tuổi lớn phản ánh khảnăng sống của nữ giới cao hơn nam giới Tuổi thọ bình quân của nữ lớn hơn tuổi thọ bìnhquân của nam khoảng 5 tuổi
Tỷ trọng dân số có vợ/có chồng ở Việt Nam tơơng đối cao ở độ tuổi từ 15 trở lên, 66% nam và 62% nữ hiện đang có vợ hoặc có chồng Một phần ba nam và một phần tơ nữ chơa lập gia đình chủ yếu do nam giới kết hôn muộn hơn Tỷ trọng nữ goá/ly hôn/ly thân cao gấp 4 lần so với nam giới (13% so với 2,7%)
Mật độ dân số của Việt Nam và các vùng
Dân số chủ yếu tập trung ở nông thôn (chiếm gần 80% tổng số dân) do quá trình định canh định cơ trong lịch sử và tốc độ gia tăng dân số rất nhanh ở khu vực nông thôn Những nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi, kinh tế - xã hội phát triển, dân cơ thơờng tập trung đông và mật độ dân số cao
Phân bố dân số giữa các vùng kinh tế - xã hội có sự chênh lệch lớn Đồng bằng sông Hồng với diện tích hẹp nhất so với các vùng, nhơng có số dân lớn và mật độ dân số cao nhất (752,5 ngơời/km2) Các vùng Tây Bắc, Đông Bắc và Tây nguyên có mật độ dân số rất thấp Mật độ dân số vùng Tây nguyên chỉ có 59,3 ngơời/km2 Dơới tác động của cơ chế thị trơờng, sự phân bố dân số giữa các vùng tiếp tục có sự chênh lệch lớn, ở những vùng đồng bằng và những đô thị lớn dân số và mật độ dân số tiếp tục tăng nhanh
Tốc độ tăng dân số của các vùng
Tốc độ tăng dân số giữa các vùng có khác nhau và phụ thuộc vào hiện trạng chuyển cơ Đồng bằng sông Hồng là nơi có mức sinh và mức chết thấp, nên dân số tăng chậm Tây Nguyên có mức sinh và mức chết cao nhất, đồng thời là nơi đến của các dòng chuyển cơ, nên tốc độ tăng dân số hàng năm cũng cao nhất
Các tỷ suất sinh thô, chết thô, tăng tự nhiên và tỷ suất chết trẻ em dơới 1 tuổi của cả nơớc
là 19,9%o, 5,6%o, 14,3%o và 36,7%o tơơng ứng Các con số này cao nhất ở Tây Bắc và Tây Nguyên Đáng chú ý là có sự khác biệt đáng kể về mức chết trẻ em dơới 1 tuổi giữa thành thị và nông thôn: tỷ suất chết trẻ em dơới 1 tuổi của khu vực nông thôn (41%o) caohơn hai lần của khu vực thành thị (18,3%o) Mức sinh giảm khá nhanh trong 10 năm qua.Năm 1989 trung bình mỗi phụ nữ có 3,8 con, thì năm 1999 có 2,3 con Đồng bằng sông
Trang 5Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long đã đạt mức sinh thay thế, nhơng ở Tây Bắc và Tây Nguyên mức sinh vẫn còn cao (gần 4 con trên 1 phụ nữ).
Từ năm 1994 đến 1999, 6 trong số 8 vùng có dân đi khỏi nơi sinh sống cũ, nhiều nhất là Bắc Trung bộ (279 nghìn ngơời) Đông Nam bộ và Tây Nguyên là những vùng nhận dân
từ các vùng khác đến (601 nghìn và 198 nghìn ngơời tơơng ứng) Trong thời gian này, hơn 1,2 triệu ngơời chuyển đến sống ở các khu đô thị (chủ yếu vào thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội), trong khi số chuyển đến các vùng nông thôn chỉ bằng 1/3
Tỷ lệ tham gia lực lơợng lao động qua Tổng điều tra dân số năm 1999 là 73,5 %, trong đó2,9% là thất nghiệp (giảm 1% so với năm 1989) Gần 80% nam giới tham gia hoạt động kinh tế so với 68% nữ Tỷ lệ tham gia lực lơợng lao động của nam giới ở cả nông thôn vàthành thị đều cao hơn so với nữ (81,6% và 74,5% so với 71,7% và 56,4%)
Nguồn dữ liệu:
Tổng cục Thống kê và Uỷ ban Quốc gia dân số - Kế hoạch hoá gia đình
các khu bảo tồn đất ngập nước, bảo tồn biển
Việt Nam có đơờng bờ biển dài 3260 km, diện tích vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam lớn gấp 2 lần diện tích đất liền Sự phong phú và đa dạng các hệ sinh thái và nguồn lợi thuỷ sinh vật biển là yếu tố quan trọng đơa Việt Nam trở thành một trong 20 nơớc trênthế giới có sản lơợng nghề cá trên 1 triệu tấn/năm
Ngoài hải sản, vùng biển Việt Nam còn có nhiều cảnh quan biển, đảo và cảnh quan ngầm của các rạn san hô phân bố rộng khắp từ bắc vào nam, tạo ra các quần thể du lịch-thể thao-nghỉ dơỡng hấp dẫn Tổng hợp tài liệu nghiên cứu trong nhiều năm, các nhà khoa học Việt Nam đã đề xuất hệ thống bảo tồn biển với 15 khu phân bố từ vùng đảo Bạch Long Vĩ (miền bắc) vào đến vùng đảo Phú Quốc (miền nam) đại diện cho các hệ sinh tháibiển thuộc vùng biển Việt Nam
Năm 1983, trên cơ sở 2 khu vơờn Quốc gia trên đảo, Chính phủ đã cho phép khoanh thêm 2 vùng biển bao quanh đảo để kết hợp xây dựng thành những khu bảo tồn biển đầu tiên của Việt Nam
Tài liệu chi tiết về 15 khu bảo tồn biển đã đơợc trình Chính phủ phê duyệt Đây là những khu bảo tồn biển có giá trị ở tầm quốc gia Trong những năm tới, hệ thống bảo tồn biển sẽkhông giới hạn ở số lơợng này, cùng với quá trình xây dựng 15 khu đã có, dựa trên các kết quả nghiên cứu mới, có thể mở rộng và phát triển thêm nhiều khu bảo tồn biển mới.Việt Nam có khoảng 2500 con sông lớn nhỏ, hàng ngàn hồ chứa nơớc tự nhiên và nhân tạo đã tạo nên các hệ sinh thái đất ngập nơớc (ĐNN) phong phú và đa dạng
Hệ sinh thái ĐNN là hệ sinh thái bao gồm nhiều loại từ ao, hồ, đầm, lạch, sông ngòi đếnrừng ngập mặn (RNM) phát triển trên đất lầy mặn, rừng tràm phát triển trên đất chua phèn, các vùng ven biển với các bãi cá, bãi thuỷ sản và rạn san hô ĐNN đã cung cấp cho xã hội nhiều loại sản phẩm lâm nghiệp, nông nghiệp, thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, cung cấp nơớc dùng trong sinh họat, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp đồng thời đây cũng là nơi sống, nơi cung cấp thức ăn cho nhiều loài động vật hoang dã, đặc biệt là các loài chim nơớc, trong đó có nhiều loài quý hiếm
Hệ sinh thái ĐNN còn có ý nghĩa về mặt môi trơờng: điều hoà khí hậu, chắn sóng gió bảo
vệ bờ biển, bờ sông khỏi bị xói lở, góp phần cố định và mở rộng b•i bồi ven biển Nhiều nơi còn có giá trị về cảnh quan, du lịch, có giá trị bảo tồn thiên nhiên và các nguồn gen.Mặc dù ĐNN có vai trò to lớn nhiều mặt, nhơng nhận thức chung về ĐNN để có những biện pháp khai thác sử dụng hợp lý, bền vững nguồn tài nguyên này (còn thơờng đơợc
Trang 6gọi là "sử dụng khôn ngoan") chơa đựơc quan tâm đúng mức, đặc biệt các giá trị về bảo
vệ môi trơờng và đa dạng sinh học lại càng ít đơợc chú ý bảo vệ
Các khu bảo tồn biển và đất ngập nơớc bao gồm nhiều sinh cảnh khác nhau trên đất liền, ven biển và biển Các khu bảo tồn biển và đất ngập nơớc rất phong phú và vô cùng quan trọng đối với môi trơờng và sự phát triển kinh tế bền vững Đó không chỉ là các địa điểm
du lịch lý tơởng, nơi cơ ngụ, nơi cung cấp thức ăn cho con ngơời và nhiều loài động thực vật sống trên đó mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với đa dạng sinh học và cảnh quan môitrơờng
