Bài viết Nghiên cứu đặc điểm kiểu gen và kiểu hình của các thai phụ mang gen bệnh beta thalassemia và HBE tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trình bày mô tả các loại đột biến của bệnh ꞵ- thalassemia; Phân tích các chỉ số huyết học của người bệnh với người bình thường.
Trang 18 Luewan S, Sirichotiyakul S Fau - Yanase
Y, Yanase Y Fau - Traisrisilp K, Traisrisilp
K Fau - Tongsong T, Tongsong T Median
levels of serum biomarkers of fetal Down
syndrome detected during the first trimester
among pregnant Thai women
2012;(1879-3479 (Electronic))
9 Leung TY, Spencer K, Leung TN, Fung
TY, Lau TK Higher median levels of free
beta-hCG and PAPP-A in the first trimester of
pregnancy in a Chinese ethnic group
Implication for first trimester combined
screening for Down's syndrome in the
Chinese population Fetal diagnosis and
therapy 2006;21(1):140-3
10 Hu ZM, Luo LL, Li L, Dai SD, Zhang HG, Liu RZ Indigenization of the median of
markers for Down syndrome screening based
on statistical analysis of medical big data (1875-6263 (Electronic))
11 Neocleous Ac Fau - Nicolaides KH,
Nicolaides Kh Fau - Schizas CN, Schizas CN First Trimester Noninvasive Prenatal Diagnosis: A Computational Intelligence Approach 2016;(2168-2208 (Electronic))
12 Ling Li WL, Hongguo Zhang, Yuting Jiang, Xiaonan Hu, Ruizhi Liu Down
Syndrome Prediction Using a Cascaded Machine Learning Framework Designed for Imbalanced and Feature-correlated Data IEEEAcess 2017;
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM KIỂU GEN VÀ KIỂU HÌNH CỦA CÁC
THAI PHỤ MANG GEN BỆNH BETA THALASSEMIA VÀ HBE
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Lê Thị Minh Phương 1 , Nguyễn Thị Trang 2 , Trần Danh Cường 2,3 ,
Ngô Toàn Anh 2,3 , Nguyễn Thúy Hà 2 , Nguyễn Quốc Anh 2
TÓM TẮT 22
Bệnh beta- thalassemia là một bệnh do đột
biến gen làm giảm hoặc không tổng hợp chuỗi ꞵ
globin Ở Việt Nam, tỷ lệ người mắc bệnh ꞵ-
thalassemia dao động từ 1,5%-25% Mục tiêu
1 Trường Đại học Y dược, ĐHQGHN
2 Trường Đại học Y Hà Nội
3 Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Chịu trách nhiệm chính: Lê Thị Minh Phương
Email: minhphuong88.hmu@gmail.com
Ngày nhận bài: 15/7/2022
Ngày phản biện khoa học: 03/08/2022
Ngày duyệt bài: 19/08/2022
nghiên cứu: 1) mô tả các loại đột biến của bệnh
ꞵ- thalassemia 2) phân tích các chỉ số huyết học
của người bệnh với người bình thường Đối tượng và phương pháp: Tiến hành nghiên cứu
bệnh-chứng trên 95 người mắc bệnh ꞵ-Thalassemia và 95 người khỏe mạnh khám sàng lọc trước sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung
Ương Kết quả: Trong 95 bệnh nhân mắc bệnh
ꞵ- thalassemia thì xuất hiện 8 đột biến lần lượt là cd17 [A>T] (44,21%), cd41/42[-TTCT] (32,63%), cd 71/72 (10,52%), [+A]-28 [A>G] (3,16), Cap+1 [A>C] (3,16%), IVS 1.1 [G>T] (1,05%), cd95 [+A] (1,05%), IVS 2.654 [C>T] (1,05%) Về phân tích tế bào máu, ở nhóm bệnh
Trang 2có MCV, MCH và HGB giảm so với nhóm
chứng Ngược lại, chỉ số RDW lớn hơn Về nồng
độ sắt huyết thanh và tỷ lệ huyết sắc tố HbA1,
HbA2, HbF có sự khác biệt giữa hai nhóm
Kết luận: Nghiên cứu cập nhật các bằng
chứng hỗ trợ sàng lọc trước sinh bệnh ꞵ-
thalassemia
Từ khóa: ꞵ- thalassemia, Kiểu hình, sàng lọc
trước sinh
SUMMARY
GENOTYPES AND PHENOTYPES OF
BETA THALASSEMIA AND HBE
GENE CARRIERS AT NATIONAL
GYNECOLOGICAL HOSPITAL
Beta-thalassemia is a disease caused by a
