Ở chu kỳ chuyển phôi đông lạnh, hỗ trợ hoàng thể là giai đoạn không thể thiếu, đặc biệt quan trọng trong sự làm tổ của phôi, góp phần quyết định tỷ lệ có thai, nhất là ở những chu kỳ sử dụng nội tiết ngoại sinh dẫn đến không có hoàng thể nội sinh. Bài viết trình bày việc đánh giá liên quan giữa nồng độ progesterone huyết thanh trước chuyển phôi với kết quả có thai ở chu kỳ chuyển phôi nang đông lạnh.
Trang 1TT < 1 triệu/ml và 4,55% có mật độ TT < 5
triệu/ml TT di động tiến tới, tại chỗ và bất
động là 5%; 17,5% và 74% Các dạng bất
thường đầu và bất thường phối hợp chiếm tỷ
lệ cao nhất, tương ứng là 37,76% và 36,77%;
bất thường bào tương còn dư thấp nhất là
4,28%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Thị Ngọc Phượng (2013) Nội tiết
sinh sản, 2, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội
2 WHO (2010) WHO laboratory manual for the
Examination and processing of human semen,
5 th ed., Geneva, Switzerland
3 Cito G., Coccia M.E., Picone R., et al
(2018) Novel method of histopathological
analysis after testicular sperm extraction in
patients with nonobstructive and obstructive
azoospermia Clin Exp Reprod Med.,
45(4):170–176
4 Mehrotra R, Tandon P, Singh KM
Ultrastructural appearances of interstitial
tissue of testis in vasectomised individuals Indian J Med Res, 1983, 77: 347 – 52
5 Bairati A., Morte E.D., Giarola A., et al (1986) Testicular biopsy of azoospermic men
with vas deferens malformation using two different techniques Archives of Androl., 17(1):67–78
6 Craft I., Tsirigotis M., Bennett V., et al (1995) Percutaneous epididymal sperm
aspiration and intracytoplasmic sperm injection in the management of infertility due
to obstructive azoospermia Fertil Steril., 63(5):1038–1042
7 Yafi F.A., Zini A (2013) Percutaneous
epididymal sperm aspiration for men with obstructive azoospermia: predictors of successful sperm retrieval Urol., 82(2):341–
344
8 Phạm Minh Huệ (2012) Nghiên cứu hình
thái cấu trúc, siêu cấu trúc tinh trùng ở mào tinh của bệnh nhân vô tinh và sự biến đổi trong môi trường nuôi cấy in vitro, Luận văn Thạc sỹ y học, Học viện Quân Y
MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ PROGESTERONE HUYẾT THANH TRƯỚC CHUYỂN PHÔI VỚI KẾT QUẢ CÓ THAI Ở CHU KỲ
CHUYỂN PHÔI ĐÔNG LẠNH
Nguyễn Minh Phương 1 , Trịnh Thế Sơn 1 , Nguyễn Thanh Tùng 1 ,
Lê Thanh Huyền 1 , Đỗ Ngọc Lan 1 , Đoàn Thị Hằng 1 TÓM TẮT 26
1 Học viện Quân y
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Minh Phương
Email: minhphuong010996@gmail.com
Ngày nhận bài: 22/7/2022
Ngày phản biện khoa học: 05/08/2022
Ngày duyệt bài: 25/08/2022
Mục tiêu: Đánh giá liên quan giữa nồng độ
progesterone huyết thanh trước chuyển phôi với kết quả có thai ở chu kỳ chuyển phôi nang đông
lạnh Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu trên 120 chu kỳ chuyển phôi
đông lạnh giai đoạn phôi nang tại Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội, sử dụng phác đồ nội tiết ngoại sinh để chuẩn bị nội mạc tử cung và hỗ trợ
Trang 2hoàng thể bằng 800mg progesterone vi hạt âm
đạo/ngày phối hợp 20mg dydrogesterone đường
uống Định lượng progedterone huyết thanh một
ngày trước ngày chuyển phôi Đánh giá nồng độ
Progesterone huyết thanh (ng/mL), tỷ lệ β-hCG
(+), tỷ lệ thai lâm sàng và thai tiến triển 12 tuần
Kết quả: Trung vị nồng độ progesterone ở nhóm
có thai 12 tuần và không có thai 12 tuần lần lượt