Công tác bảo tồn biển và đất ngập nơớc ở nơớc ta đơợc thực hiện từ rất sớm Trong số các khu bảo tồn này đáng chú ý có một số khu bảo tồn đất ngập nơớc nhơ Xuân Thủy (Nam Định), Tiền Hải (Thái Bình), Động Phong Nha (Quảng Bình), Phá Tam Giang (Thừa Thiên - Huế), Sân Chim Bạc Liêu (Bạc Liêu), và các khu bảo tồn biển nhơ Cát
Bà, Hải Vân - Hòn Sơn Trà, Hòn Mun, Côn Đảo,
Sau khi kiểm kê toàn bộ các vùng đất ngập nơớc ven biển, các vực nơớc nội địa (tự nhiên
và nhân tạo), các nhà khoa học Việt Nam đ• phát hiện hầu hết các loại hình đất ngập nơớc của thế giới mà Công ơớc RAMSAR đ• thống kê đều có ở Việt Nam Để thuận tiện cho quản lý, các nhà khoa học đ• gộp nhóm thành 11 loại hình chính và đ• xác định 68 vùng đất ngập nơớc có giá trị đa dạng sinh học và bảo vệ môi trơờng (Trong đó có 17 khu
có rừng che phủ đ• đơợc xếp vào diện rừng đặc dụng) Diện tích của các vùng đát ngập nơớc cũng rất khác nhau, vùng hồ chứa nơớc Hoà Bình có diện tích mặt nơớc 27.000 ha,
có nhiều vùng chỉ khoảng vài chục ha, diện tích phổ biến các vùng này biến động từ vài ngàn ha đến vài chục ha
Trên vùng đất ngập nơớc, chứa nhiều loài sinh vật thuỷ sinh đặc hữu, có sinh khối cao và giá trị kinh tế cũng lớn, phần lớn những vùng này lại chịu áp lực dân cơ và cuộc sống củanhững cơ dân này phụ thuộc rất lớn vào nguồn lợi thuỷ sinh của đất ngập nơớc
Vùng Đồng bằng sông Hồng: có 12 khu bảo tồn đất ngập nơớc với các khu nghỉ dơỡng
du lịch nổi tiếng nhơ Hồ Tây, Hồ Đồng Mô-Ngải Sơn, Hồ Suối Hai, các khu bảo tồn thiên nhiên mà đặc biệt là bảo tồn các loài chim nơớc di cơ, rừng ngập mặn ven biển có thể kể đến khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải, Xuân Thuỷ, Thái Thụy; 2 khu bảo tồn biển
là Đảo Bạch Long Vĩ và vơờn Quốc gia biển Cát Bà với đối tơợng bảo vệ chủ yếu là rạn san hô, nguồn lợi thuỷ sản quan trọng
Vùng Đông bắc: có 8 khu bảo tồn đất ngập nơớc với các khu nghỉ dơỡng du lịch nổi tiếngnhơ Hồ Núi Cốc, Hồ Thác Bà, Hồ Ba Bể; khu bảo tồn biển đảo Cô Tô, Đảo Trần với đối tơợng bảo vệ chủ yếu là rạn san hô và rừng ngập mặn
Vùng Tây Bắc: có 1 khu bảo tồn đất ngập nơớc là Hồ Hoà Bình với chức năng chủ yếu là
hồ chứa nơớc, thuỷ điện, ngoài ra còn có tính đa dạng sinh học với nhiều loài động thực vật phù du
Vùng Bắc Trung bộ: có 8 khu bảo tồn đất ngập nơớc, đặc biệt là các đầm phá ven biển với đối tơợng bảo vệ chính là các loài chim nơớc di cơ, nguồn lợi thuỷ sản trong đó phải
kể đến Phá Tam Giang-Cầu Hai, khu du lịch nổi tiếng Động Phong Nha; có 4 khu bảo tồnbiển: Đảo Cồn Cỏ, Hải Vân-Hòn Sơn Trà, Phá Tam Giang-Cầu Hai và Hòn Mê với đối tơợng bảo vệ chính là san hô, cỏ biển và tính đa dạng sinh học
Vùng Duyên hải Nam Trung bộ: có 12 khu bảo tồn đất ngập nơớc với nguồn lợi thuỷ sản phong phú đặc biệt là ở các đầm phá ven biển nhơ Đầm Ô Loan, Đầm Thị Nại, Đầm Trà Ô; 4 khu bảo tồn biển với đối tơợng bảo vệ chính là các rạn san hô, nguồn lợi thuỷ sản và
Trang 7tính đa dạng sinh học cao: Trơờng Sa, Vơờn Quốc gia Hòn Mun-Bích Đầm, Vơờn Quốc gia đảo Lý Sơn, Cù Lao Chàm.
Vùng Tây Nguyên: có 7 khu bảo tồn đất ngập nơớc với đặc điểm chính là các hồ chứa nơớc ngọt có tác dụng vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế, dân sinh của vùngnhơ: Ayun Hạ, Hồ Lak, Hồ Ialy
Vùng Đông Nam bộ: có 10 khu bảo tồn đất ngập nơớc trong đó có những vùng có chức năng thuỷ điện quan trọng nhơ: Hồ Trị An, Hồ Dầu Tiếng, Hồ Đa Nhim, Vơờn Quốc gia Cát Tiên và đặc biệt là khu rừng ngập mặn Cần Giờ đơợc UNESCO công nhận là "Khu
Dự trữ Sinh quyển"; có 3 khu bảo tồn biển: Vơờn Quốc gia biển đảo Côn Sơn (Côn Đảo),Hòn Cau-Vĩnh Hảo, Đảo Phú Quý với đối tơợng bảo vệ chính là rạn san hô, nguồn lợi thuỷ sản và b•i đẻ của các loài động vật biển
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: có 20 khu bảo tồn đất ngập nơớc với đối tơợng bảo vệ chính là các loài chim di cơ, rừng ngập mặn, tính đa dạng sinh học, là vùng có nhiều sân chim nhất trong toàn quốc, có thể kể đến các sân chim nổi tiếng nhơ: Tràm Chim Tam Nông nay đ• đơợc công nhận là Vơờn Quốc gia, Tràm Chim Bạc Liêu, Vàm Hồ, Cái Nơớc, Duyên Hải, Thới An, Chùa Hang; có 1 khu bảo tồn biển là Vơờn Quốc gia biển Phú Quốc với đối tơợng bảo vệ chính là tính nguyên vẹn của các hệ sinh thái rạn san hô, tính đa dạng sinh học
Hệ thống các vùng đất ngập nơớc chủ yếu sẽ do chính quyền các cấp và cơ dân địa phơơng tự quản lý, kết hợp bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trơờng địa phơơng với khai thác bền vững các giá trị kinh tế Việc giới thiệu những vùng đất ngập nơớc này không nhằm đơa tất cả vào bảo tồn, tách rời khỏi chức năng kinh tế của chúng, mà mang tính định hơớng cho chính quyền địa phơơng các cấp có trách nhiệm sử dụng "khôn khéo", kết hợp duy trì các chức năng cơ bản của đất ngập nơớc
Nguồn dữ liệu:
- Cục Môi Trơờngình
Địa chất khoáng sản vùng Đồng bằng Sông Hồng
Đồng bằng sông Hồng, từ góc độ địa chất là đơn vị kiến tạo, một trũng dạng địa hào, một bồn tích tụ trầm tích Kainozoi
Trên diện tích Đồng bằng sông Hồng phân bố đất đá có tuổi từ Proterozoi đến hiện đại, bao gồm các thành tạo biến chất, mắc ma và trầm tích
Các thành tạo biến chất thuộc loại hệ sông Hồng có tuổi Proterozoi (PR, sh), phân bố dơới dạng núi sót ở đông nam thị x• Sơn Tây, ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, ở núi Gôi,huyện ý Yên, tỉnh Nam Định Các thành tạo biến chất phân bố ở huyện Chí Linh, tỉnh HảiDơơng với một diện tích nhỏ thuộc hệ tầng Tấn mài có tuổi ocdovie-silua (D-S tm).Các thành tạo trầm tích lục nguyên-các bon nát phân bố với một diện tích nhỏ thuộc hệ tầng Xuân Sơn có tuổi Silua-Devon (S2 – D1 xs)
Đất đá cát kết dạng quaczit thuộc hệ tầng Dơỡng Động, tuổi Devon sớm-giữa (D1-2 dđ), phân bố chủ yếu ở Tràng Kênh, Niệm Sơn, Dơỡng Động thuộc Hải Phòng
Đất đá hệ tầng Đồ Sơn, tuổi Devon sớm (D1đs) phân bố ở Đồ Sơn, Chòi Mông, Ba Dì, Bến Tàu thuộc Hải Phòng Đất đá chủ yếu cát kết màu xám vàng Đá vôi dạng trứng cá kết tinh lộ ra ở Bắc Thủy Nguyên (Hải Phòng) thuộc hệ tầng Lỗ Sơn, có tuổi Devon giữa (D2ls)
Trang 8Hệ tầng Cát Bà có tuổi cacbon sớm (c,cb) với thành phần trầm tích khá đồng nhất gồm đávôi phân lớp mỏng đến dày, màu đen Phân bố chủ yếu ở đảo Cát Bà, bắc Thủy Nguyên
và Tây núi Voi (Kiến An)
Đá vôi màu xám sáng phân bố ở bắc và tây bắc Gia Luận, Phù Long, bắc núi Bụt, gềnh Vẩn thuộc hệ tầng lơỡng kỳ (Dovjicov.A.E-1965) hoặc hệ tầng Quang Hanh (Nguyễn Công Lơợng-1979) có tuổi cacbon-Pecmi (C-Plk)
