Bài viết So sánh tác động môi trường nuôi dưỡng và nồng độ oxy khác nhau tới tình trạng bất thường nhiễm sắc thể của phôi trình bày đánh giá sự bất thường nhiễm sắc thể của phôi khi nuôi cấy ở nồng độ oxy và môi trường nuôi cấy khác nhau (môi trường đơn bước/ đa bước và nồng độ oxy 20%/5%).
Trang 1SO SÁNH TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG NUÔI DƯỠNG VÀ NỒNG ĐỘ OXY
KHÁC NHAU TỚI TÌNH TRẠNG BẤT THƯỜNG
NHIỄM SẮC THỂ CỦA PHÔI
Nguyễn Linh Chi 1,2 , Ngô Thị Tường Châu 2 , Nguyễn Đình Tảo 1 , Nguyễn Ngọc Diệp 3
TÓM TẮT 29
Mục tiêu: Đánh giá sự bất thường nhiễm sắc
thể của phôi khi nuôi cấy ở nồng độ oxy và môi
trường nuôi cấy khác nhau (môi trường đơn
bước/ đa bước và nồng độ oxy 20%/5%)
Phương pháp: Đánh giá phân tích dựa trên
257 chu kỳ IVF/ICSI từ tháng 10/2019 đến tháng
2/2021, sử dụng 2 loại tủ nuôi cấy: tủ nuôi cấy 3
khí K-system G-210 (Úc) (5% O2, 5%CO2,
90%N2) và tủ nuôi cấy 2 khí Thermo Scientific
371 (Đan Mạch) (5%CO2, 75%N2, nồng độ Oxy
theo khí quyển) Noãn trưởng thành (MI và MII)
được nuôi cấy trong môi trường đa bước
G1-PLUS TM (Vitrolife) hoặc môi trường đơn bước
Lifeglobal Lựa chọn bệnh nhân <37 tuổi,
AMH>1,2 ng/ml, AFC≥4 Kết quả sàng lọc
PGT-A phôi ngày 5 cho thấy, tỷ lệ phôi bất
thường cao nhất ở nhóm nuôi cấy phôi bằng
nồng độ oxy cao 20% với môi trường đa bước, ở
mức 46.02±5.31%, thấp nhất ở nhóm oxy thấp
5%, đơn bước ở mức 30.74±3.50%
cùng môi trường đa bước, sự khác biệt về số
1
Bệnh viện Đa khoa 16A Hà Đông
2 Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia
Hà Nội
3
Học viện Quân Y
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Linh Chi
Email: linhchi148@gmail.com
Ngày nhận bài: 25/7/2022
Ngày phản biện khoa học: 10/08/2022
Ngày duyệt bài: 29/08/2022
lượng phôi bất thường/chu kỳ cho kết quả có ý
thể, ở nhóm 5% là 1.60±0.22 phôi/chu kỳ trong khi ở nhóm oxy 20% là 2.08±0.28 phôi/chu kỳ
Kết luận: Nuôi cấy phôi trong môi trường
nồng độ oxy thấp giúp phôi phát triển ít bất thường nhiễm sắc thể hơn so với khi nuôi cấy ở nồng độ khí quyển
Từ khóa: IVF, môi trường nuôi cấy, nồng độ,
bất thường nhiễm sắc thể
SUMMARY COMPARISON THE IMPACTS OF CULTURE MEDIA AND DIFFERENT OXYGEN CONCENTRATION TO CHROMOSOMAL A BNORMALITIES
OF EMBRYOS
Objective: Evaluating the chromosomal
abnormalities of embryos when cultured at different oxygen concentrations and culture medium (single step/multistep medium, oxygen concentration 20%/5%)
Methods: analytical evaluation based on 257
cycles of IVF/ICSI from October 2019 to February 2021, using 2 types of incubator: K-system G-210 3-gas incubator (Australia) (5)
%O2, 5%CO2, 90%N2) and Thermo Scientific
371 (Denmark) 2-gas incubator (5%CO2, 75%N2 and using atmospheric Oxygen concentration) Mature oocytes (MI and MII) were cultured in G1-PLUSTM multistep medium (Vitrolife) or Lifeglobal single step medium Select patients