là 12,06 ng/mL và 14,95 ng/mL, với p = 0,029
Tỷ lệ thai tiến triển 12 tuần ở nhóm progesterone
> 20 ng/mL thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với
nhóm progesterone < 10 ng/mL (27,27% so với
58,06%, p = 0,026) và nhóm progesterone từ 10
– 20 ng/mL (27,27% so với 52,24%, p = 0,042)
Kết luận: Nồng độ progesterone huyết thanh
trước ngày chuyển phôi > 20 ng/mL có liên quan
đến giảm tỷ lệ thai tiến triển ở các chu kỳ chuyển
phôi nang đông lạnh
Từ khóa: Progesterone, chuyển phôi đông
lạnh
SUMMARY
SERUM PROGESTERONE
CONCENTRATION THE DAY PRIOR
TO FROZEN EMBRYO TRANSFER
AND PREGNANCY OUTCOMES
Objective: To evaluate the relationship
between serum progesterone concentration the
day prior to frozen blastocyst transfer and
pregnancy outcomes Methods: Prospective
study includes 120 frozen blastocyst transfer
cycles at the Military Institute of clinical
Embryology and Histology, using hormone
replacement therapy for endometrial preparation
and 800mg vaginal micronized progesterone plus
20mg oral dydrogesterone for luteal phase
support Measure serum progesterone on the day
before embryo transfer day Evaluation of serum
progesterone concentration (ng/mL), β-hCG (+)
rate, clinical pregnancy rate and ongoing
pregnancy rate Results: The median
progesterone concentration in the ongoing pregnancy and non-ongoing pregnancy group is 12.06 ng/mL and 14.95 ng/mL, respectively, with p = 0,029 The ongoing pregnancy rate of the group 3 (progesterone >20 ng/mL) is statistically significantly lower than the group 1 (progesterone < 10 ng/mL) (27,27% vs 58,06%,
p = 0,026) and the group 2 (progesterone from 10
to 20 ng/mL) (27,27% vs 52,24%, p = 0,042)
Conclusion: Serum progesterone concentration
> 20 ng/mL one day before frozen blastocyst transfer is associated with a lower ongoing pregnancy rate
Keywords: Progesterone, frozen embryo
transfer
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở chu kỳ chuyển phôi đông lạnh, hỗ trợ hoàng thể là giai đoạn không thể thiếu, đặc biệt quan trọng trong sự làm tổ của phôi, góp phần quyết định tỷ lệ có thai, nhất là ở những chu kỳ sử dụng nội tiết ngoại sinh dẫn đến không có hoàng thể nội sinh Bổ sung progesterone trong pha hoàng thể đã được chứng minh làm cải thiện đáng kể tỷ lệ thai sinh sống [1], trong đó progesterone vi hạt đặt âm đạo là thuốc đầu tay trong hỗ trợ hoàng thể Bên cạnh đó trong những năm gần đây, dydrogesterone đường uống cũng
đã được chứng minh về tính hiệu quả và tính
an toàn trong hỗ trợ hoàng thể [2], đã được
Bộ Y tế chấp thuận sử dụng tại Việt Nam từ tháng 7 năm 2018 Hiện nay, nhiều trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm thường phối hợp
sử dụng progesterone vi hạt đặt âm đạo và dydrogesterone để hỗ trợ hoàng thể Tuy nhiên, việc hấp thu và chuyển hóa thuốc là không giống nhau ở những cá thể khác nhau,
do đó dẫn đến việc nồng độ progesterone trong huyết thanh cũng như tại mô đích có sự thay đổi khác nhau giữa các chu kỳ
Trang 3Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu trên thế
giới nói lên tầm quan trọng của progesterone
đối với kết quả có thai trong các chu kỳ
chuyển phôi trữ lạnh Tuy nhiên vẫn chưa có
nghiên cứu nào đánh giá vai trò của
progesterone ở những bệnh nhân chuyển
phôi trữ sử dụng phác đồ nội tiết ngoại sinh
có hỗ trợ hoàng thể bằng progesterone vi hạt
đặt âm đạo phối hợp dydrogesterone đường
uống, vì vậy mục tiêu của nghiên cứu này
nhằm đánh giá liên quan giữa nồng độ
progesterone (P4) huyết thanh trước chuyển
phôi với kết quả có thai ở chu kỳ chuyển
phôi nang đông lạnh
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
120 chu kỳ chuyển phôi đông lạnh giai
đoạn phôi nang tại Viện Mô phôi lâm sàng
Quân đội – Học viện Quân y từ tháng
01/2021 đến tháng 06/2022
− Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên
cứu:
+ Bệnh nhân có phôi đông lạnh giai đoạn
phôi nang
+ Được chuẩn bị niêm mạc bằng phác đồ
sử dụng nội tiết ngoại sinh
+ Niêm mạc tử cung vào ngày mở cửa sổ
7mm
+ Sau rã đông có phôi chuyển
− Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Bệnh nhân chuyển phôi đông lạnh do
xin phôi hoặc xin noãn
+ Bệnh nhân có bất thường giải phẫu
vùng tử cung như u xơ tử cung, Pollip BTC,
dính BTC
+ Bệnh nhân có dịch trong lòng tử cung
+ Nồng độ progesterone huyết thanh
trước chuyển phôi < 5ng/mL
+ Chuyển > 2 phôi
+ Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu 2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu
quan sát mô tả, tiến cứu
2.2.2 Các bước tiến hành nghiên cứu
Chuẩn bị niêm mạc tử cung theo phác đồ
sử dụng nội tiết ngoại sinh:
- Ngày 2 của chu kỳ kinh bệnh nhân sẽ được siêu âm xác định tình trạng tử cung, buồng tử cung và nang trứng tồn dư Nếu bình thường sẽ được sử dụng Estradiol 2mg, liều 4mg - 12 mg/ngày
- Theo dõi sự phát triển của độ dày NMTC và hình thái NMTC bằng siêu âm đầu dò âm đạo từ ngày 9 của chu kì, sau đó kiểm tra lại mỗi 2 đến 3 ngày tùy theo độ dày
và hình thái của niêm mạc
- Khi niêm mạc trên 7mm là thời điểm lý tưởng để mở cửa sổ làm tổ Bệnh nhân sẽ được sử dụng phối hợp prosgeterone đặt âm đạo liều 800mg/ngày với dydrogesterone đường uống 20mg/ngày và estradiol 4mg/ngày
Xét nghiệm Progesterone huyết thanh Vào buổi sáng của ngày trước 1 ngày chuyển phôi, khoảng 4 – 6 giờ sau lần dùng thuốc cuối cùng, bệnh nhân được lấy máu để xét nghiệm Progesterone Trong trường hợp kết quả xét nghiệm < 5ng/mL chu kỳ đó sẽ bị hủy [3]
Rã phôi và đánh giá chất lượng phôi nang sau rã đông
Rã phôi sử dụng môi trường Kitazato Đối với phôi được làm xét nghiệm di truyền tiền làm tổ thì đã được hỗ trợ thoát màng từ trước khi đông lạnh phôi Đối với những phôi còn lại trước khi chuyển phôi 2 giờ sẽ được tiến hành hỗ trợ thoát màng bằng phương pháp không tiếp xúc sử dụng laser hồng ngoại 1,48 μm Đánh giá hình thái và chất lượng
Trang 4phôi theo tiêu chuẩn phân loại của Alpha
năm 2011, sau đó sẽ phân chia phôi thành 3
loại: tốt, trung bình và xấu Tiến hành
chuyển phôi Số phôi chuyển từ 1 đến 2 phôi
Đánh giá kết quả thai
Xét nghiệm β-hCG sau 14 ngày chuyển
phôi β-hCG dương tính khi có giá trị
>25mIU/mL Siêu âm đánh giá thai lâm sàng
và thai tiến triển Bệnh nhân tiếp tục duy trì
đơn thuốc hỗ trợ hoàng thể đến khi thai
10-12 tuần tuổi trong trường hợp có thai
2.2.3 Các chỉ tiêu chính đánh giá
- Nồng độ Progesterone huyết thanh
(ng/mL)
- Tỷ lệ β-hCG (+)
- Tỷ lệ thai lâm sàng
- Tỷ lệ thai tiến triển 12 tuần
2.3 Xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê y học SPSS 22.0 (IBM SPSS Inc, Chicago III, USA) Các số liệu được trình bày dưới dạng Mean ± SD/Trung vị (tứ phân vị) hoặc tỷ lệ phần trăm (%) So sánh giá trị trung bình: nếu các biến phân phối chuẩn sử dụng kiểm định Student t-test, nếu không phân phối chuẩn sử dụng kiểm định tham số Wilcoxon test So sánh các tỷ lệ sử dụng kiểm định Chi bình phương (χ2) Giá trị p < 0,05 trong các so sánh được coi là có ý nghĩa thống kê
