1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát một số đột biến gen liên quan đến điều trị đích trong ung thư đại trực tràng bằng kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới (NGS)

6 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát một số đột biến gen liên quan đến điều trị đích trong ung thư đại trực tràng bằng kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới (NGS)
Tác giả Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Xuân Hậu, Triệu Tiến Sang, Lương Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Lờ Thị Minh Phương, Lờ Dương Minh Anh, Bùi Thị Lành, Phạm Quang Anh, Đỗ Thị Huyền Trang, Phạm Hựng Sơn, Đào Thị Trang, Vũ Thị Hà, Vũ Thị Huyền, Nguyễn Phỳ Cường, Nguyễn Thị Trang
Trường học Trường Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu đề tài
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 395,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Khảo sát một số đột biến gen liên quan đến điều trị đích trong ung thư đại trực tràng bằng kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới (NGS) trình bày khảo sát đồng thời các đột biến KRAS, NRAS và BRAF bằng kỹ thuật NGS và mối liên quan giữa các đột biến và một số đặc điểm lâm sàng.

Trang 1

KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐỘT BIẾN GEN LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU TRỊ ĐÍCH

TRONG UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG BẰNG KỸ THUẬT

GIẢI TRÌNH TỰ THẾ HỆ MỚI (NGS)

Nguyễn Thị Huệ 1 , Nguyễn Xuân Hậu 1,2 , Triệu Tiến Sang 3 , Lương Thị Lan Anh 1,2 , Nguyễn Thị Minh Ngọc 1,2 , Lê Thị Minh Phương 4 ,

Lê Dương Minh Anh 1 , Bùi Thị Lành 5 , Phạm Quang Anh 6 ,

Đỗ Thị Huyền Trang 1 , Phạm Hùng Sơn 1 , Đào Thị Trang 1 ,

Vũ Thị Hà 1 , Vũ Thị Huyền 1 , Nguyễn Phú Cường 7 , Nguyễn Thị Trang 1,2

TÓM TẮT 31

Đặt vấn đề: Đột biến KRAS, NRAS và

BRAF là nguyên nhân gây đề kháng với thuốc

điều trị nhắm đích kháng EGFR trong ung thư

đại trực tràng (UTĐTT) Mục tiêu: Khảo sát

đồng thời các đột biến KRAS, NRAS và BRAF

bằng kỹ thuật NGS và mối liên quan giữa các đột

biến và một số đặc điểm lâm sàng Đối tượng và

phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi

cứu và tiến cứu trên 58 bệnh nhân UTĐTT được

xét nghiệm đột biến KRAS, NRAS và BRAF

bằng kỹ thuật NGS Kết quả: Tỉ lệ đột biến

KRAS, NRAS và BRAF là 39,7%, 1,7% và

8,6% Không bệnh nhân nào mang đột biến đồng

thời trên hai hoặc ba gen Có mối liên quan có ý

nghĩa thống kê giữa đột biến gen và vị trí ung

thư Không có mối liên quan giữa đột biến gen

với giới, tuổi, kích thước khối u, hoặc mức độ

1 Đại học Y Hà Nội

2

Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

3

Học viện Quân Y

4 Đại học Quốc gia Hà Nội

5

Bệnh viện Bưu điện

6

Đại học Y Thái Bình

7

Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Trang

Email: trangnguyen@hmu.edu.vn

Ngày nhận bài: 10/8/2022

Ngày phản biện khoa học: 25/08/2022

Ngày duyệt bài: 10/09/2022

biệt hóa của ung thư Kết luận: Công nghệ NGS

giải trình tự đồng thời nhiều gen, mở ra tiền đề cho sự phát triển của y học cá thể hóa trong chẩn đoán và điều trị UTĐTT

Từ khóa: Ung thư đại trực tràng, KRAS,

NRAS, BRAF, điều trị đích, NGS

SUMMARY INVESTIGATION OF GENE MUTATIONS RELATED TO ANTI-EGFR TARGETED THERAPY IN COLORECTAL CANCER BY USING NEXT GENERATION SEQUENCING

(NGS) TECHNIQUE

Introduction: KRAS, NRAS, and BRAF

mutations cause resistance to anti-EGFR targeted

therapy in colorectal cancer (CRC) Objectives:

Investigating the mutations of three genes KRAS, NRAS, and BRAF simultaneously in CRC by using NGS technology and correlation between these mutations and some clinical

features Subjects and methods: A retrospective

and prospective cross-sectional descriptive study

on 58 CRC patients tested for KRAS, NRAS, and BRAF mutations by using the NGS

technique Results: The mutation rate of KRAS,

NRAS, and BRAF was 39.7%, 1.7%, and 8.6% respectively No patient had two or three gene mutations simultaneously There was a statistically significant correlation between gene mutations and tumor location There was no

