Bài viết Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán chậm làm trống dạ dày ở bệnh nhân Parkinson trình bày khảo sát đặc điểm các triệu chứng tiêu hóa và mối liên quan giữa các triệu chứng này với tình trạng chậm làm trống dạ dày được chẩn đoán bằng kỹ thuật xạ hình làm trống dạ dày ở bệnh nhân Parkinson.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CHẨN ĐOÁN CHẬM LÀM TRỐNG DẠ DÀY
Ở BỆNH NHÂN PARKINSON
Trần Thanh Hùng* TÓM TẮT 47
Mở đầu: Bệnh Parkinson là bệnh thoái hóa
thần kinh thường gặp đứng hàng thứ hai sau bệnh
Alzheimer Chẩn đoán chậm làm trống dạ dày có
ý nghĩa quan trọng vì liên quan đến chất lượng
cuộc sống và điều trị bệnh nhân Parkinson Mục
tiêu: Khảo sát đặc điểm các triệu chứng tiêu hóa
và mối liên quan giữa các triệu chứng này với
tình trạng chậm làm trống dạ dày được chẩn đoán
bằng kỹ thuật xạ hình làm trống dạ dày ở bệnh
nhân Parkinson Đối tượng và Phương pháp:
nghiên cứu cắt ngang mô tả, tiến cứu trên bệnh
nhân mắc bệnh Parkinson và ký đồng ý tham gia
nghiên cứu Bệnh nhân được đánh giá các triệu
chứng tiêu hóa bằng thang điểm GCSI và được
thực hiện xạ hình làm trống dạ dày với thức ăn
đặc để đánh giá tình trạng chậm làm trống dạ
dày Số liệu được xử lý bằng phần mềm R phiên
bản 4.0.3 Kết quả: Nghiên cứu gồm 72 bệnh
nhân Parkinson trong đó nữ giới chiếm 73,6% Tỉ
lệ chậm làm trống dạ dày trên xạ hình là 45,8%
Có 50 bệnh nhân (chiếm 69,4%) có ít nhất 1 triệu
chứng tiêu hóa, mức độ nặng của triệu chứng tiêu
hóa là rất nhẹ, chỉ có 2/72 bệnh nhân có GCSI ≥
1,9 (chiếm 2,8%) Không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê về tỉ lệ các triệu chứng tiêu hóa
bao gồm: buồn nôn, nôn khan, cảm giác nặng
bụng, cảm giác ăn mau no, đầy bụng sau ăn, chán
ăn, đầy hơi và chướng bụng khi so sánh giữa
*Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chịu trách nhiệm chính: Trần Thanh Hùng
Email: tranthanhhungmd@ump.edu.vn
Ngày nhận bài: 25.8.2022
Ngày phản biện khoa học: 28.8.2022
Ngày duyệt bài: 10.9.2022
những bệnh nhân có chậm làm trống dạ dày và những bệnh nhân không có chậm làm trống dạ dày Tuy nhiên, triệu chứng nôn có liên quan có
ý nghĩa thống kê với tình trạng chậm làm trống
dạ dày, kiểm định chính xác Fisher, p = 0,017
Kết luận: nôn là triệu chứng tiêu hóa quan trọng
giúp gợi ý chẩn đoán tình trạng chậm làm trống
dạ dày ở bệnh nhân Parkinson
Từ khóa: Chậm làm trống dạ dày (delayed
gastric emptying), thang điểm GCSI (Gastroparesis Cardinal Symptom Index), xạ hình làm trống dạ dày (gastric emptying scintigraphy)
SUMMARY CLINICAL CHARACTERISTICS AND DIAGNOSIS OF DELAYED GASTRIC EMPTYING IN PARKINSON'S
PATIENT Background: Parkinson's disease is the
second most common neurodegenerative disease after Alzheimer's disease The diagnosis of delayed gastric emptying is important because of its relevance to quality of life and treatment of
Parkinson's patients Objectives: Investigating
the characteristics of gastrointestinal symptoms, the relationship between these symptoms and delayed gastric emptying diagnosed by gastric emptying scintigraphy in Parkinson's patients