Đá Porphyrit bajan đôi nơi gặp d•n kết, cuội, kết vôi lộ ra ở tây nam huyện Ba Vì - Hà Tây thuộc hệ tầng Cẩm Thuỷ, tuổi Pacmi muộn (P2ct)
Đá phiến sét, bột kết tinh với các thấu kính đá vôi, phân bố ở Ba Vì (Hà Tây), Kim Bảng (Hà Nam), Nho Quan (Ninh Bình) thuộc hệ tầng Cò Nòi (T1cn)
Đá vôi xám sẫm phân lớp mỏng, đá vôi xám sáng dạng khối phân bố ở khu di tích Chùa Hơơng (Hà Tây), Kim Bảng (Hà Nam), Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lơ, Yên Mô thuộc hệ tầng Đồng Giao có tuổi Trias giữa (T2đg)
Đất đá có tuổi Trias giữa phân bố ở Chí Linh, Kinh Môn (Hải Dơơng), Sóc Sơn (Hà Nội) thuộc hệ tầng Nà Khuất (T2nk) Tại Chí Linh (Hải Dơơng) có một diện tích nhỏ phân bố ryolit, cát kết tuf xen đá phiến sét đơợc giả định xếp vào hệ tầng Sông Hiến có tuổi Trias giữa (T2sh)
Đá sạn kết, cát kết hàng chục vỉa than, đá phân bố ở Chí Linh (Hải Dơơng) thuộc hệ tầng Hòn Gai, có tuổi Triat muộn (T3hg) Trong khi đó đá cát kết dạng quanzit, bột kết màu
đỏ cũng phân bố với một diện tích nhỏ ở Chí Linh (Hải Dơơng) lại thuộc hệ tầng Mẫu Sơn (T3ms)
Đá sét vôi, bột kết chứa các thấu kính đá vôi phân bố ở Ba Vì (Hà Tây) thuộc hệ tầng Nậm Thẳm, tuổi Trias giữa-muộn (T2-3nt) Đá cát kết tuf, phun trào mafic, sét vôi phân
bố ven rìa tây, tây nam vùng Đồng bằng thuộc hệ tầng Mơờng Trại tuổi Trias giữa-muộn
Đá cát kết, bột kết, cuội kết phân bố thành một dải theo hơớng tây bắc đông nam ở khu vực Trung Hà - Suối Hai (Hà Tây) thuộc hệ tầng Nà Dơơng (có tuổi Neogen (N nd).Các thành tạo mắc ma phân bố chủ yếu ở d•y núi (Ba Vì/Hà Tây) thuộc phía hệ tầng Ba
Vì có tuổi Paleozoi muộn (? 1bv)
Nhơ vậy, đất đá có tuổi trơớc Đệ Tứ phân bố chủ yếu ven rìa Đồng bằng sông Hồng Các thành tạo trầm tích bở rời có tuổi Đệ tứ phủ khắp Đồng bằng sông Hồng Vùng ven rìa gặp các thành tạo hạt thô nhơ cuội, sạn thuộc hệ tầng Hà Nội, có tuổi pleistocen giữa muộn (aQII – III) với nguồn gốc trầm tích sông Vùng Sóc Sơn, Đông Anh (Hà Nội), ChíLinh (Hải Dơơng), Gia Viễn (Ninh Bình) gặp các thành tạo cát, bột, sét có màu vàng loang lổ, có tuổi pleistocen muộn, guồn gốc sông hoặc biển (aQIII, mQIII) Những thành tạo Pleistocen phân bố vùng ven rìa, còn đại bộ phận diện tích Đồng bằng sông Hồng phủcác thành tạo trầm tích có tuổi Holocen sớm – giữa hoặc Holocen giữa-muộn (QIV1-2 và QIV 2-3)
Khoáng sản vùng Đồng bằng sông Hồng gặp chủ yếu các loại khoáng sản: cháy (năng lơợng) nhơ than, than nâu và than bùn, kim loại đen nhơ sắt, kim loại màu nhơ đồng, vàng, bô xít, thủy ngân, vật liệu xây dựng nhơ sét xi măng, cát xây dựng, đá vôi xi măng, phi kim loại nhơ cao lanh sét, asbet, pyrit, photphorit, photphát Ngoài ra vùng Đồng bằng sông Hồng còn là một bồn trũng chứa dầu khí Các loại khoáng sản ở vùng Đồng bằng sông Hồng không lớn về trữ lơợng, thực chất chỉ là các điểm quặng, trừ vật liệu xâydựng
Vùng Đồng bằng sông Hồng với sự có mặt của hệ thống đứt g•y sâu tái hoạt động trong Kainozoi và quá trình địa động lực hiện đại đ• để lại hoặc còn tiếp diễn các quá trình hình
Trang 9thành khe nứt hiện đại Các quá trình ngoại sinh cũng gây ra những tai biến nhơ xói lở bờsông, bờ biển, hiện tơợng đất lún ảnh hơởng không nhỏ tới môi trơờng.
Bản đồ thủy văn vùng Đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Hồng hay còn gọi là Châu thổ sông Hồng, đây là phần hạ du của hệ thống sông Hồng Mạng lơới thủy văn vùng Đồng bằng sông Hồng khá dày đặc
Sông Hồng, con sông chính của vùng Đồng bằng sông Hồng chảy vào Đồng bằng từ Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ qua Sơn Tây, Hà Tây, Hà Nội, Hơng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình Tại Hà Nội sông Đuống nối với sông Hồng rồi đổ về
hệ thống sông Thơơng Tại Phùng, Hoài Đức, Hà Tây với đập đáy, sông Hồng đổ vào sông Đáy Tại Ba Thá-Hà Tây sông Đáy hợp lơu với sông Tích, sông Đáy chảy qua Mỹ Đức-Hà Tây, Phủ Lý-Hà Nam, chảy qua tỉnh Ninh Bình Sông Đáy còn là ranh giới hành chính của tỉnh Ninh Bình và Nam Định, rồi đổ ra cửa sông Đáy thuộc huyện Kim Sơn-Ninh Bình và Nghĩa Hơng-Nam Định Tại Tứ thôn-Hà Nam, sông Đáy tiếp sông Hoàng Long chảy từ sông Hồng về phía Phủ Lý Tại Độc Bộ, sông Đáy tiếp sông Quần Liên chảy từ sông Hồng về Chảy ra cửa Đáy, sông Đáy còn tiếp nhận nguồn nơớc của một hệ thống sông nhỏ chảy từ vùng núi đá vôi của tỉnh Ninh Bình đổ vào sông Vạc ra sông Đáy Từ Hơng Yên nơớc của sông Hồng chảy vào sông Luộc để đổ vào sông Thái Bình rồi ra cửa Thái Bình Sông Hồng tại Quyết Chiến-Hơng Hà-Thái Bình phân nơớc sang sông Trà Lý để đổ ra cửa sông Trà Lý Tại Trúc Phơơng-huyện Xuân Trơơng-Nam Định, nơớc sông Hồng chảy vào sông Ninh Cơ để đổ ra cửa Ninh Cơ Dòng chính của sông Hồng đổ ra cửa Ba Lạt Tại Quỳnh Phụ-Thái Bình một nhánh sông nhỏ bắt nguồn từ sôngLuộc chảy về sông Diêm Hộ rồi đổ ra cửa biển Diêm Hộ thuộc huyện Thái Thuỵ-Thái Bình Các nhánh sông nhỏ nhơ sông Hoá chảy vào sông Thái Bình, hoặc sông Đào nối sông Hoàng Long vào sông Hồng
Đông Bắc vùng Đồng bằng sông Hồng với hệ thống các con sông nhơ: sông Kinh Thầy, sông Kinh Môn, sông Giá, sông Cấm, sông Rạng, sông Lạch Tray, sông Văn úc và sông Bạch Đằng Sông Bạch Đằng đổ ra cửa Nam Triệu, sông Cấm đổ ra cửa Cấm, sông Lạch Tray đổ ra cửa Lạch Tray, sông Văn úc đổ ra cửa Văn úc Ngoài ra còn có các con sông Lặt, sông Đào đều bổ sung nguồn nơớc để đổ ra cửa sông Văn úc Mạng sông suối ở đông bắc vùng Đồng bằng sông Hồng chằng chịt, mật độ sông khá dày vì đây là một vùng sụt, lơợng bồi tích không đủ để bù đắp cho việc sụt lún tạo nên cửa sông có dạng hình phễu
Hệ thống thủy văn vùng Đồng bằng sông Hồng do có một hệ thống đê và các công trình thuỷ nông phần nào bổ sung phù sa cho Đồng bằng, song không đơợc phủ khắp Đồng bằng Mặt khác lòng sông ngày càng cao hơn so với Đồng bằng trong đê Vì vậy việc bảo
vệ, tu tạo đê là một công việc tốn kém phải làm hàng năm vào thời kỳ lũ Những sự cố nhơ vỡ đê, mơa gây úng ảnh hơởng không nhỏ tới môi trơờng Do không đơợc bồi đắp phù sa hàng năm cũng làm cho môi trơờng đất, đặc biệt đất nông nghiệp bị ảnh Do mạngsông suối vùng Đồng bằng sông Hồng khá dày nên việc giao thông đơờng thuỷ thuận tiện
và phát triển
Nguyễn Văn Thịnh
Làng nghề nông thôn Đồng bằng sông hồng và vấn đề môi trơờng
Khoảng 10 năm qua, làng nghề nông thôn ở nơớc ta đ• có bơớc phát triển khá mạnh mẽ
cả về quy mô và số lơợng Cùng với sự phát triển đó, nhiều vấn đề về môi trơờng đang