Trang 2

statistically significant correlation between gene

mutations and sex, age, or tumor size, or cancer

differentiation grade Conclusions: The

application of NGS technology helps to sequence

multiple genes simultaneously, opening a

premise for the development of personalized

medicine in the diagnosis and treatment of

colorectal cancer

Keywords: Colorectal cancer, KRAS, NRAS,

BRAF, targeted therapy, NGS

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là một

trong những bệnh ung thư phổ biến nhất ở cả

hai giới và là nguyên nhân gây tử vong do

ung thư đứng hàng thứ hai trên thế giới.1 Ở

Việt Nam, tỷ lệ mắc chuẩn hóa theo tuổi của

bệnh UTĐTT là 14,1 trên 100.000 dân.2

Năm 2020, Việt Nam có khoảng 16.400 ca

mắc mới và 8.200 ca tử vong do CRC.2

Do các triệu chứng lâm sàng của UTĐTT

giai đoạn đầu không rõ ràng nên thực tế hầu

hết bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn

muộn Đối với UTĐTT giai đoạn muộn, liệu

pháp điều trị nhắm trúng đích với nhiều ưu

điểm như liều thấp và ít độc hại đã giúp cải

thiện đáng kể hiệu quả điều trị Hiện nay,

thuốc điều trị ung thư nhắm trúng đích phổ

biến nhất là kháng thể đơn dòng kháng

EGFR Tuy nhiên, có một tỉ lệ lớn bệnh nhân

không đáp ứng với liệu pháp kháng EGFR

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng đột biến gen

KRAS, NRAS và BRAF gây ra sự hoạt hóa

quá mức con đường tín hiệu EGFR là một

trong những cơ chế chính của việc đề kháng

với các thuốc đích kháng EGFR.3,4 Do chi

phí điều trị đích cao nên cần làm xét nghiệm

các đột biến KRAS, NRAS, BRAF trước khi

lựa chọn phương pháp điều trị để tránh lãng

phí tiền bạc và thời gian của bệnh nhân

Ở Việt Nam, một số tác giả đã nghiên cứu

về đột biến gen trong UTĐTT nhưng chỉ đề

cập đến một hoặc hai trong ba gen trên Các nghiên cứu trước đây hầu hết sử dụng các kỹ thuật PCR với độ nhạy thấp và khả năng hạn chế chỉ phát hiện một số dạng đột biến nhất định.5,6 Ngày nay, sự phát triển của công nghệ Giải trình tự gen thế hệ mới (Next Generation Sequencing – NGS) đã mang lại một cái nhìn toàn diện trong xét nghiệm di truyền với các ưu điểm về độ nhạy, độ chính xác, thông lượng và tốc độ cao

Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này với mục tiêu: “Khảo sát đồng thời các đột biến của ba gen KRAS, NRAS và BRAF trong UTĐTT bằng công nghệ NGS và mối tương quan giữa các đột biến này với một số đặc điểm lâm sàng”

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

58 bệnh nhân được chẩn đoán UTĐTT dựa trên các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và mô bệnh học tại Bệnh viện Đại học

Y Hà Nội và có kết quả xét nghiệm đột biến gen KRAS, NRAS, BRAF trước khi điều trị đích từ 1/2020 đến 6/2022

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu và tiến cứu, phương pháp lấy mẫu thuận tiện Thời gian nghiên cứu: 8/2021 - 6/2022 Phân tích đột biến gen được thực hiện tại Trung tâm Di truyền lâm sàng và Hệ gen (Bệnh viện Đại học Y Hà Nội) và Đại học Quân Y bằng công nghệ NGS thế hệ hai

Kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ thứ hai

Tách chiết DNA: Tách gDNA từ mô FFPE bằng hóa chất QIAamp DNA Mini Kit (QIAGEN Inc., Germany) hoặc ctDNA từ huyết tương bằng hóa chất MagMAX Cell-Free DNA Isolation Kit (Applied Biosystems, USA) Kiểm tra nồng độ DNA

Trang 3

sau tách chiết bằng máy Qubit 4 Fluorometer

(Invitrogen, USA), yêu cầu nồng độ ≥ 2 ng /

µL

Chuẩn bị thư viện: Các mẫu DNA đạt

nồng độ yêu cầu được tiến hành chuẩn bị thư

viện DNA bằng bộ kit Ion Plus Fragment

Library (Ion Torrent, Hoa Kỳ), và sau đó làm

giàu thư viện trên hệ thống Ion OneTouch 2

(Ion Torrent, Hoa Kỳ)