Subjects and methods: A descriptive, prospective cross-sectional study in patients with Parkinson's disease who signed informed consent
to participate in the study The patient was evaluated for gastrointestinal symptoms using the GCSI score and performed a gastric emptying
Trang 2scintigraphy with solid food to assess delayed
gastric emptying Data were analyzed using R
software version 4.0.3 Results: The study
included 72 Parkinson's patients, of which
women accounted for 73.6% The rate of delayed
gastric emptying on scintigraphy is 45.8% There
were 50 patients (accounting for 69.4%) with at
least 1 gastrointestinal symptom The severity of
gastrointestinal symptoms was very mild, only
2/72 patients had GCSI ≥ 1.9 (accounting for
2.8%) There was no statistically significant
difference in the prevalence of gastrointestinal
symptoms including: nausea, retching, stomach
fullness, not able to finish a normal-sized meal,
feeling excessively full after meals, loss of
appetite, bloating and stomach visibly larger
when compared between patients with delayed
gastric emptying and those without delayed
gastric emptying However, vomiting was
statistically significantly associated with delayed
gastric emptying, Fisher's exact test, p = 0.017
Conclusions: Vomiting is an important
gastrointestinal symptom that suggests the
diagnosis of delayed gastric emptying in patients
with Parkinson's disease
Keywords: delayed gastric emptying,
Gastroparesis Cardinal Symptom Index, gastric
emptying scintigraphy
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh Parkinson là bệnh thoái hóa thần
kinh thường gặp đứng hàng thứ hai sau bệnh
Alzheimer [1] Ngoài gây ra các triệu chứng
vận động kinh điển, bệnh Parkinson còn gây
ra các triệu chứng ngoài vận động Trong
những năm gần đây, đã có một sự bùng nổ
thông tin liên quan đến các rối loạn chức
năng tiêu hóa trong bệnh Parkinson, đặc biệt
là tình trạng chậm làm trống dạ dày Ngoài
gây ra tình trạng suy dinh dưỡng, ảnh hưởng
lên chất lượng cuộc sống của người bệnh,
tình trạng này có thể dẫn tới giảm hấp thu các thuốc điều trị bệnh Parkinson, nhất là levodopa, và gây ra các đáp ứng dao động với thuốc Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với các mục tiêu sau đây:
1 Khảo sát đặc điểm các triệu chứng tiêu hóa ở bệnh nhân Parkinson bằng thang điểm GCSI
2 Khảo sát mối liên quan giữa các triệu chứng tiêu hóa với tình trạng chậm làm trống dạ dày được chẩn đoán bằng kỹ thuật
xạ hình làm trống dạ dày
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng: bệnh nhân mắc bệnh
Parkinson được khám và theo dõi định kì tại phòng khám chuyên khoa bệnh Parkinson và các rối loạn vận động, bệnh viện Nguyễn Tri Phương Bệnh nhân được chụp xạ hình làm trống dạ dày tại khoa Y Học Hạt Nhân, bệnh
viện Chợ Rẫy, thành phố Hồ Chí Minh Tiêu chuẩn chọn mẫu
Bệnh nhân tuổi ≥ 18 được chẩn đoán bệnh Parkinson theo tiêu chuẩn MDS Clinical Diagnostic Criteria for Parkinson’s Disease 2015[6], đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
