1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối tương quan giữa thang điểm đánh giá trực quan toàn diện mri não (CVRS) và thang điểm MMSE ở người bệnh Alzheimer

7 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Tương Quan Giữa Thang Điểm Đánh Giá Trực Quan Toàn Diện MRI Não (CVRS) Và Thang Điểm MMSE Ở Người Bệnh Alzheimer
Tác giả Nguyễn Vĩnh Khang, Tống Mai Trang, Trần Thế Sơn, Phạm Thành Trung, Trần Công Thắng
Trường học Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 566,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Mối tương quan giữa thang điểm đánh giá trực quan toàn diện mri não (CVRS) và thang điểm MMSE ở người bệnh Alzheimer mô tả đặc điểm nhân chủng học, đặc điểm điểm số MMSE nền, đặc điểm điểm số CVRS ở nhóm người bệnh Alzheimer trong nghiên cứu. Khảo sát mối tương quan giữa đặc điểm thang điểm đánh giá trực quan toàn diện MRI não với điểm số MMSE nền ở nhóm người bệnh Alzheimer.

Trang 1

MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA THANG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ TRỰC QUAN TOÀN

DIỆN MRI NÃO (CVRS) VÀ THANG ĐIỂM MMSE

Ở NGƯỜI BỆNH ALZHEIMER

Nguyễn Vĩnh Khang 1 , Tống Mai Trang 1 , Trần Thế Sơn 2 ,

Phạm Thành Trung 1,3 , Trần Công Thắng 1,3

TÓM TẮT 46

Đặt vấn đề: Thang điểm MMSE là công cụ

đánh giá chức năng nhận thức thường dùng nhất

để hỗ trợ chẩn đoán sa sút trí tuệ Tuy nhiên,

điểm số thang điểm MMSE dễ bị ảnh hưởng bởi

học vấn, văn hoá, sự hợp tác của người bệnh

Mặt khác, MRI não có thể là một công cụ độc

lập, không bị ảnh hưởng bởi học vấn, văn hoá

hay các nguyên nhân gây ảnh hưởng sự hợp tác

của người bệnh như sảng, để hỗ trợ chẩn đoán và

xác định mức độ nặng của người bệnh sa sút trí

tuệ Do đó, chúng tôi muốn đánh giá mối tương

quan giữa thang điểm CVRS với điểm số MMSE

của người bệnh Alzheimer không bị ảnh hưởng

bởi các nguyên nhân gây suy giảm nhận thức cấp

để hỗ trợ bác sĩ lâm sàng đánh giá người bệnh

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm nhân chủng học, đặc

điểm điểm số MMSE nền, đặc điểm điểm số

CVRS ở nhóm người bệnh Alzheimer trong

nghiên cứu Khảo sát mối tương quan giữa đặc

điểm thang điểm đánh giá trực quan toàn diện

MRI não (CVRS) với điểm số MMSE nền ở

nhóm người bệnh Alzheimer Kết quả: Nghiên

cứu của chúng tôi có điểm số MMSE trung bình

1

Khoa Thần kinh,

2

Khoa Chẩn đoán hình ảnh,

3

Bộ môn Thần kinh BV Đại học Y Dược thành

phố Hồ Chí Minh;

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Vĩnh Khang

Email: khang.nv@umc.edu.vn

Ngày nhận bài: 1.8.2022

Ngày phản biện khoa học: 8.8.2022

Ngày duyệt bài: 25.8.2022

và độ lệch chuẩn là 17,1 ± 5,6 điểm Điểm số CVRS có trung bình và độ lệch chuẩn là 11,9 ± 5,7 điểm Tổng điểm số CVRS có mối tương quan nghịch với tổng điểm số MMSE thông qua kiểm định Spearman với mức độ tương quan yếu