Giải trình tự: Thư viện DNA đã làm giàu

được tải vào Ion PI Chip v3 (Ion Torrent,

Hoa Kỳ) và sau đó được giải trình tự tự động

trên máy giải trình tự Ion Proton (Ion

Torrent, Hoa Kỳ) Dữ liệu trình tự được

chuyển sang và phân tích trên Ion Torrent

Server (Ion Torrent, Hoa Kỳ)

2.3 Xử lý số liệu

Số liệu sau khi thu thập được nhập vào

máy tính, làm sạch số liệu, quản lý và phân

tích số liệu bằng phần mềm thống kê tin học

SPSS 20

2.4 Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu tuân theo các quy định của

Hội đồng Đạo đức trong Nghiên cứu Y sinh

Trường Đại học Y Hà Nội

- Chúng tôi cam kết nghiên cứu trên tinh

thần trung thực

- Tất cả thông tin về bệnh nhân được giữ

kín, chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung của nhóm đối

tượng nghiên cứu

58 bệnh nhân UTĐTT được nghiên cứu,

gồm 35 nam (60,34%) và 23 nữ (39,66%)

Tuổi tại thời điểm chẩn đoán dao động từ 26

đến 83 tuổi, tuổi trung bình là 58,09 ±

14,419 Có 72,4% bệnh nhân từ 50 tuổi trở

lên

Bảng 1 Vị trí ung thư của nhóm bệnh

nhân trong nghiên cứu

Vị trí ung thư Số lượng Tỉ lệ

Đại tràng phải 14 24,1% Đại tràng trái 19 32,8% Trực tràng 25 43,1%

Nhận xét: Ung thư trực tràng chiếm tỷ lệ

cao nhất, 43,1%, tiếp theo là đại tràng trái (32,8%) và đại tràng phải (24,1%)

3.2 Kết quả khảo sát đồng thời các đột biến gen KRAS, NRAS và BRAF trong UTĐTT bằng kỹ thuật NGS

Bảng 2 Tỉ lệ đột biến của KRAS, NRAS

và BRAF trong UTĐTT

Đột biến gen Số lượng Tỉ lệ

Đột biến trên hai

Nhận xét: 50% bệnh nhân mang đột biến

một trong ba gen Tỷ lệ đột biến KRAS cao nhất, chiếm 39,7% Không có bệnh nhân nào

có đồng thời hai hoặc ba đột biến gen

Bảng 3 Các dạng đột biến của KRAS, NRAS và BRAF

Gen Dạng đột

biến

Số lượng Tỉ lệ

KRAS

Trang 4

Nhận xét: KRAS có 8 loại đột biến ở các codon 12, 13, 61 và 146 Loại đột biến gen

KRAS thường gặp nhất là G12D Gen NRAS có 1 loại đột biến Q61R và gen BRAF có 1 loại đột biến V600E

3.3 Mối liên quan giữa đột biến gen KRAS, NRAS và BRAF và một số đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân UTĐTT

Bảng 4 Mối liên quan giữa đột biến gen và một số đặc điểm lâm sàng

Đột biến Không đột

Test kiểm định

Tuổi Tuổi trung bình 60,76 55,41 0,16 T-test

Vị trí ung thư

Đại tràng phải 3 11

0,049 χ2 test Đại tràng trái 11 8

Kích thước

khối u (so với

chu vi đại trực

tràng)

0,452 Fisher's Exact

Test

Mức độ biệt

hóa ung thư

1,000 Fisher's Exact

Test Biệt hóa vừa 25 24

Nhận xét: p <0,05 => Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa đột biến gen và vị trí

khối u p> 0,05 => Không có mối liên quan giữa đột biến gen với giới tính, tuổi, kích thước khối u, hoặc mức độ biệt hóa của ung thư

