1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ có kết quả tế bào học cổ tử cung bất thường với hai phương pháp Aptima HPV và realtime PCR HPV

5 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ có kết quả tế bào học cổ tử cung bất thường với hai phương pháp Aptima HPV và Realtime PCR HPV
Tác giả Lưu Nguyễn Trung Thông, Nguyễn Thị Băng Sương, Huỳnh Giang Châu, Ngô Quốc Đạt, Lê Nguyễn Thảo Phương, Nguyễn Hữu Huy, Lê Minh Khôi
Trường học Trường Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học, Ung thư cổ tử cung, Nghiên cứu khoa học
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 447,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Khảo sát tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ có kết quả tế bào học cổ tử cung bất thường với hai phương pháp Aptima HPV và realtime PCR HPV trình bày xác định tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ có kết quả tế bào học cổ tử cung bất thường theo 2 phương pháp (Atipma HPV và Realtime PCR HPV).

Trang 1

KHẢO SÁT TỶ LỆ NHIỄM HPV Ở PHỤ NỮ CÓ KẾT QUẢ

TẾ BÀO HỌC CỔ TỬ CUNG BẤT THƯỜNG VỚI HAI PHƯƠNG PHÁP

APTIMA HPV VÀ REALTIME PCR HPV

Lưu Nguyễn Trung Thông*, Nguyễn Thị Băng Sương*/**,

Huỳnh Giang Châu***, Ngô Quốc Đạt**,

Lê Nguyễn Thảo Phương****, Nguyễn Hữu Huy*, Lê Minh Khôi */**

TÓM TẮT 6

Đặt vấn đề: Nguyên nhân chính gây nên

hiểm họa UTCTC là vi rút u nhú ở người (HPV –

Human Papilloma Virus), một tác nhân lây

truyền qua đường tình dục Hiện nay có rất nhiều

phương pháp để phát hiện nhiễm vi rút HPV Các

xét nghiệm sinh học phân tử đã mở ra một cuộc

cách mạng mới trong nghiên cứu và chẩn đoán

lâm sàng, tuy nhiên việc phát hiện HPV DNA có

thể chỉ cho thấy tình trạng nhiễm vi rút thoáng

qua, không có nghĩa là tiền ung thư hoặc

UTCTC Vì vậy, một số phương pháp xét nghiệm

dựa trên việc phát hiện mRNA từ các gen gây

ung thư E6/E7 của HPV các týp nguy cơ cao đã

được phát triển, đó là xét nghiệm Atipma HPV

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ nhiễm

HPV ở phụ nữ có kết quả tế bào học cổ tử cung

bất thường theo 2 phương pháp (Atipma HPV và

Realtime PCR HPV)

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt

ngang mô tả trên 104 bệnh nhân nữ đến khám tại

Bệnh viện Hùng Vương, từ tháng 03/2020 tới

*Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM

**Đại học Y Dược TP.HCM

***Bệnh viện Hùng Vương

****Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong

TP.HCM

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Băng Sương

Email: suong.ntb@umc.edu.vn

Ngày nhận bài:

Ngày phản biện khoa học:

Ngày duyệt bài:

tháng 07/2020 có kết quả tế bào học cổ tử cung Thinprep bất thường

Kết quả: Xét nghiệm Aptima HPV phát hiện

53 ca dương tính /104 ca có kết quả tế bào học bất thường (chiếm tỷ lệ 51,0%) và Realtime PCR HPV phát hiện 64 ca dương tính /104 ca có kết quả tế bào học bất thường (chiếm tỷ lệ 61,5%)

Kết luận: Xét nghiệm Realtime PCR HPV có

tỷ lệ dương tính cao hơn Aptima HPV trên nhóm phụ nữ có tế bào học cổ tử cung bất thường, tuy nhiên nguy cơ mắc tổn thương cổ tử cung trên mức ASC-US khi xét nghiệm HPV mRNA dương tính cao hơn so với khi xét nghiệm HPV DNA dương tính

Từ khóa: Ung thư cổ tử cung, Human

Papilloma Virus, Atipma HPV, Realtime PCR HPV

SUMMARY DETERMINATION OF HPV IN WOMEN WITH ABNORMAL CERVICAL CYTOLOGY RESULTS WITH TWO METHODS APTIMA HPV AND REALTIME PCR HPV Background: The main cause of cervical

cancer is the human papilloma virus (HPV), a sexually transmitted agent Currently, there are many methods to detect HPV infection Molecular biology tests have ushered in a new revolution in clinical research and diagnosis, but detection of HPV DNA may indicate transient viral infection, not premalignant or cervical cancer Therefore, a method based on the detection of mRNA from the E6/E7 oncogenes of

