1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố quyết định lựa chọn đầu ra thị trường của nông dân trồng chè ở thành phố thái nguyên, việt nam

14 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các yếu tố quyết định lựa chọn đầu ra thị trường của nông dân trồng chè ở thành phố Thái Nguyên, Việt Nam
Trường học Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 119,07 KB
File đính kèm đầu ra thị trường của cây chè.rar (110 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN ĐẦU RA THỊ TRƯỜNG CỦA NÔNG DÂN TRỒNG CHÈ Ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, VIỆT NAM Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn của nông dân đối.

Trang 1

CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN ĐẦU RA THỊ TRƯỜNG CỦA NÔNG DÂN TRỒNG CHÈ Ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, VIỆT NAM

Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn của nông dân đối với kênh tiếp thị chè của nông dân tại thành phố Thái Nguyên, Việt Nam Một bảng câu hỏi bán cấu trúc và được kiểm tra trước đã được sử dụng để thu thập dữ liệu từ nông dân trồng chè thông qua phỏng vấn trực tiếp Quy trình lấy mẫu nhiều tầng được sử dụng để liên hệ với 386 người trả lời Nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy logistic đa thức (MNL) để xác định các yếu tố quyết định việc người trồng chè lựa chọn kênh tiếp thị và quyết định về doanh số bán hàng sau khi đã chọn được kênh tiếp thị Kết quả cho thấy Quy mô gia đình (famsz); Kinh Nghiệm Làm Nông (exper); Thu nhập ngoài/ngoài trang trại (offarm); Kích thước đất được giao (aretea); Khoảng cách ảnh hưởng đáng kể đến việc tham gia vào kênh tiếp thị Quy mô đất đai được giao là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất với (B = 4,418; OR= e 4,418= 82,957)

1 Giới thiệu

Tiếp thị đóng một vai trò quan trọng trong việc đáp ứng các mục tiêu tổng thể về

an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo và nông nghiệp bền vững, đặc biệt là giữa các hộ nông dân nhỏ ở các nước đang phát triển Đối với việc tiếp thị các sản phẩm nông nghiệp, các quyết định về kênh là một trong những quyết định quan trọng nhất mà một tổ chức phải đối mặt và các kênh được chọn ảnh hưởng mật thiết đến tất cả các quyết định tiếp thị khác1 Kênh tiếp thị được xác định bởi2 là một tập hợp các tổ chức phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình làm cho sản phẩm hoặc dịch vụ sẵn sàng để tiêu dùng hoặc sử dụng makhura3 thanh tra cho thấy việc tiếp thị của nông dân sản xuất nhỏ bị hạn chế bởi cơ sở hạ tầng kém, khoảng cách với thị trường, thiếu phương tiện vận chuyển riêng và thông tin thị trường không đầy

đủ Thiếu khả năng thương lượng cùng với các mối quan hệ ràng buộc tín dụng khác nhau với người mua đã dẫn đến việc nông dân bị bóc lột trong quá trình giao dịch, nơi hầu hết nông dân trở thành người chấp nhận giá Phần lớn nông dân là hộ sản xuất nhỏ và do đó, không thể có được mức giá hợp lý cho sản phẩm của họ và dẫn đến không thể duy trì sinh kế của họ4

Trong nghiên cứu này chúng tôi đặc biệt tập trung vào các yếu tố quyết định việc lựa chọn kênh marketing của người trồng chè tại Thái Nguyên, nơi hiện có trên 22.300 ha diện tích chè và là tỉnh có diện tích chè lớn nhất cả nước với sản lượng chè tươi đạt trên 118 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi hơn 240.000 tấn/năm Cây chè

đã trở thành thành phần kinh tế mũi nhọn, mang lại giá trị kinh tế lớn cho địa

Trang 2

phương, giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha bình quân đạt khoảng 300 - 500 triệu đồng/ha, một số vùng chè đặc sản đạt từ 500 - 800 triệu đồng/ha

Nhiều năm qua, tỉnh Thái Nguyên đã tập trung ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển cây chè theo hướng vừa mở rộng quy mô diện tích chè, vừa phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của sản xuất chè trong nước và thị trường quốc tế Cùng với việc chuyển đổi cơ cấu giống, các địa phương chú trọng đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến chè an toàn, chè hữu cơ, nâng cao chất lượng sản phẩm Diện tích chè áp dụng quy trình sản xuất an toàn tăng nhanh, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật được

áp dụng như: Sử dụng phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học, công nghệ tưới tiết kiệm nước trong thâm canh chè Phần lớn diện tích chè được sản xuất theo hướng

áp dụng quy trình sản xuất chè an toàn, sản xuất hữu cơ, thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP), đạt tiêu chuẩn an toàn trong nước và quốc tế (như: VietGAP, GlobalGAP, UTZ Certified, hữu cơ )

Lựa chọn kênh tiếp thị là một trong những thành phần quan trọng để tiếp thị thành công cả sản phẩm nông nghiệp và phi nông nghiệp Điều này là như vậy bởi vì các kênh khác nhau được đặc trưng bởi các lợi ích (lợi nhuận) và chi phí khác nhau Theo Tsourgiannisa5, kênh tiếp thị được sử dụng khi bán sản phẩm có ảnh hưởng đến lợi nhuận mà nông dân có thể kiếm được Vì vậy, các nghiên cứu về quyết định lựa chọn kênh marketing là rất quan trọng, đặc biệt là trong thị trường chè Thái Nguyên, nơi có nhiều kênh thị trường thay thế cho người bán lựa chọn Việc xác định và hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn kênh tiếp thị của nhà sản xuất và cách thức các yếu tố này có thể giúp phát triển chuỗi giá trị Chè có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển ngành Hiểu được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia thị trường và cách giảm bớt những yếu tố liên quan đến nông dân cũng là cơ bản trong việc cải thiện hoạt động tiếp thị và phúc lợi của các chủ sở hữu nhỏ và mới nổi Do đó, nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn kênh marketing của nông dân trồng chè để

có thể xác định những điểm hạn chế trong hoạt động marketing chè và cũng như xây dựng các kế hoạch chiến lược như một lộ trình phát triển thị trường Nghiên cứu cũng đóng góp vào khoảng trống kiến thức hiện có liên quan đến lợi ích của các kênh tiếp thị khác nhau để nông dân sản xuất chè có thể tiếp thị chè của họ một cách có lãi và đầu tư, đồng thời xây dựng các kế hoạch và chính sách chiến lược để phát triển khả năng tiếp thị của các hộ sản xuất nhỏ

2 lí luận

Trang 3

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn kênh marketing của nhà sản xuất đối với sản phẩm nông nghiệp Fafchamps và Hill (2005), nghiên cứu lựa chọn bán tại cổng trang trại và

đi đến chợ của nông dân trồng cà phê ở Uganda Trong nghiên cứu của họ, nông dân phải đi bộ đến chợ cà phê khi không có phương tiện giao thông công cộng và những nông dân giàu có hơn muốn bán tại cổng trang trại, đặc biệt là số lượng bán hoặc khoảng cách đến chợ lớn do chi phí cơ hội của họ về thời gian cao hơn Kết quả ngược lại khi những hạn chế về tiền mặt và phương tiện giao thông công cộng được đưa vào mô hình của họ vì họ có đủ khả năng chi trả cho phương tiện đi lại Những nông dân giàu có hơn có nhiều khả năng bán ra thị trường hơn khi họ có

số lượng lớn

Nyaupane và cộng sự (2010) đã nghiên cứu quyết định tiếp thị của nhà sản xuất trong ngành Crawfish Louisiana và nhận thấy rằng hầu hết các nhà sản xuất chọn thị trường bán buôn thay vì bán trực tiếp cho người tiêu dùng và nhà bán lẻ vì kênh này thuận tiện nhất và cũng mang lại lợi nhuận cao Trong nghiên cứu của họ, sự lựa chọn kênh bị ảnh hưởng bởi đặc điểm nhân khẩu học của nông dân và đặc điểm thị trường Một nghiên cứu của Jari6 cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố thể chế và kỹ thuật ảnh hưởng đến sự lựa chọn kênh tiếp thị nông nghiệp của các hộ nông dân sản xuất nhỏ và nông dân mới nổi ở Thung lũng sông Kat ở Nam Phi Theo Jari6 sự tham gia của thị trường nông dân có ý nghĩa quan trọng đối với

cả tăng trưởng kinh tế bền vững và xóa đói giảm nghèo và bất bình đẳng Tóm lại, tiếp thị đóng một vai trò quan trọng trong việc đáp ứng các mục tiêu chung về an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo và nông nghiệp bền vững, đặc biệt là đối với các nông hộ nhỏ ở các nước đang phát triển6

Marketing nông nghiệp nói riêng là việc thực hiện tất cả các hoạt động kinh doanh liên quan đến dòng hàng hóa và dịch vụ từ điểm sản xuất nông nghiệp ban đầu cho đến khi chúng đến tay người tiêu dùng cuối cùng (Kohls và Uhl,7 như được trích dẫn trong Demeke8 ) Kênh tiếp thị là một tập hợp các thực tiễn hoặc hoạt động cần thiết để chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa và di chuyển hàng hóa từ điểm này đến điểm khác và như vậy, bao gồm tất cả và tất cả các hoạt động trong quy trình tiếp thị Một kênh tiếp thị có thể ngắn như là trực tiếp từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng hoặc có thể bao gồm một số trung gian được kết nối với nhau (thường là độc lập nhưng phụ thuộc lẫn nhau) chẳng hạn như nhà bán buôn, nhà phân phối, đại lý, nhà bán lẻ Mỗi người trung gian nhận hàng tại một điểm định giá và chuyển nó đến điểm định giá cao hơn tiếp theo cho đến khi đến tay người mua cuối cùng9

Trang 4

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Thiết kế và khuôn khổ nghiên cứu

Nghiên cứu theo phương pháp hỗn hợp là cách tiếp cận phù hợp nhất để thu thập

và phân tích dữ liệu của nghiên cứu Bằng cách kết hợp phương pháp định lượng

và định tính, nhà nghiên cứu đã định tính dữ liệu từ các nguyên liệu thô định lượng

từ người trả lời Phương pháp định tính được sử dụng để giải thích các mức độ và mối quan hệ giữa các biến định lượng

3.2 Mô tả khu vực nghiên cứu

Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc rộng lớn, nổi tiếng với đặc sản chè Việt Nam Nó có 22.330 ha chè Sản lượng chè búp của tỉnh năm 2019 đạt

210 nghìn tấn, năng suất bình quân đạt 118 tạ/ha, giải quyết việc làm cho hơn 60 nghìn nông dân trồng chè (Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2020) Hiện nay, tỉnh Thái Nguyên có 174 làng nghề chè và làng nghề chè, trong đó có 140 làng chè đã được UBND tỉnh công nhận làng nghề chè chuyên nghiệp và làng nghề chè truyền thống Các làng nghề chè tạo việc làm cho 10.290 hộ dân trong làng với 21.000 lao động

3.3 Loại dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu

Trong nghiên cứu này, cả dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đều được sử dụng Cả quy trình khảo sát chính thức và không chính thức đều được sử dụng để thu thập dữ liệu sơ cấp Cuộc khảo sát chính thức được thực hiện thông qua các cuộc phỏng vấn với nông dân sản xuất cà chua được chọn sử dụng bảng câu hỏi bán cấu trúc đã được kiểm tra trước Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các tài liệu đã công bố và chưa công bố, và các nguồn trên internet

3.4 Kỹ thuật lấy mẫu và cỡ mẫu

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp nông dân với sự trợ giúp của bảng câu hỏi có cấu trúc bao gồm cả bảng câu hỏi mở và câu hỏi đóng Dữ liệu cho bài viết này được thu thập tại 3 khu vực sản xuất chè chính (thành phố Thái Nguyên, Đại Từ và Đồng Hỷ) ở Thái Nguyên trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 1 năm 2020 Dữ liệu khảo sát bao gồm nhân khẩu học, sử dụng đất, sản xuất, hoạt động tiếp thị, v.v hộ sản xuất chè qua phỏng vấn trực tiếp Quy trình lấy mẫu ngẫu nhiên hai giai đoạn được sử dụng để lấy mẫu của 386 nông dân

Trang 5

Cỡ mẫu được lấy bằng cách xác định tỷ lệ dân số trong các nghiên cứu Cụ thể, McClave et al (2006) tuyên bố rằng việc sử dụng tỷ lệ dân số đã được trình bày để xác định số lượng cỡ mẫu để đặt trước toàn bộ nhóm dân số có thể được sử dụng cho dân số chưa biết Trong nghiên cứu này, không thể có được con số tỷ lệ chính xác Vì lý do này, công thức do Smith (2011) phát triển được dùng để tính cỡ mẫu

3.5 xử lý thống kê

Thống kê mô tả và phân tích kinh tế lượng được sử dụng để phân tích dữ liệu thu thập được từ các hộ sản xuất chè Giá trị trung bình, tỷ lệ phần trăm, độ lệch chuẩn tối thiểu và tối đa trong quá trình mô tả đặc điểm của hộ gia đình Phân tích kinh tế lượng sử dụng mô hình logit đa thức (MNL) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn kênh thị trường của người sản xuất chè tại địa bàn nghiên cứu

vì tất cả người sản xuất chè đều bán chè qua hơn hai kênh

Nghiên cứu này giả định rằng quyết định của nông dân được tạo ra dựa trên việc tối đa hóa tiện ích của nó Điều này hàm ý rằng mỗi sự lựa chọn phương án tiếp thị thay thế đòi hỏi những chi phí và lợi ích cá nhân khác nhau, và do đó là tiện ích khác nhau, đối với người ra quyết định trong gia đình Mô hình phân tích được xây dựng như sau Giả sử rằng lợi ích đối với một hộ gia đình của phương án j là Uij, trong đó j = 0, 1, 2 Theo quan điểm của người ra quyết định, phương án tốt nhất đơn giản là phương án tối đa hóa lợi ích tư nhân ròng tại biên Nói cách khác, hộ i

sẽ chọn marketing oulet j khi và chỉ khi Uij > Uik, Điều quan trọng cần lưu ý là tiện ích của hộ gia đình không thể quan sát được trong thực tế Những gì một nhà nghiên cứu quan sát được là các yếu tố ảnh hưởng đến tiện ích của hộ gia đình chẳng hạn như các đặc điểm và thuộc tính của hộ gia đình và cá nhân của tập hợp lựa chọn mà hộ gia đình trải nghiệm Dựa trên McFadden (1978), hàm thỏa dụng của một hộ gia đình từ việc sử dụng phương án j có thể được biểu diễn như sau:

Ở đâu:

V ij : là hàm hữu dụng gián tiếp và

ε ij : là một lỗi ngẫu nhiên

Xác suất mà hộ gia đình tôi chọn thay thế j có thể được chỉ định là

Trang 6

Giả sử rằng các số hạng sai số được phân phối đồng nhất và độc lập với phân bố giá trị cực trị loại i, xác suất mà một hộ gia đình chọn phương án j có thể được giải thích bằng mô hình logit đa thức (Greene, 2000) như sau:

Thiết kế mô hình logit đa thức (MNL)

Ở đâu:

X ij : là véc tơ hộ gia đình của người trả lời thứ i đối mặt với phương án j

: là một vectơ ước lượng tham số hồi quy liên quan đến phương án j

biến phụ thuộc

Cửa hàng thị trường (MktO): Một biến phụ thuộc phân loại được đo bằng xác suất nhà sản xuất bán Trà cho một trong các cửa hàng thị trường lựa chọn thay thế Nó được biểu diễn trong mô hình dưới dạng:

+ Y1 đối với những hộ lựa chọn thương lái ở nông thôn để bán Chè

+ Y2 đối với những hộ chọn đại lý bán chè

+ Y3 đối với những hộ lựa chọn người tiêu dùng bán Chè,

+ Y4 đối với những hộ chọn bán buôn (Doanh nghiệp hoặc Hợp tác xã)

Biến độc lập

Để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến doanh số bán chè và lựa chọn cửa hàng trên thị trường, cả biến liên tục và rời rạc đều được đưa ra giả thuyết dựa trên các lý thuyết kinh tế và kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm khác nhau Theo đó, để điều tra các yếu tố quyết định cung thị trường và lựa chọn đầu ra thị trường, các biến sau đây đã được xây dựng Các biến giải thích dự kiến sẽ ảnh hưởng đến (các) biến phụ thuộc như sau:

Trang 7

1 Năng suất (YILDTEA): Là một yếu tố kinh tế và là biến số liên tục có thể ảnh

hưởng đến sản lượng bán ra ở cấp hộ gia đình và được đo bằng tạ/ha trong năm khảo sát Năng suất được cho là ảnh hưởng tích cực đến lượng cung, bởi vì một nông dân đạt được năng suất cao có thể cung cấp nhiều hơn cho thị trường so với một nhà sản xuất có ít năng suất hơn

2 Giới tính của chủ hộ (SHH) : Đây là biến giả (nhận giá trị 1 nếu chủ hộ là nam

và 0 nếu ngược lại) Biến này dự kiến sẽ có mối quan hệ tích cực hoặc tiêu cực với khối lượng Trà được bán trên thị trường Bebe et al (2012) lưu ý rằng phần lớn phụ nữ bị hạn chế về nguồn lực do họ không sở hữu các nguồn lực quan trọng trong việc tiếp thị rau quả để có thêm thu nhập Do đó, chủ hộ là nam có nhiều cơ hội lựa chọn thị trường tiêu thụ phù hợp hơn so với chủ hộ là nữ

Quy mô gia đình (famsz): Biến này là biến giải thích liên tục và đề cập đến tổng

số gia đình trong hộ gia đình Trong nghiên cứu này giả định rằng bất kỳ thành viên nào trong gia đình cũng có thể quyết định tham gia sản xuất và tiếp thị Chè Vì sản xuất là chức năng của lao động, nên sự sẵn có của lao động được giả định là có mối quan hệ tích cực với khối lượng cung ứng Trong bối cảnh này, quy

mô gia đình dự kiến sẽ có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến khối lượng bán hàng

và lựa chọn các cửa hàng trên thị trường

Trình độ học vấn của chủ hộ (EduHH ): Đây là biến liên tục được đo

lường Trình độ học vấn của người nông dân quyết định tốc độ mà họ có thể áp dụng các công nghệ nông nghiệp

Kinh nghiệm canh tác (exper): Đây là một biến liên tục được đo bằng số

năm Một hộ gia đình có kinh nghiệm trồng chè tốt hơn được giả định là sẽ sản xuất ra nhiều chè hơn và do đó, được giả định là sẽ cung cấp nhiều chè hơn cho thị trường Toyiba và cộng sự (2014) phát hiện ra rằng kinh nghiệm sản xuất đu đủ có tác động tích cực và đáng kể đến khối lượng đu đủ bán ra thị trường Do đó, kinh nghiệm trang trại dự kiến sẽ ảnh hưởng đến các quyết định lựa chọn đầu ra thị trường

Thu nhập ngoài/ngoài trang trại (offarm): Đây là một biến liên tục được đo

lường Nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng nếu thu nhập từ thu nhập phi nông nghiệp/phi nông nghiệp cao hơn sản xuất Tae thì chủ yếu người nông dân sẽ chuyển sang các hoạt động có thu nhập phi nông nghiệp Rehima (2006) nhận thấy rằng lượng tiêu cung cấp cho thị trường giảm khi người sản xuất tiêu tham gia vào thu nhập phi nông nghiệp

Trang 8

Đặc biệt nơi sản xuất chè (chè): Biến giả: Nông dân thị trấn Tân Cương nhận giá

trị 1, ngược lại là 0

Tần suất liên lạc của máy nhánh (Extcontact): biến giả, 1 = quyền truy cập vào

dịch vụ máy nhánh, 0= ngược lại

Mục tiêu của dịch vụ khuyến nông là giới thiệu cho nông dân các đầu vào nông nghiệp được cải tiến và các phương pháp sản xuất tốt hơn Về vấn đề này, khuyến nông được giả định là có đóng góp tích cực vào việc cung ứng chè ở cấp trang trại Những nông dân có liên hệ thường xuyên với đại lý khuyến nông có thể tiếp cận thông tin tốt hơn và có thể áp dụng công nghệ tốt hơn để tăng nguồn cung cấp Chè trên thị trường của họ Ayelech (2011) nhận thấy rằng nếu người sản xuất trái cây được mở rộng quy mô thì lượng trái cây cung cấp cho thị trường sẽ tăng lên Số lượng cán bộ khuyến nông đến thăm cải thiện vốn tri thức của hộ gia đình

và giúp cải thiện sản xuất Chè và tác động đến các lựa chọn đầu ra của thị trường Chè Vì vậy, liên hệ mở rộng đó được giả định là có mối quan hệ trực tiếp với sự lựa chọn đầu ra thị trường của các nhà sản xuất Chè

Nông dân liên kết : Hợp tác xã (biến giả, 1= nông dân tham gia hợp tác xã, 0=

ngược lại)

Hợp tác xã nông dân là thành viên của hợp tác xã được tổ chức để sản xuất chè

Kích thước đất được phân bổ (areatea): Biến này được giả định là có mối quan

hệ tích cực với biến phụ thuộc và là biến liên tục được đo bằng ha Chè là cây công nghiệp có quan hệ trực tiếp với lượng cung Tăng diện tích đất trồng chè có thể trực tiếp làm tăng nguồn cung chè trên thị trường Do đó, diện tích được phân bổ cho Chè được giả thuyết là có ảnh hưởng tích cực đến lượng cung ra thị trường và quyết định lựa chọn đầu ra thị trường của người sản xuất Chè

4 Kết quả và thảo luận

4.1 Các yếu tố quyết định sự lựa chọn đầu ra trên thị trường của các nhà sản xuất chè

Mô hình phù hợp với dữ liệu một cách hợp lý Kiểm định Wald (χ2(48) = 163,73, p

= 0,000) có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, điều này cho thấy tập con các hệ số của

mô hình có ý nghĩa chung và khả năng giải thích của các nhân tố trong mô hình là thỏa đáng Hơn nữa, kết quả kiểm định tỷ lệ hợp lý trong mô hình (LRχ2(6) = 20,567, p > χ2 =0,0022) có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, cho thấy tính độc lập của các điều kiện nhiễu loạn (độc lập với lựa chọn đầu ra của thị trường) bị bác bỏ và

Trang 9

có những mối tương quan chung đáng kể đối với hai hệ số ước tính trên các phương trình trong các mô hình

Kiểm định tỷ lệ khả năng của giả thuyết không về tính độc lập giữa quyết định đầu

ra thị trường (ρ 21 = ρ 31 = ρ 41 = ρ 32 = ρ 42 = ρ 43) có ý nghĩa thống kê ở mức 5% Do đó, giả thuyết không cho rằng tất cả các giá trị ρ (Rho) đều bằng 0 bị bác

bỏ, cho thấy mức độ phù hợp của mô hình Do đó, có sự khác biệt trong hành vi lựa chọn đầu ra thị trường giữa những người nông dân, được phản ánh trong thống

kê tỷ lệ khả năng

Bảng 1 Thông tin lắp mô hình

Bảng 2 Kiểm tra tỷ lệ khả năng xảy ra

Trang 10

Theo bảng 2 , các biến Giới tính chủ hộ (SHH), Phòng trà, Dịch vụ khuyến nông (Extcontact), Thành viên HTX (HTX) không có ý nghĩa thống kê do P-value>0,05

4.2 Các yếu tố Ảnh hưởng Hộ gia đình lựa chọn Marketoulet giữa người thu gom và người bán lẻ, người bán sỉ

Theo kết quả bảng 3 , ở hàng thứ nhất, ta thấy các biến độc lập sau có tác động đến việc lựa chọn kênh thị trường của nông dân: Quy mô hộ gia đình (famsz); Kinh nghiệm sản xuất (exper); thu nhập phi nông nghiệp (offarm); Diện tích trồng chè (aretea) vì sig<0,05

Mô hình logit đa thức (MNL)

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hộ lựa chọn chợ giữa người thu gom và người bán

lẻ, người bán buôn: Quy mô gia đình (famsz); Kinh Nghiệm Làm Nông (exper); Thu nhập ngoài/ngoài trang trại (offarm); Kích thước đất được giao (aretea) Trong đó, Quy mô đất đai được phân bổ là nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất với (B = 1,872; OR= e 1,872 = 6,502)

Ngày đăng: 31/12/2022, 11:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w