IV BÀN LUẬN

4.1 Đặc điểm chung của nhóm đối

tượng nghiên cứu

Giới tính và tuổi là hai trong những yếu tố

nguy cơ của ung thư nói chung và ung thư

đại trực tràng nói riêng Nhiều nghiên cứu đã

chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh UTĐTT ở nam

giới cao hơn ở nữ giới Theo Cơ quan

Nghiên cứu Ung thư Quốc tế IARC, năm

2020, số ca mắc mới UTĐTT ở nam giới là

1.065.960 ca, ở nữ giới là 965.630 ca trên

toàn thế giới.1 Nghiên cứu của chúng tôi

cũng có sự phân bổ tương tự với số lượng

bệnh nhân nam cao hơn khoảng 1,5 lần so với số lượng bệnh nhân nữ

Nguy cơ ung thư đại trực tràng tăng lên khi tuổi cao Nghiên cứu của Bùi Ánh Tuyết tại Bệnh viện K năm 2018 cho thấy, tuổi trung bình khi chẩn đoán là 54,5 tuổi, nhóm tuổi từ 50 đến 69 là phổ biến nhất, chiếm 70,8% Độ tuổi ít gặp nhất là dưới 30 tuổi, chiếm 4,6%.5 Nghiên cứu của chúng tôi cũng

có kết quả tương tự Tuổi trung bình khi chẩn đoán là 58,09 ± 14,419 tuổi, nhóm bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên chiếm 72,4%

Trong nghiên cứu này, ung thư trực tràng chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó là ung thư đại

Trang 5

tràng trái và thấp nhất là đại tràng phải Có

sự khác biệt về tỉ lệ vị trí khối u giữa các

nghiên cứu trước đó Điều này có thể là do

các phương pháp lấy mẫu khác nhau của các

nghiên cứu Tuy nhiên, vị trí khối u chỉ ảnh

hưởng đến các phương pháp phẫu thuật chứ

không ảnh hưởng đến chỉ định điều trị trúng

đích

4.2 Các đột biến gen KRAS, NRAS và

BRAF ở bệnh nhân UTĐTT

Trong ung thư đại trực tràng, KRAS là

gen được nghiên cứu nhiều nhất Tỷ lệ đột

biến KRAS cũng cao nhất, chiếm 40-60%

Các đột biến ở gen BRAF và NRAS ít gặp

hơn.5–7 Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho

kết quả tương tự Tỷ lệ đột biến KRAS là cao

nhất, 39,7%, tiếp theo là BRAF (8,6%) và tỷ

lệ đột biến NRAS là thấp nhất với 1,7% Đối

với bệnh nhân mang đột biến một trong ba

gen thì không được chỉ định liệu pháp nhắm

trúng đích kháng EGFR, cần thay thế bằng

các liệu pháp khác phù hợp

Các đột biến của các gen KRAS, NRAS

và BRAF có tính loại trừ lẫn nhau Trong

nghiên cứu của chúng tôi, không có bệnh

nhân nào mang đột biến ở đồng thời hai hoặc

ba gen kể trên Vì vậy, theo khuyến cáo của

Bộ Y tế, việc xét nghiệm đột biến gen NRAS

và BRAF được tiến hành sau khi có kết quả

xét nghiệm đột biến gen KRAS.8 Tuy nhiên,

việc này có thể mất nhiều thời gian và gây

lãng phí tiền cho bệnh nhân Trong khi đó,

với sự phát triển tiên tiến của công nghệ

NGS, chúng ta có thể dễ dàng khảo sát đồng

thời nhiều gen đối với một số lượng lớn mẫu

Do tỷ lệ đột biến cao nhất nên gen KRAS

cũng có nhiều dạng đột biến nhất, 8 dạng đột

biến chủ yếu ở codon 12 và 13 Đột biến

KRAS G12D xuất hiện nhiều nhất, với tỷ lệ

13,8% Mỗi gen NRAS và BRAF chỉ có một

loại đột biến là NRAS Q61R và BRAF

V600E, đây cũng là những dạng đột biến thường gặp trong các nghiên cứu khác Theo hiểu biết của chúng tôi, cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào báo cáo mối liên quan giữa

sự tiến triển của UTĐTT và các dạng đột biến KRAS, NRAS và BRAF

4.3 Mối liên quan giữa các đột biến gen KRAS, NRAS và BRAF với một số đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân UTĐTT

Sau khi kiểm định bằng các test thống kê kiểm định, chúng tôi tìm thấy thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa đột biến KRAS, NRAS, BRAF và vị trí khối u (p

<0,05) Không có mối liên quan giữa đột biến gen với giới tính, tuổi, kích thước khối

u, hoặc mức độ biệt hóa ung thư (p> 0,05)

Tỷ lệ đột biến gen ở ung thư trực tràng và trực tràng trái cao hơn so với đại tràng phải Điều này vẫn còn nhiều mâu thuẫn giữa các nghiên cứu Lê Thái Khương và cộng sự đã báo cáo mối liên quan giữa đột biến ở các gen KRAS, NRAS, BRAF và PIK3CA với vị trí khối u và giai đoạn bệnh, nhưng đột biến gen thường gặp nhất ở ung thư đại tràng phải.7 Nghiên cứu của Bùi Ánh Tuyết cho thấy nguy cơ đột biến KRAS trong ung thư trực tràng cao gấp 10 lần ung thư đại tràng.5

V KẾT LUẬN

Các gen KRAS, NRAS và BRAF có tỉ lệ đột biến cao ở bệnh nhân UTĐTT Xét nghiệm đột biến gen là bắt buộc trước khi có chỉ định điều trị trúng đích Việc ứng dụng công nghệ NGS giúp giải trình tự đồng thời nhiều gen, mở ra tiền đề cho sự phát triển của y học cá thể hóa trong chẩn đoán và điều trị UTĐTT Tuy nhiên, do cỡ mẫu nghiên cứu còn hạn chế nên một số kết luận không

có ý nghĩa thống kê Chúng tôi đề xuất tiến hành các nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và thời gian nghiên cứu dài hơn để đánh giá

Trang 6

hiệu quả của liệu pháp điều trị trúng đích ở

bệnh nhân UTĐTT người Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 IARC Globocan 2020, Colorectal Cancer

https://gco.iarc.fr/today/data/factsheets/cancer

s/10_8_9-Colorectum-fact-sheet.pdf

2 IARC Globocan 2020, Viet Nam

https://gco.iarc.fr/today/data/factsheets/popula

tions/704-viet-nam-fact-sheets.pdf

3 Berg M, Soreide K EGFR and downstream

genetic alterations in KRAS/BRAF and

PI3K/AKT pathways in colorectal cancer:

implications for targeted therapy Discov

Med 2012;14(76):207-214

4 Van Cutsem E, Köhne CH, Láng I, et al

Cetuximab plus irinotecan, fluorouracil, and

leucovorin as first-line treatment for

metastatic colorectal cancer: updated analysis

of overall survival according to tumor KRAS

and BRAF mutation status J Clin Oncol

2011;29(15):2011-2019

doi:10.1200/JCO.2010.33.5091

5 Bùi Ánh Tuyết Nghiên cứu một số đặc điểm

lâm sàng, cận lâm sàng và tình trạng đột biến gen KRAS trong ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện K Luận án tiến sĩ Trường Đại học

Y Hà Nội 2018

6 Nguyễn Kiến Dụ Nghiên cứu đặc điểm lâm

sàng, cận lâm sàng và đột biến gen KRAS, BRAF ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng Luận án tiến sĩ Trường Đại học Y Hà Nội

2017

7 Lê Thái Khương, Nguyễn Đại Dương, Đỗ Đức Minh, Hoàng Anh Vũ Khảo sát đột

biến các gen KRAS, NRAS, BRAF và PIK3CA trong ung thư đại trực tràng bằng kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới Tạp chí Y Học TP Hồ Chí Minh 2021;25(6):191-197

8 Bộ Y tế Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung

thư đại - trực tràng Quyết định số 2549/QĐ-BYT 19/04/2018

BIẾN ĐỔI NỒNG ĐỘ DNA PHÔI THAI TỰ DO Ở CÁC THAI PHỤ TUỔI THAI TỪ 6 ĐẾN 15 TUẦN

Vũ Thảo Hằng 2 , Đặng Tiến Trường 2 , Nguyễn Duy Bắc 2 , Nguyễn Xuân Kiên 2 TÓM TẮT 32

Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ DNA phôi thai tự do

ở giai đoạn trước 10 tuần là cơ sở cho việc triển

khai xét nghiệm sàng lọc trước sinh không xâm

1

Bệnh viện Quân y 103

2

Học viện Quân y

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Xuân Kiên

Email: xuankiễn@yahoo.com

Ngày nhận bài: 29/7/2022

Ngày phản biện khoa học: 16/08/2022

Ngày duyệt bài: 05/09/2022

lấn (NIPT) ở tuổi thai sớm Đối tượng và

phương pháp nghiên cứu: DNA tự do được

tách từ huyết tương thai phụ mang thai nam có tuổi thai từ 6 đến 15 tuần của thai kỳ Định lượng DNA tự do bằng kỹ thuật Realtime PCR Xác định tỷ lệ nồng độ DNA phôi thai tự do ở thai

phụ tuổi thai 6 đến 15 tuần Kết luận: Nồng độ

và tỷ lệ phần trăm DNA phôi thai tự do trong huyết tương thai phụ từ 6 đến 15 tuần có xu hướng tăng dần theo tuổi thai

Từ khóa: cfDNA, NIPT và tuổi thai

Ngày đăng: 31/12/2022, 11:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w