Bài viết Con người hiện sinh trong tác phẩm Tuần trăng mật màu xanh của Nguyễn Thị Hoàng nhằm làm rõ vai trò trong việc mô hình hóa và hệ thống hóa các quan điểm về hiện sinh. Bên cạnh đó, bài viết đặt tiểu thuyết như một chỉnh thể thống nhất trong diện mạo chung của văn học Việt Nam thời kì 1954 - 1975. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1CON NGƯỜI HIỆN SINH TRONG TÁC PHẨM TUẦN TRĂNG MẬT MÀU XANH CỦA NGUYỄN THỊ HOÀNG
Nguyễn Thị Diễm Quyên 1
1 Lớp CH20VH02 Email liên hệ: d.quyen008@gmail.com
TÓM TẮT
Văn học hiện sinh để lại dấu ấn trong tiếng nói tha thiết về thân phận cũng như nỗ lực, khát vọng của con người trong thời đại khủng hoảng Nhà văn theo chủ nghĩa hiện sinh thấy rằng những trăn trở khám phá về thân phận và đời sống con người dường như chưa bao giờ ngừng nhức nhối Chủ nghĩa hiện sinh đến với văn học Việt Nam những năm 50, 60 như một
cơ duyên từ chính trị, xã hội, mà nơi khởi nguồn là nền văn học đô thị miền Nam Nó đem lại cho văn học miền Nam một diện mạo mới Những phạm trù hiện sinh truyền thống đến từ châu
Âu dần được đón nhận, thâm nhập vào mọi ngóc ngách, thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người cô đơn trong một thế giới phi lý Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh dẫn đến những phản ứng “nổi loạn” (rebel) tận hưởng cuộc sống nhưng gợi lên những những suy tư, trăn trở về thân phận con người, ý thức trách nhiệm nhập cuộc vì tha nhân Họ thay nhau cất lên những tiếng thở dài chán ngán, họ né tránh, hay nói cách khác là “sống qua ngày” ất ơ Tuần trăng mật màu xanh của Nguyễn Thị Hoàng là tiếng thở dài của các nhân vật, họ hiện lên sự chán chường, cô đơn với những bước đi xiêu vẹo, vô định và ám ảnh về cái chết với một nỗi bất an thường trực Để vượt qua được những bi kịch tinh thần này, con người chỉ có thể sống và chấp thuận nhận lấy thái độ phản kháng Trong bối cảnh xã hội tàn khốc, tất cả mọi thứ đều có thể được định sẵn, từ số phận đến tâm hồn con người Chính trong quá trình phản kháng, những
phẩm tính hiện sinh được thể hiện rõ, cũng tức là danh dự và giá trị làm người
Từ khóa: con người hiện sinh, chủ nghĩa hiện sinh, văn học hiện sinh, Tuần trăng mật
màu xanh, Nguyễn Thị Hoàng
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chủ nghĩa hiện sinh ra đời trực tiếp từ trào lưu tiêu biểu của triết học nhân sinh là hiện tượng học của Edmund Husserl Sau đó, chủ nghĩa hiện sinh trở thành trào lưu văn hóa lớn của phương Tây và nhân loại thế kỷ XX, nó có tác động đến nhiều lĩnh vực ở nhiều quốc gia Chủ nghĩa này xuất hiện trong bối cảnh khủng hoảng và đổ vỡ, những quan điểm có ý nghĩa nhân văn của chủ nghĩa hiện sinh gây chấn động Đối tượng chung của nó về thân phận con người đã dẫn trào lưu triết học này xâm nhập vào nền văn học, hình thành nên văn học hiện sinh ở châu Âu (trước hết là ở Pháp) Những năm 50, 60 của thế kỷ XX chủ nghĩa hiện sinh bắt đầu xuất hiện ở miền Nam Việt Nam, không rầm rộ nhưng đã nhanh chóng để lại những “dư chấn” trong xã hội đương thời Nhiều nhà văn đã tìm đến chủ nghĩa này tạo nên một nền văn học hiện sinh tập trung vào những phạm trù cơ bản của triết học hiện sinh như vong thân, tha hóa, buồn nôn, phi lý, dấn thân, nổi loạn, cô đơn, hư vô Trong số những nhà văn đó, phải nhắc đến Nguyễn Thị Hoàng với
Trang 2những tiểu thuyết vượt bật Các tác phẩm của bà nói về số phận con người lao đao, cô đơn và lạc lõng giữa nền văn hóa xã hội những năm 50, 60 Ở đó các nhân vật tự tự tìm đến tự do của mình, một tự do nghịch lối với các chuẩn mực xã hội
Những tác phẩm của bà trong thời kỳ văn học miền Nam 1954 – 1975 bị lên án và chịu cái nhìn gay gắt từ giới phê bình Những năm gần đây, với lĩnh vực nghiên cứu – phê bình, sự trở lại của văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 cũng thoi thúc độc giả tìm lại những áng văn của Nguyễn Thị Hoàng Có thể thấy độ lùi thời gian đã khiến những rào cản tâm thế
và những cách ngăn của quá khứ với hiện tại dần được dỡ bỏ Do đó, nghiên cứu về các tác
phẩm của nữ nhà văn vẫn còn rất ít Trong các tiểu thuyết được xuất bản, Tuần trăng mật màu
xanh đưa độc giả đến với những cảm xúc đau đáu, chênh vênh với số phận con người trong thời
kỳ chiến tranh loạn lạc Tình yêu, tình dục là cách để họ tìm đến nhau, thoát khỏi sự trơ trội, chòng chành của những biến thiên xã hội Họ tìm đến nhau và cùng trốn chạy, đây cũng là cách phản kháng rất cá nhân, rất “hiện sinh” trong giai đoạn đương thời
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Trong qua trình triển khai, nghiên cứu tôi sử dụng phương
