Nếu sự bày tỏ ý chí của các bên nam, nữ lại không phản ánh đúng ý chí của họ thì có thể coi là thiếu sự tự nguyện khi kết hôn và có thể bị tòa án ra quyết định hủy hôn nhân đó.. Bởi vì,
Trang 1Ngô Thị Hường *
ết hôn là sự kiện pháp lí làm phát
sinh quan hệ hôn nhân Về mặt x
hội, hôn nhân là sự liên kết mang
tính quy luật giữa hai cá nhân thuộc hai
giới nam và nữ Về mặt pháp lí, hôn nhân
là sự liên kết giữa một người đàn ông và
một người đàn bà trên cơ sở hoàn toàn tự
nguyện và bình đẳng theo quy định của
pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt
đời và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân
chủ, hòa thuận Như vậy, mục đích của
việc xác lập hôn nhân là để xây dựng gia
đình Khi nam, nữ kết hôn với nhau, giữa
họ phát sinh quan hệ hôn nhân và đồng
thời cũng hình thành nên gia đình Vợ,
chồng là hai chủ thể của quan hệ hôn
nhân và cũng là hai thành viên của gia
đình Gia đình giữ vai trò hết sức quan
trọng, là tế bào của x hội X hội muốn
tồn tại và phát triển thì ngoài việc phải
giải quyết những vấn đề cơ bản như các
chính sách kinh tế, an ninh x hội, chính
sách đối ngoại còn phải đặc biệt quan
tâm đến sự phát triển của gia đình Việc
Nhà nước công nhận quan hệ hôn nhân
cũng chính là công nhận sự hình thành
của gia đình Hôn nhân được Nhà nước
thừa nhận khi các bên nam, nữ tuân thủ
các điều kiện được luật hôn nhân và gia
đình quy định vào thời điểm họ xác lập
mối quan hệ này
Một trong các điều kiện quan trọng là
sự tự nguyện của các bên nam, nữ khi kết hôn Điều đó đ được thể hiện trong hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình ở nước ta
Điều 4 Luật hôn nhân và gia đình năm
1959 quy định: “Con trai và con gái đến tuổi được hoàn toàn tự nguyện quyết định việc kết hôn của mình; không bên nào
được ép buộc bên nào, không một ai được cưỡng ép hoặc cản trở”
Điều 6 Luật hôn nhân và gia đình
1986 quy định: “Việc kết hôn do nam, nữ
tự nguyện quyết định, không bên nào
được ép buộc bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”
Như vậy, tự nguyện kết hôn là quyền của nam, nữ Sự tự nguyện của nam, nữ khi kết hôn là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho hôn nhân có giá trị pháp lí Tự nguyện kết hôn là không có hành vi cưỡng ép hoặc lừa dối để kết hôn đồng thời phải có sự thống nhất ý chí giữa các bên Nam, nữ khi kết hôn phải được tự do bày tỏ ý chí của mình là mong muốn trở thành vợ chồng của nhau ý chí của các bên phải được thể hiện bằng những hình thức nhất định, đó là sự bày tỏ ý chí Nhờ
có sự bày tỏ ý chí mới có thể đánh giá và
K
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường Đại học luật Hà Nội
Trang 2hiểu được ý chí của các bên Pháp luật
đòi hỏi sự bày tỏ ý chí của các bên nam,
nữ phải thống nhất với ý chí thực của họ
Nếu sự bày tỏ ý chí của các bên nam, nữ
lại không phản ánh đúng ý chí của họ thì
có thể coi là thiếu sự tự nguyện khi kết
hôn và có thể bị tòa án ra quyết định hủy
hôn nhân đó Như vậy, có sự tự nguyện
hay thiếu sự tự nguyện của nam, nữ khi
kết hôn quyết định tính hợp pháp hay trái
pháp luật của hôn nhân và ảnh hưởng trực
tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của
các chủ thể khi tham gia quan hệ hôn
nhân Việc đánh giá yếu tố tự nguyện của
nam, nữ khi kết hôn có ý nghĩa quan
trọng trong việc giải quyết các vụ kiện về
hủy hôn nhân trái pháp luật Nhưng để
đánh giá sự tự nguyện của các bên khi kết
hôn là vấn đề khó khăn và phức tạp
Không thể chỉ căn cứ vào tờ khai đăng kí
kết hôn và vào lời khai của các bên nam,
nữ trước cán bộ hộ tịch mặc dù tờ khai
đăng kí kết hôn và lời khai của nam, nữ
trước cán bộ hộ tịch là hình thức bày tỏ ý
chí của họ Bởi vì, thực tế có trường hợp