(r = -0,36, giá trị p < 0,01) Kết luận: Điểm số

CVRS có mối tương quan nghịch với điểm số MMSE ở nhóm dân số được khảo sát

Từ khóa: Điểm số MMSE, Điểm số CVRS,

bệnh Alzheimer

SUMMARY CORRELATION BETWEEN BRAIN MRI COMPREHENSIVE VISUAL ASSESSMENT SCALE (CVRS) AND

MMSE SCORE

IN ALZHEIMER'S PATIENTS Background: The MMSE score is the most

used cognitive function assessment tool to support the diagnosis of dementia However, the MMSE scores are easily influenced by the patient's education, culture, and cooperation On the other hand, brain MRI can be a stand-alone tool, unaffected by education, culture, or co-operative factors such as delirium, to aid in the diagnosis and determine the extent of the disease severity of dementia patients Therefore, we wanted to evaluate the correlation between CVRS score and MMSE score of Alzheimer's patients unaffected by causes of acute cognitive impairment to assist clinicians in assessing

patients Objectives: To describe patients’

characteristics, baseline MMSE score and CVRS

Trang 2

score in the study To survey the correlation

between the characteristics of the brain MRI

comprehensive visual assessment scale (CVRS)

with the baseline MMSE score in the group of

Alzheimer's patients Results: Our study has

mean MMSE score and standard deviation of

17.1 ± 5.6 points The CVRS score has mean and

standard deviation of 11.9 ± 5.7 points Total

CVRS score is negatively correlated with total

MMSE score through Spearman's test with a

weak correlation (r = -0.36, p value < 0.01)

Conclusion: CVRS scores were negatively

correlated with MMSE scores in patients with

Alzheimer disease

Keywords: MMSE score, CVRS score,

Alzheimer's disease

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Thang điểm MMSE là công cụ đánh giá

chức năng nhận thức thường dùng nhất để hỗ

trợ chẩn đoán sa sút trí tuệ [1] Tuy nhiên,

điểm số thang điểm MMSE dễ bị ảnh hưởng

bởi học vấn, văn hoá, sự hợp tác của người

bệnh [2] và các tình trạng gây suy giảm nhận

thức cấp như sảng [3] Về hình ảnh học, MRI

não là công cụ cận lâm sàng thường dùng

nhất bên cạnh các thang điểm để hỗ trợ chẩn

đoán sa sút trí tuệ MRI não có thể là một

công cụ độc lập, đánh giá tổn thương cấu

trúc đại thể, không bị ảnh hưởng bởi học vấn,

văn hoá hay tình trạng sảng cấp [4] Thang

điểm đánh giá trực quan toàn diện não

(CVRS) là thang điểm đánh giá tổng hợp của

các thang điểm trực quan đánh giá mức độ

teo ở các vỏ não liên quan và bệnh lí chất

trắng ở người bệnh Alzheimer [5] Do đó,

chúng tôi muốn đánh giá mối tương quan

giữa thang điểm CVRS với điểm số MMSE

của người bệnh Alzheimer không bị ảnh

hưởng bởi các nguyên nhân gây suy giảm

nhận thức cấp Việc chứng minh được mối tương quan giữa thang điểm CVRS, đại diện cho các tổn thương cấu trúc não đại thể, với điểm số MMSE, sẽ hỗ trợ các nghiên cứu sau này phát triển các công cụ ứng dụng để dự đoán điểm số MMSE nền ở người bệnh Alzheimer

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nghiên cứu hồi cứu

Nghiên cứu hồi cứu mô tả thực hiện trên

65 người bệnh mắc bệnh Alzheimer đến phòng khám bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh và đơn vị sa sút trí tuệ bệnh viện 30-4 Người bệnh sẽ được phân thành nhóm sa sút trí tuệ khởi phát sớm (EOAD), tuổi khởi phát < 65 tuổi, hoặc nhóm sa sút trí tuệ khởi phát muộn (LOAD), tuổi khởi phát ≥ 65 tuổi Người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh Alzheimer theo tiêu chuẩn của DSM-5 [6] và có khoảng cách thời gian giữa thời điểm đánh giá MMSE và thời điểm chụp MRI không cách quá 3 tháng sẽ được tham gia nghiên cứu Người bệnh sẽ không được tham gia nghiên cứu nếu người bệnh có suy giảm nặng về thị giác và thính lực, bệnh nội khoa nặng không thực hiện được thang điểm MMSE, được đánh giá thông qua nhân viên y tế đánh giá thang điểm cho người bệnh Những người bệnh có các bệnh lý cấp tính ảnh hưởng lên nhận thức của người bệnh cũng sẽ không được tham gia nghiên cứu

Thông tin các người bệnh Alzheimer đã tới phòng khám ở bệnh viện Đại học Y Dược

và bệnh viện 30-4 sẽ được thu thập các biến

số nền, MMSE, và mã số phim MRI ở bảng

Trang 3

câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn Mã số của

người bệnh sẽ được dùng để truy cập kết quả

MRI để đánh thang điểm CVRS độc lập với

các biến số còn lại Hai nghiên cứu viên sẽ

đánh giá điểm số CVRS độc lập với nhau và

độc lập với kết quả lâm sàng Kết quả điểm

số CVRS cuối cùng cho từng người bệnh sẽ

được thống nhất thông qua thảo luận giữa hai

người đánh giá Kết quả cuối cùng của

CVRS sẽ được ghép vào tập tin Excel chứa

các thông tin còn lại của người bệnh

2.2 Xử lí và phân tích số liệu

Chi bình phương và Fisher sẽ được dùng

để so sánh các biến định danh, t test

Mann-Whitney test, ANOVA hay Kruskall Wallis

sẽ được dùng để so sánh biến biến định

lượng khi phù hợp, tùy vào phân phối và tính

chất của biến Phép kiểm Spearman hay

Pearson sẽ được dùng để kiểm định mối

tương quan giữa 2 biến khi phù hợp Phân tích số liệu sẽ được chạy bằng R version 4.1.0 chạy trên phần mềm R studio Giá trị p

< 0,05 được chọn làm mốc để kết luận có ý nghĩa thống kê

III KẾT QUẢ 3.1 Đặc điểm dân số

Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên

65 bệnh nhân Trong đó, tuổi của người tham gia nghiên cứu có trung bình và độ lệch chuẩn của tuổi là 70,9 ± 8,9 Số năm học vấn của các người bệnh có trung bình và tứ phân

vị là 9 [5,0;12,0] Tỉ lệ EOAD trong nghiên cứu là 32,3% Tất cả các người bệnh tham gia nghiên cứu đều được chụp MRI não trong vòng 2 tháng quanh ngày đánh giá chức năng nhận thức Trung vị, tứ phân vị dưới và trên của số ngày chênh lệch lần lượt

là 1,0 [0,0;4,0] ngày

Bảng 1: Đặc điểm giữa nhóm sa sút trí tuệ khởi phát sớm và muộn trong nghiên cứu

Các biến so sánh Sa sút trí tuệ EOAD

(n = 21)

Sa sút trí tuệ LOAD (n = 44) Giá trị p Tuổi 62,0 [59,0;65,0] 74,5 [71,0;79,0] <0,001

Số năm học vấn 7,0 [6,0;12,0] 10,0 [5,0;12,5] 0,7

3.2 Đặc điểm điểm số MMSE

Nghiên cứu của chúng tôi có điểm số

MMSE trung bình và độ lệch chuẩn là 17,1 ±

5,6 điểm với tỉ lệ người bệnh sa sút trí tuệ

nhẹ, trung bình và nặng lần lượt là 30,8;

58,5; 10,8% Điểm số các thành phần của

MMSE đều giảm có ý nghĩa thống kê khi

giai đoạn người bệnh tiến triển từ nhẹ đến

trung bình đến nặng (p < 0,001) Tuy nhiên,

sự khác biệt trí nhớ trì hoãn (p = 0,06) và nói lặp lại (p = 0,5) giữa các mức độ sa sút trí tuệ chưa có ý nghĩa thống kê

3.3 Đặc điểm điểm số CVRS

Nghiên cứu của chúng tôi có điểm số CVRS trung bình và độ lệch chuẩn là 11,9 ± 5,7 điểm với trung vị và tứ phân vị điểm số từng nhóm người bệnh sa sút trí tuệ nhẹ, trung bình và nặng lần lượt là 10,5

Trang 4

[4,8;13,0], 13,0 [9,0;17,8], 14,0 [11,0;16,5]

Sự khác biệt giữa điểm số CVRS giữa

EOAD (7,9 ± 4,6) và LOAD (13,9 ± 5,2) có

ý nghĩa thống kê (giá trị p < 0,001) Khi phân

tích mối tương quan giữa các phân nhóm

điểm trong CVRS, chúng tôi ghi nhận điểm

số teo hồi hải mã trái, teo hồi hải mã phải, teo thuỳ thái dương, dãn rộng sừng trước trên thang CVRS có mối tương quan thuận mức

độ cao với điểm số CVRS (r > 0,75) và có ý nghĩa thống kê (giá trị p < 0,01)

Hình 1: Điểm số các thành phần CVRS theo các phân độ sa sút trí tuệ

Khi so sánh giữa các mức độ sa sút trí tuệ,

có sự tăng dần có ý nghĩa thống kê về điểm

số ở phần Teo thùy thái dương (p = 0,004),

bệnh lí chất trắng (p = 0,011) khi người bệnh

tiến triển từ sa sút trí tuệ nhẹ đến nặng Điểm

teo hồi hải mã bên trái (p = 0,065) và điểm

teo hồi hải mã bên phải (p = 0,059), dãn rộng

sừng trước (p = 0,054) có tăng dần từ giai

đoạn nhẹ đến nặng và gần đạt được sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê giữa ba nhóm Các

phân nhóm bệnh lí mạch máu nhỏ bao gồm

bệnh lí chất trắng, nhồi máu não lỗ khuyết và

vi xuất huyết không có tăng dần theo mức độ tiến triển bệnh Alzheimer tiến triển từ nhẹ đến nặng

3.4 Mối tương quan giữa điểm số CVRS và điểm số MMSE

Tổng điểm số CVRS có mối tương quan nghịch với tổng điểm số MMSE thông qua kiểm định Spearman với mức độ tương quan yếu (r = -0,36, giá trị p < 0,01) Teo hồi hải

mã trái, teo hồi hải mã phải có mối tương quan nghịch với tổng điểm số MMSE thông qua kiểm định Spearman với mức độ tương

Trang 5

quan yếu (chỉ số r lần lượt là -0,35 (hồi hải

mã trái), -0,33 (hồi hải mã phải), giá trị p <

0,01) Teo hồi thái dương có mối tương quan

nghịch mạnh nhất với tổng điểm số MMSE

thông qua kiểm định Spearman với mức độ

tương quan trung bình (r = -0,49, giá trị p <

0,01)

V KẾT LUẬN

5.1 Đặc điểm điểm số MMSE

Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên

65 bệnh nhân sa sút trí tuệ do Alzheimer

Điểm trung bình của tổng điểm số MMSE

của nghiên cứu chúng tôi thấp hơn nghiên

cứu của Jang và cộng sự [5] (20,0 ± 3,6),

nghiên cứu của Logue và cộng sự [7] (18,2 ±

0,4), và tương đồng với nghiên cứu của Wei

và cộng sự [8] (15,3 ± 6,6) Do đó, người

tham gia nghiên cứu của chúng tôi có mức

độ sa sút trí tuệ nặng hơn các nghiên cứu về

mối tương quan giữa MMSE và hình học sọ não tương tự Nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận có sự sụt giảm điểm số MMSE với mỗi mức độ sa sút trí tuệ tương đồng với nghiên cứu của Henneges và các cộng sự [9] thực hiện trên 1495 người bệnh được chẩn đoán có khả năng mắc Alzheimer theo tiêu chuẩn NINCDS-ADRDA

5.2 Đặc điểm điểm số CVRS

Dựa vào bảng 1, chúng tôi nhận thấy điểm

số CVRS của EOAD thấp hơn nhóm LOAD, biểu hiện mức độ tổn thương não đánh giá qua đại thể của nhóm EOAD thấp hơn LOAD Mặt khác, điểm số MMSE của nhóm EOAD và nhóm LOAD không có sự khác biệt Điều này gợi ý mối tương quan giữa điểm số nhận thức và hình ảnh học giữa EOAD và LOAD khác nhau

Bảng 2: Đặc điểm hình ảnh học và điểm số MMSE ở nghiên cứu chúng tôi và các nghiên cứu tương tự

Nghiên cứu chúng tôi

Nghiên cứu của Jang và cộng sự, 2015[5]

Nghiên cứu của Wei và cộng sự, 2019[8]

Nghiên cứu của Logue và cộng sự, 2011[7]

CVRS 11,9 ± 5,7 14,0 ± 4,1 Không thực hiện Không thực

hiện Teo hồi hải mã hai

Teo vỏ não 4,6 ± 1,8 6,0 ± 1,8 Không thực hiện Không thực

hiện Dãn não thất 2,3 ± 1,5 3,1 ± 1,2 Không thực hiện Không thực

hiện Bệnh lí mạch máu

nhỏ 2,2 ± 1,8 2,1 ± 1,4 Không thực hiện

Không thực hiện Điểm số MMSE 17,1 ± 5,5 20,0 ± 3,6 15,3 ± 6,6 18,2±0,4

Trang 6

Nghiên cứu của chúng tôi có điểm số

CVRS chung, điểm số teo vỏ não, dãn não

thất thấp hơn nghiên cứu của Jang và các

cộng sự, biểu hiện mức độ tổn thương não ít

hơn Mặt khác, điểm số MMSE của nghiên

cứu chúng tôi thấp hơn, biểu hiện mức độ

triệu chứng trên lâm sàng nặng hơn Ngoài

ra, nghiên cứu của chúng tôi và Jang có điểm

số bệnh lí mạch máu nhỏ thấp Điều này thể

hiện nghiên cứu của chúng tôi và của Jang

đều ít có người bệnh có nhiều tổn thương

bệnh lí mạch máu nhỏ [5]

Khi so sánh về điểm số teo hồi hải mã

giữa các nghiên cứu khác nhau, nghiên cứu

của chúng tôi có điểm teo hồi hải mã tương

đồng với nghiên cứu của Jang và các cộng sự

[5], thấp hơn nghiên cứu của Wei và cộng sự

[8] và Logue [7] Do đó, mức độ teo hồi hải

mã của nghiên cứu chúng tôi tương đương

hoặc ít hơn các nghiên cứu tương tự Mặt

khác, điểm trung bình của tổng điểm số

MMSE của nghiên cứu chúng tôi thấp hơn

nghiên cứu của Jang và cộng sự [5], Logue

và cộng sự 2011 [7], Godin và cộng sự 2016

[10] và tương đồng với nghiên cứu của Wei

và cộng sự [8] Do đó, mặc dù bệnh nhân

trong nghiên cứu của chúng tôi có mức độ

teo hồi hải mã ít hơn nhưng lại có mức độ

suy giảm chức năng nhận thức nặng hơn

Điều này có thể lí giải do chúng tôi có 32,3%

bệnh nhân EOAD, với sự suy giảm chức

năng nhận thức nặng hơn dù tổn thương não

đánh giá đại thể lại ít hơn

5.3 Mối tương quan giữa điểm số

CVRS và điểm số MMSE

Điểm số CVRS lại có mức độ tương quan

với điểm số MMSE (rho = -0,36, giá trị p <

0,01) Tuy nhiên, khi so sánh với các thang

điểm khác thì chúng tôi nhận thấy điểm số CVRS có mức độ tương quan với MMSE kém hơn với mức độ tương quan giữa teo hồi thái dương với điểm số MMSE (r = -0,49, giá trị p < 0,01) thông qua phép kiểm Spearman Điều này gợi ý là thang điểm CVRS có vẻ không phải là công cụ tốt nhất để dự đoán điểm số MMSE mặc dù có giá trị cao hơn thang điểm đánh giá teo hồi hải mã đơn thuần ở nhóm dân số người bệnh EOAD và LOAD