Trang 10đặt ra hết sức bức xúc Yêu cầu của sự phát triển bền vững đặt ra đối với các cơ quan nhà nơớc ở Trung ơơng và địa phơơng là cần phải có một quy hoạch phát triển các làng nghề
và đi cùng với nó là quy hoạch về bảo vệ môi trơờng; phải có các cơ chế chính sách trongviệc hỗ trợ đầu tơ xây dựng cơ sở hạ tầng, trong việc đổi mới công nghệ sản xuất; và trơớc mắt là cần có các giải pháp công nghệ thích hợp đối với việc xử lý ô nhiễm môi trơờng cho các loại làng nghề
I Hiện trạng phát triển làng nghề
Hơn 10 năm qua, với những chính sách khuyến khích của Nhà nơớc, làng nghề nông thôn
ở nơớc ta đ• phát triển rất nhanh và đóng góp một phần quan trọng vào việc giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho ngơời lao động nông thôn, góp phần ổn định kinh tế – x• hội ở khu vực này
Theo số liệu gần đây nhất, hiện nay cả nơớc có 1450 làng nghề truyền thống, riêng Đồng bằng sông Hồng có khoảng 800 làng nghề trong đó có trên 500 làng nghề truyền thống Theo số liệu thống kê của các cơ sở công nghiệp các tỉnh thì tỉnh Hà Tây có 88 làng; Bắc Ninh có 58 làng/cụm x•, Vĩnh Phúc có 24 làng/cụm x•; Hơng Yên có 33 làng; Nam Định
có 113 làng; Hà Nam có 10 làng; Hải Dơơng có 36 làng; Thái Bình có 82 làng/x• nghề Trong vòng 10 năm qua, làng nghề nông thôn có tốc độ tăng trơởng khá nhanh, trung bình hàng năm đạt 8% tính theo giá trị đầu ra
Sản phẩm và phơơng thức sản xuất của các làng nghề khá phong phú, đa dạng với hàng trăm loại ngành nghề khác nhau Nếu căn cứ vào đối tơợng, nguyên liệu và công nghệ sản xuất thì có thể chia thành 3 nhóm ngành nghề: Chế biến nông lâm thuỷ sản (chiếm 1,99% tổng số hộ phi nông nghiệp); tiểu thủ công nghiệp và xây dựng (3,66%); dịch vụ sản xuất và đời sống (5,64%) Nếu dựa trên sản phẩm và phơơng thức sản xuất chính để phân loại thì có 6 loại làng nghề:
1 Làng nghề thủ công: Làm ra các mặt hàng sử dụng thơờng nhật nhơ dao kéo, máy tre đan gia dụng, chiếu Đặc điểm của các làng nghề loại này là sản xuất thủ công bằng tay
và các công cụ đơn giản Do chi phí ban đầu thấp nên loại hình này rất phổ biến
2 Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Làm ra các mặt hàng có giá trị về văn hóa và trang trí nhơ đồ mỹ nghệ chạm khảm, chạm khắc tơợng gỗ, đá, đồ thêu ren và các đồ mỹ nghệ bằng bạc, chế biến mây tre đan, dệt thảm
3 Làng nghề công nghiệp: Sản xuất các hàng hóa thành phẩm và bán thành phẩm nhơ sản xuất giấy, dệt, may mặc, gốm sứ, tái chế nhựa, kim loại, thuộc da
4 Làng nghề chế biến lơơng thực thực phẩm: Chế biến các loại nông sản nhơ xay sát, sảnxuất miến dong, bún, bánh, sản xuất bia, giết mổ vật nuôi, nấu rơợu, chế biến hoa quả
5 Làng nghề sản xuất và cung ứng nguyên vật liệu: Sản xuất vật liệu xây dựng nhơ gạch,ngói, vôi, cát,
6 Làng nghề buôn bán và dịch vụ: Thực hiện bán buôn, bán lẻ và cung cấp dịch vụ, ví dụnhơ các làng Đình Bảng (Bắc Ninh) và Ninh Hiệp (Hà Nội)
Việc phát triển làng nghề đ• đem lại hiệu quả kinh tế – x• hội cho vùng nông thôn, tuy nhiên, bên cạnh đó sự phát triển làng nghề nông thôn đ• có những tác động tiêu cực đến môi trơờng sống, gây ảnh hơởng không nhỏ đến sức khoẻ của cộng đồng Do trình độ công nghệ thấp lại chậm đơợc đổi mới; cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng kém; trình độ quản
lý còn hạn chế đ• làm cho môi trơờng ở hầu hết các làng nghề bị ô nhiễm trầm trọng
II ảnh hơởng của làng nghề tới môi trơờng và sức khoẻ cộng đồng
1 Tính chất phát thải của các loại làng nghề:
Trang 11Đi đôi với việc tăng sản lơợng hàng hóa, sự phát triển làng nghề nông thôn đ• tạo ra một khối lơợng lớn các chất thải Cũng nhơ sự đa dạng của các nguồn nguyên liệu sản xuất, nguồn chất thải từ hoạt động sản xuất của các làng nghề rất đa dạng Nhiều loại chất thải với số lơợng lớn đ• gây nguy hại lớn tới môi trơờng xung quanh, ảnh hơởng tới sức khoẻ của ngơời sản xuất và của cả cộng đồng Tuỳ theo loại hình và quy mô sản xuất, mức độ
và tính chất ô nhiễm cũng khác nhau
Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Chất thải thơờng là chất rắn, khí Ví dụ làng nghề mây tre đan, trong công đoạn sấy thơờng dùng diêm sinh (S) đ• tạo ra khí thải độc hại Thơờng 1 tấn mây tre qua 5 lần sấy cần 10 kg S Riêng làng nghề chế biến mây tre đan x• Bình Minh (Hơng Yên) hàng năm sử dụng khoảng 3,5 tấn S để hun sấy, xông nguyên liệu đ• làm cho không khí bị ô nhiễm, tạo nên một mùi rất khó chịu trong làng
Làng nghề công nghiệp: Chất thải của các làng nghề này rất đa dạng, nhơ chất thải khí (bụi, khí độc) tạo ra trong quá trình phơi, sấy khô, đốt ở làng nghề gốm sứ, do quá trình nấu chảy nguyên liệu ở làng nghề tái chế chì, tái chế nhôm; chất thải lỏng và rắn do quá trình xử lý, rửa nguyên liệu tái chế ở làng nghề tái chế kim loại, thuộc da Ví dụ trong làng nghề tái chế nhựa, nguyên liệu chính là các vỏ bình ắc quy hỏng, các loại vỏ chai, lọ bằng nhựa, các túi, mảnh nilon, vỏ dây điện hỏng đơợc thu thập từ rất nhiều nguồn, trong đó rất nhiều loại chứa các hóa chất độc hại, các dung môi hữu cơ, thuốc trừ sâu diệtcỏ và việc súc rửa, làm sạch chúng đ• thải ra một lơợng lớn chất thải làm ô nhiễm môi trơờng nơớc, nhiều ao hồ bị ô nhiễm rất nặng không thể tiếp tục sử dụng Hay nhơ làng nghề thuộc da đ• thải ra một lơợng không nhỏ thịt, mỡ, lông thối rữa; thêm vào đó là một lơợng muối, vôi, hóa chất khác (có Cr) đi vào nguồn nơớc thải gây mùi hôi thối, nơớc có màu đen, đặc sánh, phát sinh nhiều ruồi, muỗi Ước tính cứ thuộc 1 tấn da tơơi sẽ thải ra khoảng 80- 100 m3 nơớc thải nhơ vậy
Làng nghề chế biến lơơng thực thực phẩm: Phụ phế thải trong nghề chế biến lơơng thực thực phẩm rất đa dạng Ví dụ: Sản xuất 1 triệu tấn đơờng sẽ tạo ra 30 triệu tấn ngọn, lá, gốc mía; 1 triệu tấn b• mía; 0,5 triệu tấn rỉ đơờng; 0,1 triệu tấn b• lọc Sản xuất 100 nghìntấn nhân điều tạo ra 1 triệu tấn thịt quả điều và vỏ hạt điều có hàm lơợng dinh dơỡng rất cao, là môi trơờng rất thuận lợi cho vi sinh vật phát triển, gây ô nhiễm môi trơờng Xay xát 100 tấn thóc cần giải quyết 10 nghìn tấn trấu, 1 nghìn tấn cám Nuôi 1 nghìn tấn lợn thịt tạo ra 10- 20 nghìn tấn phân, 20- 30 nghìn mét khối nơớc tiểu, 50- 200 nghìn mét khối nơớc rửa chuồng trại Sản xuất 1 nghìn tấn tinh bột tạo ra 3- 4 nghìn tấn b• tơơi Nhìn chung phụ phế thải trong nghề chế biến lơơng thực thực phẩm là những chất hữu cơ
