1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và thẩm quyền giám đốc thẩm về hình sự của toà án " doc

4 641 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và thẩm quyền giám đốc thẩm về hình sự của tòa án
Tác giả ThS. Mai Anh
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 68,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS bao gồm: Viện trưởng, phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối

Trang 1

Thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

và thẩm quyền giám đốc thẩm

về hình sự của tòa án

ThS Mai Anh * iám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc

quyết định đ có hiệu lực pháp luật

nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có

vi phạm pháp luật trong việc xử lí vụ án

Như vậy, bản án hoặc quyết định của tòa

án chỉ có thể bị giám đốc thẩm khi có

kháng nghị của người có thẩm quyền

1 Những người có thẩm quyền kháng

nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được

quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng

hình sự (BLTTHS) bao gồm: Viện trưởng,

phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

tối cao; viện trưởng Viện kiểm sát quân

sự trung ương và viện trưởng viện kiểm

sát quân sự cấp quân khu; viện trưởng

viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; chánh

án, phó chánh án Tòa án nhân dân tối

cao; chánh án Tòa án quân sự trung ương,

chánh án tòa án quân sự cấp quân khu;

chánh án tòa án nhân dân cấp tỉnh

Trong số những người nêu trên, chỉ có

chánh án Tòa án nhân dân tối cao, viện

trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là

có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết

định đ có hiệu lực pháp luật của tòa án

các cấp Những người còn lại chỉ có

quyền kháng nghị những bản án, quyết

định đ có hiệu lực pháp luật của các tòa

án cấp dưới

Hiện nay, trong quá trình nghiên cứu

sửa đổi BLTTHS, có những ý kiến xung

quanh vấn đề thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của chánh án tòa án cấp trên và phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nổi lên là hai quan

điểm cơ bản sau:

Quan điểm thứ nhất, đồng ý như quy

định hiện hành tại Điều 244 BLTTHS là chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định

đ có hiệu lực pháp luật trong đó có cả quyết định giám đốc thẩm của ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội

đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án giám đốc của Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao và bản án, quyết định của các tòa án cấp dưới Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao, chánh án Tòa án quân sự trung ương, chánh án tòa án quân

sự cấp quân khu, tòa án nhân dân cấp tỉnh

có quyền kháng nghị bản án, quyết định của các tòa án cấp dưới

Những người theo quan điểm này cho rằng quy định như Điều 244 BLTTHS là hợp lí vì tòa án cấp trên có quyền giám

đốc việc xét xử của tòa án cấp dưới; chánh án Tòa án nhân dân tối cao, chánh

án Tòa án quân sự trung ương có nhiệm

vụ bảo đảm thống nhất việc áp dụng pháp luật của các tòa án trong cả nước Hơn nữa, tòa án là cơ quan quản lí hồ sơ vụ án,

G

* Tòa án quân sự trung ương

Trang 2

thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, trả lời

đơn, thư khiếu nại nếu phát hiện có vi

phạm pháp luật trong việc xử lí các vụ án

thì ra ngay bản kháng nghị theo thủ tục

giám đốc thẩm để khắc phục những sai

sót của bản án đ có hiệu lực pháp luật

Quan điểm thứ hai cho rằng BLTTHS

nước ta chỉ nên quy định người có thẩm

quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc

thẩm là viện trưởng Viện kiểm sát nhân

dân tối cao, viện trưởng Viện kiểm sát

quân sự trung ương, viện trưởng viện

kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và viện kiểm

sát quân sự cấp quân khu Chúng tôi ủng

hộ quan điểm này vì các lí do:

Thứ nhất, chức năng của tòa án là xét

xử Với chức năng đó, vị trí của tòa án

trong quá trình xét xử là đứng giữa, nghe

và chấp nhận sự thuyết phục của bên có lí

có tình bằng bản án

Các bên buộc tội (công tố) và bên gỡ

tội có nhiệm vụ đưa ra các chứng cứ, lí lẽ

để bảo vệ quan điểm của mình Tòa án

chỉ hỏi để làm rõ vấn đề, khi ra bản án,

tòa án phải bảo đảm phán quyết của mình

là đúng, có lí và có tình Do vậy, việc bảo

vệ quan điểm đánh giá của mình là đúng

thuộc về người đ ra bản án đó Việc

khiếu kiện, thắc mắc bản án, quyết định

của tòa án là “quyền tự vệ đương nhiên”

của mỗi bên tranh tụng Chính vì lẽ đó

mà Điều 246 BLTTHS quy định kháng

nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phải

được gửi cho người bị kết án và những

người có quyền và lợi ích liên quan đến

việc kháng nghị Quy định như vậy để

cho những người này có điều kiện “tự

vệ”, tức là có điều kiện để chứng minh

bản án của tòa án là đúng (vì nó có lợi

cho họ) Nếu để cho chánh án tòa án cấp

trên có quyền kháng nghị theo thủ tục

giám đốc thẩm thì vô hình trung đ đặt

tòa án ở vị trí như một bên tranh tụng trong tố tụng hình sự

Thứ hai, cũng xuất phát từ chức năng của tòa án, giới hạn xét xử được quy định tại Điều 170 BLTTHS là: “Chỉ được xét

xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà viện kiểm sát đ# truy tố và tòa