Tiền căn bệnh tắc nghẽn dạ dày-ruột Tiền căn phẫu thuật dạ dày-ruột (ngoại trừ mổ viêm ruột thừa) Bệnh nhân được nuôi ăn qua đường ruột Bệnh nhân có bệnh nội khoa nặng, không chờ đợi làm xạ hình được Bệnh nhân đái tháo đường kiểm soát kém Bệnh nhân dị ứng với trứng Phụ nữ có khả năng mang thai mà không dùng phương pháp ngừa thai hiệu quả Phụ nữ mang thai Phụ nữ đang cho con bú
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang mô tả, tiến cứu
Trang 3Cỡ mẫu: dựa theo công thức tính tỷ lệ
trong nghiên cứu cắt ngang
Phương pháp lấy mẫu: lấy mẫu liên tục
không xác suất
Phân tích thống kê:
Nhập liệu và mã hóa bằng Excel và phân
tích số liệu bằng phần mềm R phiên bản
4.0.3
Tính bình thường của dữ liệu là biến định
lượng được đánh giá trực quan bằng biểu đồ
và đánh giá khách quan bằng phép kiểm
Shapiro-Wilk normality Các biến định lượng
có phân phối không chuẩn sẽ dùng phép
kiểm Wilcoxon-Mann-Whitney Các biến
định tính được biểu diễn theo tỉ lệ và được
kiểm định bằng phép kiểm χ2 hoặc phép
kiểm chính xác Fisher tùy theo trường hợp
Giá trị p <0,05 được xem là có ý nghĩa thống
kê cho tất cả các phân tích
Y đức: nghiên cứu được thông qua tại
Hội đồng y đức Đại học y dược TP Hồ Chí Minh
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Chúng tôi bắt đầu sàng lọc bệnh nhân để đưa vào nghiên cứu từ tháng 1 năm 2018 và tiến hành thu thập số liệu đến tháng 2 năm
2021 Trong khoảng thời gian nghiên cứu chúng tôi có được 72 bệnh nhân hoàn tất qui trình nghiên cứu Tuổi trung vị là 65,5 tuổi Tuổi thấp nhất là 37 và tuổi cao nhất là 92 tuổi Giới nữ chiếm đa số, có 53/72 bệnh nhân là nữ giới, chiếm 73,6%
3.2 Đặc điểm của triệu chứng tiêu hóa:
Biểu đồ 1 Phân bố triệu chứng tiêu hóa
Triệu chứng tiêu hóa thường gặp nhất là cảm giác ăn mau no/ăn không hết bữa ăn, chiếm tỉ
lệ 45,8% Triệu chứng tiêu hóa ít gặp nhất là triệu chứng nôn, chiếm tỉ lệ 6,9%
Trang 4Biểu đồ 2 Số lượng triệu chứng chậm làm trống dạ dày được bệnh nhân báo cáo
Có 22 bệnh nhân (chiếm 30,6%) không có triệu chứng tiêu hóa nào Có 50 bệnh nhân (chiếm 69,4%) có ít nhất 1 triệu chứng tiêu hóa Số lượng triệu chứng tiêu hóa phần lớn được ghi nhận ở bệnh nhân dao động từ 1 đến 5
Biểu đồ 3 Phân bố điểm số GCSI toàn bộ
Trang 5Khi sử dụng thang điểm GCSI
(Gastroparesis Cardinal Symptom Index) để
đánh giá mức độ nghiêm trọng của 9 triệu
chứng tiêu hóa thường đi kèm chậm làm
trống dạ dày thì cho thấy mức độ nặng của
triệu chứng tiêu hóa là rất nhẹ Điểm số
GCSI trong mẫu nghiên cứu thì thấp với
trung vị là 0,25 và KTPV là [0,00-0,50] Khi
sử dụng tổng điểm số GCSI ≥ 1,9 được đề
nghị là giá trị ngưỡng để chẩn đoán chậm
làm trống dạ dày [4], thì chỉ có 2/72 bệnh
nhân có GCSI ≥ 1,9 (chiếm 2,8%)
3.3 Đặc điểm xạ hình làm trống dạ
dày:
Phần lớn bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
có thời gian làm trống 1/2 dạ dày nằm trong khoảng từ 50 phút đến 75 phút Thời gian làm trống 1/2 dạ dày nhanh nhất là: 28 phút