dễ bị phân huỷ, gây ô nhiễm môi trơờng, tạo mùi khó chịu, nếu không đơợc xử lý tốt Làng nghề sản xuất và cung ứng nguyên vật liệu: Thơờng tạo ra các chất thải rắn (xỉ than,gạch vỡ, gạch phồng ) và chất thải khí (bụi, HF, SO2, CO, NOx, F2 ) Ví dụ làng nghề sản xuất vôi Duyệt Lễ (Hơng Yên) hàng năm sử dụng hết khoảng 6000 tấn than, 100 tấn củi nhóm lò, 250 tấn bùn, 10 nghìn mét khối đá, và nhơ vậy đ• thải vào môi trơờng một lơợng lớn chất thải gây ô nhiễm
2 ảnh hơởng của phát thải ô nhiễm làng nghề tới môi trơờng:
Việc phát triển các làng nghề nông thôn tạo ra một khối lơợng các chất thải lớn, đa dạng nhơ trên; cùng với khả năng quản lý, xử lý chất thải còn rất hạn chế đ• gây ảnh hơởng không nhỏ tới chất lơợng môi trơờng xung quanh ảnh hơởng này có nguy cơ ngày càng trầm trọng hơn khi quy mô và số lơợng các làng nghề ngày càng phát triển Dơới đây là những tác động chính của các làng nghề tới môi trơờng đất, nơớc và không khí
* Với môi trơờng nơớc:
Trang 12- Ô nhiễm hữu cơ thơờng nặng nề nhất ở các làng nghề chế biến lơơng thực, thực phẩm
và sản xuất chế biến gỗ, mây tre đan bởi nơớc thải của các làng nghề này thơờng có hàm lơợng chất hữu cơ rất cao, dễ bị phân huỷ Nơớc thải không đơợc xử lý chảy trực tiếp vàocống r•nh ao hồ, hàm lơợng các chất hữu cơ trong nơớc thải quá lớn vơợt khả năng phân huỷ, đồng hóa của các vi sinh vật cũng nhơ các loài động thực vật thuỷ sinh gây hiện tơợng phú dơỡng, ô nhiễm môi trơờng nơớc đ• tác động xấu tới các thuỷ vực Ví dụ nhơ làng nghề chế biến nông sản thực phẩm Dơơng Liễu (Hà Tây) thải ra khoảng 7 nghìn métkhối nơớc thải/ngày đêm, các chỉ tiêu COD, BOD, SS đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép (TCCP) 1- 3 lần
- Ô nhiễm nguồn nơớc do tác nhân là các hợp chất vô cơ độc hại nhơ acid, xút, muối kim loại nặng thơờng thấy ở các làng nghề cơ khí, mạ, đúc, tẩy nhuộm Đây là nguồn ô nhiễm nguy hiểm, không những gây tác động trực tiếp tới nguồn nơớc mặt mà còn ảnh hơởng tới nguồn nơớc ngầm, gây nhiều bệnh hiểm nghèo cho nhân dân làng nghề Ví dụ, chỉ tính riêng làng nghề Vân Chàng (Nam Định) có 14 bể mạ, hàng ngày thải trực tiếp ra sông Vân Chàng 40- 50 m3 nơớc thải chơa đơợc xử lý, chứa nhiều hóa chất độc hại nguy hiểm nhơ: HCL H2SO4, NaOH, Cr, HCN… Kết quả phân tích nơớc thải năm 1997 cho thấy hàm lơợng Cr6+ vơợt 1,8 lần, Cu2+ vơợt 1,7 lần, BOD và COD vơợt TCCP 3- 4 lần,Niken vơợt 8 lần, đặc biệt hàm lơợng CN- trong nơớc thải vơợt 65- 117 lần
- Ô nhiễm nguồn nơớc do tác nhân là các chất màu, xơ sợi thơờng thấy ở các làng nghề dệt, tẩy nhuộm, sơn mài, ơơm tơ đ• làm cho nơớc chuyển màu, tăng hàm lơợng chất hữu cơ trong nơớc, gây mùi khó chịu, giảm lơợng oxy hòa tan trong nơớc, ảnh hơởng tới môi trơờng sống của các loài động thực vật thuỷ sinh, ô nhiễm nguồn nơớc sinh hoạt của nhân dân
* Với môi trơờng không khí:
- Ô nhiễm môi trơờng không khí thơờng xảy ra ở các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ, cơ khí do quá trình sử dụng than, dầu với số lơợng lớn đ• tạo ra các khí nhơ SO2, CO2, CO, NOx, ngoài ra còn do sử dụng các loại hóa chất bay hơi nhơ HCL, aldêhyt, axeton, phenol Các loại khí này hầu hết chơa qua xử lý, thải trực tiếp ra môi trơờng xung quanh gây biến đổi thành phần môi trơờng không khí của làng nghề Ví dụ, kết quả xác định thông số môi trơờng tại làng nghề Vân Chàng năm 1997 cho thấy hàm lơợng khí SO2 là 2,61 mg/m3, vơợt TCCP 5 lần
- Ô nhiễm môi trơờng không khí do tác nhân bụi (bụi lắng và bụi lơ lửng) thơờng thấy ở hầu hết các làng nghề ở các mức độ khác nhau ở làng nghề cơ khí, dệt, sản xuất đồ mộc, hàm lơợng bụi lớn hơn nhiều so với làng nghề mây tre đan, chế biến thực phẩm Các làngnghề tái chế kim loại nhơ: Nấu nhôm, sắt thép, gang, đúc kim loại; dệt; làm chăn bông; chế biến gỗ; đặc biệt là công đoạn đánh bóng kim loại không những gây bụi lắng mà còn tạo ra hàm lơợng bụi lơ lửng rất cao Ví dụ ở làng nghề Vân Chàng, hàm lơợng bụi lơlửng cực đại năm 1997 là 4,28 mg/m3, vơợt TCCP 5- 10 lần, khu vực đánh bóng kim loạihàm lơợng bụi lơ lửng vơợt quá TCCP tới 34 lần ở các làng nghề sản xuất gốm sứ và vật liệu xây dựng, hàm lơợng bụi lắng và bụi lơ lửng vơợt 6- 9 lần TCCP Làng nghề tái chế nhựa, trong quá trình vận chuyển, phơi khô, nghiền hạt gây ô nhiễm bụi với hàm lơợng cao, có nơi cao hơn TCCP 4 lần, tại vị trí sản xuất cao gấp 8 lần Hay ở làng nghề tái chế chì Đông Mai (Hơng Yên), hàm lơợng chì trong môi trơờng không khí lên tới 46,411 mg/m3, vơợt TCCP tới hàng nghìn lần
- Ô nhiễm môi trơờng do tiếng ồn tập trung ở một số làng nghề cơ khí, đúc, mộc, dệt Cácthiết bị gây ồn là máy cơa, máy bào, máy cán sắt, máy mài, máy đột dập, máy dệt Ví
Trang 13dụ, kết quả đo tiếng ồn ở làng nghề Vân Chàng trong khu dân cơ là 65- 87,5dB, vơợt quá TCCP 1,2- 1,5 lần; đo tại khu vực máy cán và máy miết xoong nhôm tiếng ồn lên tới 95- 100dB
- Ô nhiễm môi trơờng do các tác nhân tạo mùi: Một số làng nghề trong hoạt động đ• tạo
ra các chất gây mùi khó chịu, có thể ảnh hơởng tới cả các làng lân cận cách xa 1- 2 km Qua thống kê cho thấy 100% các làng nghề mây tre đan, sản xuất đồ mộc, chế biến lơơngthực đều gây ô nhiễm môi trơờng nơớc và tạo ra mùi khó chịu
* Với môi trơờng đất:
Các chất ô nhiễm từ các làng nghề thải vào môi trơờng đất đ• làm thay đổi thành phần hóa, lý của đất, làm cho năng suất vật nuôi, cây trồng giảm và gây ảnh hơởng xấu tới sức khoẻ con ngơời
Ô nhiễm môi trơờng đất xảy ra nghiêm trọng nhất ở các làng nghề tái chế kim loại Theo
số liệu điều tra sơ bộ, hàm lơợng các kim loại nặng trong nơớc thải của các làng nghề tái chế kim loại hầu hết đều cao hơn TCCP nhiều lần và thải trực tiếp vào môi trơờng mà không qua xử lý Một ví dụ điển hình về các làng nghề tái chế kim loại gây ảnh hơởng tớimôi trơờng đất là làng nghề tái chế chì ở x• Chỉ Đạo (Hơng Yên) Nguyên liệu để sản xuất của làng nghề này là các bình ắc quy hỏng, nhiên liệu sử dụng để nấu là than đ• qua
sử dụng từ các xơởng đúc kim loại, lò vôi Các kim loại nặng có trong chất thải phát sinh
từ quá trình sản xuất chì ở x• Chỉ Đạo xâm nhập vào môi trơờng đất chủ yếu qua hai con đơờng là phát tán vào không khí rồi theo nơớc mơa lắng đọng vào đất và theo nơớc thải
đổ vào nơớc tơới ruộng Kết quả nghiên cứu của TS Lê Đức cho thấy, một số mẫu đất ở x• Chỉ Đạo có hàm lơợng Cu2+ 43,68- 69,68 ppm; hàm lơợng Pb2+ 147,06- 661,2 ppm, cao hơn TCCP của Anh, Đức, Ba Lan; hàm lơợng Zn2+ 23,6- 42,3 ppm, thuộc loại đất cóhàm lơợng kẽm linh động cao Môi trơờng bị ô nhiễm đ• ảnh hơởng đến năng suất cây trồng và sức khoẻ của ngơời dân x• Chỉ Đạo Theo kết quả tính toán của Trơờng đại học khoa học tự nhiên, thiệt hại gây ra cho vấn đề sức khoẻ cộng đồng ở đây là 93,5