pháp cấu trúc – hệ thống nhằm làm rõ vai trò trong việc mô hình hóa và hệ thống hóa các quan điểm về hiện sinh Bên cạnh đó, bài viết đặt tiểu thuyết như một chỉnh thể thống nhất trong diện mạo chung của văn học Việt Nam thời kì 1954 - 1975 Đồng thời, khi tiếp cận từng tiểu thuyết cụ thể, người viết cũng quan tâm đến tính chỉnh thể trong cấu trúc của nó Phương pháp này cũng hỗ trợ trong việc triển khai các bình diện nghiên cứu của luận án một cách logic và chặt chẽ Bên cạnh
đó, văn học là bức tranh sinh động nhất về đời sống xã hội, bài viết sử dụng phương pháp lịch sử
- xã hội để có cái nhìn sâu sát hơn về sự ảnh hưởng của thời đại (chiến tranh) lên con người
3 NỘI DUNG
3.1 Chủ nghĩa hiện sinh và những vấn đề lý luận
3.1.1 Chủ nghĩa hiện sinh - lịch sử ra đời và những phạm trù cơ bản
“Hiện sinh” không còn lạ lẫm với các nhà nghiên cứu, nhà khoa học Từ khi J.P Sartre phát biểu trong bài thuyết trình của mình vào ngày 29 tháng 11 năm 1945 tại Paris, cho đến nay, “hiện sinh” đã đến gần với nhân loại Khi nhắc đến hiện sinh là nhắc đến sự đắm mình trong một trạng thái nồng nhiệt, đầy sự sáng tạo, “một cái gì co thắt, ràng buộc để rồi tự giải hóa, phân tích cho chính nó, một tự do thực sự - mãi mãi tự do”
3.1.2 Lịch sử ra đời của chủ nghĩa hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism - còn gọi là Thuyết Sinh tồn, Thuyết Hiện sinh, Triết Hiện sinh, phong trào hiện sinh) là một trào lưu triết học phi duy lý phát triển với nhịp điệu chóng
mặt ở châu Âu Nó nhanh chóng được lan tỏa và trở thành “thị hiếu” sau chiến tranh thế giới thứ hai Chủ nghĩa hiện sinh là một trong những trào lưu chủ yếu của triết học phương Tây hiện đại Chủ nghĩa hiện sinh ra đời phần nào có ảnh hưởng từ khói lửa bom đạn của chiến tranh, bởi hai cuộc tranh thế giới đi từ sự bất lực của khoa học và sự bế tắc của các tư tưởng của phương Tây thế kỷ XIX Những bước đi chập chững ban đầu của trào lưu hiện sinh từ những kinh nghiệm sống mãnh liệt của Châu Âu cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX Nhìn lại chặng đường lịch sử,
đó là khoảng thời gian hoàng kim của một châu Âu phát triển không ngừng về mọi mặt nhưng
Trang 3đồng thời cũng chứa đựng những nỗi bất an và hiểm họa Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng
bổ tại Đức – một cường quốc về kinh kế, kỹ thuật ở châu Âu Đức đi qua cuộc chiến tranh với những vết thương về thể xác và tinh thần, họ đã tìm đến chủ nghĩa hiện sinh như tìm đến loại thuốc an thần nhằm thích ứng với những bi kịch tinh thần mà họ đang gánh chịu Như vậy, chủ nghĩa hiện sinh đã hình thành chính thức ở Đức sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất
Sau đó không lâu, bùng nổ khắp thế giới chiến tranh thế giới lần thứ hai, một lần nữa những nỗi đau và mất mát hiện hữu khắp toàn cầu Điều này dẫn đến một làn sóng thứ hai của chủ nghĩa hiện sinh được bùng nổ tại Pháp Con người phải chấp vá những vết thương, đồng thời họ cố gắng phản kháng để bảo tồn những giá trị cốt lõi của con người Họ như rơi vào một khoảng không không xác định, những nỗi âu lo choáng ngợp, chứng kiến sự điêu tàn và ngã rụi, quá khứ bị phá hủy, hiện tại đau thương và tàn khốc, tương lai bất định, trống rỗng Những điều
đó, tạo nên một lối sống tuyệt vọng, bất lực, không thể cứu vớt được những giá trị hiện hữu, đây cũng là một loại tâm lý chung bao phủ khắp châu Âu thế kỷ XX, làm chấn động con người
và vũ trụ Con người đã đi từ hoang mang, suy sụp lòng tin đến chán nản, buồn nôn, phi lý…Cho nên, chủ nghĩa hiện sinh thực sự là triết học của sự khủng hoảng, nảy sinh trong thời kỳ của những chấn động và tai biến xã hội - những cuộc khủng hoảng diễn ra không phải chỉ trên lĩnh vực kinh tế, chính trị mà trên cả lĩnh vực tinh thần
Yếu tố quyết định gần như tuyệt đối, đưa đến nguồn gốc ra đời của chủ nghĩa hiện sinh phải kể đến những dư chấn tinh thần mà chủ nghĩa duy lý đã tạo ra trong lòng xã hội phương Tây hiện đại Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đánh dấu bằng thuyết tương đối của Einstein,
bộ mặt cũ kỹ suốt hàng mấy thế kỷ qua của phương Tây đã hoàn toàn thay đổi Khoa học được xem như ánh sáng, tái tạo lại một thế giới huy hoàng, phát triển tiến bộ Trái ngược điều đó, nơi nào phát triển nơi đó có đấu tranh, những cuộc đụng độ không khoan nhượng, những tranh chấp nóng lạnh giữa các quốc gia hoặc các giai cấp xã hội hay sự suy đồi tinh thần là những minh chứng cho thấy một nền văn minh vật chất gai góc, một nền khoa học không trọn vẹn như
lý tưởng ban đầu Điều này dẫn đến một xã hội đầy bất công và bóc lột Chính trong hoàn cảnh này, con người tìm đến phi duy lý như tìm đến một đối trọng của tinh thần duy lý thực nghiệm