Trang 2

high-risk HPV types have been developed,

namely the Atipma HPV test

Objective: The aim of the study was to

determine HPV infection rate in women with

abnormal cervical cytology results by 2 methods

(Atipma HPV and Realtime PCR HPV)

Methods: A descriptive cross-sectional study

was conducted with 104 female patients who

visited Hung Vuong Hospital from March 2020

to July 2020 and had abnormal Thinprep cervical

cytology results

Result: Aptima HPV test detected detected 53

positive cases / 104 cases with abnormal

cytology results (51.0%) and Realtime PCR HPV

detected 64 positive cases /104 cases with

abnormal cytology results (61.5%)

Conclusion: Realtime PCR HPV test has a

higher positive rate than Aptima HPV in women

with abnormal cervical cytology, but the risk of

cervical lesions above ASC-US level with

positive HPV mRNA test result is higher than

positive HPV DNA test result

Key words: Cervical cancer, Human

Papilloma Virus, Atipma HPV, Realtime PCR

HPV

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, Ung thư cổ

tử cung (UTCTC) là loại ung thư phổ biến

đứng hàng thứ tư ở nữ giới Nguyên nhân

chính gây nên hiểm họa UTCTC là vi rút u

nhú ở người (HPV – Human Papilloma

Virus), một tác nhân lây truyền qua đường

tình dục Việc phát hiện HPV DNA có thể

chỉ cho thấy tình trạng nhiễm vi rút thoáng

qua, không có nghĩa là tiền ung thư hoặc

UTCTC [3], [4] Vì vậy, xét nghiệm Aptima

HPV dựa trên việc phát hiện mRNA từ các

gen gây ung thư E6/E7 của HPV các týp

nguy cơ cao đã được phát triển nhằm góp

phần giảm gánh nặng bệnh tật và chi phí

chăm sóc sức khỏe liên quan đến soi cổ tử

cung [6] Nghiên cứu tiến hành nhằm so sánh

tỷ lệ dương tính với xét nghiệm Aptima HPV

và xét nghiệm Realtime PCR HPV trên nhóm phụ nữ có phát hiện bất thường tế bào học cổ

tử cung

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ

nhiễm HPV ở phụ nữ có kết quả tế bào học

cổ tử cung bất thường theo 2 phương pháp

(Atipma HPV và Realtime PCR HPV)

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bệnh nhân nữ đến khám tại Bệnh viện Hùng Vương, từ tháng 03/2020 tới tháng 07/2020 có kết quả tế bào học cổ tử cung Thinprep bất thường

Tiêu chuẩn nhận vào

- Bệnh nhân trên 18 tuổi đến khám tại bệnh viện Hùng Vương có kết quả tế bào học Thinprep bất thường

- Bệnh nhân có chỉ định làm xét nghiệm Aptima HPV

- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân mang thai

- Bệnh nhân đã được điều trị đốt hoặc khoét chop, hoặc cắt cổ tử cung

- Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Cỡ mẫu: Cỡ mẫu được ước lượng theo công thức:

Nhiều nghiên cứu trên thế giới có sự khác biệt về tỷ lệ p (55- 75%) Ở Việt Nam, nghiên cứu năm 2016 của tác giả Nguyễn Ngọc Lâm thực hiện tại bệnh viện Đại học Y Dược cơ sở 2 trên cùng đối tượng cho tỷ lệ là 63,2% [1] Do đó, nghiên cứu lựa chọn p = 0,632, d = 0,1 Kết quả tính được N = 90 Phương pháp lấy mẫu: Thu thập thông tin

từ phiếu chỉ định xét nghiệm, hồi cứu kết quả xét nghiệm HPV Aptima và tế bào học cổ tử

Trang 3

cung Thinprep, thực hiện xét nghiệm

Realtime PCR HPV

Thu thập và xử lý số liệu Sau khi thu

thập số liệu, chúng tôi tiến hành tổng hợp,

phân tích, xử lý số liệu và viết báo cáo Các

số liệu sẽ được nhập và xử lý số liệu bằng

phần mềm SPSS phiên bản 20.0

Giấy phép Y đức

Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội

đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học

Đại học Y Dược TP.HCM, số 758/HĐĐĐ-

ĐHYD ngày 24/10/2020 và Chấp thuận của

Ban Giám đốc BV PSQTSG theo Quyết

định số 57/11/QĐ-TCBV.20 ngày

27/11/2020

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trên 104 mẫu nghiên cứu, nhóm tế bào

học cổ tử cung ASC-US là cao nhất, gồm 67/104 ca (chiếm 64,4%), nhóm LSIL cao thứ hai gồm 29/104 ca (chiếm 27,9%) và nhóm có bất thường từ mức HSIL trở lên là thấp nhất, gồm 8/104 ca (chiếm 7,7%) Tỷ lệ các đối tượng có bất thường tế bào học cổ tử cung trên mức ASC-US là 37/104 ca (chiếm 35,6%)