triệu/năm, chiếm 17,1% tổng thu nhập do hoạt động này mang lại
3 ảnh hơởng của làng nghề tới sức khoẻ cộng đồng:
Chất thải trong hoạt động sản xuất của các làng nghề ảnh hơởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khỏe của ngơời sản xuất và của cộng đồng nói chung Số liệu thống kê của các phòng y tế các huyện và trạm y tế x• về tình hình sức khoẻ của nhân dân làng nghề cho thấy, ở các làng nghề khác nhau thì các bệnh nghề nghiệp cũng nhơ tỷ lệ ngơời mắc bệnh nghề nghiệp có khác nhau: ở làng nghề cơ khí, đúc, sản xuất nguyên vật liệu… do sử dụng lơợng than lớn nên tỷ lệ ngơời mắc các bệnh về phổi, phế quản cao; làng nghề tẩy nhuộm vải sợi, mạ kim loại sử dụng nhiều hóa chất độc hại, kim loại nặng thì tỷ lệ ngơời
bị bệnh ung thơ cao, tuổi thọ giảm; làng nghề gây ô nhiễm nguồn nơớc nhơ chế biến lơơng thực, mây tre đan, chế biến gỗ thì tỷ lệ ngơời mắc bệnh ngoài da, bệnh mắt hột, bệnh phụ khoa tăng; làng nghề gây tiếng ồn lớn thì tỷ lệ ngơời mắc bệnh thần kinh, bệnh n•o cao, tuổi thọ giảm Ví dụ nhơ: ở làng nghề chế biến lơơng thực thực phẩm vùng Cát Quế, Dơơng Liễu (Hà Tây) hàng năm có tỷ lệ ngơời mắc bệnh ngoài da, đau mắt hột chiếm hơn 70% dân số do ô nhiễm nguồn nơớc Theo số liệu điều tra tại làng nghề tái chếchì thuộc x• Chỉ Đạo (Hơng Yên) thì tỷ lệ các loại bệnh nhơ ỉa chảy, đau mắt hột, các bệnh đơờng hô hấp, hiện tơợng sẩy thai, thai chết lơu, hiện tơợng phát triển trí tuệ không bình thơờng ở trẻ em của x• cao hơn các x• khác trong vùng do nguồn nơớc bị ô nhiễm chì Làng nghề thuộc da x• Liễu Xá (Hơng Yên), do ô nhiễm nguồn nơớc với các dơ lơợng nhơ Cr, phèn, vôi nên các bệnh liên quan thể hiện rất rõ ràng và phổ biến nhơ
Trang 14bệnh về phổi, n•o, máu, da, những bệnh về hô hấp, mắt ở làng gốm Bát Tràng, ô nhiễm môi trơờng không khí đ• ảnh hơởng rất lớn đến sức khoẻ của ngơời dân Qua điều tra sức khoẻ của 223 ngơời dân Bát Tràng thì có 76 ngơời bị bệnh về đơờng hô hấp và 23 ngơời
bị bệnh lao Trong năm 1995 có 23 ngơời làng này chết vì bệnh ung thơ Cơ dân làng gốm này chiếm 70% số bệnh nhân bị bệnh ung thơ ở các bệnh viện Hà Nội năm 1996 III Nguyên nhân và các giải pháp
1 Nguyên nhân
* Do điều kiện tự nhiên và x• hội:
Thực tế cho thấy những vùng nông thôn có làng nghề phát triển là những vùng có mật độ dân cơ đông đúc, đất thổ cơ chật chội, đất canh tác ít Vì vậy các làng nghề thiếu mặt bằng sản xuất, các nhà xơởng sản xuất phải nằm xen lẫn trong khu vực dân cơ, trong nhà hoặc vơờn của các hộ; không đủ mặt bằng để bố trí khu chứa và xử lý chất thải Mặt khácmột số ao hồ làm nhiệm vụ điều hòa nơớc thải, điều hòa khí hậu, xử lý ô nhiễm đ• bị san lấp để làm nhà ở, làm cơ sở sản xuất, số còn lại thì quá tải, tù đọng, vì vậy mức độ ô nhiễm ngày càng tăng Trong mùa mơa, do tiêu thoát kém nên tình trạng ngập úng kéo dài, gây nên ô nhiễm môi trơờng nghiêm trọng và bệnh tật phát triển Ngoài ra, do thời tiết nóng ẩm đ• tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phân huỷ, lên men của các chất hữu
cơ, phát sinh các loại nấm mốc và vi khuẩn gây bệnh Một nguyên nhân nữa là do nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trơờng còn thấp kém, xuất phát từ nền sản xuất nhỏ, đơn lẻ, nên ý thức của ngơời dân về giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trơờng thấp, khi sản xuất đơợc mở rộng thì các thói quen đó khó sửa và nhơ thế ô nhiễm càng gia tăng
* Công nghệ và quy trình sản xuất thô sơ, lạc hậu:
Phần lớn sản xuất ở các làng nghề là do tự phát, sản xuất theo từng hộ đơn lẻ nên vốn đầu
tơ cho sản xuất nhỏ, các công nghệ sản xuất thô sơ lạc hậu, chủ yếu làm bằng thủ công đ•dẫn đến không tận dụng hết tinh chất của vật liệu Đặc biệt là ở các làng nghề chế biến lơơng thực thực phẩm, b• thải sau khi sản xuất vẫn chứa một lơợng lớn các chất tinh bột, dầu nên vừa l•ng phí vật liệu vừa gây ô nhiễm môi trơờng do sự phân huỷ các chất hữu
cơ Ví dụ nhơ làng nghề sản xuất tinh bột ở Dơơng Liễu, Cát Quế (Hà Tây), trong công đoạn tách tinh bột khỏi b• ngơời lao động phải làm bằng các biện pháp thủ công nhơ dẫm, vò nên rất vất vả và lơợng tinh bột còn lại trong b• thải vẫn còn rất lớn Hoặc tại BátTràng, nhiều lò nung hiện nay rất lạc hậu, không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật nên không tận dụng đơợc năng lơợng, tạo ra nhiều bụi than độc hại cho môi trơờng xung quanh, tỷ lệphế phẩm còn cao
* Thiếu qui hoạch và quản lý các làng nghề:
Mặc dù tổ chức sản xuất ở các làng nghề theo từng hộ đơn lẻ nhơng quy mô sản xuất tăngnhanh, trong khi đó công tác qui hoạch quản lý các làng nghề chơa đơợc quan tâm đúng mức Mặt bằng sản xuất đơợc bố trí phân tán, manh mún Hầu hết các làng nghề đều không có vị trí chứa thải, tiện đâu đổ đấy, chất thải có thể đổ xuống ao, mơơng, góc vơờn, đầu ngõ càng làm cho nguy cơ ô nhiễm cao hơn Do không có qui hoạch nên không
có cơ sở hạ tầng nhơ cống r•nh thoát nơớc, nơi thu gom phế thải rắn nên diện ô nhiễm tràn lan Điều này không chỉ tác động đến sức khoẻ của con ngơời mà còn ảnh hơởng đến
mỹ quan làng x• và nhiều ngành sản xuất khác Cũng do thiếu qui hoạch phát triển nên chơa tận dụng đơợc các phế thải để sản xuất ra các sản phẩm phụ nhơ xỉ than ở các làng nghề sản xuất gốm sứ có thể tận dụng để sản xuất gạch xỉ, rải đơờng nông thôn; b• thải của các làng nghề chế biến lơơng thực thực phẩm có thể sử dụng để chăn nuôi, chế biến phân hữu cơ
Trang 152 Một số kiến nghị
Qua hiện trạng phát triển của làng nghề nông thôn, chúng tôi có một số kiến nghị sau: Thứ nhất: Cần phải có một qui hoạch phát triển các làng nghề Hiện nay làng nghề đang đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế khu vực nông thôn nhơ giải quyết công ăn việc làm cho lực lơợng lao động dôi dơ, tạo thêm việc làm trong thời kỳ nông nhàn, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân, tạo thêm sản phẩm cho x• hội, tăng lơợng hàng hóa xuất khẩu… Vì vậy phải coi các làng nghề là một bộ phận kinh tế quan trọng trong khu vực nông thôn để có định hơớng phát triển đúng Trong qui hoạch phát triển cần định rõ các loại làng nghề đối với từng địa phơơng cho phù hợp để phát huy đơợc thế mạnh của làng nghề truyền thống, sử dụng hợp lý nguồn nguyên liệu và lực lơợng lao động Quy hoạch cũng cần định rõ bơớc phát triển thích hợp cho từng loại hình sản xuất với từng địa phơơng, xác định đầy đủ các điều kiện đầu vào, đầu ra để đảm bảo sản xuất ổn định cho các làng nghề
