Bài viết trình bày giá trị của phân loại ACR TI-RADS 2017 trong dự báo nguy cơ ác tính ở bệnh nhân có nhân giáp khu trú tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình và Bệnh viện K cơ sở Tân Triều. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 321 bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình và Bệnh viện K cơ sở Tân Triều có nhân giáp khu trú, phân loại theo hệ thống ACR TIRADS 2017, thời gian từ tháng 8/2017 đến 12/2019.
Trang 1GIÁ TRỊ CỦA PHÂN LOẠI ACR TI-RADS 2017 TRONG DỰ BÁO NGUY CƠ
ÁC TÍNH Ở BỆNH NHÂN CÓ NHÂN GIÁP KHU TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y THÁI BÌNH VÀ BỆNH VIỆN K CƠ SỞ TÂN TRIỀU
Nguyễn Ngọc Trung 1 , Nguyễn Văn Hưng 1 ,Vũ Duy Tùng 1
TÓM TẮT 64
Mục tiêu: Giá trị của phân loại ACR
TI-RADS 2017 trong dự báo nguy cơ ác tính ở bệnh
nhân có nhân giáp khu trú Đối tượng và
phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên
321 bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh
viện Đại học Y Thái Bình và Bệnh viện K cơ sở
Tân Triều có nhân giáp khu trú, phân loại theo hệ
thống ACR TIRADS 2017, thời gian từ tháng
8/2017 đến 12/2019 Kết quả: TIRADS 3: độ
nhậy 88,2%; độ chính xác 89,5%; giá trị dự báo
dương tính 88,2% TIRADS 4: độ nhậy 95%; độ
chính xác 92,5%; giá trị dự báo dương tính
96,6% TIRADS 5: độ nhậy 98,5%; độ chính xác
95,9%; giá trị dự báo dương tính 97,8% Kết
luận: Hệ thống phân loại ACR TIRADS 2017 rất
có giá trị trong dự báo nguy cơ ác tính của nhân
giáp khu trú, đặc biệt là các nhân giáp kích thước
nhỏ
Từ khóa: Nhân giáp khu trú, siêu âm, siêu âm
đàn hồi mô
SUMMARY
THE VALUE OF THE 2017 ACR
TI-RADS CLASSIFICATION IN
PREDICTING THE RISK OF
MALIGNANCY IN PATIENTS WITH
1 Đại học Y Dược Thái Bình
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Ngọc Trung
Email: Trungnn@tbump.edu.vn
Ngày nhận bài: 01/8/2022
Ngày phản biện khoa học: 15/08/2022
Ngày duyệt bài: 06/09/2022
LOCALIZED THYROID NODULES AT THAI BINH MEDICAL UNIVERSITY HOSPITAL AND VIET NAM NATIONAL CANCER HOSPITAL
Objectives: Value of the 2017 ACR
TI-RADS classification in predicting the risk of malignancy in patients with focal thyroid
nodules Subjects and methods: a
cross-sectional descriptive study on 321 patients who came for examination and treatment at Thai Binh Medical University Hospital and Viet Nam national cancer hospital (Tan Trieu) with localized thyroid nodules, classified according to the ACR TIRADS system 2017, the period from
August 2017 to December 2019 Result:
TIRADS 3: sensitivity 88.2%; accuracy 89.5%; positive predictive value 88.2% TIRADS 4: 95% sensitivity; accuracy 92.5%; positive predictive value of 96.6% TIRADS 5: sensitivity 98.5%;
accuracy 95.9%; positive predictive value 97.8% Conclusion: The 2017 ACR TIRADS classification system is very valuable in predicting the risk of malignancy of focal thyroid nodules, especially small-sized thyroid nodules
Keywords: Focal thyroid nodules, ultrasound,
elastography
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Các nhân giáp khu trú gặp ở 50% người bình thường, với tỉ lệ ác tính là 7%, phát hiện trên lâm sàng khi tổn thương có kích thước lớn, những tổn thương dạng nốt không sờ thấy chỉ được phát hiện qua siêu âm [1], [2] Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính đối
Trang 2với ung thư giáp, tuy nhiên còn nhiều biến
chứng Ngày nay, với sự phát triển của khoa
học kỹ thuật, siêu âm độ phân giải cao phát
hiện tốt các tổn thương nhu mô giáp, đặc biệt
là nhân giáp khu trú, đánh giá được các tính
chất về âm, đường bờ, hình dạng, tính chất
vôi hóa Hiện nay, việc đánh giá và xếp loại
nhân giáp chưa có sự thống nhất giữa các bác
sĩ chẩn đoán hình ảnh, nội tiết và ngoại khoa
Bảng phân loại ACR TI-RADS 2017 ra đời
có những đặc điểm khác biệt, chi tiết hơn về
các đặc tính, chấm điểm từng đặc tính [1],
[2] Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: Giá trị của phân loại ACR TI-RADS
2017 trong dự báo nguy cơ ác tính ở bệnh
nhân có nhân giáp khu trú tại Bệnh viện Đại
học Y Thái Bình và Bệnh viện K cơ sở Tân
Triều
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện ở bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình và Bệnh viện K cơ sở Tân Triều
có nhân giáp khu trú, phân loại theo hệ thống ACR TIRADS 2017, thời gian từ tháng 8/2017 đến 12/2019 (Trong đó số bệnh nhân tại BV Đại học Y Thái Bình là 20, tại BV K
cơ sở Tân Triều là 301)
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu
mô tả cắt ngang
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ
mẫu thuận tiện, không hạn chế về số lượng,
cỡ mẫu trong thời gian nghiên cứu thu thập được là 321
Xử lý số liệu
Xử lý số liệu thu được trong nghiên cứu bằng phần mềm SPSS 20.0
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện và tuân thủ theo các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1 Mối liên quan vị trí và số lượng nhân giáp với mô bệnh học
Ác tính Lành tính
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tổng số
321 nhân giáp có 49,2 % ở thùy trái (n=159);
3,4 % ở eo (n=11), trong 310 nhân giáp ở
thùy thì có 159 nhân ở 1/3 giữa chiếm 51,3
% Chúng tôi thống kê được: các nhân giáp
nói chung và nhân ung thư giáp nói riêng
phân bố chủ yếu ở hai thùy với tỉ lệ ngang nhau và chủ yếu ở thùy giữa, kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của Wang Y (2017) cũng đưa ra số nhân giáp thùy phải/ trái là 117/122 [3] Tại nghiên cứu của chúng tôi, không có sự khác biệt nhiều vị trí nhân
Trang 3giáp ở hai thùy với nhân ung thư, cụ thể
trong 214 nhân ung thư thì có 98 nhân ở thùy
phải so với 109 nhân ở thùy trái Tuy nhiên,
có sự khác biệt đáng kể vị trí nhân ung thư ở
từng thùy với vị trí 1/3 giữa chiếm 96/203 nhân và có mối liên hệ với di căn hạch cổ, nhân ở 1/3 giữa di căn hạch nhiều nhất,
chiếm 49%
Bảng 3.2 Mối liên quan kích thước nhân giáp và mô bệnh học
Ác tính Lành tính
Kích thước các nhân giáp trong nghiên
cứu có kích thước nhỏ, < 10 mm chiếm đa số
với 44,5 %, sau đó đến các nhân giáp kích
thước từ 11-20 mm chiếm 34,3%, nhân giáp
kích thước trên 4cm chiếm 3,4 %, trong các
nhân giáp có kích thước <10mm, thì nhân
ung thư chiếm đa số với 118/143 Nghiên
cứu của chúng tôi có sự khác biệt với nghiên
cứu các nghiên cứu của: Theo tác giả Moon
HJ (2012), ung thư giáp gặp ở các nốt có
kích thước 10-19mm là chủ yếu và cũng
không có thống kê nhân giáp < 10mm [4]
Tuy nhiên, trong các nghiên cứu đều chỉ ra rằng kích thước nhân giáp >4cm là rất ít, cùng với đó các ung thư tuyến giáp thường tỷ
lệ nghịch với kích thước Trong nghiên cứu của chúng tôi các ung thư giáp kích thước > 4cm, tỷ lệ di căn là 40%, điều này có thể giải thích do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì các thế hệ máy máy siêu âm ngày càng phát triển cả về tính năng, cũng như phần mềm hỗ trợ, giúp các bác sỹ tầm soát tốt hơn các bệnh
lý
Bảng 3.3 Mối liên quan hình dạng nhân giáp với mô bệnh học
Ác tính Lành tính
Trong số 321 nhân giáp thì các nhân có
hình oval đứng chiếm đa số với 51,1%
(164/321) và trong số 164 nhân hình oval
đứng thì có tới 161 nhân ung thư, trong số
154 nhân giáp hình oval nằm thì nhân lành
tính chiếm 103 nhân Qua đó, chúng tôi thấy rằng: những nhân có hình oval nằm cũng không loại trừ ung thư nhưng các nhân hình oval đứng thì khả năng ung thư rất cao với tỉ
lệ 98,2% Có 3 trường hợp không xác định
Trang 4được hình dạng chiếm 0,9% Nghiên cứu của
Kwak JY (2011) cho thấy đặc điểm chiều
cao lớn hơn chiều rộng gặp với tần suất khá
cao ở nhóm ác tính 51% trong khi ở nhóm
nhân lành tính chỉ chiếm 4% Nhân lành tính
có hình dạng chiều rộng lớn hơn chiều cao 96% [5]
Bảng 3.4 Mối liên quan cấu trúc nhân giáp với mô bệnh học
Ác tính Lành tính
Trong nhiên cứu của chúng tôi: trong 321
nhân giáp, thành phần âm của nốt chủ yếu là
đặc với 85,7%, dạng nang hỗn hợp chiếm
11,8% và không có nang đơn thuần Các tổn
thương dạng nang và bọt biển thì đều lành
tính, trong khi đó các nhân ung thư giáp thì
có tới 98,1% là nhân đặc (210 /214), tỉ lệ này
với nhân lành tính là 60,7% Theo Moon WJ
(2008) thì có tới 98,3% nhân ung thư là đặc,
nhân giáp dạng nang hỗn hợp chiếm 1,7%,
đồng thời các nhân lành tính thì nhân đặc chiếm 87,1% [6] Như vậy, chúng tôi nhận thấy rằng các ung thư giáp đều là các nốt đặc
và các nhân giáp lành cũng đa phần là đặc, như vậy một nốt đặc khi siêu âm không thể loại trừ ung thư giáp, mà cần kết hợp các đặc điểm khác để đánh giá tổn thương, trong khí
đó tổn thương dạng bọt biển thì có thể loại trừ
Bảng 3.5 Mối liên quan đặc điểm hồi âm với mô bệnh học
Ác tính Lành tính
Các nhân giáp trong nghiên cứu của chúng
tôi chủ yếu là giảm âm và rất giảm âm, trong
đó giảm âm chiếm 36,8%, tỷ lệ tăng âm chỉ
chiếm 4% Trong 214 nhân ung thư không có
nhân giáp tăng âm, trong khi đó các nhân
giáp lành tính thì chủ yếu là hỗn hợp âm (34/107) và đồng âm (38/107) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với Moon
WJ khi tỷ lệ nhân giảm âm là 46,1%, rất giảm âm là 41,4%, và các nhân giáp lành tính
Trang 5thì tỷ lệ rất giảm âm chiếm 7,8%, trong khi
nhân giáp đồng âm chiếm đa số với 56,7%
[6] Như vậy có thể thấy tính chất giảm âm
đặc biệt là rất giảm âm thể hiện độ ác tính
cao của nhân giáp, trong nghiên cứu của chúng tôi các nhân rất giảm âm đều là ung thư giáp, độ đặc hiệu là 100%
Hình 1 Hình siêu âm bệnh nhân PID 183003294: Hình ảnh siêu âm là nhân rất giảm âm,
bờ rõ, chấm tăng âm trong nốt, không tăng sinh mạch, có hạch bất thường nhóm III, giải
phẫu bệnh sau mổ là ung thư biểu mô thể nhú, hạch di căn nhóm III và VI
Bảng 3.6 Mối liên quan vôi hóa nhân giáp với mô bệnh học
Ác tính Lành tính
Hiện nay, khái niệm về vi vôi hóa vẫn
đang được diễn tả theo hai trường phái: Với
tác giả Hàn quốc vẫn dùng khái niệm vi vôi
hóa, vôi hóa thô, trong khi đó các tác giả Mỹ
thì gọi là chấm tăng âm Trong nghiên cứu
của chúng tôi thì chấm tăng âm là các vi vôi
hóa có thể phân bố dạng viền hoặc trung tâm
của nhân giáp, có bóng cản, kích thước <
1mm, còn lại là vôi hóa thô và duôi sao chổi
Thực tế, tại nghiên cứu này chúng tôi thấy:
đa phần các nhân giáp có chấm tăng âm, với
52,7%, trong đó chấm tăng âm <1mm chiếm 28,3% Trong số 91 nhân giáp có chấm tăng
âm < 1mm thì có tới 82 nhân ung thư, phản ánh độ đặc hiệu cao (90,1%) của tính chất này Mặt khác trong 214 nhân ung thư thì có tới 91 nhân không có vôi hóa Theo Moon
WJ trong nhóm ung thư thì tỷ lệ vi vôi hóa chiếm 48,4%; vôi hóa thô chiếm 9,7%, trong nhóm lành tính vi vôi hóa và vôi hóa thô lần lượt là 9,2% và 3,9% [6]
Trang 6Bảng 3.7 Mối liên quan đặc điểm tăng sinh mạch với mô bệnh học
Ác tính Lành tính
Trong các nhân tuyến giáp của nghiên cứu
này, các nhân tăng sinh mạch trong nốt
chiếm thiểu số với 29,9%, trong đó các nhân
lành tính tính chất tăng sinh mạch chiếm ưu
thế với 64,6% (62/107) Các nhân ung thư thì
tính chất này chiếm 15,9% (34/214) và điều
này trái ngược hoàn toàn với các ung thư khác Theo tác giả Moon HJ (2010) trong
269 nốt ác tính chỉ có 45 nốt có tưới máu trong nốt và siêu âm Doppler không có giá trị hơn siêu âm thang xám trong tiên lượng và phân biệt nguy cơ ác tính [7]
Bảng 3.8 Mối liên quan đặc điểm bờ viền với mô bệnh học
Ác tính Lành tính
Bờ viền của nhân giáp đôi khi cho biết tổn
thương lành tính với độ nhậy và độ đặc hiệu
rất cao như vòng Halo, khi có dấu hiệu này
nhân giáp chắc chắn lành tính, bờ viền nhân
giáp có thể không rõ bờ, bờ đều nhẵn, bờ
không đều hoặc thùy múi, và xâm lấn bao
giáp ra xung quanh, trong kết quả nghiên cứu
thì tỷ lệ bờ đều chiếm 63,9% (n= 205), còn
lại bờ không đều/ thùy múi 33,6% (n= 108),
xâm lấn bao giáp 2,5% (n=8) Các nhân giáp
ác tính chiếm đa số trong các nhân bờ không
đều/thùy múi (99/108), các nhân xâm lấn bao
giáp (6/8) Tỉ lệ này theo Moon WJ thì tỷ lệ
bờ không đều là 48,3%, không xác định 19,2% và ở nhóm lành tính thì tỷ lệ bờ không đều chiếm 8,2% [6], có sự phù hợp ở nhóm lành tính trong hai nghiên cứu, nhưng có sự khác biệt rõ về tính chất bờ không đều ở nhóm ác tính, sự khác biệt trên có lẽ do độ phân giải của máy ngày càng tốt lên Tuy nhiên, nghiên cứu trên chưa đưa ra tính chất xâm lấn bao giáp như trong nghiên cứu của chúng tôi
Trang 7Bảng 3.9 Mối liên quan Giá trị độ cứng nhân giáp trên Siêu âm đàn hồi mô với mô bệnh học
Độ cứng nhân giáp trên siêu âm
đàn hồi mô
Mô bệnh học
Tổng
Ác tính Lành tính
Trong nghiên cứu của chúng tôi, siêu âm
đàn hồi mô định lượng được thực hiện trên
máy Logiq S8, chúng tôi lấy ngưỡng 66 Kpa,
và được kết quả số nhân giáp có độ cứng ≥
66 Kpa là 116, chiếm 36,1 %, trong đó nhân
ác tính chiếm 94% (109/116), ở nhóm độ
cứng < 66Kpa thì các nhân lành tính chiếm
đa số 62,4% (68/128) Mặt khác trong tổng
số nhân ung thư thì độ cứng ≥ 66 Kpa chỉ
chiếm 50,9 % Theo Kwak JY (2014) đã chỉ
ra rằng Elastography kết hợp siêu âm 2D làm
tăng độ nhậy chẩn đoán, nhưng độ đặc hiệu,
độ chính xác, giá trị dự báo dương tính lại
giảm đi [8] Có một số lượng không nhỏ
57/301 nhân giáp không xác định được độ
cứng trên Elasto, nguyên nhân do có vôi hóa
thô trong nốt, nốt giàu mạch và cạnh khí quản Vì vậy siêu âm đàn hồi mô đang là một dấu hiệu hứa hẹn về kỹ thuật chẩn đoán
Hình 2 Hình siêu âm bệnh nhân PID
183062954: độ cứng trên Elasto Shear wave
là 148 Kpa
Bảng 3.10 Đặc điểm siêu âm hạch di căn
ngang
Tăng âm hoặc nang hóa
Mất cấu trúc
Hạch trung tâm ≥4mm Không rõ Không rõ Không rõ Siêu âm đã được công nhận là phương
pháp có nhiều ưu điểm hơn CLVT và MRI
trong phát hiện di căn hạch cổ trong ung thư
tuyến giáp với độ nhậy và độ đặc hiệu
cao[9] Việc phát hiện các hạch cổ bên khá
dễ dàng, nhóm cổ trung tâm cũng có thể phát
hiện được nhờ vào độ phân giải của máy
ngày càng cao, kỹ thuật siêu âm tốt lên, trong
nghiên cứu của chúng tôi các nhóm hạch cổ
bên được phát hiện từng nhóm hặc nhiều nhóm, và chỉ có ở nhóm III và IV, III+IV, I lần lượt là 7, 12, 26, 1, nhóm VI phát hiện được 13 hạch, mặc dù là chặng hạch hay gặp nhất nhưng do hạn chế về mặt giải phẫu, các nhóm còn lại ít gặp một phần vì dẫn lưu cho tuyến giáp là nhóm III, IV, VI, và phát hiện bệnh ở gia đoạn sớm, theo Hwang HS năm (2011) thì tỷ lệ di căn hạch cổ nhóm II, III,
Trang 8IV, V, VI, lần lượt là 18,8; 18,8; 25; 6,3;
15% [9] Đặc điểm trên siêu âm di căn hạch
nhóm cổ bên bao gồm tất cả các dấu hiệu
đường kính ngang ≥ 5 mm, tăng âm hoặc
nang hóa một phần, mất cấu trúc rốn hạch, vôi hóa hạch, đối với nhóm VI chỉ có một dấu hiệu duy nhất đường kính ngang ≥ 4mm được ghi nhận
Hình 3 Hình siêu âm bệnh nhân PID 183038112: hình ảnh U nguyên phát và hạch cổ nghi ngờ nhóm III, IV trái, giải phẫu bệnh sau mổ là ung thư biểu mô thể nhú, di căn
hạch nhóm III, IV, VI
Bảng 3.11 Phân độ nhân giáp theo ACR TIRADS 2017
Trong nghiên cứu của chúng tôi, ngoại trừ các nhân giáp có phân độ TIRADS 2 trở xuống không có dữ liệu để tính độ nhậy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị dự báo dương, chỉ tính được giá trị dự báo âm vì 100 % các nhân có phân độ TIRADS 2 trở xuống là lành tính, các phân độ TIRADS càng cao thì có độ nhậy và độ chính xác, giá trị dự báo dương tính tăng theo tỉ lệ thuận
Bảng 3.12 Giá trị dự báo nguy cơ ác tính
TIRADS Độ nhậy Độ đặc hiệu Độ chính xác Dự báo
≤ 2 Không có
dữ liệu
Không có
dữ liệu
Không có
dữ liệu
Không có
dữ liệu 100
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu,
chúng tôi thấy những nhân giáp phân độ
TIRADS 4,5 thì khả năng dự báo nguy cơ
ung thư có độ chính xác rất cao, lần lượt là
92,5 % và 95,9%, cao hơn mức 89,5% đối
với các nhân TIRADS 3 và chiều ngược lại các nhân giáp TIRADS 2 trở xuống thì nguy
cơ ác tính bằng không, Độ nhậy cao của các nhân giáp TIRADS 4 và 5 thể hiện khả năng sàng lọc tốt ung thư giáp của hệ thống ACR
Trang 92017 Độ chính xác và giá trị dự báo dương
cũng tăng lên theo phân độ TIRADS, cụ thể
giá trị dự báo dương từ 88,2% đối với
TIRADS 3, lên mức 96,6 % và 97,8 % đối
với TIRADS 4 và 5 Giá trị dự báo âm và độ
đặc hiệu thì có xu hướng giảm khi phân độ
TIRADS tăng lên, cụ thể giá trị dự báo âm
tính của TIRADS 2 là 100%, TIRADS 5 là
80 % Kết quả này cũng khá phù hợp với các
nghiên của các tác giả trong và ngoài nước:
Tác giả Trần Thúy Hồng (2013) tiến hành
nghiên cứu trên 144 nhân tuyến giáp, trong
đó có 28 nhân ung thư, được phân loại theo
TIRADS của Kwak JY, theo đó nguy cơ ung
thư cũng tăng dần theo phân loại TIRADS,
từ TIRADS 4C là 93,8 % [1] Nghiên cứu
của Vũ Tất Giao trên 307 nhân tuyến giáp,
phân loại TIRADS theo G.Russ (2013) đối
chiếu với kết quả giải phẫu bệnh, nguy cơ
ung thư tăng dần theo phân loại TIRADS từ
0% đối với phân loại TIRADS 2 và 3 tới
96,83% với phân loại TIRADS 5 [2], độ
nhạy, độ đặc hiệu, NPV và độ chính xác là
95,7%, 61 %, 99,7 % và 62 %, khi sử dụng
phân loại TIRADS để chẩn đoán ung thư
giáp Không có đặc điểm siêu âm nào được
coi là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán giáp
nhân ác tính nhưng nhiều công trình nghiên
cứu và trong nghiên cứu của chúng tôi đã
cho thấy sự kết hợp các yếu tố nguy cơ trên
siêu âm làm tăng khả năng chẩn đoán ác tính
[5] Vì vậy, các hệ thống phân loại TIRADS
nói chung, đặc biệt là hệ thống ACR 2017
giúp chúng ta phân loại dự báo được nguy cơ
ác tính của nhân giáp khu trú, từ đó sẽ có
hướng chẩn đoán và xử trí tiếp theo khi bênh
nhân đã có siêu âm và được phân loại
TIRADS So với các hệ thống phân loại của
Hàn quốc và Châu Âu thì ACR 2017 có ưu
điểm về đánh giá xâm lấn, chấm điểm định
lượng, có khuyến cáo theo dõi, và qua nghiên
cứu này có thể dùng để dự báo nguy cơ ác tính cho nhân giáp khu trú như một test sàng lọc
V KẾT LUẬN
Sau khi tiến hành nghiên cứu 321 nốt tuyến giáp khu trú, chúng tôi nhận thấy giá trị dự báo nguy cơ ác tính của ACR – 2017 theo độ nhậy, độ chính xác và giá trị dự báo dương tính trong nghiên cứu đối với nhóm TIRADS 3 trở lên lần lượt như sau:
− TIRADS 3: 88,2%; 89,5%; 88,2%
− TIRADS 4: 95%; 92,5%; 96,6%
− TIRADS 5: 98,5%; 95,9%; 97,8% Như vậy, qua kết quả nghiên cứu này chúng tôi thấy: Hệ thống phân loại ACR TIRADS 2017 rất có giá trị trong dự báo nguy cơ ác tính của nhân giáp khu trú, đặc biệt là các nhân giáp kích thước nhỏ, vì vậy cần áp dụng thường quy và rộng rãi trong thực hành chẩn đoán tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình và các cơ sơ y tế khác
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Thúy Hồng, Bùi Văn Lệnh, Lê Tuấn Linh (2013), "Đặc điểm hình ảnh và giá trị
của siêu âm trong chẩn đoán các tổn thương khu trú tuyến giáp"
2 Vũ Tất Giao (2015), "Nghiên cứu giá trị siêu
âm trong phân loại TIRADS các tổn thương khu trú tuyến giáp", Tạp chí Điện quang 21,
pp 22-2
3 Wang Y, et al (2017), "Ultrasound findings
for papillary thyroid carcinoma in the isthmus: a case-control study", International Journal of Clinical and Experimental Medicine 10(5), pp 8011-8017
4 Moon HJ, et al (2012), "Diagnostic
performance of gray-scale US and elastography in solid thyroid nodules", Radiology 262(3), pp 1002-1013