nam, nữ cùng khai là họ tự nguyện kết
hôn nhưng thực chất thì một trong hai bên
hoặc cả hai bên không hoàn toàn tự
nguyện thực sự do họ bị cưỡng ép, bị lừa
dối hoặc do kết hôn giả tạo Vì thế, để
đánh giá sự tự nguyện thực sự của các
bên trong việc kết hôn cần phải dựa trên
yếu tố tình cảm, đó chính là tình yêu đích
thực giữa nam và nữ Đôi bên phải có sự
yêu thương lẫn nhau và đây cũng
chính là động lực thúc đẩy hai con
người đi đến hôn nhân Theo Ph
Ăngghen thì “sự luyến ái giữa đôi bên
phải là lí do cao hơn hết thảy mọi lí
do khác trong việc kết hôn”(1) Theo tiến sĩ tâm lí học người Mỹ - Sol Gordon thì tình yêu đích thực được biểu hiện dưới những đặc tính là hai người phải hết lòng vì nhau, thời gian có ý nghĩa bên nhau, họ bày tỏ sự quý trọng nhau và tinh thần sảng khoái, lành mạnh, họ có khả năng
đương đầu với những khó khăn phía trước
và chống chọi lại một cách tích cực, họ trao đổi với nhau chân thành, cởi mở Khi đ xác định và đánh giá rằng các bên thực sự có tình cảm yêu thương nhau và xuất phát từ tình cảm đó nên hai bên mới mong muốn được trở thành vợ chồng để cùng nhau chung sống, để gắn bó với nhau, để chia ngọt sẻ bùi thì khi đó, việc kết hôn của họ được coi là tự nguyện
Sự tự nguyện thực sự của các bên nam, nữ là điều kiện cần phải có khi họ kết hôn Song, sự tự nguyện kết hôn của các bên phải nhằm đạt tới mục đích của việc kết hôn là cùng nhau chung sống và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ và hòa thuận Nếu nam, nữ tự nguyện kết hôn nhưng không nhằm mục đích đó thì
sự tự nguyện của họ cũng coi như không
có ý nghĩa pháp lí Ví dụ: A yêu B, mong muốn kết hôn với B; B không yêu A và cũng không muốn chung sống với A nhưng vì A có quốc tịch nước ngoài nên
B đ đồng ý kết hôn với A chỉ nhằm mục
đích để được nhập quốc tịch theo A và
được xuất cảnh rồi sau đó B xin li hôn
Rõ ràng, đây là việc kết hôn giả tạo Mặc
dù luật hôn nhân và gia đình hiện hành chưa đề cập vấn đề hôn nhân giả tạo nhưng Điều 1 Luật hôn nhân và gia đình
Trang 31986 đ quy định: “Nhà nước bảo đảm
thực hiện chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến
bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình
đẳng nhằm xây dựng gia đình dân chủ,
hòa thuận, hạnh phúc, bền vững” Như
vậy, trong trường hợp trên, mặc dù vẫn có
sự tự nguyện của các bên nhưng việc kết
hôn là trái với đạo đức x hội, trái với
mục đích của hôn nhân và do đó vẫn có
thể coi là hôn nhân trái pháp luật và tòa
án nhân dân có quyền hủy hôn nhân Có
thể so sánh với các quy định của Bộ luật
dân sự (BLDS) về giao dịch dân sự vô
hiệu: Nếu giao dịch dân sự do các bên
xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu
giao dịch khác hoặc giao dịch được xác
lập không nhằm mục đích phát sinh
quyền, nghĩa vụ của các bên thì giao dịch
đó cũng bị coi là vô hiệu (Điều 138
BLDS)
Đối với trường hợp kết hôn nhưng
thiếu sự tự nguyện của các bên thì tòa án
có thể hủy hôn nhân Thiếu sự tự nguyện
khi kết hôn là do có hành vi cưỡng ép
hoặc hành vi lừa dối kết hôn Luật hôn
nhân và gia đình không quy định cụ thể
thế nào là có hành vi cưỡng ép và hành vi
lừa dối để kết hôn Nghị quyết số
01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là văn
bản hướng dẫn áp dụng một số quy định
của Luật hôn nhân gia đình 1986 cũng
không quy định
Theo chúng tôi hành vi cưỡng ép là
buộc một người phải kết hôn với người
mà họ không yêu thương, không mong
muốn kết hôn Hành vi cưỡng ép kết hôn
trên thực tế có nhiều mức độ và hình thức
khác nhau nhưng theo Thông tư số