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 1 Các đặc điểm cơ bản
120 bệnh nhân chuyển phôi trữ có độ tuổi trung bình là 31,33 ± 4,46 (trẻ nhất 23 tuổi và lớn nhất 44 tuổi) Chỉ số BMI trung bình là 21,30 ± 2,61 trong giới hạn bình thường Xét nghiệm nội tiết AMH trung bình là 6,08 ± 4,76 ng/mL
Bảng 2 Kết quả chuyển phôi trữ
Tỷ lệ bệnh nhân có β-hCG dương tính là 57,5%, tỷ lệ thai lâm sàng là 52,5%, tỷ lệ thai tiến triển 12 tuần là 49,17% và tỷ lệ sảy thai là 6,35%
3.2 Mối liên quan giữa nồng độ P4 huyết thanh và kết quả có thai
Bảng 3 Đặc điểm nồng độ progesterone huyết thanh
Nồng độ P4 huyết thanh
(ng/mL) 12,755 (9,97 – 17,205) 5,57 37,89
Trang 5Trung vị nồng độ progesterone huyết thanh của nhóm bệnh nhân chuyển phôi trữ là 12,755 ng/mL, trong đó nhỏ nhất là 5,57 ng/mL và lớn nhất là 37,89 ng/mL
Bảng 4 Đặc điểm về nồng độ P4 huyết thanh giữa 2 nhóm có thai tiến triển và không
có thai tiến triển
Chỉ tiêu nghiên cứu Nhóm 1 Có thai tiến
triển (n= 59)
Nhóm 2 Không có thai tiến triển (n= 61) p
Nồng độ P4 (ng/mL) 12,06 (9,85 – 16,31) 14,95 (10,76 – 20,99) 0,029 Bảng 4 so sánh nồng độ progesterone giữa 2 nhóm có thai tiến triển và không có thai tiến triển Kết quả cho thấy trung vị nồng độ progesterone ở nhóm có thai 12 tuần và không có thai 12 tuần lần lượt là 12,06 ng/mL và 14,95 ng/mL, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Bảng 5 Mối liên quan giữa nồng độ P4 huyết thanh và kết quả có thai
Chỉ tiêu
nghiên cứu
G1 (< 10) (n=31)
G2 (10−20) (n=67)
G3 (>20)
β-hCG (+) 20/31 (64,51%) 40/67 (59,70%) 9/22 (40,91%) 0,198 Thai lâm
sàng 19/31 (61,29%) 37/67 (55,22%) 7/22 (31,82%) 0,085 Thai tiến
triển 18/31 (58,06%) 35/67 (52,24%) 6/22 (27,27%)
0,065
Sảy thai 1/19 (5,26%) 2/37 (5,41%) 1/7 (14,29%) 0,561
Khi chia nồng độ progesterone thành 3
nhóm tương ứng là <10ng/mL, từ 10 – 20
ng/mL và >20 ng/mL, kết quả cho thấy nhóm
progesterone > 20ng/mL có xu hướng có tỷ
lệ β-hCG (+), thai lâm sàng và thai tiến triển
thấp hơn so với hai nhóm còn lại, sự khác
biệt này không có ý nghĩa thống kê Tỷ lệ
sảy thai giữa 3 nhóm cũng khác biệt không
có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, khi so sánh
riêng tỷ lệ thai tiến triển của nhóm G3 lần
lượt với 2 nhóm còn lại cho thấy tỷ lệ này
thấp hơn có ý nghĩa thống kê, với pG1-G3 =
0,026 và pG2-G3 = 0,042
IV BÀN LUẬN
Trong những năm gần đây, xu hướng sử
dụng progesterone vi hạt đặt âm đạo phối
hợp với dydrogesterone đường uống để hỗ
trợ hoàng thể trong các chu kỳ chuyển phôi
trữ sử dụng phác đồ nội tiết ngoại sinh để chuẩn bị nội mạc tử cung ngày càng gia tăng Dydrogesterone đã chứng minh được tính an toàn và hiệu quả của nó, nghiên cứu của Vương Ngọc Lan (2021) đã chỉ ra rằng khi phối hợp dydrogesterone với progesterone vi hạt đặt âm đạo để hỗ trợ hoàng thể làm tăng
tỷ lệ thai sinh sống (46.3% so với 41.3%, p = 0,042) đồng thời làm giảm tỷ lệ sảy thai trước 12 tuần (3.4% so với 6.6%, p = 0,009)
so với dùng progesterone vi hạt đơn thuần [4]
Các nghiên cứu hiện tại liên quan đến ngưỡng tối ưu của progesterone huyết thanh vào trước hoặc vào ngày chuyển phôi trong các chu kỳ chuyển phôi trữ còn hạn chế và còn gây nhiều tranh cãi, đặc biệt là khi dùng phối hợp progesterone vi hạt và dydrogesterone đường uống Do đó, chúng