Khi thực hiện hai phương pháp xét nghiệm phát hiện vi rút HPV, chúng tôi ghi nhận 53/104 ca dương tính với xét nghiệm Aptima HPV (chiếm 51,0%) và 64/104 ca dương tính với xét nghiệm Realtime PCR HPV (chiếm 61,5%) Trong đó, có 01 trường hợp xét nghiệm Aptima HPV cho kết quả dương tính nhưng Realtime PCR cho kết quả

âm tính, 14 trường hợp Aptima HPV âm tính nhưng Realtime PCR dương tính

Bảng 1: Mối liên quan giữa các bất thường TBH CTC và xét nghiệm phát hiện HPV mRNA

TBH CTC

HPV mRNA

Giá trị p PR KTC 95%

Âm tính Dương tính

n % n % ASC-US

≥ LSIL

41 80,4

10 19,6

26 49,1

27 50,9 0,001 4,26 1,24 – 10,23

Tổng cộng 51 100,0 53 100,0

Với kết quả trên, chúng tôi nhận thấy giữa các đối tượng có và không phát hiện HPV mRNA trên mẫu bệnh phẩm, sự khác biệt về bất thường TBH CTC có ý nghĩa thống kê với kiểm định Chi bình phương p = 0,001 < 0,05 Nguy cơ mắc tổn thương trên mức ASC-US tăng gấp 4,26 lần khi xét nghiệm phát hiện mRNA HPV dương tính

Bảng 2: Mối liên quan giữa các bất thường TBH CTC và xét nghiệm phát hiện HPV DNA

TBH CTC

HPV DNA

Giá trị p PR KTC 95%

Âm tính Dương tính

n % n % ASC-US

≥ LSIL

32 80,4

8 19,6

35 54,7

29 45,3 0,009 3,31 1,32 – 8,30

Tổng cộng 40 100,0 64 100,0

Trang 4

Giữa các đối tượng có và không phát hiện HPV DNA trên mẫu bệnh phẩm, sự khác biệt về bất thường TBH CTC có ý nghĩa thống kê với kiểm định Chi bình phương p = 0,009 < 0,05 Nguy cơ mắc tổn thương trên mức ASC-US tăng gấp 3,31 lần khi xét nghiệm phát hiện HPV DNA dương tính

IV BÀN LUẬN

Bảng 3: Tỷ lệ dương tính với HPV DNA ở các nhóm bất thường TBH CTC khi sử dụng phương pháp Realtime PCR trong một số nghiên cứu

Tên tác giả và nơi nghiên cứu

Tỷ lệ dương tính Realtime PCR HPV DNA ở các

nhóm bất thường TBH CTC (%)

Nguyễn Ngọc Lâm (Việt Nam,

Al‐Awadhi (Kuwait, 2013) [2] 46,0 89,0 74,0

Salimovic Irma (Bosnia và

Trong nghiên cứu của chúng tôi, xét

nghiệm Realtime PCR tìm HPV DNA với

đoạn mồi GP5+/GP6+ cho kết quả dương

tính 64/104 mẫu nghiên cứu Tỷ lệ nhiễm

HPV ở nhóm ASC-US chiếm 52,2%, nhóm

LSIL là 79,3% và nhóm ≥ HSIL là 75% So

sánh với các nghiên cứu cùng sử dụng kỹ

thuật Realtime PCR, các kết quả có sự tương

đồng Tại Việt Nam, nghiên cứu của tác giả

Nguyễn Ngọc Lâm năm 2016 cho thấy tỷ lệ

dương tính HPV DNA ở nhóm ASC-US,

LSIL, HSIL lần lượt là 46,3%, 85,7% và

100% [1] Nghiên cứu của Al‐Awadhi năm

2013 tại Kuwait cũng có kết quả tương đồng

với tỷ lệ nhiễm HPV DNA ở nhóm ASC-US

là 46% Tỷ lệ này ở nhóm LSIL là 89% và

nhóm ≥ HSIL là 74% [2] Trong cùng năm

2013, tác giả Irma Salimovic và các cộng sự công bố tỷ lệ nhiễm HPV trên 147 đối tượng