án đ# quyết định đưa ra xét xử” Mặc dù

là quy định đối với hoạt động xét xử sơ thẩm nhưng ở đây có sự logic về nguyên tắc tòa án là cơ quan xét xử, theo đó, việc xét xử chỉ có thể diễn ra khi có quyết

định truy tố của viện kiểm sát chứ tòa án không phải là cơ quan “tìm ra án để mà xử” Nếu quy định chánh án có quyền kháng nghị giám đốc thẩm thì có nghĩa là

đ giao cho chánh án làm cái việc thuộc

về nhiệm vụ của viện kiểm sát Đồng thời, pháp luật không quy định rõ trách nhiệm khi để lọt “không kháng nghị” là thuộc viện kiểm sát hay tòa án mặc dù Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân quy

định mục đích của kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc xét xử là nhằm bảo

đảm việc xét xử đúng pháp luật

Thứ ba, chính việc cho phép chánh án tòa án cấp trên có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm ít nhiều ảnh hưởng tới nguyên tắc "độc lập xét xử" trong hoạt

động của tòa án cấp dưới Vì đây chính là cơ chế làm cho tòa án cấp dưới phụ thuộc vào tòa án cấp trên, nhất là trường hợp vụ

án mà bị cáo, đương sự là người mà chánh án tòa án cấp trên có sự "quan tâm

đặc biệt" Nếu sự “quan tâm đặc biệt” ấy không được tòa án cấp dưới đáp ứng thì việc kháng nghị rất có thể xảy ra

Thứ tư, để đảm bảo nguyên tắc độc lập xét xử trong hoạt động của hội đồng giám đốc thẩm thì càng không nên để chánh án tòa án cấp trên có quyền kháng

Trang 3

nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Bởi vì,

xét trường hợp chánh án tòa án nhân dân

cấp tỉnh, tòa án quân sự quân quân khu kí

quyết định kháng nghị theo thủ tục giám

đốc thẩm và sau đó lại chủ tọa phiên họp

của ủy ban thẩm phán xét xử vụ án đó thì

chắc chắn chánh án là người đầu tiên và

kiên quyết bảo vệ kháng nghị của mình

Mặt khác, ủy ban thẩm phán tòa án nhân

dân cấp tỉnh gồm một số thành viên trong

đó có chánh tòa, phó chánh tòa tòa

chuyên trách do chánh án tòa án nhân

dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách

chức Với cơ chế bổ nhiệm như vậy,

thành viên ủy ban thẩm phán sẽ không

phản đối kháng nghị của chánh án Phải

chăng đây là câu trả lời cho câu hỏi tại

sao đa số kháng nghị theo thủ tục giám

đốc thẩm bị bác thường là kháng nghị của

viện kiểm sát

Vậy, nếu không cho chánh án tòa án

cấp trên kháng nghị theo thủ tục giám

đốc thẩm thì ai có quyền và làm thế nào

để “kháng nghị những bản án đ có hiệu

lực pháp luật khi phát hiện có sự vi phạm

pháp luật” Theo chúng tôi, khi phát hiện

thấy những sai sót của bản án đ có hiệu

lực pháp luật cần phải kháng nghị thì tòa

án thông báo cho viện kiểm sát cùng cấp

bằng văn bản để viện kiểm sát nghiên cứu

và ra quyết định kháng nghị Điều này

hoàn toàn logic với quy định về tái thẩm

tại Điều 262 BLTTHS là người bị kết án,

cơ quan nhà nước và mọi công dân có

quyền thông báo cho viện kiểm sát hoặc

tòa án những tình tiết có thể dùng làm

căn cứ kháng nghị tái thẩm Nhưng theo

Điều 263 BLTTHS thì chỉ có viện trưởng

viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trở lên

mới có quyền kháng nghị theo thủ tục tái

thẩm Do đó, nếu tòa án nhận được tin

báo và thấy cần thiết phải kháng nghị

theo thủ tục tái thẩm chắc chắn sẽ báo cho viện kiểm sát

Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi

đề nghị sửa Điều 244 BLTTHS theo hướng chỉ để cho viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm như sau:

“Điều : Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm:

1 Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định đ có hiệu lực pháp luật của tòa án các cấp

2 Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương, viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, viện trưởng viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định đ có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp dưới”

2 Thẩm quyền giám đốc thẩm được quy định tại Điều 248 BLTTHS theo nguyên tắc tòa án cấp trên trực tiếp giám

đốc thẩm bản án của tòa án cấp dưới như sau:

- ủy ban thẩm phán tòa án nhân dân cấp tỉnh (tòa án quân sự cấp quân khu) giám đốc thẩm bản án hoặc quyết định của tòa án nhân dân cấp huyện (tòa án quân sự khu vực)

- Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương giám đốc thẩm bản án hoặc quyết định của tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án quân sự cấp quân khu

- ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bản án, quyết định

đ có hiệu lực pháp luật của các tòa thuộc Tòa án nhân dân tối cao (tòa phúc thẩm

và tòa hình sự) và của Tòa án quân sự trung ương

- Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân

Trang 4

dân tối cao giám đốc thẩm quyết định của

ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối

cao bị kháng nghị

Về nguyên tắc phân định thẩm quyền

giám đốc thẩm cùng những hạn chế của

nó, chúng tôi đồng tình với ý kiến của tác

giả Nguyễn Văn Hiện(1) ở đây, chúng tôi

xin nhấn mạnh một số vấn đề được các

nhà khoa học pháp lí bàn luận nhiều

Thứ nhất là vấn đề có nên quy định

tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án quân

sự cấp quân khu là cấp giám đốc thẩm

hay không? Theo chúng tôi, nên quy định

tòa án nhân dân cấp tỉnh, tòa án quân sự

cấp quân khu là cấp giám đốc thẩm và

thành phần hội đồng giám đốc thẩm gồm

3 hoặc 5 thẩm phán vì:

Một là, nếu quy định thành phần hội

đồng giám đốc thẩm là ủy ban thẩm phán

thì chắc chắn đa số thành viên ủy ban

thẩm phán sẽ là những người không

chuyên về hình sự, bởi lẽ thành viên ủy

ban thẩm phán gồm chánh án, các phó

chánh án, chánh tòa tòa hình sự và các

chánh tòa tòa chuyên trách khác Hai là,

việc quy định hội đồng giám đốc thẩm

của tòa án nhân dân cấp tỉnh gồm 3 hoặc

5 thẩm phán tòa chuyên trách cũng giống

như hội đồng giám đốc thẩm của Tòa

hình sự Tòa án nhân dân tối cao Thực

tiễn giám đốc thẩm của Tòa hình sự Tòa

án nhân dân tối cao đ khẳng định hội

đồng giám đốc thẩm gồm 3 thẩm phán

chuyên trách là hợp lí

Thứ hai là vấn đề nên để mấy cấp

giám đốc thẩm ở Tòa án nhân dân tối cao

Theo quy định của pháp luật hiện hành

thì ở Tòa án nhân dân tối cao có 3 cấp

giám đốc thẩm về hình sự là Tòa hình sự,

ủy ban thẩm phán và Hội đồng thẩm

phán Đây là vấn đề phức tạp cần nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và tính tới cả yếu

tố kinh tế của vấn đề Theo chúng tôi, chỉ cần quy định ở Tòa án nhân dân tối cao

có 2 cấp giám đốc thẩm là Tòa hình sự và Hội đồng thẩm phán, vì:

- Theo Điều 20 và Điều 22 Luật tổ chức tòa án nhân dân thì Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là tổ chức thường trực của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Do đó, ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không thể có đầy đủ quyền hạn như Hội đồng thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao

- Hiện nay, trong cơ cấu của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, số thẩm phán chuyên về hình sự chiếm tỉ lệ cao hơn trong cơ cấu của ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Vì ngoài

số thành viên đ là thành viên của ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (chánh tòa Tòa hình sự, chánh án Tòa án quân sự trung ương), Hội đồng thẩm phán còn có một số thành viên khác như phó chánh tòa Tòa hình sự, phó chánh án Tòa

án quân sự trung ương và một số thẩm phán Tòa hình sự, Tòa án quân sự trung

ương là những người có kiến thức chuyên sâu về hình sự Do đó, chắc chắn chất lượng nghiên cứu và quyết định của Hội

đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

sẽ hơn ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao./

(1).Xem: Tạp chí TAND, số 3, 1997, tr.1 - 4

Ngày đăng: 23/03/2014, 21:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w