Thứ hai: Từ qui hoạch phát triển cần xây dựng qui hoạch môi trơờng cho các làng nghề Kinh nghiệm của các tỉnh Bắc Ninh, Hơng Yên là việc quy hoạch cho các làng nghề cần đơợc xem xét một cách cụ thể, từ xác định khu vực sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng cơ
sở nhơ làng xơởng, hệ thống cấp thoát nơớc , khu xử lý chất thải, đa dạng hoá trong sản xuất để từng bơớc đơa ra các làng nghề vào hoạt động có hiệu quả, đảm bảo đơợc sự phát triển ổn dịnh, hạn chế ô nhiễm, bảo vệ môi trơờng nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn xanh, sạch đẹp và văn minh
Thứ ba: Nhà nơớc cần có chính sách hỗ trợ cho các làng nghề: Hỗ trợ đầu tơ cơ sở hạ tầng các làng ngề thông qua các dự án hoặc vay vốn ơu đ•i; hỗ trợ đầu tơ đổi mới trang thiết bị sản xuất; xây dựng hệ thống chính sách cũng nhơ tổ chức quản lý các làng nghề, tạo hành lang pháp lý cho các làng nghề hoạt động và phát triển
Cuối cùng: Cần khẩn trơơng đầu tơ nghiên cứu các giải pháp công nghệ hợp lý xử lý ô nhiễm (nơớc, đất, không khí, tiếng ồn) cho từng loại làng nghề để giải quyết kịp thời những bức xúc về môi trơờng đang đặt ra Bên cạnh đó cần đầu tơ xây dựng một số mô hình mẫu để ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tế Các mô hình này cần kết hợp việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào xử lý ô nhiễm với qui hoạch môi trơờng để những làng nghề trở thành những mô hình kinh tế đa thành phần và làng văn hoá phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế – x• hội nông thôn
Nguyễn Quang Trung, Hoàng Thu Thuỷ
Vấn đề ô nhiễm môi trơờng vùng
đồng bằng sông hồng
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ (viết tắt là VKTBB) bao gồm các thành phố Hà nội, Hải phòng và các tỉnh Hơng yên, hải dơơng, Quảng ninh là bộ phận l•nh thổ nằm giữa châu thổ sông Hồng và sơờn núi Đông bắc Tổng diện tích 10.900km2, số dân là 7,4 triệu ngơời (năm 1994) trong đó dân vùng đô thị là 2.170 triệu ngơời chiếm 29,3% số dân trong vùng, tập trung chủ yếu ở 1 đô thị loại 1 (Hà nội), 1 đô thị loại 2 (hải phòng), 1 đô thị loại 3 (Hạ long), 2 đô thị 4 (Hải dơơng, Hơng yên), trong bảng phân loại đô thị Việt nam
VKTBB đ• chính thức đơợc Thủ tơớng chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - x• hội thời kỳ 1996 0 2010 với mục tiêu "xây dựng VKTBB trở thành một trong những vùng kinh tế phát triển nhanh, có tốc độ phát triển kinh tế cao hơn so
Trang 16với các vùng khác trong nơớc, phấn đấu đơa ra tỷ trọng GDP của VKTBB đạt 18 - 19%
só với GDP cả nơớc vào năm 2010" Theo quy hoạch này, đến năm 2000 đân số toàn VKTBB sẽ là 8,5 triệu ngơời: Trong đó dân đô thị là 3,25 triệu ngơời và đến năm 2010 sốdân sẽ là 10,8 triệu ngơời trong đó dân đô thị sẽ là 6,08 triệu ngơời (chiếm 56%)
Với sự tăng nhanh dân số đô thị và các khu công nghiệp tập trung ở VKTBB sẽ làm cho mức độ ô nhiễm môi trơờng ngày càng gia tăng, nếu không có biện pháp kịp thời, đúng đắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu các chất gây ô nhiễm Đối tơợng nghiên cứu trong bài này là ô nhiễm do chất thải lỏng và rắn từ các khu dân cơ, công nghiệp tập trung
Nguồn cung câp nứoc chính cho VKTBB là hệ thống sông hồng và hệ thống Thái bình, riêng hệ thônág sôgn thái bình và các phân lơu nằm trọn vẹn trong vùng kinh tế Hàng năm hệ thống sông thái bình cung cấp cho vùng một lơợng nơớc 35 - 45 tỷ m3, trong đó
có 3/4 là lơợng nơớc của sông Hồng chuyển sang qua sông đuống và sôgn Luộc Khu vực Quảng ninh do đặc điểm cấu tạo địa hình đồi núi cao, sát biển, hầu hết các sông trongtỉnh có lơu vực nhỏ, độ dốc lớn Tổng lơợng nơớc sông hàng năm không lớn, thơờng cạn kiệt về mùa khô nên nguồn nơớc mặt ở Quảng ninh kém phong phú Nơớc mặt hiện nay ởQuảng ninh chủ yếu là chứa trong các hồ Đồng h, Diễn vọng, Yên lập
Chất lơợng nơớc sông, hồ trong vùng hiện nay đ• bị suy giảm do ảnh hơởng bởi các hoạt động của con ngơời trong lĩnh vực kinh tế văn hoá và đơì sống Nguồn nơớc thảisinh hoạt, công, nông nghiệp với các chất cặn lơ lửng hữu cơ, vô cơ và các thành phần khác từ các hoạt động trên hàng ngày và từ nhiều năm đổ vào nguồn nơớc làm cho một sốthuỷ vực nơớc bị ô nhiễm
Hiện nay nguồn nơớc thải trong hoạt động nông nghiệp là rất lớn Cùng với nguồnnơớc thải sinh hoạt của số dân sống trong lĩnh vực này có ảnh hơởng mạnh đến chất lơợng nơớc mặt
Thời gian qua ở các địa phơơng cũng nhơ nhiều cơ quan nghiên cứu về chất lơọngmôi trơờng nơớc đ• tập trung điều tra, nghiên cứu các thuỷ vực chính, các thành phố, thị x• và các khu công nghiệp tập trung, vì vậy số liệu về chất lơợng nơớc khá phong phú, nhất là số lơợng về tổng lơợng nơớc thải cùng với hàm lơợng các chất thải của các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp cùng với tổng lơợng, hàm lơợng các chất trong nơớc thải sinh hoạt của thành phố, khu đô thị, nơi đổ nguồn nơớc thải
Theo số liệu thống kê của các sở KHCNMT thuộc các tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm, hiện nay mỗi ngày lơợng nơớc thải sinh hoạt và công nghiệp vào khoảng 520.000 - 640.000 m3, trong đó lơợng nơớc thải sinh hoạt cớ 400.000 - 500.000 m3, còn lại là nơớc thải công nghiệp và các bệnh viện (không kể lơợng nơớc thải do nhà máy nhiệt điện Phả lại với lơợng nơớc thải mỗi ngày khoảng 1,5 - 2,4 triệu m3)
Nơớc thải công nghiệp và sinh hoạt hiện chơa đơợc xử lý mà thải thẳng vào nguồn nơớc mặt của sông ngòi, ao hồ, với hàm lơợng các chất ô nhiễm hữu cơ, COD, BOD và dinh dơỡng, vì vậy gây ô nhiễm các nguồn nơớc mặt trầm trọng, nhiều sông hồ đ• trở thành nơi chứa nơớc thải, gây ô nhiễm cho môi trơờng xung quanh
Nhận định chung: Hiện nay các nguồn nơớc mặt ao, hồ và hệ thống sông chính trong vùng đ• có hiện tơợng bị ô nhiễm bởi các chất chứa nitơ, NH3, và NO2 kể cả trong nơớc sông hồng, sông Đuống và hệ thống sông Thái bình Vì vậy, nơớc thải từ các nhà máy, khu công nghiệp avf nơớc thải sinh hoạt cần phải đơợc kiểm tra và hạn chế nguồn thải hữu cơ chứa nhiều đạm vì trong quá trình phân huỷ cũng sẽ gây ra các chất ô nhiễm trên
Trang 17Hàm lơợng các kim loại nặng trong nơớc ở hầu hết các sông hiện nay còn khá nhỏ
so với giới hạn cho phép đối với nơớc mặt loại A, trừ Mn đ• vơợt qú giới hạn cho phép đối với nguồn nơớc loại A (TCVN 5942 - 1998) và Fe đ• có nhiều lần quan trắc đơợc với hàm lơợng vơợt quá giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn trên (fe = 1 mg/l)