112/NCPL ngày 19/8/1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xử lí về mặt dân sự những việc kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn thì chỉ coi là có hành vi cưỡng ép để xử hủy hôn nhân “trong trường hợp hành vi thực sự có tính chất cưỡng ép, như đB dùng bạo lực về thể chất hoặc tinh thần mạnh mẽ đến mức làm tê liệt ý chí của đương sự, làm mất hẳn sự tự nguyện của họ khi kết hôn” Hành vi dùng bạo lực về thể chất hoặc tinh thần mạnh
mẽ đến mức làm tê liệt ý chí của đương
sự, theo chúng tôi, đó là sự đe dọa trực tiếp của một bên gia đình hoặc của người khác, làm cho bên kia quá sợ hi mà phải kết hôn nhằm tránh những hậu quả có thể xảy ra gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của bản thân người kết hôn hoặc của người thân của họ Thực tế cho thấy, hành vi đe dọa
có thể nhằm vào chính người kết hôn nhưng cũng có thể nhằm vào những người thân thích của họ Bởi tính chất đặc thù của mối quan hệ gia đình là yếu tố tình cảm nên sự đe dọa nhằm vào cha mẹ, con hoặc anh chị em của người phải kết hôn thì cũng coi là thiếu sự tự nguyện kết hôn Trong giao lưu dân sự, các giao dịch dân
sự bị coi là vô hiệu khi có hành vi đe dọa
“cố ý của một bên làm cho bên kia sợ hBi
mà phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của những người thân thích” (Điều 142 BLDS)
Người thực hiện hành vi cưỡng ép kết hôn có thể là một trong hai người kết hôn nhưng cũng có thể là từ phía gia đình của một bên đối với bên kia Ví dụ: Cha mẹ
Trang 4và anh chị em của chị B đ cưỡng ép, đe
dọa buộc anh A phải kết hôn với chị B
Vấn đề cần đặt ra là đối với trường
hợp một người vì tôn kính cha mẹ mà đ
nghe theo cha mẹ để kết hôn trái với ý
muốn của mình thì có thể bị coi là có
hành vi cưỡng ép kết hôn, là thiếu sự tự
nguyện không? Theo chúng tôi, trường
hợp này không coi là thiếu sự tự nguyện
của người kết hôn, bởi vì dù nghe theo lời
khuyên của cha mẹ nhưng con vẫn có
quyền tự mình quyết định Luật hôn nhân
và gia đình quy định con có nghĩa vụ lắng
nghe những lời khuyên bảo của cha mẹ
không có nghĩa là con phải nghe theo
những lời khuyên trái với đạo đức x hội,
trái với pháp luật Đồng thời, chỉ coi là
thiếu sự tự nguyện khi đương sự vì quá sợ
hi mà bị tê liệt ý chí Trong trường hợp
trên, cha mẹ không đe dọa mà chỉ khuyên
răn, thuyết phục và con vẫn có quyền tự
lựa chọn
Thiếu sự tự nguyện khi kết hôn còn
biểu hiện có sự lừa dối khi kết hôn Lừa
dối là trường hợp một bên hoặc người thứ
ba đ có hành vi cố ý nói sai sự thật về
một người nhằm làm cho bên kia hiểu sai
lệch về bản thân người mà họ sẽ kết hôn,
làm cho họ tưởng lầm mà đồng ý kết hôn
Theo Thông tư số 112/NCPL nêu trên,
nếu “một bên đB dùng thủ đoạn, mưu
chước gian xảo để lừa dối bên kia một
cách nghiêm trọng như che giấu lí lịch
chính trị hoặc tư pháp đặc biệt xấu của
mình, làm cho bên bị mắc lừa đồng ý kết
hôn thì cũng coi là việc vi phạm điều kiện
tự nguyện kết hôn” Theo hướng dẫn tại
Thông tư này, nếu một người có lí lịch
chính trị hoặc tư pháp đặc biệt xấu mà lại nói dối nhằm che đậy, xóa nhòa để người kia tưởng lầm là người tốt mà đồng ý kết hôn thì coi là hành vi lừa dối khi kết hôn Vấn đề là khi xác định lí lịch chính trị và
lí lịch tư pháp đặc biệt xấu thì cần căn cứ vào những chuẩn mực nào? Trong các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình hiện hành chưa có quy định rõ về vấn đề này Có thể hiểu lí lịch chính trị xấu của một người là người đó chưa nâng cao ý thức giác ngộ chính trị nên đ có những sai lầm lớn, nghiêm trọng trong việc thực hiện đường lối, nhiệm vụ chính trị của
Đảng và Nhà nước Lí lịch tư pháp là hồ sơ về phương diện tư pháp của mỗi người nhằm ghi nhận, lưu giữ để chứng tỏ rằng người đó đ từng can án, phạm tội gì và phải chịu hình phạt như thế nào, đ được xóa án chưa Nếu một người che giấu lí lịch tư pháp đặc biệt xấu để kết hôn thì coi như thiếu sự tự nguyện, vi phạm Điều