Trang 2<37 years old, AMH>1.2 ng/ml, AFC≥4 The
results of embryo PGT-A screening on day 5
showed that the percentage of abnormal embryos
was highest in the group of embryo culture with
high oxygen concentration 20% with multistep
medium, at 46.02±5.31%, the lowest in low
oxygen group 5 %, single step at 30.74±3.50%
) When cultured in the same multistep medium, the difference in
number of abnormal embryos/cycle was
statistically significant with
Specifically, in the 5%
group it was 1.60±0.22 embryos/cycle while in
the 20% oxygen group it was 2.08±0.28
embryos/cycle
Conclusion: Embryo culture in a low-oxygen
environment helped embryos develop fewer
chromosomal abnormalities than when cultured
at atmospheric concentrations
concentration, chromosomal abnormalities
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản IVF
đang ngày càng được phát triển và hoàn
chỉnh hơn, giúp mang lại thành công lớn cho
các cặp vợ chồng mong con hiếm muộn Bên
cạnh các nghiên cứu kiểm tra hình thái phôi,
các nhà khoa học còn đang tiến hành các xét
nghiệm sinh thiết sàng lọc phôi PGT-A để
đánh giá chất lượng phôi một cách toàn diện
nhất Kết quả sàng lọc phôi PGT-A cho phép
bệnh nhân xác định và lựa chọn được phôi
tốt nhất, có tiềm năng phát triển nhất để
chuyển vào cơ thể mẹ, giúp cải thiện kết quả
thụ tinh ống nghiệm trên mỗi lần chuyển
phôi
Tuy nhiên, để chẩn đoán di truyền trước
làm tổ một cách hiệu quả, cần sinh thiết phôi
ở giai đoạn phôi nang để lấy được mẩu tế
bào đặc trưng nhất, mà không gây ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi sau này Theo đó, môi trường nuôi cấy phôi và nồng độ oxy sẽ
là hai trong những nhân tố ảnh hưởng chính đến sự phát triển của phôi trong các giai đoạn, quyết định sự hình thành và chất lượng phôi nang Thời điểm hiện tại, có hai loại môi trường thương mại đang được sử dụng rộng rãi trong các trung tâm hỗ trợ sinh sản trên thế giới: Môi trường nuôi cấy đơn bước
và môi trường nuôi cấy đa bước Bên cạnh
đó, nồng độ oxy cũng là một vấn đề đang được tranh cãi giữa 5% O2 và 20% O2 trong phòng labo Từ những ngày đầu IVF, các phòng labo luôn sử dụng nồng độ oxy là 20%, tuy nhiên các chuyên gia nghiên cứu thấy rằng nồng độ oxy thực tế trong tử cung
mẹ và động vật có vú chỉ giao động trong khoảng 2-8% [1]
Trước đây người ta cho rằng phôi bất thường là do di truyền của bố mẹ, tuổi mẹ, ti thể nhưng một số nghiên cứu gần đây cho thấy môi trường nuôi cấy và nồng độ oxy có thể ảnh hưởng đến kết quả PGT-A, nhưng chưa đưa ra được khẳng định thống nhất Mặc dù có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, nhưng vẫn chưa đủ bằng chứng để đưa một kết luận cụ thể về mối quan hệ giữa môi trường nuôi cấy và kết quả sàng lọc PGT-A [2] [3]
Thực chất, mỗi phòng Labo Hỗ trợ sinh sản đều có một hệ thống nuôi cấy riêng, điều trị nhóm bệnh nhân đặc thù khác nhau, nên
có thể dẫn đến kết quả nghiên cứu khác nhau giữa các trung tâm hỗ trợ sinh sản Để đóng góp thêm vào kết luận, chúng tôi làm nghiên cứu so sánh kết quả sàng lọc phôi PGT-A (phôi ngày 5) khi nuôi cấy trong môi trường đơn bước (Global total)/môi trường đa bước (G1-PlusTM /G2-PlusTM) và trong nồng độ oxy khí quyển/nồng độ oxy thấp
Trang 3II THỰC NGHIỆM
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng
10/2019 đến tháng 2/2021, dựa trên các chu
kỳ IVF/tiêm tinh trùng vào bào tương noãn
(ICSI) tại Trung tâm hỗ trợ sinh sản, Bệnh
viện Đa khoa 16A Hà Đông Nghiên cứu sử
dụng tủ nuôi cấy 3 khí K-system G-210 (Úc)
hoặc tủ nuôi cấy 2 khí Thermo Scientific
model 371 (Đan Mạch), môi trường nuôi cấy
sử dụng là môi trường đa bước G-1, G-2 plus
của hãng Vitrolife-Thụy Điển và môi trường
nuôi cấy đơn bước Life Global – Mỹ Các
chu kỳ IVF/ICSI được thực hiện trong cùng
một phòng Lab với cùng quy trình lâm sàng,
quy trình phòng thí nghiệm và vật liệu tiếp
xúc Không có sự thay đổi nhân viên phòng
thí nghiệm phôi học, thay đổi duy nhất là
thay đổi về môi trường nuôi cấy và nồng độ
oxy Đã có sự chấp thuận của Hội đồng quản
trị Trung tâm Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện
16A Hà Đông, dữ liệu được thu thập từ hồ sơ
bệnh án của Trung tâm Nghiên cứu lựa chọn
những bệnh nhân có ít nhất 4 nang thứ cấp
vào ngày 2 chu kỳ kinh, tuổi mẹ <37 tuổi và
chỉ số AMH >1,2 ng/ml Tổng số chu kỳ
IVF/ICSI được đưa vào nghiên cứu là 341
chu kỳ với 3509 phôi
Bệnh nhân sau khi được kích thích buồng
trứng có kiểm soát 9-12 ngày, sau 36 giờ
tiêm rụng, bệnh nhân được hút nang qua
hướng dẫn siêu âm Nang trứng được lấy ra
và chuyển vào phòng thụ tinh ống nghiệm
trong 2 phút, đặt trong tủ ấm 2-4 giờ để
chuẩn bị cho chu kỳ ICSI Sau ICSI, tất cả
noãn được đặt vào môi trường rửa (có chứa
10% chất thay thế huyết thanh tổng hợp
trong 25 vi giọt) và được phân chia ngẫu nhiên thành 4 nhóm:
Nhóm I: Phôi được nuôi cấy trong tủ 2
khí (20% O2, 6% CO2) với môi trường nuôi cấy đơn bước Lifeglobal
Nhóm II: Phôi được nuôi cấy trong tủ 2
khí (20% O2, 6% CO2) với môi trường nuôi cấy đa bước Vitrolife Nuôi phôi ngày 1 trong môi trường G-1TMPLUS; Sang ngày 3 chuyển sang đĩa 4 giếng có chứa môi trường G-2TMPLUS
Nhóm III: Phôi được nuôi cấy trong tủ 3
khí (5% O2, 6% CO2, 90% N2) với môi trường nuôi cấy đơn bước
Nhóm IV: Phôi được nuôi cấy trong tủ 3
khí (5% O2, 6% CO2, 90% N2) với môi trường nuôi cấy đa bước Vitrolife Nuôi phôi ngày 1 trong môi trường G-1TMPLUS; Sang ngày 3 chuyển sang đĩa 4 giếng có chứa môi trường G-2TMPLUS
Tất cả các phôi đều trải qua phân loại chất lượng tiêu chuẩn của ngày 3 và ngày 5 theo phương pháp của đồng thuận Istanbul (Alpha Scientists in Reproductive Medicine (2011) [4]) Sau đó phôi được sinh thiết và mang mẫu đi sàng lọc chẩn đoán tiền làm tổ, kết quả PGT-A được so sánh giữa 4 nhóm môi trường nuôi cấy So sánh các nhóm phát triển phôi bằng phương pháp phân tích phương sai một yếu tố để đánh giá ảnh hưởng của tác nhân nghiên cứu lên đối tượng nghiên cứu Kiểm định được sử dụng là kiểm định