Trang 6tôi đã tiến hành nghiên cứu này để đánh giá
xem mức progesterone huyết thanh trước
ngày chuyển phôi có tương quan với kết quả
có thai hay không Kết quả cho thấy
progesterone ở nhóm có thai thấp hơn đáng
kể so với nhóm không có thai, và ở nhóm có
progesterone > 20ng/mL có tỷ lệ thai diễn
tiến thấp hơn đáng kể so với nhóm
<10ng/mL và 10 – 20 ng/mL
Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi
phù hợp với một số nghiên cứu đã được công
bố Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện bởi
Kofinas và cs (2015) trên 213 chu kỳ chuyển
phôi được hỗ trợ hoàng thể bằng 50mg
progesterone tiêm bắp đã kết luận rằng mức
progesterone > 20ng/mL vào ngày chuyển
phôi có liên quan đến giảm tỷ lệ mang thai
và tỷ lệ trẻ sinh sống [5] Tương tự như vậy,
nghiên cứu tiến cứu của Alyasin và cs (2021)
cũng đã chứng minh nồng độ progesterone
huyết thanh >32,5ng/mL vào ngày chuyển
phôi làm giảm tỷ lệ thai sinh sống ở chu kỳ
chuyển phôi trữ sử dụng phác đồ nội tiết
ngoại sinh [6]
Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên rằng đây
là một vấn đề còn nhiều tranh cãi, nghiên
cứu này có kết quả trái ngược với một số
nghiên cứu trước đây đã báo cáo rằng mức
progesterone thấp trước ngày chuyển phôi có
liên quan đến kết quả có thai kém
Gaggiotti-Marre và cs (2019) đã nghiên cứu trên 244
chu kỳ chuyển phôi nguyên bội, chuẩn bị
niêm mạc bằng phác đồ nội tiết ngoại sinh và
hỗ trợ hoàng thể bằng 600mg progesterone
vi hạt âm đạo/ngày chứng minh rằng ở nhóm
có lượng progesterone ≤ 10.64ng/mL vào
trước ngày chuyển phôi có tỷ lệ sảy thai cao
hơn cũng như tỷ lệ sinh sống thấp hơn so với
nhóm còn lại [3] Điều này có thể được giải
thích bởi việc chúng tôi sử dụng phối hợp
dydrogesterone đường uống nên ngưỡng
progesterone tối thiểu để có thai sẽ thấp hơn các nghiên cứu khác chỉ sử dụng đơn thuần progesterone vi hạt âm đạo, trong khi chúng tôi đã loại trừ nhóm có progesterone < 5ng/mL khỏi nghiên cứu theo khuyến cáo, do vậy nhóm progesterone <10ng/mL trong nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ thai tiến triển tương đương với nhóm 10 – 20 ng/mL Nhìn chung những nghiên cứu về vấn đề này đều đưa ra kết luận rằng nồng độ progesterone ở mức rất thấp hoặc rất cao có thể làm giảm tỷ lệ có thai hoặc tăng tỷ lệ sảy thai Một cách giải thích đã được đưa ra là khi nồng độ progesterone thấp có thể làm trì hoãn hoặc cản trở, trong khi nồng độ progesterone quá cao có thể làm tăng sự phát triển của nội mạc tử cung, và do đó làm chậm hoặc kéo dài cửa sổ làm tổ, dẫn đến sự không đồng bộ của phôi và nội mạc tử cung [7] Vì vậy việc theo dõi nồng độ progesterone là cần thiết để dự đoán kết quả
có thai trong các chu kỳ chuyển phôi trữ, cũng như cho phép việc cá thể hóa hỗ trợ hoàng thể cho từng bệnh nhân
V KẾT LUẬN
Nồng độ progesterone huyết thanh trước ngày chuyển phôi > 20 ng/mL có liên quan đến giảm tỷ lệ thai tiến triển ở các chu kỳ chuyển phôi nang đông lạnh sử dụng phác đồ nội tiết ngoại sinh và hỗ trợ hoàng thể bằng progesterone vi hạt âm đạo phối hợp dydrogesterone đường uống
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 van der Linden M., Buckingham K., Farquhar C và cộng sự (2015) Luteal
phase support for assisted reproduction
cycles Cochrane Database Syst Rev, (7),
CD009154