Họ gạt bỏ những vùng sáng của khoa học, họ gạt bỏ lý trí, thay vào đó là những trực giác, tâm
linh là điểm tựa Chủ nghĩa hiện sinh - với tư cách là một khuynh hướng phi duy lý tiêu biểu -
là sự phản ứng của con người trước hoàn cảnh tàn khốc, bi ai của cuộc chiến tranh; là sự cứu rỗi về tâm linh đối với thân phận con người bị bỏ quên trong một xã hội đầy duy lý; là sự phản ứng lại tính tuyệt đối của khoa học kỹ thuật” Nói theo một cách khác, “chủ nghĩa hiện sinh ra đời nhằm phản ứng lại sự duy lý đã đạt tới đỉnh điểm, khi các cá nhân trở thành mảnh vỡ giống nhau trong một ống kính vạn hoa quay tít bằng ánh sáng của các thành tựu khoa học và lối sống sùng bái sức mạnh vật chất bộc lộ mặt trái của nó [9; tr.69] Vì lẽ đó mà J P Sartre
(1905-1980) một cây đại thụ của chủ nghĩa hiện sinh đã xem sự ra đời của triết thuyết hiện sinh là sự
chiêu tuyết cho con người về mặt triết học Và cũng chính vì lẽ đó, J P Sartre đã quả quyết: Hiện sinh là một chủ nghĩa nhân bản (Existentialism is Humanism) và Sartre đặt con người vào tâm điểm chú ý cao nhất trên thang giá trị của nó [3; tr 91]
Chính vì vậy, học thuyết này đã nhanh chóng trở thành dòng tư tưởng năng động nhất trong việc biểu hiện đời sống tinh thần của người phương Tây “bội thực” về công nghệ, đồng thời nhanh chóng lan tỏa trên khắp thế giới với một nhịp điệu mãnh liệt
Trang 43.1.3 Văn học hiện sinh
Không thể đồng nhất giữa triết học hiện sinh và văn học hiện sinh, nhưng giữa chúng tồn tại những điểm chung là cùng hướng đến con người Chính điểm gặp gỡ này là cội nguồn sản sinh ra văn học hiện sinh để biểu hiện triết học hiện sinh Nói một cách khác, văn học hiện sinh
là công cụ để chủ nghĩa hiện sinh thâm nhập và chuyển hóa trong thực tiễn đời sống Những
tác phẩm khoác áo hiện sinh xuất hiện, sử dụng những phạm trù hiện sinh như buồn nôn, lo âu, cái chết, cô đơn, lựa chọn, dự phóng, trách nhiệm, hư vô, v.v làm công cụ mô tả những bình
diện tâm lý của con người
Trào lưu văn học hiện sinh được thể hiện qua văn học về cái phi lý và văn học hành động Văn học về cái phi lý thực chất không phải đến các nhà văn hiện sinh quan niệm này mới xuất hiện, nhưng công lao của họ là đã đưa cái phi lí từ triết học vào văn học Phi lí trong văn học hiện sinh vừa là đối tượng vừa là phương tiện khám phá Quan niệm về tính phi lí của đời sống
và thân phận con người đã trở thành đề tài chủ yếu của văn học hiện sinh Nó miêu tả tình trạng hiện tồn của con người trong xã hội hiện đại Trong thế giới phi lí đời sống tinh tthần con người trở nên biến dạng, méo mó do những mối xung khắc, đứt đoạn trong quan hệ giữa con người với thế giới Cảm thức về tính chất phi lí được thể hiện trong văn học hiện sinh ở cái nhìn về đời sống tầm thường, ù lì, tẻ nhạt và quan niệm về con người xa lạ Con người trong văn học hiện sinh về cái phi lý là thực thể không chỉ ngẫu nhiên, thừa thải mà còn nhỏ bé, lệ thuộc vào những sức mạnh nằm ngoài mọi sự giải thích Khát vọng hiểu biết về đời sống và số phận trở nên huyền hoặc Con người nằm trong một hoàn cảnh bế tắc, khốn cùng, sự tuyệt giao giữa con người và cuộc đời là không thể cứu vãn Các nhà văn hiện sinh xem phi lý là định mệnh, con người trở nên cô độc, dửng dưng với tất cả, cam chịu hoặc chống trả yếu ớt, hời hợt Với văn học hiện sinh về hành động, các nhà văn quan niệm về đời sống bi đát, phi lí song con người là chủ thể tự do, độc đáo Do đó, các nhân vật hiện sinh không ngừng dấn thân, nổi loạn nhằm đối diện với thực tại Đây là quan điểm tích cực của văn học hiện sinh về vị thế và trách nhiệm của con người đối với hiện hữu Sống trong bầu không khí bưng bít ngột ngạt song nhân vật không ngừng vận động đi tìm sự thật Đối diện với thế giới câm lặng, mọi nỗ lực của con người trở nên phù phiếm và đến chết
Nhìn chung, văn học hiện sinh để lại dấu ấn trong tiếng nói tha thiết về thân phận cũng như nỗ lực, khát vọng của con người trong thời đại khủng hoảng Trong nhiều áng văn chương, nhà văn theo chủ nghĩa hiện sinh thấy rằng những trăn trở khám phá về thân phận và đời sống con người dường như chưa bao giờ ngừng nhức nhối
3.1.4 Quan niệm hiện sinh về con người và thân phận con người
Triết lý của chủ nghĩa hiện sinh xoay quanh chủ đề con người, trọng tâm là bản tính, thân phận, thế giới nội tâm, quan hệ giữa con người và hoàn cảnh sống Đầu tiên là mối quan hệ giữa