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Tổng số có 257 chu kỳ thụ tinh ống nghiệm được thực hiện với ít nhất một trứng
Trang 4được thụ tinh Trong đó, nhóm I có 338 phôi
tương đương với 72 chu kỳ, nhóm II có 228
phôi tương đương với 52 chu kỳ, nhóm III có
268 phôi tương đương với 58 chu kỳ, nhóm
IV có 328 phôi tương đương với 75 chu kỳ
Trong các chu kỳ IVF, ở cả 4 nhóm nghiên cứu, tuổi trung bình của bệnh nhân và thời gian vô sinh tại thời điểm chọc noãn, chỉ như chỉ số nội tiết không có sự khác biệt (bảng 1) (với giá trị )
Bảng 1: Phân loại thông tin cơ bản của bệnh nhân
Thời gian vô
sinh/chu kỳ 4.13±0.55 3.66±0.50 4.12±0.56 4.28±0.49 0.9661 Tuổi trung
bình/chu kỳ 31.27±0.88 31.45±1.01 30.94±1.01 31.20±0.92 0.1811 AMH (ng/mL) 3.63±0.44 3.99±0.73 3.88±0.64 3.52±0.56 0.527
Số nang thứ
cấp AFC 10.87±0.84 11.56±1.10 11.49±1.07 10.32±0.85 1.5194
Số noãn trung bình sau chọc hút và số noãn trưởng thành của mỗi bệnh nhân trong bốn nhóm tương đương nhau Tỷ lệ thụ tinh của các noãn trưởng thành cao, sự khác biệt về tỷ lệ thụ tinh giữa các nhóm không có ý nghĩa thống kê Tương tự, số lượng phôi trung bình của hai nhóm tương đương nhau (bảng 2)
Bảng 2 Đặc điểm KTBT của các bệnh nhân hai nhóm
Số noãn/chu kỳ 11.17±1.02 12.51±1.55 12.20±1.19 11.55±1.10 0.9856
Số phôi ngày
1/chu kỳ 9.80±0.99 11.11±1.50 10.68±1.14 9.80±0.98 1.2716
Tỷ lệ thụ tinh
(%)/chu kỳ 86.26±1.83 85.77±2.29 86.20±2.28 83.76±2.39 1.2228 Kết quả từ bảng 3 cho thấy, sự khác biệt về số lượng phôi ngày 5 trung bình khi sàng lọc đối với mỗi chu kỳ ở cả 4 nhóm nghiên cứu không có ý nghĩa thống kê, số lượng phôi sàng lọc mỗi nhóm giao động khoảng 4 - 5 phôi mỗi chu kỳ Sự khác biệt về số lượng phôi bất thường trung bình đối với mỗi chu kỳ cũng như tỷ lệ phôi bất thường cho kết quả có ý nghĩa thống kê
Bảng 3 Kết quả sàng lọc PGT phôi ngày 5
Số lượng bệnh nhân
Trang 5Tổng số phôi sàng
Số phôi sàng
lọc/chu kỳ 4.69±0.43 4.38±0.53 4.62±0.48 4.37±0.44 0.3615
Số lượng phôi bất
thường/chu kỳ 1.92±0.23 2.08±0.28 1.55±0.22 1.60±0.22 3.0017
Tỷ lệ phôi bất
thường (%) 39.74±3.43 46.02±5.31 30.74±3.50 34.97±3.82 6.7682
Tỷ lệ phôi bất thường cao nhất ở nhóm nuôi cấy phôi bằng nồng độ oxy cao 20% với môi trường đa bước, ở mức 46.02±5.31%, thấp nhất ở nhóm oxy thấp 5%, đơn bước ở mức 30.74±3.50%
Hình 1 Biểu đồ Histogram về phân bố tỷ lệ phôi bất thường
ở 4 nhóm nghiên cứu (bước dao động 10% trục X)
Từ kết quả hình vẽ, đối với nhóm I và
nhóm II cùng được nuôi cấy trong nồng độ
oxy cao, tỷ lệ phôi bất thường chiếm cao
nhất ở 40-50% Đối với nhóm III và nhóm
IV khi được nuôi cấy trog điều kiện nồng độ
oxy thấp, tỷ lệ phôi bất thường chiếm cao
nhất ở mốc 30-40%
Sử dụng so sánh F-kiểm định để phân tích
và so sánh sự khác biệt kết quả về bất thường phôi giữa các cặp nhóm nghiên cứu nghiên cứu khi nuôi cấy trong cùng điều kiện (hoặc cùng môi trường, hoặc cùng nồng độ oxy):
Trang 6Bảng 4 So Sánh sự bất phường nhiễm sắc thể giữa các cặp nhóm nghiên cứu
phôi sàng lọc/chu kỳ
Đối với số phôi bất thường/chu
kỳ
Đối với tỷ lệ phôi bất thường/chu
kỳ
Phôi cùng được nuôi trong điều kiện oxy
cao (Nhóm I, nhóm II) 0.5897 0.5462 3.0477
Phôi cùng được nuôi trong điều kiện oxy
thấp (Nhóm III, nhóm IV) 0.4051 0.0682 1.7939
Phôi cùng được nuôi trong môi trường
đơn bước (Nhóm I, nhóm III) 0.0367 3.6064 9.3676
Phôi cùng được nuôi trong môi trường đa
bước (Nhóm II, nhóm IV) 0.0008 5.2066 8.5239
Khi so sánh kết quả sàng lọc phôi bất
thường giữa 2 nhóm được nuôi dưỡng (bảng
4):
- Trong cùng điều kiện về nồng độ oxy
(khác nhau về loại môi trường nuôi cấy), kết
quả cho thấy số lượng trung bình cũng như
tỷ lệ về phôi bất thường mỗi chu kỳ có sự
khác biệt không có ý nghĩa thống kê với
- Trong cùng một loại môi trường nuôi
dưỡng (khác nhau về nồng độ oxy), kết quả
khi so sánh về số lượng phôi bất thường/chu
kỳ cho thấy:
+) Khi nuôi cấy trong cùng môi trường
đơn bước, mặc dù
(bảng 4) nhưng sự khác biệt về số lượng phôi
bất thường/chu kỳ đã bắt đầu có sự khác
nhau (1.92±0.23 so với 1.55±0.22 phôi bất
thường/chu kỳ) (bảng 3)
+) Khi nuôi cấy trong cùng môi trường đa
bước, sự khác biệt về số lượng phôi bất
thường/chu kỳ cho kết quả có ý nghĩa thống
kê với (bảng 4) Cụ
thể, ở nhóm 5% là 1.60±0.22 phôi/chu kỳ
trong khi ở nhóm oxy 20% là 2.08±0.28 phôi/chu kỳ (bảng 3)
- Trong cùng một loại môi trường nuôi dưỡng (khác nhau về nồng độ oxy), kết quả khi so sánh tỷ lệ phôi bất thường ở 2 cặp nhóm, sự khác biệt cho ý nghĩa thống kê với
(bảng 4) Đối chiếu với bảng 3, cho thấy khi nuôi cấy phôi trong điều kiện oxy thấp 5% cho kết quả tốt hơn, thể hiện ở số lượng phôi bất thường cũng như tỷ lệ phôi bất thường thấp hơn hẳn so với nhóm còn lại
Thành phần của 2 loại môi trường nuôi cấy là khác nhau, đặc biệt là nguồn bổ sung protein, tồn tại các hợp chất chung giữa hai loại môi trường nhưng nồng độ khác nhau [5] [6] Bên cạnh đó, mặc dù cả hai loại môi trường đểu được bổ sung albumin huyết thanh của con người nhưng tinh chế theo cách khác nhau, làm ảnh hưởng đến sự tác động của môi trường nuôi cấy đến phôi người Trong khi môi trường đơn bước cung cấp tất cả các dưỡng chất trong 1 công thức duy nhất, môi trường đa bước hướng tới việc bắt chước các điều kiện sinh lý mà giao tử và
Trang 7phôi được tiếp xúc khi di chuyển từ ống dẫn
trứng vào tử cung mẹ Bên cạnh đó, trên thực
tế trong điều kiện cơ thể, noãn và phôi ở giai
đoạn phân chia sớm được phát triển trong vòi
tử cung ở nồng độ oxy 2 – 5 % Như vậy
việc hạ thấp nồng độ oxy trong điều kiện
nuôi cấy phôi xuống dưới 5% có thể thích
hợp cho sự thụ tinh và sự phát triển của phôi