có bất thường TBH CTC bằng phương pháp Realtime PCR Các nhóm ASC-US, LSIL, HSIL trong nghiên cứu có tỷ lệ dương tính HPV DNA lần lượt là 45,2%, 63,2% và 75,6% [7] Đối với các nghiên cứu trên phụ

nữ có bất thường TBH CTC sử dụng các phương pháp phát hiện HPV DNA khác, kết quả không có nhiều thay đổi Mức độ bất thường TBH CTC càng cao thì tỷ lệ nhiễm HPV càng tăng Điều này càng cho thấy rõ vai trò của HPV trong các biến đổi tiền ung thư và UTCTC

Trang 5

Bảng 4: Tỷ lệ dương tính với HPV mRNA ở các nhóm bất thường TBH CTC khi sử dụng phương pháp Aptima HPV trong một số nghiên cứu

Tên tác giả và nơi nghiên

cứu

Tỷ lệ dương tính Aptima HPV mRNA ở các nhóm bất

thường TBH CTC (%)

Ge Yimin (Hoa Kỳ, 2017) [5] 51,0 63,0 97,0

Stoler (Hoa Kỳ, 2013) [8] (chỉ

trên nhóm ASC-US) 42,0

Xét nghiệm Aptima HPV phát hiện

mRNA HPV trong nghiên cứu của chúng tôi

chỉ cho kết quả dương tính 53/104 mẫu

nghiên cứu (51,0%) Tỷ lệ dương tính với

HPV ở nhóm ASC-US là 36%, nhóm LSIL

là 75,9% và nhóm ≥ HSIL là 62,5% Kết quả

này thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả

Stoler năm 2013 trên đối tượng có bất

thường TBH ASC-US cho tỷ lệ dương tính ở

nhóm này là 42% [8] Năm 2017, tác giả

Yimin Ge phân tích xét nghiệm Aptima HPV

trên 175 đối tượng Tỷ lệ dương tính HPV

mRNA ở các nhóm ASC-US, LSIL, ≥ HSIL

lần lượt là 51%, 63% và 97% [5]

Ngoài ra, nghiên cứu của chúng tôi cho

thấy nguy cơ mắc tổn thương trên mức

ASC-US sẽ tăng gấp 4,26 lần khi xét nghiệm phát

hiện mRNA HPV dương tính (Bảng 1) Tỷ lệ

này cao hơn so với khi xét nghiệm Realtime

PCR HPV là 3,31 lần (Bảng 2) Điều này là

hợp lý vì xét nghiệm mRNA HPV dương

tính trong giai đoạn biểu hiện gen E6/E7 của

vi rút, giúp phân biệt được các trường hợp

nhiễm dai dẳng có thể kèm các biến đổi về tế

bào cổ tử cung

V KẾT LUẬN

Qua kết quả nghiên cứu cho thấy:

− Xét nghiệm Aptima HPV phát hiện

53 ca dương tính /104 ca có kết quả tế bào

học bất thường (chiếm tỷ lệ 51,0%) và Realtime PCR phát hiện 64 ca dương tính /104 ca có kết quả tế bào học bất thường (chiếm tỷ lệ 61,5%)

− Nguy cơ mắc tổn thương trên mức ASC-US khi xét nghiệm HPV mRNA dương tính cao hơn so với khi xét nghiệm HPV DNA dương tính

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Ngọc Lâm, (2016), "Kỹ thuật PCR

trong xác định kiểu gen Human Papiloma Virus và mối tương quan với phết tế bào cổ tử cung bất thường", Tạp Chí Y học TP Hồ Chí Minh, 14 (2), tr 45 - 47

2 Al ‐Awadhi R, Chehadeh W, Jaragh M,

Al ‐Shaheen A, et al, (2013), "Distribution of

human papillomavirus among women with abnormal cervical cytology in Kuwait", Diagnostic cytopathology, 41 (2), pp

107-114

3 Bulkmans N, Berkhof J, Rozendaal L, Van Kemenade F, et al, (2007), "Human

papillomavirus DNA testing for the detection

of cervical intraepithelial neoplasia grade 3 and cancer: 5-year follow-up of a randomised controlled implementation trial", The Lancet,

370 (9601), pp 1764-1772

4 Cuzick J, Clavel C, Petry K U, Meijer C J,

et al, (2006), "Overview of the European and

Ngày đăng: 31/12/2022, 11:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w