tồn tại và bản chất của con người Với chủ nghĩa hiện sinh, tồn tại của con người có trước bản chất của nó Paul Sartre cho rằng con người trước hết phải hiện hữu, gặp gỡ nhau, xuất hiện ra trong thế giới đã, rồi theo đó tự định nghĩa mình Con người, nếu không thể định nghĩa được, chính là vì trước hết nó là hư vô Nó chỉ tồn tại sau đó, và sẽ là tồn tại như những gì nó sẽ tự tạo nên Con người không chỉ tồn tại như nó được quan niệm, mà còn tồn tại như nó muốn thể hiện Con người không là gì khác ngoài những gì mà nó tự tạo nên Đó là nguyên tắc đầu tiên của thuyết hiện sinh Đó cũng là điều mà người ta gọi là tính chủ thể con người có một phẩm
Trang 5giá cao hơn hòn đá hay cái bàn con người trước hết là một dự phóng (project) đang sống về mặt chủ thể, thay vì là một thứ rêu, một thứ nấm mốc hay một búp súp lơ con người trước hết
sẽ là những gì mà nó dự định tồn tại [10; tr.34] Như vậy, con người là tồn tại tối cao, vượt lên
trên mọi tồn tại khác của vũ trụ Tồn tại người có trước, sau đó mới hình thành bản chất người Bản chất người hiện diện trong mọi cá thể riêng biệt, thể hiện qua hành động và tính cách của
nó, không có bản chất người chung chung, trừu tượng
Bên cạnh đó, trong chủ nghĩa hiện sinh còn thể hiện con người là một cá thể chịu trách nhiệm trước cộng đồng Con người phải dấn thân vào cuộc sống, phải suy nghĩ, hành động để bộc bày
những thái độ sống của mình Con người là một thực thể tự do và không có gì khác ngoài đời sống của chính mình Con người cũng là một tồn tại, nhưng tồn tại khác với cách tồn tại của sự vật Con
người có lý trí, nên ít bị chi phối bởi quy luật tất yếu mà có tự do - tự do lựa chọn, tự do hành động
Paul Sartre khẳng định: Không có thuyết tất định, con người là tự do, con người được tự do và không có một bản tính con người nào khác để tôi có thể đặt nền tảng trên đó [2; tr.56]
Con người cũng là một sinh vật tồn tại trong những giới hạn nhất định, muốn vượt qua
những giới hạn đó thì cần phải dấn thân Thân phận con người bị giam hãm trong những hoàn cảnh cố định như chết, đau khổ, chiến đấu, lệ thuộc những cảnh ngộ bất ngờ, luẩn quẩn trong những xiềng xích của tội lỗi, tức là những hoàn cảnh bất khả vượt và bất khả di dịch Một người tự dấn thân vào cuộc sống, vẽ nên gương mặt của mình, và không có gì ngoài gương mặt
ấy cả một con người không có gì khác ngoài một loạt những công việc mà họ đảm nhiệm Con người là tổng số, tổ chức toàn bộ các quan hệ cấu thành những công việc ấy [2; tr.60]
Ở con người còn tồn tại quan hệ giữa con người và người khác là nguyên nhân của tha hóa
và tâm lý lo âu Con người là một thực thể tự do con người quá đỗi con người Nietzsche gọi là
“các tinh thần tự do” [3; tr.91], nhưng con người luôn bị trói buộc vào hoàn cảnh sống, bị lệ
thuộc vào xã hội quy định từ thuở xưa và những người lân cận gọi là “người khác” hay tha nhân Tha nhân là niềm vui đồng thời là nỗi buồn của mỗi cá thể, là người tranh chấp, dẫm chân lên địa
vị của ta Để có sự hiểu biết đúng thật về mình, tôi cần phải thông qua người khác Người khác
là cần thiết cho sự hiện hữu của tôi về chính mình Trong những điều kiện ấy, tự cõi lòng, khi tôi phát hiện ra chính mình thì đồng thời tôi phát hiện ra người khác, như là một hữu thể tự do được đặt đối diện tôi, suy nghĩ về tôi và chỉ muốn ủng hộ hoặc chống đối tôi [2; tr.67]
3.2 Chủ nghĩa hiện sinh trong văn học đô thị miền Nam Việt Nam giai đoạn
1954-1975
Chủ nghĩa hiện sinh được tiếp nhận, truyền bá, vận dụng cũng là “cơ duyên” của lịch sử
Nó đã đến trong cái bối cảnh bi đát của xã hội miền Nam [5] Triết học hiện sinh được biết đến
và du nhập vào Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh, để lại dấu ấn đặc biệt sâu sắc đối
với văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn từ 1954 đến 1975 Giới văn chương “rất nhanh chóng đón lấy những tư tưởng cốt lõi của hiện sinh: nỗi lo sợ, sự buồn chán, sự lạc lõng trong
xã hội, sự phi lý, tự do, cam kết và hư vô, v.v” Hiển nhiên, không ai phủ nhận dòng suy tư hiện
sinh đã gây ra nhiều tranh cãi trong giới phê bình học thuật đương thời, thậm chí, trong một thời gian dài, nó còn bị đánh đồng với những gì suy đồi, thiếu đạo đức
Văn học đô thị miền Nam tại thời điểm đó không biết đến chủ nghĩa hiện sinh đầu tiên, mặc dù đây là lúc chủ nghĩa hiện sinh đang hình thành một trào lưu sôi nổi ở Tây Âu Khi chính quyền Ngô Đình Diệm “tiếp thu” miền Nam từ tay thực dân Pháp, lý thuyết triết học phương
Trang 6Tây mà người Sài Gòn nghe nói đến đầu tiên là chủ nghĩa nhân vị (Personnalisme) của
Emmanuel Mounier Tiếp nhận của công chúng lúc đó, chủ nghĩa này quả thực là một cái gì
mơ hồ Một mặt, những cán bộ tuyên truyền của “phong trào Cách mạng quốc gia” do Ngô Đình Nhu lập ra đã giới thiệu lý thuyết của E Mounier một cách phiến diện: một lý thuyết đi tìm con đường thứ ba không thiếu thiện chí nhưng cũng đầy ảo tưởng đã bị bẻ quặt một cách