ở giai đoạn phôi phân chia sớm
Trong nghiên cứu này, số lượng bệnh
nhân, tuổi, chỉ số nội tiết AMH là tương tự
nhau ở cả 2 nhóm; vì vậy, có thể so sánh
khách quan giữa 4 nhóm với điều kiện nuôi
cấy khác nhau (về nồng độ oxy và môi
trường nuôi dưỡng) Phân tích sự phát triển
của phôi nang: Tỷ lệ phôi cao hơn và chất
lượng hình thái phôi tốt hơn đã được quan
sát trên phôi ngày 5 với những phôi được
nuôi cấy trong môi trường đơn bước, kết quả
tương tự với nghiên cứu của Cimandomo
et.al [8] Kết quả sàng lọc phôi PGT-A
không có ý nghĩa thống kê đối với tỷ lệ phôi
bất thường khi so sánh giữa các nhóm phôi
được nuôi cấy ở hai loại môi trường khác
nhau (đơn bước và đa bước), dữ liệu này
tương quan với kết quả nghiên cứu thử
nghiệm SuMMIT [3] – chứng minh rằng tỷ
lệ bất thường của phôi nang không bị ảnh
hưởng bởi loại môi trường nuôi cấy Tuy
nhiên, nồng độ oxy thấp cho kết quả phôi bất
thường nhiễm sắc thể ít hơn nhóm còn lại
Kết quả này có thể được giải thích do nồng
độ oxy cao tạo ra nhiều gốc oxy tự do (trong
điều kiện bình thường có khoảng 1 – 4%
phân tử oxy chuyển thành gốc tự do) Các
gốc tự do này là nhân tố khử phản ứng cực
mạnh và gây độc cho sinh hoá tế bào, bao
gồm cả bộ gen di truyền Các ADN ty thể rất
mẫn cảm với những thay đổi dưới tác động
của những chất oxy hóa này, bởi chúng
không có protein histon bảo vệ và không có
hệ thống sửa chữa sai sót Điều này dễ dẫn đến hậu quả là làm gia tăng tỷ lệ đột biến, gây ảnh hưởng đến quá trình phiên mã của ARN cũng như quá trình sao mã của chính bản thân ADN ty thể ADN đột biến sẽ tổng hợp nên các protein bất thường, bản thân các protein này cũng có thể là đích tấn công của các gốc tự do, gây ra những thay đổi về mặt cấu trúc và mất chức năng [9]
V KẾT LUẬN
Nuôi cấy phôi trong môi trường nồng độ oxy thấp giúp phôi phát triển ít bất thường nhiễm sắc thể hơn so với khi nuôi cấy ở nồng
độ khí quyển
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Fischer B, Bavister BD, "Oxygen tension in
the oviduct and uterus of rhesus monkeys, hamsters and rabbits," J Reprod Fertil , vol
99, No.2, 1993, pp 673–679
2 Desai N, Flyckt R, Austin CM., "Can culture
medium affect morphokinetics, embryo dysmorphisms and euploidy rate?," Fertil Steril vol 108, No.3, 2017, e.160
3 https://doi.org/10.1016/j.fertnstert.2017.07.
482
4 Werner MD, Hong KH, Franasiak JM, Forman EJ, Reda CV, Molinaro TA, et al.,
"Sequential versus Monophasic Media Impact Trial (SuMMIT): a paired randomized controlled trial comparing a sequential media system to a monophasic medium.," Fertil Steril, vol 105, No.5, 2016, pp.1215–21 https://doi.org/10.1016/j.fertnstert.2016.0105
5 ALPHA Scientists in Reproductive Medicin, "The Istanbul consensus workshop
on embryo assessment: proceedings of an expert meeting," Human Reproduction, Vol.26, No.6, 2011, pp.1270-1283, https://doi.org/10.1093/humrep/der037