6 Luật hôn nhân và gia đình 1986 Vậy lí lịch tư pháp đặc biệt xấu là gì? Nếu coi người phạm tội nghiêm trọng là có lí lịch tư pháp đặc biệt xấu thì như vậy, có nghĩa
là người phạm tội ít nghiêm trọng không
có lí lịch tư pháp đặc biệt xấu và nếu họ nói dối để kết hôn thì chúng ta vẫn thừa nhận hôn nhân đó là hợp pháp Theo chúng tôi, việc xem xét không thể chỉ căn
cứ vào việc người đó phạm tội nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng mà cần căn cứ vào việc họ phạm tội có chứng tỏ rằng họ thiếu tư cách đạo đức làm chồng, làm cha hay làm vợ, làm mẹ; rằng họ không thể xây dựng được gia đình hạnh phúc hay không Trong trường hợp người phạm tội
Trang 5nghiêm trọng như tội xâm phạm an ninh
quốc gia, tội giết người hay tội cướp, bỏ
trốn đang bị truy n nhưng đ nói dối để
kết hôn, sau đó người vợ (hay chồng) bị
lừa dối đó mới biết và cho rằng mình bị
lừa dối mà kết hôn, yêu cầu hủy hôn nhân
thì cần phải hủy hôn nhân đó Nhưng nếu
trường hợp một người phạm tội nghiêm
trọng đ nói dối để kết hôn sau đó vợ
hoặc chồng họ phát hiện ra nhưng lại
thông cảm với hoàn cảnh của họ mà
không yêu cầu hủy hôn nhân thì tòa án
cũng không nên hủy hôn nhân khi có yêu
cầu của những người khác có quyền yêu
cầu hủy hôn nhân trái pháp luật
Trong trường hợp một người phạm tội
ít nghiêm trọng nhưng đ nói dối để kết
hôn, sau đó vợ hoặc chồng họ lại đòi hủy
hôn nhân vì cho rằng đ bị lừa dối thì tòa
án nên hủy hôn nhân đó Ví dụ: Anh M
đang có vợ là chị K nhưng lại chung sống
như vợ chồng với chị H nên bị tòa án xử
phạt 2 năm tù (theo Điều 144 BLHS)
Nếu theo Điều 8 BLHS thì M phạm tội ít
nghiêm trọng Sau khi mn hạn tù, M và
K li hôn Sau li hôn, M muốn kết hôn với
P nên đ nói dối P rằng mình đ bỏ vợ vì
vợ (chị K) ngoại tình P đ tin M nên
đồng ý kết hôn Sau một thời gian chung
sống, P phát hiện M đ bị đi tù vì vi phạm
chế độ hôn nhân một vợ một chồng và
cho rằng mình bị M lừa dối nên đ yêu
cầu tòa án hủy hôn nhân giữa P và M
Đối với trường hợp này, theo chúng tôi
cũng cần coi rằng P bị lừa dối do có sự
hiểu lầm về tư cách đạo đức của M Hành
vi vi phạm pháp luật của M đ chứng tỏ
M không có ý thức vun đắp xây dựng
hạnh phúc gia đình và P thấy rằng việc phải chung sống với M là sự xúc phạm lớn, rằng vì hành vi phạm tội của M mà P không thể chấp nhận cuộc sống chung thì cũng nên coi M là đ có lí lịch tư pháp xấu
Từ sự phân tích trên đây, có thể kết luận rằng chỉ những trường hợp lừa dối mang tính chất nghiêm trọng thì mới coi
là thiếu sự tự nguyện của các bên khi kết hôn Đối với những trường hợp cũng có
sự lừa dối nhưng là nói sai về tuổi tác, về nghề nghiệp, về gia đình thì chỉ coi là
sự nhầm lẫn Ví dụ: Một người làm bảo
vệ ở một công ti nhưng nói dối là làm kế toán trưởng, một người bố mẹ làm ruộng sống ở nông thôn lại nói dối là Việt kiều sống tại Pháp làm cho bên kia tưởng lầm mà kết hôn thì trường hợp này không coi là thiếu sự tự nguyện Nếu vì sự nhầm lẫn đó mà dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng thì theo yêu cầu của họ, tòa án chỉ có thể
xử theo thủ tục li hôn chứ không thể xử hủy hôn nhân trái pháp luật
Như vậy, ý chí tự nguyện của nam, nữ
là điều kiện cần thiết quyết định tính hợp pháp của hôn nhân Song, việc đánh giá
sự tự nguyện không chỉ căn cứ vào ý chí thực sự của nam, nữ dựa trên tình yêu thương chân thành giữa họ mà còn phải dựa trên cơ sở pháp lí là mục đích của việc kết hôn, là mong muốn của những người kết hôn đạt tới Mục đích đó không
có gì khác là để được cùng nhau chung sống và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận và bền vững./
(1).Xem: Ph Ăngghen, Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước