1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giá trị của phân loại ACR TI-RADS 2017 trong dự báo nguy cơ ác tính ở bệnh nhân có nhân giáp khu trú tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình và Bệnh viện K cơ sở Tân Triều

9 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá trị của phân loại ACR TI-RADS 2017 trong dự báo nguy cơ ác tính ở bệnh nhân có nhân giáp khu trú tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình và Bệnh viện K cơ sở Tân Triều
Tác giả Nguyễn Ngọc Trung, Nguyễn Văn Hưng, Vũ Duy Tùng
Trường học Bệnh viện Đại học Y Thái Bình và Bệnh viện K Cơ sở Tân Triều
Chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh, Nội tiết
Thể loại nghiên cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thái Bình
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 545,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày giá trị của phân loại ACR TI-RADS 2017 trong dự báo nguy cơ ác tính ở bệnh nhân có nhân giáp khu trú tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình và Bệnh viện K cơ sở Tân Triều. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 321 bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình và Bệnh viện K cơ sở Tân Triều có nhân giáp khu trú, phân loại theo hệ thống ACR TIRADS 2017, thời gian từ tháng 8/2017 đến 12/2019.

Trang 1

GIÁ TRỊ CỦA PHÂN LOẠI ACR TI-RADS 2017 TRONG DỰ BÁO NGUY CƠ

ÁC TÍNH Ở BỆNH NHÂN CÓ NHÂN GIÁP KHU TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y THÁI BÌNH VÀ BỆNH VIỆN K CƠ SỞ TÂN TRIỀU

Nguyễn Ngọc Trung 1 , Nguyễn Văn Hưng 1 ,Vũ Duy Tùng 1

TÓM TẮT 64

Mục tiêu: Giá trị của phân loại ACR

TI-RADS 2017 trong dự báo nguy cơ ác tính ở bệnh

nhân có nhân giáp khu trú Đối tượng và

phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên

321 bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh

viện Đại học Y Thái Bình và Bệnh viện K cơ sở

Tân Triều có nhân giáp khu trú, phân loại theo hệ

thống ACR TIRADS 2017, thời gian từ tháng

8/2017 đến 12/2019 Kết quả: TIRADS 3: độ

nhậy 88,2%; độ chính xác 89,5%; giá trị dự báo

dương tính 88,2% TIRADS 4: độ nhậy 95%; độ

chính xác 92,5%; giá trị dự báo dương tính

96,6% TIRADS 5: độ nhậy 98,5%; độ chính xác

95,9%; giá trị dự báo dương tính 97,8% Kết

luận: Hệ thống phân loại ACR TIRADS 2017 rất

có giá trị trong dự báo nguy cơ ác tính của nhân

giáp khu trú, đặc biệt là các nhân giáp kích thước

nhỏ

Từ khóa: Nhân giáp khu trú, siêu âm, siêu âm

đàn hồi mô

SUMMARY

THE VALUE OF THE 2017 ACR

TI-RADS CLASSIFICATION IN

PREDICTING THE RISK OF

MALIGNANCY IN PATIENTS WITH

1 Đại học Y Dược Thái Bình

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Ngọc Trung

Email: Trungnn@tbump.edu.vn

Ngày nhận bài: 01/8/2022

Ngày phản biện khoa học: 15/08/2022

Ngày duyệt bài: 06/09/2022

LOCALIZED THYROID NODULES AT THAI BINH MEDICAL UNIVERSITY HOSPITAL AND VIET NAM NATIONAL CANCER HOSPITAL

Objectives: Value of the 2017 ACR

TI-RADS classification in predicting the risk of malignancy in patients with focal thyroid

nodules Subjects and methods: a

cross-sectional descriptive study on 321 patients who came for examination and treatment at Thai Binh Medical University Hospital and Viet Nam national cancer hospital (Tan Trieu) with localized thyroid nodules, classified according to the ACR TIRADS system 2017, the period from

August 2017 to December 2019 Result:

TIRADS 3: sensitivity 88.2%; accuracy 89.5%; positive predictive value 88.2% TIRADS 4: 95% sensitivity; accuracy 92.5%; positive predictive value of 96.6% TIRADS 5: sensitivity 98.5%;

accuracy 95.9%; positive predictive value 97.8% Conclusion: The 2017 ACR TIRADS classification system is very valuable in predicting the risk of malignancy of focal thyroid nodules, especially small-sized thyroid nodules

Keywords: Focal thyroid nodules, ultrasound,

elastography

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Các nhân giáp khu trú gặp ở 50% người bình thường, với tỉ lệ ác tính là 7%, phát hiện trên lâm sàng khi tổn thương có kích thước lớn, những tổn thương dạng nốt không sờ thấy chỉ được phát hiện qua siêu âm [1], [2] Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính đối

Trang 2

với ung thư giáp, tuy nhiên còn nhiều biến

chứng Ngày nay, với sự phát triển của khoa

học kỹ thuật, siêu âm độ phân giải cao phát

hiện tốt các tổn thương nhu mô giáp, đặc biệt

là nhân giáp khu trú, đánh giá được các tính

chất về âm, đường bờ, hình dạng, tính chất

vôi hóa Hiện nay, việc đánh giá và xếp loại

nhân giáp chưa có sự thống nhất giữa các bác

sĩ chẩn đoán hình ảnh, nội tiết và ngoại khoa

Bảng phân loại ACR TI-RADS 2017 ra đời

có những đặc điểm khác biệt, chi tiết hơn về

các đặc tính, chấm điểm từng đặc tính [1],

[2] Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: Giá trị của phân loại ACR TI-RADS

2017 trong dự báo nguy cơ ác tính ở bệnh

nhân có nhân giáp khu trú tại Bệnh viện Đại

học Y Thái Bình và Bệnh viện K cơ sở Tân

Triều

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện ở bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình và Bệnh viện K cơ sở Tân Triều

có nhân giáp khu trú, phân loại theo hệ thống ACR TIRADS 2017, thời gian từ tháng 8/2017 đến 12/2019 (Trong đó số bệnh nhân tại BV Đại học Y Thái Bình là 20, tại BV K

cơ sở Tân Triều là 301)

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu

mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ

mẫu thuận tiện, không hạn chế về số lượng,

cỡ mẫu trong thời gian nghiên cứu thu thập được là 321

Xử lý số liệu

Xử lý số liệu thu được trong nghiên cứu bằng phần mềm SPSS 20.0

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện và tuân thủ theo các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 3.1 Mối liên quan vị trí và số lượng nhân giáp với mô bệnh học

Ác tính Lành tính

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tổng số

321 nhân giáp có 49,2 % ở thùy trái (n=159);

3,4 % ở eo (n=11), trong 310 nhân giáp ở

thùy thì có 159 nhân ở 1/3 giữa chiếm 51,3

% Chúng tôi thống kê được: các nhân giáp

nói chung và nhân ung thư giáp nói riêng

phân bố chủ yếu ở hai thùy với tỉ lệ ngang nhau và chủ yếu ở thùy giữa, kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của Wang Y (2017) cũng đưa ra số nhân giáp thùy phải/ trái là 117/122 [3] Tại nghiên cứu của chúng tôi, không có sự khác biệt nhiều vị trí nhân

Trang 3

giáp ở hai thùy với nhân ung thư, cụ thể

trong 214 nhân ung thư thì có 98 nhân ở thùy

phải so với 109 nhân ở thùy trái Tuy nhiên,

có sự khác biệt đáng kể vị trí nhân ung thư ở

từng thùy với vị trí 1/3 giữa chiếm 96/203 nhân và có mối liên hệ với di căn hạch cổ, nhân ở 1/3 giữa di căn hạch nhiều nhất,

chiếm 49%

Bảng 3.2 Mối liên quan kích thước nhân giáp và mô bệnh học

Ác tính Lành tính

Kích thước các nhân giáp trong nghiên

cứu có kích thước nhỏ, < 10 mm chiếm đa số

với 44,5 %, sau đó đến các nhân giáp kích

thước từ 11-20 mm chiếm 34,3%, nhân giáp

kích thước trên 4cm chiếm 3,4 %, trong các

nhân giáp có kích thước <10mm, thì nhân

ung thư chiếm đa số với 118/143 Nghiên

cứu của chúng tôi có sự khác biệt với nghiên

cứu các nghiên cứu của: Theo tác giả Moon

HJ (2012), ung thư giáp gặp ở các nốt có

kích thước 10-19mm là chủ yếu và cũng

không có thống kê nhân giáp < 10mm [4]

Tuy nhiên, trong các nghiên cứu đều chỉ ra rằng kích thước nhân giáp >4cm là rất ít, cùng với đó các ung thư tuyến giáp thường tỷ

lệ nghịch với kích thước Trong nghiên cứu của chúng tôi các ung thư giáp kích thước > 4cm, tỷ lệ di căn là 40%, điều này có thể giải thích do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì các thế hệ máy máy siêu âm ngày càng phát triển cả về tính năng, cũng như phần mềm hỗ trợ, giúp các bác sỹ tầm soát tốt hơn các bệnh

Bảng 3.3 Mối liên quan hình dạng nhân giáp với mô bệnh học

Ác tính Lành tính

Trong số 321 nhân giáp thì các nhân có

hình oval đứng chiếm đa số với 51,1%

(164/321) và trong số 164 nhân hình oval

đứng thì có tới 161 nhân ung thư, trong số

154 nhân giáp hình oval nằm thì nhân lành

tính chiếm 103 nhân Qua đó, chúng tôi thấy rằng: những nhân có hình oval nằm cũng không loại trừ ung thư nhưng các nhân hình oval đứng thì khả năng ung thư rất cao với tỉ

lệ 98,2% Có 3 trường hợp không xác định

Trang 4

được hình dạng chiếm 0,9% Nghiên cứu của

Kwak JY (2011) cho thấy đặc điểm chiều

cao lớn hơn chiều rộng gặp với tần suất khá

cao ở nhóm ác tính 51% trong khi ở nhóm

nhân lành tính chỉ chiếm 4% Nhân lành tính

có hình dạng chiều rộng lớn hơn chiều cao 96% [5]

Bảng 3.4 Mối liên quan cấu trúc nhân giáp với mô bệnh học

Ác tính Lành tính

Trong nhiên cứu của chúng tôi: trong 321

nhân giáp, thành phần âm của nốt chủ yếu là

đặc với 85,7%, dạng nang hỗn hợp chiếm

11,8% và không có nang đơn thuần Các tổn

thương dạng nang và bọt biển thì đều lành

tính, trong khi đó các nhân ung thư giáp thì

có tới 98,1% là nhân đặc (210 /214), tỉ lệ này

với nhân lành tính là 60,7% Theo Moon WJ

(2008) thì có tới 98,3% nhân ung thư là đặc,

nhân giáp dạng nang hỗn hợp chiếm 1,7%,

đồng thời các nhân lành tính thì nhân đặc chiếm 87,1% [6] Như vậy, chúng tôi nhận thấy rằng các ung thư giáp đều là các nốt đặc

và các nhân giáp lành cũng đa phần là đặc, như vậy một nốt đặc khi siêu âm không thể loại trừ ung thư giáp, mà cần kết hợp các đặc điểm khác để đánh giá tổn thương, trong khí

đó tổn thương dạng bọt biển thì có thể loại trừ

Bảng 3.5 Mối liên quan đặc điểm hồi âm với mô bệnh học

Ác tính Lành tính

Các nhân giáp trong nghiên cứu của chúng

tôi chủ yếu là giảm âm và rất giảm âm, trong

đó giảm âm chiếm 36,8%, tỷ lệ tăng âm chỉ

chiếm 4% Trong 214 nhân ung thư không có

nhân giáp tăng âm, trong khi đó các nhân

giáp lành tính thì chủ yếu là hỗn hợp âm (34/107) và đồng âm (38/107) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với Moon

WJ khi tỷ lệ nhân giảm âm là 46,1%, rất giảm âm là 41,4%, và các nhân giáp lành tính

Trang 5

thì tỷ lệ rất giảm âm chiếm 7,8%, trong khi

nhân giáp đồng âm chiếm đa số với 56,7%

[6] Như vậy có thể thấy tính chất giảm âm

đặc biệt là rất giảm âm thể hiện độ ác tính

cao của nhân giáp, trong nghiên cứu của chúng tôi các nhân rất giảm âm đều là ung thư giáp, độ đặc hiệu là 100%

Hình 1 Hình siêu âm bệnh nhân PID 183003294: Hình ảnh siêu âm là nhân rất giảm âm,

bờ rõ, chấm tăng âm trong nốt, không tăng sinh mạch, có hạch bất thường nhóm III, giải

phẫu bệnh sau mổ là ung thư biểu mô thể nhú, hạch di căn nhóm III và VI

Bảng 3.6 Mối liên quan vôi hóa nhân giáp với mô bệnh học

Ác tính Lành tính

Hiện nay, khái niệm về vi vôi hóa vẫn

đang được diễn tả theo hai trường phái: Với

tác giả Hàn quốc vẫn dùng khái niệm vi vôi

hóa, vôi hóa thô, trong khi đó các tác giả Mỹ

thì gọi là chấm tăng âm Trong nghiên cứu

của chúng tôi thì chấm tăng âm là các vi vôi

hóa có thể phân bố dạng viền hoặc trung tâm

của nhân giáp, có bóng cản, kích thước <

1mm, còn lại là vôi hóa thô và duôi sao chổi

Thực tế, tại nghiên cứu này chúng tôi thấy:

đa phần các nhân giáp có chấm tăng âm, với

52,7%, trong đó chấm tăng âm <1mm chiếm 28,3% Trong số 91 nhân giáp có chấm tăng

âm < 1mm thì có tới 82 nhân ung thư, phản ánh độ đặc hiệu cao (90,1%) của tính chất này Mặt khác trong 214 nhân ung thư thì có tới 91 nhân không có vôi hóa Theo Moon

WJ trong nhóm ung thư thì tỷ lệ vi vôi hóa chiếm 48,4%; vôi hóa thô chiếm 9,7%, trong nhóm lành tính vi vôi hóa và vôi hóa thô lần lượt là 9,2% và 3,9% [6]

Trang 6

Bảng 3.7 Mối liên quan đặc điểm tăng sinh mạch với mô bệnh học

Ác tính Lành tính

Trong các nhân tuyến giáp của nghiên cứu

này, các nhân tăng sinh mạch trong nốt

chiếm thiểu số với 29,9%, trong đó các nhân

lành tính tính chất tăng sinh mạch chiếm ưu

thế với 64,6% (62/107) Các nhân ung thư thì

tính chất này chiếm 15,9% (34/214) và điều

này trái ngược hoàn toàn với các ung thư khác Theo tác giả Moon HJ (2010) trong

269 nốt ác tính chỉ có 45 nốt có tưới máu trong nốt và siêu âm Doppler không có giá trị hơn siêu âm thang xám trong tiên lượng và phân biệt nguy cơ ác tính [7]

Bảng 3.8 Mối liên quan đặc điểm bờ viền với mô bệnh học

Ác tính Lành tính

Bờ viền của nhân giáp đôi khi cho biết tổn

thương lành tính với độ nhậy và độ đặc hiệu

rất cao như vòng Halo, khi có dấu hiệu này

nhân giáp chắc chắn lành tính, bờ viền nhân

giáp có thể không rõ bờ, bờ đều nhẵn, bờ

không đều hoặc thùy múi, và xâm lấn bao

giáp ra xung quanh, trong kết quả nghiên cứu

thì tỷ lệ bờ đều chiếm 63,9% (n= 205), còn

lại bờ không đều/ thùy múi 33,6% (n= 108),

xâm lấn bao giáp 2,5% (n=8) Các nhân giáp

ác tính chiếm đa số trong các nhân bờ không

đều/thùy múi (99/108), các nhân xâm lấn bao

giáp (6/8) Tỉ lệ này theo Moon WJ thì tỷ lệ

bờ không đều là 48,3%, không xác định 19,2% và ở nhóm lành tính thì tỷ lệ bờ không đều chiếm 8,2% [6], có sự phù hợp ở nhóm lành tính trong hai nghiên cứu, nhưng có sự khác biệt rõ về tính chất bờ không đều ở nhóm ác tính, sự khác biệt trên có lẽ do độ phân giải của máy ngày càng tốt lên Tuy nhiên, nghiên cứu trên chưa đưa ra tính chất xâm lấn bao giáp như trong nghiên cứu của chúng tôi

Trang 7

Bảng 3.9 Mối liên quan Giá trị độ cứng nhân giáp trên Siêu âm đàn hồi mô với mô bệnh học

Độ cứng nhân giáp trên siêu âm

đàn hồi mô

Mô bệnh học

Tổng

Ác tính Lành tính

Trong nghiên cứu của chúng tôi, siêu âm

đàn hồi mô định lượng được thực hiện trên

máy Logiq S8, chúng tôi lấy ngưỡng 66 Kpa,

và được kết quả số nhân giáp có độ cứng ≥

66 Kpa là 116, chiếm 36,1 %, trong đó nhân

ác tính chiếm 94% (109/116), ở nhóm độ

cứng < 66Kpa thì các nhân lành tính chiếm

đa số 62,4% (68/128) Mặt khác trong tổng

số nhân ung thư thì độ cứng ≥ 66 Kpa chỉ

chiếm 50,9 % Theo Kwak JY (2014) đã chỉ

ra rằng Elastography kết hợp siêu âm 2D làm

tăng độ nhậy chẩn đoán, nhưng độ đặc hiệu,

độ chính xác, giá trị dự báo dương tính lại

giảm đi [8] Có một số lượng không nhỏ

57/301 nhân giáp không xác định được độ

cứng trên Elasto, nguyên nhân do có vôi hóa

thô trong nốt, nốt giàu mạch và cạnh khí quản Vì vậy siêu âm đàn hồi mô đang là một dấu hiệu hứa hẹn về kỹ thuật chẩn đoán

Hình 2 Hình siêu âm bệnh nhân PID

183062954: độ cứng trên Elasto Shear wave

là 148 Kpa

Bảng 3.10 Đặc điểm siêu âm hạch di căn

ngang

Tăng âm hoặc nang hóa

Mất cấu trúc

Hạch trung tâm ≥4mm Không rõ Không rõ Không rõ Siêu âm đã được công nhận là phương

pháp có nhiều ưu điểm hơn CLVT và MRI

trong phát hiện di căn hạch cổ trong ung thư

tuyến giáp với độ nhậy và độ đặc hiệu

cao[9] Việc phát hiện các hạch cổ bên khá

dễ dàng, nhóm cổ trung tâm cũng có thể phát

hiện được nhờ vào độ phân giải của máy

ngày càng cao, kỹ thuật siêu âm tốt lên, trong

nghiên cứu của chúng tôi các nhóm hạch cổ

bên được phát hiện từng nhóm hặc nhiều nhóm, và chỉ có ở nhóm III và IV, III+IV, I lần lượt là 7, 12, 26, 1, nhóm VI phát hiện được 13 hạch, mặc dù là chặng hạch hay gặp nhất nhưng do hạn chế về mặt giải phẫu, các nhóm còn lại ít gặp một phần vì dẫn lưu cho tuyến giáp là nhóm III, IV, VI, và phát hiện bệnh ở gia đoạn sớm, theo Hwang HS năm (2011) thì tỷ lệ di căn hạch cổ nhóm II, III,

Trang 8

IV, V, VI, lần lượt là 18,8; 18,8; 25; 6,3;

15% [9] Đặc điểm trên siêu âm di căn hạch

nhóm cổ bên bao gồm tất cả các dấu hiệu

đường kính ngang ≥ 5 mm, tăng âm hoặc

nang hóa một phần, mất cấu trúc rốn hạch, vôi hóa hạch, đối với nhóm VI chỉ có một dấu hiệu duy nhất đường kính ngang ≥ 4mm được ghi nhận

Hình 3 Hình siêu âm bệnh nhân PID 183038112: hình ảnh U nguyên phát và hạch cổ nghi ngờ nhóm III, IV trái, giải phẫu bệnh sau mổ là ung thư biểu mô thể nhú, di căn

hạch nhóm III, IV, VI

Bảng 3.11 Phân độ nhân giáp theo ACR TIRADS 2017

Trong nghiên cứu của chúng tôi, ngoại trừ các nhân giáp có phân độ TIRADS 2 trở xuống không có dữ liệu để tính độ nhậy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị dự báo dương, chỉ tính được giá trị dự báo âm vì 100 % các nhân có phân độ TIRADS 2 trở xuống là lành tính, các phân độ TIRADS càng cao thì có độ nhậy và độ chính xác, giá trị dự báo dương tính tăng theo tỉ lệ thuận

Bảng 3.12 Giá trị dự báo nguy cơ ác tính

TIRADS Độ nhậy Độ đặc hiệu Độ chính xác Dự báo

≤ 2 Không có

dữ liệu

Không có

dữ liệu

Không có

dữ liệu

Không có

dữ liệu 100

Trong quá trình tiến hành nghiên cứu,

chúng tôi thấy những nhân giáp phân độ

TIRADS 4,5 thì khả năng dự báo nguy cơ

ung thư có độ chính xác rất cao, lần lượt là

92,5 % và 95,9%, cao hơn mức 89,5% đối

với các nhân TIRADS 3 và chiều ngược lại các nhân giáp TIRADS 2 trở xuống thì nguy

cơ ác tính bằng không, Độ nhậy cao của các nhân giáp TIRADS 4 và 5 thể hiện khả năng sàng lọc tốt ung thư giáp của hệ thống ACR

Trang 9

2017 Độ chính xác và giá trị dự báo dương

cũng tăng lên theo phân độ TIRADS, cụ thể

giá trị dự báo dương từ 88,2% đối với

TIRADS 3, lên mức 96,6 % và 97,8 % đối

với TIRADS 4 và 5 Giá trị dự báo âm và độ

đặc hiệu thì có xu hướng giảm khi phân độ

TIRADS tăng lên, cụ thể giá trị dự báo âm

tính của TIRADS 2 là 100%, TIRADS 5 là

80 % Kết quả này cũng khá phù hợp với các

nghiên của các tác giả trong và ngoài nước:

Tác giả Trần Thúy Hồng (2013) tiến hành

nghiên cứu trên 144 nhân tuyến giáp, trong

đó có 28 nhân ung thư, được phân loại theo

TIRADS của Kwak JY, theo đó nguy cơ ung

thư cũng tăng dần theo phân loại TIRADS,

từ TIRADS 4C là 93,8 % [1] Nghiên cứu

của Vũ Tất Giao trên 307 nhân tuyến giáp,

phân loại TIRADS theo G.Russ (2013) đối

chiếu với kết quả giải phẫu bệnh, nguy cơ

ung thư tăng dần theo phân loại TIRADS từ

0% đối với phân loại TIRADS 2 và 3 tới

96,83% với phân loại TIRADS 5 [2], độ

nhạy, độ đặc hiệu, NPV và độ chính xác là

95,7%, 61 %, 99,7 % và 62 %, khi sử dụng

phân loại TIRADS để chẩn đoán ung thư

giáp Không có đặc điểm siêu âm nào được

coi là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán giáp

nhân ác tính nhưng nhiều công trình nghiên

cứu và trong nghiên cứu của chúng tôi đã

cho thấy sự kết hợp các yếu tố nguy cơ trên

siêu âm làm tăng khả năng chẩn đoán ác tính

[5] Vì vậy, các hệ thống phân loại TIRADS

nói chung, đặc biệt là hệ thống ACR 2017

giúp chúng ta phân loại dự báo được nguy cơ

ác tính của nhân giáp khu trú, từ đó sẽ có

hướng chẩn đoán và xử trí tiếp theo khi bênh

nhân đã có siêu âm và được phân loại

TIRADS So với các hệ thống phân loại của

Hàn quốc và Châu Âu thì ACR 2017 có ưu

điểm về đánh giá xâm lấn, chấm điểm định

lượng, có khuyến cáo theo dõi, và qua nghiên

cứu này có thể dùng để dự báo nguy cơ ác tính cho nhân giáp khu trú như một test sàng lọc

V KẾT LUẬN

Sau khi tiến hành nghiên cứu 321 nốt tuyến giáp khu trú, chúng tôi nhận thấy giá trị dự báo nguy cơ ác tính của ACR – 2017 theo độ nhậy, độ chính xác và giá trị dự báo dương tính trong nghiên cứu đối với nhóm TIRADS 3 trở lên lần lượt như sau:

− TIRADS 3: 88,2%; 89,5%; 88,2%

− TIRADS 4: 95%; 92,5%; 96,6%

− TIRADS 5: 98,5%; 95,9%; 97,8% Như vậy, qua kết quả nghiên cứu này chúng tôi thấy: Hệ thống phân loại ACR TIRADS 2017 rất có giá trị trong dự báo nguy cơ ác tính của nhân giáp khu trú, đặc biệt là các nhân giáp kích thước nhỏ, vì vậy cần áp dụng thường quy và rộng rãi trong thực hành chẩn đoán tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình và các cơ sơ y tế khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Thúy Hồng, Bùi Văn Lệnh, Lê Tuấn Linh (2013), "Đặc điểm hình ảnh và giá trị

của siêu âm trong chẩn đoán các tổn thương khu trú tuyến giáp"

2 Vũ Tất Giao (2015), "Nghiên cứu giá trị siêu

âm trong phân loại TIRADS các tổn thương khu trú tuyến giáp", Tạp chí Điện quang 21,

pp 22-2

3 Wang Y, et al (2017), "Ultrasound findings

for papillary thyroid carcinoma in the isthmus: a case-control study", International Journal of Clinical and Experimental Medicine 10(5), pp 8011-8017

4 Moon HJ, et al (2012), "Diagnostic

performance of gray-scale US and elastography in solid thyroid nodules", Radiology 262(3), pp 1002-1013

Ngày đăng: 31/12/2022, 11:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w