Khi phân tích về teo hồi hải mã, chúng tôi nhận thấy nghiên cứu của chúng tôi có kết quả mối tương quan giữa MMSE và điểm số teo hồi hải mã là tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê (chỉ số r lần lượt là -0,35 (hồi hải mã trái), -0,33 (hồi hải mã phải), giá trị p

< 0,01) Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Hsu và cộng sự cũng khảo sát mối tương quan giữa điểm số MMSE và điểm số teo hồi hải mã ở dân số người bệnh Alzheimer ở Châu Á [11]

VI KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Đặc điểm hình ảnh học trên MRI sọ não được đánh giá qua thang điểm CVRS có mối tương quan với điểm số MMSE Các nghiên cứu sau với cỡ mẫu lớn hơn và đặc điểm dân

số nghiên cứu đa dạng hơn cần làm rõ đặc điểm mối tương quan giữa hình ảnh học sọ

não và điểm số MMSE

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Shulman KI, Herrmann N, Brodaty H, Chiu

H, Lawlor B, Ritchie K, et al IPA survey of

brief cognitive screening instruments Int Psychogeriatr 2006;18(2):281-94

Trang 7

2.Devenney E, Hodges JR The Mini-Mental

State Examination: pitfalls and limitations

Practical Neurology 2017;17(1):79

3.Oh ES, Fong TG, Hshieh TT, Inouye SK

Delirium in Older Persons: Advances in

Diagnosis and Treatment Jama

2017;318(12):1161-74

4.Staffaroni AM, Elahi FM, McDermott D,

Marton K, Karageorgiou E, Sacco S, et al

Neuroimaging in Dementia Semin Neurol

2017;37(5):510-37

5.Jang JW, Park SY, Park YH, Baek MJ, Lim

JS, Youn YC, et al A comprehensive visual

rating scale of brain magnetic resonance

imaging: application in elderly subjects with

Alzheimer's disease, mild cognitive

impairment, and normal cognition Journal of

Alzheimer's disease : JAD

2015;44(3):1023-34

6.American Psychiatric A, Force DSMT

Diagnostic and statistical manual of mental

disorders : DSM-5 2013

7.Logue MW, Posner H, Green RC, Moline M,

Cupples LA, Lunetta KL, et al Magnetic

resonance imaging-measured atrophy and its

relationship to cognitive functioning in

vascular dementia and Alzheimer's disease

patients Alzheimer's & dementia : the journal

of the Alzheimer's Association 2011;7(5):493-500

8.Wei M, Shi J, Ni J, Zhang X, Li T, Chen Z,

et al A new age-related cutoff of medial

temporal atrophy scale on MRI improving the diagnostic accuracy of neurodegeneration due

to Alzheimer’s disease in a Chinese population BMC Geriatrics 2019;19(1):59

9.Henneges C, Reed C, Chen Y, Dell'Agnello

G, Lebrec J Describing the Sequence of

Cognitive Decline in Alzheimer's Disease Patients: Results from an Observational Study Journal of Alzheimer's disease : JAD 2016;52(3):1065-80

10.Godin J, Keefe J, Andrew MK Handling

missing Mini-Mental State Examination (MMSE) values: Results from a cross-sectional long-term-care study Journal of epidemiology 2017;27(4):163-71

11.Hsu J, Lee W, Liao Y, Lirng J-F, Wang

S-J, Fuh J-L Posterior Atrophy and Medial

Temporal Atrophy Scores Are Associated with Different Symptoms in Patients with Alzheimer's Disease and Mild Cognitive Impairment PloS one

2015;10(9):e0137121-e

Ngày đăng: 31/12/2022, 11:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w