Có hai bệnh nhân có thời gian làm trống dạ dày kéo dài > 120 phút Ở một bệnh nhân, ghi nhận chỉ làm trống được 47% thức ăn trong dạ dày ở thời điểm 120 phút Bệnh nhân còn lại chỉ làm trống được 8% thức ăn trong dạ dày ở thời điểm 120 phút khi khảo sát xạ hình làm trống dạ dày Dựa trên giá trị ngưỡng bình thường là ≤ 61 phút [2] [3], trong nghiên cứu của chúng tôi có 33 bệnh nhân, chiếm tỉ lệ 45,8%, có tình trạng chậm làm trống dạ dày
3.4 Mối liên quan giữa các triệu chứng tiêu hóa với tình trạng chậm làm trống dạ dày được chẩn đoán bằng kỹ thuật xạ hình làm trống dạ dày:
Bảng 1 Mối liên quan giữa loại triệu chứng tiêu hóa và tình trạng chậm làm trống dạ dày
Loại triệu chứng tiêu hóa
Không chậm làm trống dạ dày (n=39)
Có chậm làm trống dạ dày (n=33)
p
Trang 6không 21 (53,8%) 18 (54,5%)
*kiểm định chính xác Fisher ** kiểm định χ2
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ các triệu chứng tiêu hóa bao gồm: buồn nôn, nôn khan, cảm giác nặng bụng, cảm giác ăn mau no, đầy bụng sau ăn, chán ăn, đầy hơi
và chướng bụng khi so sánh giữa những bệnh nhân có chậm làm trống dạ dày và những bệnh nhân không có chậm làm trống dạ dày Tuy nhiên, triệu chứng nôn có liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng chậm làm trống dạ dày, kiểm định chính xác Fisher, p = 0,017
Bảng 2 Mối liên quan giữa nhóm triệu chứng tiêu hóa và chậm làm trống dạ dày
Nhóm triệu chứng tiêu hóa
Không chậm làm trống dạ dày (n=39)
Có chậm làm trống
dạ dày (n=33)
p
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê giữa các nhóm triệu chứng tiêu hóa, cũng
như tổng điểm chung GCSI với tình trạng
chậm làm trống dạ dày, kiểm định
Wilcoxon-Mann-Whitney
IV BÀN LUẬN
Trong thực hành lâm sàng và nghiên cứu, điều quan trọng là phải có một công cụ tin cậy để đánh giá và đo lường các triệu chứng tiêu hóa gợi ý chậm làm trống dạ dày Thang điểm GCSI đã được kiểm định ở 169 bệnh nhân có chậm làm trống dạ dày và tương
Trang 7quan tốt với sự cảm nhận độ nặng triệu
chứng của chính bệnh nhân cũng như sự
đánh giá của bác sĩ Tổng điểm số ≥ 1,9 được
đề nghị là giá trị ngưỡng để chẩn đoán chậm
làm trống dạ dày [4]
Trong nghiên cứu của chúng tôi, phần
lớn bệnh nhân đều có ít nhất một triệu chứng
tiêu hóa Nhóm triệu chứng đầy bụng/mau no
là thường gặp nhất Nhóm triệu chứng này
bao gồm các triệu chứng: cảm giác nặng
bụng, cảm giác ăn mau no, đầy bụng sau ăn,
chán ăn Đây cũng là nhóm triệu chứng có
biểu hiện nặng nhất trong số các nhóm triệu
chứng tiêu hóa Phần lớn triệu chứng tiêu hóa
là ở mức độ rất nhẹ (1) hoặc nhẹ (2) Một tỉ
lệ nhỏ bệnh nhân có mức độ triệu chứng tiêu
hóa là vừa phải (3) và nặng (4) Không có
bệnh nhân nào có triệu chứng tiêu hóa ở mức
độ rất nặng (5) Điểm số thang điểm GCSI
(Gastroparesis Cardinal Symptom Index)
trong mẫu nghiên cứu thì thấp với trung vị là
0,25 Khi sử dụng giá trị ngưỡng tổng điểm
số GCSI ≥ 1,9 để chẩn đoán chậm làm trống
dạ dày [4], thì chỉ có 2 bệnh nhân có GCSI ≥
1,9 (chiếm 2,8%) Kết quả này tương tự như
kết quả của các tác giả khác [5]
Khi phân tích từng triệu chứng tiêu hóa,
chúng tôi nhận thấy triệu chứng nôn có liên
quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng chậm