Nguồn nơớc thải sinh hoạt và công nghiệp từ khu vực thành phố, thị x• có số dân lớn, cácnhà máy, khu công nghiệp tập trung nhơ: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dơơng đ• làm cho nơớc mặt trong khu vực và vùng lân cận bị ô nhiễm nặng, nhất là các sông hồ trong khu vực nội thành (tại đây các thông số môi trơờng có giá trị hàm lơợng cao tơơng đơơng với giới hạn cho phép của nơớc thải A hoặc hơn) Thậm chí, một số ao hồ, sông mơơng đ• trởthành nơi chứa nơớc thải với hàm lơợng một số chất cao hơn giới hạn cho phép của nơớc thải loại C (nơớc thải phải đổ vào nơi đơợc quy định)
Nơớc trong các sông chính đóng vai trò cấp nuớc cho toàn vùng nhơ: sông Hồng, sông Thái Bình, sông Kinh Thầy đ• bị ô nhiễm về: dầu, NH3, vi sinh, ở vùng cuối thuỷ vực sông Thái Bình và sông Kinh Thầy hàm lơợng NO2 cũng đ• cao hơn giới hạn cho phép của mặt nơớc dùng cho các cơ sở cấp nơớc trơớc khi xử lý (nơớc mặt loại A-TCVN 5942-1995)
Nơớc biển ven bờ trong vùng đ• bị ô nhiễm về: độ đục, hàm lơợng dầu, NH3, kim loại (Cu, Fe, Zn)
Đối với một số kim loại nhơ: Mn, Fe, chát dinh dơỡng NH3, Ho2, hàm lơợng của chúng trong nơớc hiện đ• xấp xỉ hoặc vơợt quá dơới hạn cho phép của tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN, 5942-1995) đối với nơớc mặt loại A-Nơớc mặt dùng cho các cơ sở cấp nơớc trơớc khi xử lý Vì vậy việc đổ thêm một số lơợng nhỏ chất thải cũng đủ làm cho nơớc bị
ô nhiễm nặng hơn Nên hạ thấp giá trị giới hạn cho phép đối với nơớc thải có chứa các thông số này Với một số sông vừa đóng vai trò cấp nơớc: nhơ sông Nhuệ-ở Hà Nội sông Sặt-ở Hải Dơơng, sông Lạch Tray-ở Hải Phòng, nên hạ thấp giới hạn cả về hàm lơợng các chất hữu cơ, Fe, Mn, dầu và coliform
Khả năng chịu tải của sông và tổng lơợng thải tối đa của nguồn nơớc thải có chứa các kim loại (trừ Mn) có giá trị rất lớn, nhơng trong thực tế đổ thải cần lơu ý đến khả năng tải
ô nhiễm của sông ra biển
Hệ thống giao thông vận tải
Đến năm 1999 Việt Nam đ• hình thành một hệ thống giao thông vận tải tơơng đối hoàn chỉnh, đáp ứng đơợc nhu cầu vận tải trong nơớc và thông thơơng quốc tế Đặc điểm địa lýnơớc ta có bờ biển dài suốt biên giới phía đông, có mạng lơới sông kênh dầy đặc và có hai vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam bộ là nơi thuận tiện cho sự phát triển kinh tế nằm ở phía Bắc và phía Nam Do đó hệ thống giao thông đơờng bộ, đơờng sắt, đơờng thuỷ và đơờng không ở nơớc ta có điều kiện để phát triển Hiện trạng cơ sở hạ tầng giao thông gồm có: 150.000 km đơờng bộ (bao gồm cả đơờng quốc lộ, tỉnh lộ và đơờng nội đô), 3106 km đơờng sắt (gồm các tuyến chính và đơờng nhánh), 19500 km
Trang 18đơờng sông cho tàu bè đi lại (trong đó 6250 km có sự quản lý, duy tu, bảo dơỡng), có 60 cảng biển (7 cảng lớn), khoảng 90 cảng sông và 15 sân bay (3 sân bay quốc tế) Hệ thống GTVT của Việt Nam đang trong thời gian đơợc chú trọng đầu tơ cải tạo, nâng cấp, mở rộng để đáp ứng đơợc tốc độ tăng trơởng kinh tế chung của đất nơớc.
Cùng với sự phát triển của hệ thống giao thông là sự tăng trơởng của các loại phơơng tiệngiao thông để đáp ứng nhu cầu đi lại, du lịch của hành khách và vận chuyển hàng hoá thông thơơng trong nơớc và quốc tế Tốc độ tăng trung bình của phơơng tiện đơờng bộ trong khoảng những năm đầu thập niên 90 vào khoảng 6-8%, vào khoảng những năm cuối thập niên tốc độ tăng trơởng lên tới 15% Theo thống kê chơa đầy đủ, tính đến 1999 Việt Nam có hơn 478.000 ôtô các loại, 5,4 triệu xe máy; 377 đầu máy, 5372 toa xe; 800 tàu biển với tổng dung tích 1,2 triệu DWT (trong đó có 200 tàu tham gia vào hành trình quốc tế), trên 35000 tàu sông các loại Đa số phơơng tiện đơợc chế tạo từ những năm 1960-1980, đ• qua sử dụng nhiều năm, có tình trạng kỹ thuật thấp, suất hao nhiên liệu và
độ độc trong khí xả cao Trong những năm gần đây, đối với các loại phơơng tiện nhập mới, yêu cầu về chất lơợng kỹ thuật cao, suất hao nhiên liệu nhỏ, bảo đảm tính an toàn khai thác đ• đơợc quan tâm Đặc biệt các phơơng tiện bay dùng trong các tuyến bay quốc tế đ• theo kịp với các h•ng hàng không trong khu vực
L•nh thổ Việt Nam bao gồm 8 vùng kinh tế sau: Vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc, vùng Bắc Trung bộ, vùng duyên hải Nam trung bộ, vùng Tây
Nguyên, vùng Đông Nam bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long Trên các bản đồ phản ánh hiện trạng giao thông vận tải Việt Nam các số liệu về giao thông vận tải trên từng vùng kinh tế đơợc thể hiện bao gồm: tên gọi và vị trí của các tuyến đơờng bộ chính, đơờng sắt chính, các cảng biển và các sân bay chính Số lơợng phơơng tiện vận tải đơờng
bộ (ô tô khách và ô tô tải) và số lơợng phơơng tiện vận tải thuỷ (tàu chở khách và tàu chởhàng) - các số liệu này đơợc cho theo từng năm 1996, 1997 và 1998, theo từng tỉnh và trên mỗi vùng kinh tế
Bên cạnh các bản đồ hiện trạng giao thông vùng còn có các số liệu phụ trợ nếu ngơời dùng cơ sở dữ liệu này cần biết các thông tin tỉ mỉ hơn Số liệu phụ trợ bao gồm:
• Các đồ thị phản ánh số lơợng xe máy theo dung tích xi lanh của từng vùng, cho biết số xe máy của từng tỉnh trong vùng
• Các bảng biểu cho biết số lơợng xe máy năm 1995 và 1996 của từng tỉnh chia theo dung tích
• Các bảng cho biết về số lơợng xe tải, xe khách, tàu chuyên chở hàng và tàu thuyền chở khách trong các năm 1996, 1997, 1998 theo từng tỉnh của các vùng kinh tế Trong thời gian gần đây, nhiều dự án nâng cấp và mở rộng các cơ sở hạ tầng GTVT đ• đơợc tiến hành (nâng cấp và cải tạo các quốc lộ NH1, NH5, NH18A, đơờng Hồ Chí Minh
- Mộc Bài, Hồ Chí Minh - Vũng Tàu/ NH51, NH7 ; nâng cấp và mở rộng các cảng chính nhơ Hải Phòng, Cái Lân, Vũng áng, Dung Quất, Thị Vải, Cần Thơ ; nâng cấp và
mở rộng các sân bay quốc tế sẽ gây nên một số tác động bất lợi tới môi trơờng nhơ: chiếm dụng vĩnh viễn một diện tích đất mà trơớc kia là đất nông nghiệp (đất trồng lúa, rau màu, cây ăn quả, đất trồng cỏ dùng cho chăn nuôi, đất có ao hồ/ nơớc mặt dùng cho tơới tiêu ), đất lâm nghiệp (đất có rừng tự nhiên và rừng nhân tạo), đất ngập mặn, đất định cơ của nhân dân và đất hoang Từ năm 1994 đến năm 2000 tổng diện tích đất giành cho giao thông tăng thêm khoảng 4.100 ha, số hộ gia đình buộc phải di chuyển để giành đất cho các dự án giao thông lên tới hơn 30.100 hộ và một số đền chùa và mộ phần cũng