cố ý sang con đường thứ nhất để thành một lý thuyết chống Cộng sơ lược và thiển cận Mặt khác, những người trí thức hiểu biết nhất, tuy không thể không hưởng ứng chủ trương của một chế độ mà lúc đó họ chưa nhận ra đầy đủ những nanh vuốt tinh thần của nó, hẳn cũng thấy ngượng ngùng khi lên tiếng quảng bá chủ nghĩa này bên cạnh những cán bộ tuyên truyền hạng hai [5] Chính vì điều đó, chủ nghĩa nhân vị được tiếp nhận một cách thờ ơ và càng về sau bị lu
mờ Sau cuộc đảo chính vào tháng 11/1963 chủ nghĩa hiện sinh đến văn học miền Nam sau hơn hai thế kỷ phát triển ở phương Tây Ngược lại với chủ nghĩa nhân vị, chủ nghĩa hiện sinh được đón nhận một cách nồng nhiệt, càng ngày càng thu hút giới trí thức Vì vậy, trong giai đoạn 50,
60 những bài viết giới thiệu về chủ nghĩa hiện sinh của các giáo sư triết học giảng dạy tại trường Đại học Văn khoa Sài Gòn như Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Lê Thành Trị, Nguyễn Văn Trung… hay trên các tờ tạp chí Sáng tạo, Bách Khoa… về trào lưu này gắn với những nhà sáng lập và nuôi dưỡng ra nó như Jean-Paul Sartre, Albert Camus… là nhịp cầu dẫn chủ nghĩa này đến với giới trí thức và văn nghệ sĩ sáng tác tại miền Nam đương thời
Chủ nghĩa hiện sinh đã đem lại cho văn học miền Nam một làn gió mới Nó có những thay đổi đáng kể Quan niệm nghệ thuật về con người cô đơn trong một thế giới phi lý, với ngôn
ngữ và kỹ thuật mô tả hiện tượng luận Đây có thể là ảnh hưởng tự phát, nhưng cũng có thể là ảnh hưởng tự giác ở những nhà văn trực tiếp đọc lý thuyết và sáng tác văn học hiện sinh Tây
Âu Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh cũng hết sức phức tạp Một mặt, nó dẫn đến những
phản ứng “nổi loạn”, những khái niệm tận hưởng cuộc sống của một bộ phận thanh niên, những con người không tìm thấy “lối đi” trong chiến tranh Bên cạnh đó, nó như một khoảng lặng, gợi lên những những suy tư, trăn trở về thân phận con người, ý thức trách nhiệm trước tình cảnh đất nước và chọn lựa thái độ ứng xử cũng như hành động nhập cuộc vì tha nhân Chủ nghĩa này
đã đáp ứng những mối ưu tư, những khát khao, khẳng định khuôn mặt tinh thần cống hiến của người trí thức trẻ Mặc dù, chủ nghĩa hiện sinh ở văn học miền Nam đã được tiếp cận từ nhiều cách nhìn khác nhau, những nó không thể thoát khỏi sự tác động của xã hội, chính trị của người viết Nhưng không vì thế mà các tác phẩm có sự rập khuôn, nó thể hiện tinh thần độc lập và tự trọng của người trí thức, nói theo những suy nghĩ riêng chính mình
Tóm lại, hiện nay chủ nghĩa hiện sinh vẫn tiếp tục đang và sẽ làm dậy sóng trong giới lý
luận phê bình Huỳnh Như Phương trong bài Chiến tranh, xã hội tiêu thụ và thị trường văn học miền Nam 1954 - 1975” đã viết: Miền Nam là hợp thể của những đối cực về văn hóa mà những giá trị thực sự muốn giành vị trí để được thừa nhận rộng rãi phải trải qua thời gian dài tranh cãi, thuyết phục Cho đến nay một công trình tổng kết đầy đủ hành trình văn hóa, văn học của vùng đất này vẫn là dự án còn ở phía trước [5; tr.103] Chủ nghĩa hiện sinh bắt nguồn với tâm lí của
con người cô độc, bơ vơ vì bị bỏ rơi, là những mảnh vỡ - cá - nhân không có cơ hội gắn kết, tái tạo Nhưng không phải vì thế mà nó chỉ mang một sắc màu lo âu tuyệt vọng hay bi quan chán nản
3.3 Biểu hiện con người hiện sinh trong tiểu thuyết Tuần trăng mật màu xanh
Những người trẻ chơi vơi trong thời cuộc chiến tranh Nó thiếu đi những sự lạc quan và
Trang 7mục đích sống của họ Nhưng bởi một sự tình cờ hãy hữu ý, những còn người lạc lõng lại tìm tới nhau, những con người bơ vơ lại sưởi ấm tâm hồn tìm lại khát vọng sống, tìm lại được tình yêu của mình trong hỏa ngục Ba nhân vật gặp nhau đều trong tâm trạng hoang mang về điều mình đã và đang có Chiến tranh chưa chắc đem lại cho họ một kết thúc màu xanh như mong muốn Không gian truyện mang đậm chất bi thương của chiến tranh, nhân vật Đông, Nhung và
Ý Lan, cái thứ mà chúng ta và họ gọi là tình yêu hay đam mê, chung quy cũng chỉ là mong mỏi được thoát ra khỏi cuộc sống cùng quẫn, lặp đi lặp lại, mang đầy màu trầm buồn dính đầy những vết tích của chiến tranh mang lại Họ đâu có đi tìm tuần trăng mật yêu đương lứa đôi đơn thuần, điều họ tìm là tự do, đổi mới, tươi sáng Các nhân vật không già, nhưng cũng chẳng còn quá trẻ như độ mười tám đôi mươi, ấy vậy mà họ đã nếm trải đủ thứ mùi đời, giữa có được và mất đi, chỉ bởi hai chữ “chiến tranh” Bối cảnh tác phẩm diễn ra ở Huế càng tô thêm màu sắc cổ kính, trầm buồn cho câu chuyện Nó mang nét buồn và mang màu sắc kiểu suy tư, những cơn mưa
cứ xuất hiện lại càng nhấn mạnh bối cảnh đó, những nữa sau khi có sự chuyển biến thì ta có thể thấy rõ sự khác nhau giữa hai mảng màu của câu chuyện, dẫu đầu truyện và cuối truyện đều có hình ảnh của cơn mưa nhưng ý nghĩa của nó lại khác nhau hoàn toàn Cơn mưa ở đầu là tiếng lòng của những người cô đơn, ở giữa là sự gọt rữa thanh tẩy tìm lại niềm vui sống, cuối cùng
là tiếng kêu cuộc sống của hạnh phúc
Tên câu chuyện cũng là một cái tên rất có ý nghĩa và liên quan mật thiết tới các nhân vật,
“tuần trăng mật” này diễn ra ở Huế và chính nơi đây như một vùng trời để họ tìm thấy nhau và tìm thấy lại chính bản thân mình Màu xanh như một màu của hy vọng của khát vọng hòa bình và cũng
có thể hiểu là một chốn trời riêng của hạnh phúc lứa đôi Không đám cưới, không hoa, không kịp đính ước, nhưng những ngày trải qua cùng nhau là liều thuốc cứu rỗi họ giữa cuộc chiến đầy tăm tối bi thảm “em đi với anh một vòng ra phố không, ta ăn sáng, hưởng một cuộc liều với anh”
3.3.1 Con người cô đơn, lạc lõng
Byron từng cho rằng, giữa thiên nhiên, trong rừng cây, trên cánh đồng cỏ, ông không bao giờ cảm thấy cô đơn, chỉ trong thành phố, giữa những con người Nghĩa là, với tư cách là thực thể sống, chỉ con người nhận biết sự cô đơn và chỉ giữa cộng đồng mà thôi Bất cứ nơi
đâu có cô đơn, ở đó luôn có mối quan hệ bị tách rời khỏi cộng đồng và sự còn lại một mình Trong đa số các trường hợp, mối quan hệ bị đánh mất luôn luôn tiêu cực và đau đớn Đó là lí
do vì sao con người thường nhận biết và trải nghiệm nỗi cô đơn trong ý hướng mong ước được đứng vào cộng đồng lần nữa
Dưới cái nhìn của hiện sinh, motip cái đẹp bị ruồng bỏ, bị cô đơn lạc lõng được tái hiện qua nhân vật Nhung Cô mang vẻ đẹp, sự sang trọng và đằm thắm của người con gái xứ Huế
truyền thống mặt trời non phả phấn hồng mơn man lên những sợi lông măng trắng mịn trên má Nhung, đằm thắm hai con mắt trong vắt, dịu dàng và trắc ẩn [8; tr.104], nhưng trớ trêu là chính
vẻ đẹp ấy đã tách họ ra khỏi số đông, biến Nhung thành số ít cô đơn và lạc loài Chỉ muốn chìm lắng, chơi vơi, mông lung, có có không không, hư hư thực thực [8; tr 83]; Nhung bơ vơ giữa những ám ảnh lạ lùng, mới mẻ [8; tr.94]
Nhung cô đơn trong chính đất Sài Gòn - nơi cô sống, cô đơn khi tiếp xúc với người chồng sắp cưới của mình, cô đơn trong những mối quan hệ xung quanh Người con gái này, chưa một lần thấy hạnh phúc, thấy vui vẻ và thoải mái (trước khi gặp lại Đông) Có thể nói Nhung đẹp tới mức lạc lõng giữa những người xung quanh Cô cho rằng họ “tật nguyền” về cách sống và
Trang 8cũng chính thế cô không có sự đồng chất với xã hội Nàng bất chợt nhận ra tất cả sự tầm thường mòn cũ của hình ảnh đời sống xung quanh, của Sài Gòn, của Lộc với mình một ngày kia sẽ tới, với nghề nghiệp, những thói quen, cùng tất cả những trì tiêu khiển đều đặn của tuần”; “cái vẻ vội vàng, lúi húi đó vẽ nên tất cả nỗi nhàm chán của một đời người chỉ quẩn quanh trong cái thói quen và công việc loay hoay, không bao giờ thoát ra nổi, không lý do và can đảm thoát ra bởi không bao giờ tỉnh khỏi cơn mê quen thuộc điều đặn của một đời sống chết trong no đủ và bình thường [8; tr 74, 75]
Có thể nói những con người như Nhung mang những khác biệt trong tâm hồn thể hiện qua suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng mới thực sự khiến cho cô trở cô đơn tuyệt đối Điều như
giống như Hamvas Bela viết: Có một dạng cô đơn mà đặc điểm của nó là con người sống trong
sự cô đơn ấy tự chứng minh mình đứng ngoài xã hội…Cái cô đơn này bắt đầu từ những nhu cầu cao hơn hẳn, từ sự phản đối cái tinh thần thấp kém trong cộng đồng, từ chối sự thống trị của cái hời hợt, nông cạn, những thị hiếu tầm thường [6, tr.136] Vì cô đơn trong suy nghĩ, Nhung nhìn Lộc, nhìn xã hội “Mười năm Hai mươi năm Cho đến lúc thấy mình già Rồi là hết Phần đông người ta đã chìm lỉm như thế Không ai nhận ra thảm trạng ngấm ngầm của mỗi đời người đó cả” [8 ; tr.136]
Nhung cô gái sống ở Sài Gòn, nhưng quê hương cô ở xứ Huế Với Nhung, Huế lúc này xa
lạ, lạnh lẽo Rất lâu, khi bà con không ai còn ở Huế [8; tr.13], Nhung phải đến đây để xử lý ngôi
nhà của cô Trong tâm lý của người con gái được tác giả miêu tả nhẹ nhàng, nhưng đầy sự lạc
lõng, tuyệt vọng và cô đơn Nhung như người lạ trở về một nơi không còn là của mình, đối diện với người lạ, nếm thử chút đời đã mất hút xa xăm trong ấu thơ lu mờ [8; tr.92]; “mọi người đã đi,
đã chết hay vẫn còn đây nhưng không bao giờ mình nhận ra, không ai nhận ra mình” [8; tr.13] Theo quan điểm của Martin Heidegger thì bản chất con người là lo âu, tâm trạng chủ yếu
của con người là sự sợ hãi Sartre và Nietzsche cho rằng bất cứ ý nghĩa nào có trong thế giới này cũng đều do cá nhân sáng tạo ra trong sự cô đọc hay trong mối quan hệ với người khác, Albert Camus coi đây là nguồn suối của sự lo âu [3; tr.91] Trước cuộc sống hiện đại đầy rẫy
những bất công, phi lý, ngổn ngang những “buồn nôn”, bất an trở thành tâm lý chung của con người trong cuộc sống xã hội Nỗi cô đơn của nhân vật Đông được tác giả khắc họa qua tính cách, tâm lý nhân vật Nhà văn xây dựng hình ảnh người lính mang trong mình nỗi ám ảnh cái chết từ chiến tranh Anh tạm trốn khỏi quân doanh trong một kỳ nghỉ phép nhưng vẫn ngửi thấy mùi thuốc súng, mùi của cái chết, tiếng bom đạn và luật lệ trong quân đội căng thẳng đến mức nghẹt thở Những ám ảnh của chiến tranh, máu, cái chết được xen kẻ trong những hành động,
dòng ý thức của Đông Những câu nói bỏ nửa chừng anh nhặt áo lên, còn mới, vải và đường may còn nguyên vẹn, mới toanh…, nhưng bất ngờ lật bên trong thấy … từng đám máu khô loang lổ [9; tr.60]; chạm súng thường Nhưng dạo này có vẻ yên Sự yên lặng rình chực, chuẩn
bị ấy mà, sẽ ghê gớm lắm [8; tr 64] Đặc biệt, trong những lần “ngủ tạm”, những cái chết và bom đạn đều xuất hiện trong giấc mơ của Đông tiếng súng từng loạt nổ đều bên ngoài, thật gần Một trái lựu đạn nổ bung ngay trên lối ra Mùi thuốc súng xông xuống khét lẹt; những tiếng nổ bật lên, xoáy tròn bên tai, như đâm thủng qua óc anh và viên đạn ngọt lịm đã bay vụt ra ngoài, như thân thể anh có muôn nghìn lỗ trống để gạn lọc lấy sự sống dễ dàng [8 ; tr 41, 42] Đông
- người lính mang trong mình nỗi ám ảnh cái chết từ chiến tranh, nhiều lần trong sự cô đơn, anh
thấy cái chết đến với chính mình cũng có thể tôi chết, một buổi sáng thật thanh bình, thản nhiên,
Trang 9nhẹ nhõm như đi ngủ, giấc ngủ trẻ thơ, không thắc mắc và tính toán Cũng có nghĩa là tôi chết
đi [8 ; tr 43] Với những tâm lý của Đông, nhân vật hiện lên trong tác phẩm luôn là con người
cô đơn, chán chường, ruồng bỏ và trốn tránh Đông luôn cất lên những câu nói ám chỉ về cuộc sống hờ trong hiện tại Cuộc sống được xem là qua ngày của anh Đối với một người khoác trên mình màu áo lính, những tư tưởng ấy đi ngược với xã hội, với con người Sự bất an cô độc trên
“con đường” của Đông đang đi khi anh nhận ra theo sau bước chân của mình có một ánh nhìn,
một khẩu súng, một mệnh lệnh cứ dõi theo có cái gì, như rừng gai, như đám đông, như bức màn, nhu vùng tối ngập tràn giăng đầy trước mặt Anh muốn tỉnh trí, muốn thức dậy từ cõi vọng tưởng xa xăm, nhân lại mình, nhận lại con đường, nhận lại hướng đi [8; 214]; nhưng Tiếng còi như thúc bách và bay vút lại gần, ngay sát sau lưng Đông, có tiếng sột soạt đằng sau, ở khoảng trống Đông vừa bỏ lại; tiếng kêu mơ hồ, văng vẳng, trầm ấm dịu dàng trong tâm tưởng Đông, bay vút, sắc và lạnh như một mũi lao nhọn vào gáy Đông trơ trụi [8; tr 216]
Ý Lan, người phụ nữ nhiều trải nghiệm, lang bạt, khi đứng trước Kinh thành Huế, bãi chợ đầy sình, tâm lý nhân vật ngổn ngang những “buồn nôn”, bất an trở thành tâm lý chung xuyên suốt trong nhân vật này Chính cô cảm thấy có điều gì đó sắp đến với chính mình Người phụ
“trốn chạy” tất cả những người thân quen, né tránh để không nhìn vào sự thật tồi tệ Ý Lan có
sự mâu thuẫn trong nội tâm chính mình, “cái đi” của cô để trốn tránh nhưng cũng để tìm kiếm nghe ngóng tin tức Nghe ngóng, nhưng lại né tránh những người quen biết Đây là một vòng tròn luẩn quẩn của người phụ nữ này Những lần thoáng trong suy nghĩ Ý Lan luôn là lời nói báo tử của người yêu
Đó là những dự cảm bất an về sự mất an toàn trong cuộc sống, dự cảm về sự đổ vỡ trong hạnh phúc gia đình, lo sợ những điều không hay xảy ra với người thân Đặc biệt, quyền được
ở, nơi ở và việc làm cũng là những mối lo luôn canh cánh hiện hữu, ám ảnh trong những dự cảm về một tương lai mơ hồ, xám xịt Khi con người đối diện với những nỗi lo cũng là lúc họ đối diện trực tiếp với sự cô đơn
Cô đơn trở thành thuộc tính của con người Con người tuyệt đối cô đơn trên hành trình kiếm tìm tự do, khẳng định nhân vị Nguyễn Thị Hoàng để Đông bộc lộ sự cô đơn của mình như một khát vọng tận cùng và muôn thuở “vươn đến đảm nhiệm cô đơn trong cuộc kiếm tìm
tự do Đông là chính Đông, anh cô độc trong suy nghĩ thời cuộc, nhưng anh được làm cái anh muốn, được trọn vẹn với cái bản ngã chính mình Đặt nhân vật này với các hình tượng người lính của văn học kháng chiến là hoàn toàn trái ngược về mặt tư tưởng Đông không phải là mẫu người lý tưởng Đông lười biếng, hèn nhát – nếu xét theo tiêu chuẩn nhà binh Nhưng nếu xét