làm trống dạ dày, kiểm định chính xác
Fisher, p = 0,017 Có 100% (5 bệnh nhân)
triệu chứng nôn có chậm làm trống dạ dày
Trong khi đó, ở những bệnh nhân không có
triệu chứng nôn thì tỉ lệ chậm làm trống dạ
dày chỉ là 41,8% Không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê về tỉ lệ bệnh nhân có chậm
làm trống dạ dày dù bệnh nhân có hay không
có các triệu chứng tiêu hóa khác bao gồm: buồn nôn, nôn khan, cảm giác nặng bụng, cảm giác ăn mau no, đầy bụng sau ăn, chán
ăn, đầy hơi, chướng bụng, kiểm định chính xác Fisher Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ bệnh nhân có chậm làm trống dạ dày khi xem xét các nhóm triệu chứng: buồn nôn/nôn, đầy bụng/mau no, đầy hơi/chướng bụng, cũng như tổng điểm số GCSI chung Các nghiên cứu trước đây tiến hành ở bệnh nhân Parkinson cũng cho thấy không có sự liên quan giữa triệu chứng tiêu hóa với thời gian làm trống dạ dày
Nghiên cứu của tác giả Marrinan và cộng
sự năm 2015 tại Newcastle, Anh Quốc tiến hành ở 28 bệnh nhân Parkinson cho thấy khi phân tích từng triệu chứng tiêu hóa của thang điểm GCSI thì chỉ có triệu chứng chướng bụng là có liên quan có ý nghĩa thống kê với thời gian làm trống dạ dày, hệ số tương quan Spearman = 0,335, p = 0,047 Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian làm trống dạ dày khi khảo sát các nhóm triệu chứng tiêu hóa: buồn nôn/nôn, đầy bụng/mau no, đầy hơi/chướng bụng Khi khảo sát tổng điểm số GCSI thì có xu hướng cho thấy điểm số cao hơn ở những bệnh nhân
có thời gian làm trống dạ dày chậm hơn, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống
kê, hệ số tương quan Pearson = 0,314, p = 0,059 [5]
V KẾT LUẬN
Nghiên cứu chúng tôi cho thấy chậm làm trống dạ dày là tình trạng thường gặp ở bệnh
Trang 8nhân Parkinson khi khảo sát bằng phương
pháp xạ hình làm trống dạ dày với thức ăn
đặc Tuy nhiên, phần lớn bệnh nhân không
có triệu chứng tiêu hóa hoặc triệu chứng tiêu
hóa rất nhẹ Chỉ có triệu chứng nôn là có liên
quan có ý nghĩa và giúp gợi ý chẩn đoán tình
trạng chậm làm trống dạ dày
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 de Lau L M., Breteler M M (2006),
"Epidemiology of Parkinson's disease",
Lancet Neurol, 5 (6), pp 525-35
2 Djaldetti R., Baron J., Ziv I., et al (1996),
"Gastric emptying in Parkinson's disease:
patients with and without response
fluctuations", Neurology, 46 (4), pp 1051-4
3 Hardoff R., Sula M., Tamir A., et al
(2001), "Gastric emptying time and gastric
motility in patients with Parkinson's disease", Mov Disord, 16 (6), pp 1041-7
4 Kofod-Andersen K., Tarnow L (2012),
"Prevalence of gastroparesis-related symptoms in an unselected cohort of patients with Type 1 diabetes", J Diabetes Complications, 26 (2), pp 89-93
5 Marrinan S (2015), "Gastroparesis symptoms in Parkinson's disease :correlation with motor and non-motor symptoms and exploration of a novel drug to improve gastric emptying", Newcastle University Newcastle,
UK
6 Postuma R B., Berg D., Stern M., et al (2015), "MDS clinical diagnostic criteria for
Parkinson's disease", Mov Disord, 30 (12),
pp 1591-601