về khía cạnh cuộc sống, con người, đây là nhân vật được xây dựng qua tính cách, hành động bộc lộ khát vọng được sống theo ý thích Đông là một người chăm chỉ và dũng cảm Cái liều của Đông không thể hiện trên chiến trường, mà thể hiện trong cuộc sống cá nhân mà anh ta
muốn được thể qua những câu nói, những hành động Nhung Em đi với anh một vòng ra phố không, ta ăn sáng, hưởng một cuộc liều với anh [8; tr 202] Đây cũng là nhân vật tìm mọi cách
được ra doanh trại, được nghỉ phép thường xuyên, chỉ để đi tìm cuộc sống chính mình Anh la
cà khắp quán phố, la cà khắp kinh thành Huế để tìm kiếm vẻ đẹp cổ kính ngày trước Anh tìm
và ăn những thứ anh cho là ngon, là “đặc sản”, dù rằng hương vị nhạt nhẽo và lạnh lẽo như thời cuộc Anh cũng là con người mạnh dạn chống lại doanh trại, dẫu biết rằng sẽ nhận những hậu quả khôn lường, nhưng Đông “vẫn đi”, đi một mình trong dòng người xuôi ngược Bóng dáng
Trang 10nhỏ nhắn và băng xen những con hẻm đi mua thứ quà được xem là hạnh phúc, là minh chứng
cho tình cảm với Nhung Những bước đi như người mộng du còn tiếc nuối đời sống phiêu viễn trong chiêm bao, hai chân Đông cứ đều đều đếm thời gian về phía trước [8; tr 216]
3.3.2 Con người nổi loạn
Nhà nghiên cứu Thích Đức Nhuận cho rằng: Hiện sinh đã đặt toàn thể thân phận con người trong một cảnh khổ tuyệt vọng, rồi đào bới tất cả những khả năng tự tạo của con người
đã có để bắt buộc đem ra thi hành Nhưng bất cứ cuộc ứng dụng nào cũng đem tới kết luận là thảm bại Tâm thức con người đang bị những đường roi hiện sinh quất xuống rất mạnh, bắt buộc tâm thức phải tự dao động Ý thức con người không được quyền an nghỉ nữa Phải vùng lên để tự thăng hóa Đó là một thực trạng của thời đại [11, tr.13] Bên cạnh đó, không những
không được “an nghỉ”, con người luôn phải loay hoay “quy hoạch” chính cuộc đời của mình Các nhà hiện sinh thường dùng tác phẩm để tuyên ngôn cho một lối sống tích cực, một lối sống theo kiểu “cháy hết mình” cho cuộc sống Bởi cuộc sống không dài, không hào nhoáng như hằng tưởng mà nó chứa đựng đầy rẫy những điều bất trắc Thế nên, con người trong tác phẩm của các nhà hiện sinh luôn phải tìm cách bươn chải, chống chọi chỉ để sống cho ra sống theo ý
của mình Với họ, sống không phải chỉ là sự hoạt động hít vào - thở ra một cách đơn thuần mà
là tranh đấu, là vẫy vùng, là tận hiến cho khát vọng, đam mê của mình
Với kiểu con người với sắc thái tính cách này được hầu hết các nhà văn yêu thích và thể hiện, tuy nhiên, cách thức dấn thân để lấp đầy khát vọng ở nhân vật của mỗi nhà văn lại có màu sắc riêng Nguyễn Thị Hoàng để cho các nhân vật trỗi dậy sự nỗi loạn, phản kháng Nhung – người con gái truyền thống với mọi chuẩn mực đứng lên từ hôn với Lộc để đi theo tiếng gọi trái tim Cô chấp nhận sự bêu rếu, đồn đại của mọi người, chấp nhận một tương lai không ổn định với Đông, nhưng trong mắt Nhung là đó “hạnh phúc xanh” Nhung chấp nhận bán căn nhà
ở Huế để cùng Đông có được cuộc sống tốt đẹp Cũng như chính cô tìm mọi cách để lo cho Đông không phải đi lính, không phải đi vào chiến trường với những ám ảnh của cái chết Con người chính là sự thức nhận, trong một khoảnh khắc nào đó, cái tẻ nhạt của cuộc sống thường nhật Bởi có những khi, con người trở nên vô cảm với chính sự tù đọng của đời người
Họ thực hiện nó một cách nghiêm cẩn, không mảy may xao động, phản kháng Khát vọng cháy bỏng muốn thoát ra khỏi cái vùng “an toàn” nhàm chán, không hương sắc đó chính là động cơ mạnh mẽ nhất cho hành trình dấn thân của mỗi con người Khát vọng đó tượng hình trong câu hỏi xoáy mãi vào tâm can… Nguyễn Thị Hoàng thể hiện điều này qua cách bà xây dựng hành
động nhân vật Ý Lan, người phụ nữ có cuộc sống lang thang, đi đây đó, trải nghiệm Nàng muốn như thế, lao vào một cuộc phiêu lưu ngắn, để tự xem mình dai dẳng và kiên nhẫn đến mức độ nào sau một quảng đời tưởng đã chai đá, lăn lóc mà thật tình, quá dễ dàng, trơn tuột, thản nhiên so với những tháng này mới mẻ này [8; tr 56] Ngay cả khi thấp thoáng hình bóng ngời yêu của
mình (Vĩnh), Ý Lan cũng thoát khỏi cái suy nghĩ ấy, cô mạnh mẽ suy nghĩ về Đông Tác giả miêu
tả tâm lý nhân vật rất mạnh mẽ và rõ rệt thử tập đăm đuối theo cơn mê Yêu Một điều quen thuộc
và lạ lùng Dửng dưng mà tàn nhẫn Có đó mà thực ra không bao giờ có Là cái gì Không cắt nghĩa Chẳng cần cắt nghĩa Như đêm qua Rồi tất cả sẽ tan đi Biến mất hay gột rửa đến tận cùng trong tâm khảm Không đủ thời gian cho bất cứ ột tình yêu nào kết tụ rong rêu lên đời người
và ký ức trong khoảng không gian bồng bềnh trôi nổi váng vất ấy [ 8; tr 58] Con người có điểm
khác lạ rõ rệt, nhìn nhận được vấn đề, lại càng “sa ngã” vào đó Như tiềm tàng bên trong một khát