genetic mutation that reduces or fails to
synthesize the ꞵ-globin chain In Vietnam, the
prevalence of ꞵ- thalassemia ranges from
1.5%-25% Research objectives: 1) describe the types
of mutations of ꞵ- thalassemia 2) analysis of
hematological parameters of patients with normal
people Subjects and methods: Conducted a
case-control study on 95 people with ꞵ-Thalassaemia
and 95 healthy people undergoing prenatal
screening at the National Hospital of Obstetrics
and Gynecology Results: In 95 patients with
ꞵ-thalassemia, 8 mutations appeared, respectively,
cd17 [A>T] (44.21%), cd41/42[-TTCT]
(32.63%), cd 71 /72 (10.52%), [+A]-28 [A>G]
(3,16), Cap+1 [A>C] (3.16%), IVS 1.1 [G>T]
(1,05%), cd95 [+A] (1.05%), IVS 2,654 [C>T]
(1.05%) Regarding blood cell analysis, in the
group of patients with MCV, MCH and HGB
decreased compared to the control group In
contrast, the RDW index is larger Regarding
serum iron concentration and hemoglobin ratio
HbA1, HbA2, HbF there were differences
between the two groups
Conclusion: The study updated the evidence
in support of prenatal screening for ꞵ- thalassemia
Key words: ꞵ- thalassemia, phenotype,
prenatal screening
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Beta – thalassemia một nhóm bệnh rối loạn máu di truyền đặc trưng bởi sự bất thường trong quá trình tổng hợp chuỗi beta của hemoglobin dẫn đến các kiểu hình khác nhau[1] Ở Việt Nam, tỷ lệ người mang bệnh ꞵ- thalassemia dao động từ 1,5% đến 25% tùy theo dân tộc [2] Cho tới hiện nay đã xác định được hơn 400 đột biến gây bệnh[3] .Tuy nhiên, ở Việt Nam, trong các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra được một số loại đột biến phổ biến ở quần thể người Việt cd 17[A→T], IVS-1-1[G→T], Cd 41/42[−TCTT], Cd 71/72, [+A], IVS-II-654 [C→T], Cd 95 [+A] [4]
Về chỉ số huyết học của bệnh ꞵ- thalassemia, tùy theo mức độ giảm hoặc mất khả năng tổng hợp chuỗi beta mà có các thể nặng, nhẹ khác nhau, trong đó HGB, MCV, MCH, RDW là các chỉ số quan trọng trên bệnh nhân mắc β-thalassemia [5] Cụ thể, nghiên cứu của tác giả Supawadee Yamsri năm 2011 chỉ ra các số liệu thu được khi tiến hành xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu của 849 người tham gia, trong đó: 357 người thể nặng mang β (0) có MCV: 63.2± 3.9fL; MCH: 20.3± 1.4 pg; RDW: 17.0± 1.8%; 70 người thể nhẹ mang β (+) có MCV: 70.5± 4.4fL; MCH: 23.3± 2.1pg; RDW: 16.9± 2.3% [4] Ở Việt Nam, các con số phổ biến nhất đã ghi nhận trên bệnh nhân ꞵ-
Trang 3thalassemia là: Thể nhẹ: Hb >10g/dL, MCV
<78 fL, MCH <28pg; thể trung gian: Hb từ
7- 10 g/dl, MCV từ 50-80 fL và MCH từ 16 -
24 pg; thể nặng: Hb giảm (<7 g / dl), MCV
từ 50-70 fL và MCH từ 12 - 20 pg
Nhận thấy tầm quan trọng của sàng lọc
người mắc bệnh ꞵ- thalassemia từ đó xây
dựng hướng đi trong việc giáo dục sức khỏe
cũng như tầm soát trước sinh cho các gia
đình, nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh ở Việt Nam,
chúng tôi thực hiện nghiên cứu này trên các
bệnh nhân tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
với hai mục tiêu:
1) Mô tả các đột biến phổ biến của bệnh
β-thalassemia ở các thai phụ đến khám tại
bệnh viện Phụ sản Trung Ương
2) Phân tích sự biến đổi trong các chỉ số
huyết học ở thai phụ mang gen
β-thalassemia so với thai phụ khỏe mạnh
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân
khám sàng lọc trước sinh tại Bệnh viện Phụ
sản Trung Ương
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bắt buộc có xét nghiệm máu
- Bắt buộc có xét nghiệm gen đối với
trường hợp nghi ngờ mắc bệnh
- Có thể có điện di huyết sắc tố, định
lượng sắt huyết thanh và ferritin huyết thanh
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Thiếu một trong những điều kiện trên
- Bệnh nhân mang đột biến α và β
thalassemia hoặc β thalassemia/HbE
- Bệnh nhân mắc bệnh mạn tính khác
Cỡ mẫu: phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
Theo nghiên cứu của tác giả Md Fazlul Karim và cộng sự năm 2016 đã chỉ ra MCH
nhỏ nhất là 24 người nhóm bệnh và người 24 người nhóm chứng
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn
190 người trong đó 95 người nhóm bệnh và
95 người nhóm chứng
2 Thời gian địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 06 năm 2021 đến tháng 06 năm 2022
- Địa điểm: Bệnh viện Phụ sản Trung Ương
3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô
tả cắt ngang có đối chứng
4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
- Kết quả tổng phân tích tế bào máu ngoại vi: RBC, Hb, MCV, MCH, RDW
- Kết quả điện di huyết sắc tố: HbA2; HbF
- Kết quả định lượng sắt huyết thanh
- Kết quả định lượng ferritin huyết thanh
- Kết quả xét nghiệm gen thalassemia
5 Phương pháp phân tích số liệu: sử
dụng phần mềm Stata 12
Trang 4III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thành phần kiểu gen của đối tượng nghiên cứu
Bảng 1: Kết quả phân tích đột biến gen β- globin
Nhận xét: Qua phân tích strip assay cấu trúc gen β-globin, nhận thấy có 8 đột biến khác
nhau, bao gồm cả β0và β+-thalassemia Kết quả được trình bày trong Bảng 1 4 đột biến phổ
biến nhất ở các thai phụ này là cd17 [A>T], cd41/42[-TTCT], cd 71/72, [+A]-28 [A>G], chiếm tỉ lệ lần lượt là 44.21%, 32.63%, 10.52% và 6.31% Các đột biến khác ít phổ biến hơn bao gồm Cap+1 [A>C], IVS 1.1 [G>T], cd95 [+A], IVS 2.654 [C>T] có tỉ lệ tổng số trên 6% trên tổng số người mang gen beta-thalassemia
3.2 Chỉ số huyết học của bệnh nhân β-thalassemia
3.2.1 Phân tích tế bào máu
Bảng 2: Công thức máu của các thai phụ mắc β- thalassemia
Nhóm bệnh ( n = 95)
Nhóm chứng
Nhận xét: Bảng 2 so sánh một số chỉ số trong tổng phân tích tế bào máu của các nhóm
người khỏe mạnh và nhóm mắc beta-thalassemia Qua bảng trên, nhận thấy có sự khác biệt có
ý nghĩa trong hàm lượng huyết sắc tố (HGB), thể tích trung bình khối hồng cầu (MCV), huyết sắc tố trung bình (MCH) và dải phân bố kích thước hồng cầu (RDW) của những người mang gen bệnh Cụ thể, HGB của họ là 105.34±18.07g/dL, giảm so với HGB của những người khỏe mạnh: 125.84±22.23g/dL (p <0.01); MCV của họ là 65.64±6.10fL, giảm so với
Trang 5MCV ở nhóm chứng : 74.44±11.89fL (p<0.01) MCH của họ là 21.23±2.02pg, giảm so với MCH ở nhóm người khỏe mạnh: 24.36±4.04fL (p<0.01) Ngược lại, RDW của họ là 17.89±6.24g/dL, tăng so với số liệu của nhóm bình thường: 14.75±2.16g/dL (p <0.01) Có thể thấy, kết quả tổng phân tích tế bào máu của các bệnh nhân đã phản ánh tình trạng: huyết
sắc tố giảm, nhược sắc, hồng cầu nhỏ và kích thước hồng cầu không đều
Bảng 3: Chỉ số huyết học trên các bệnh nhân mang gen beta-thalassemia
B0 thalassemia (N =88) B+ thalassemia (N=7) P- value
Nhận xét: Bên cạnh đó, các đột biến khác
nhau cũng có sự ảnh hưởng khác nhau tới
các chỉ số đã đề cập trên Bảng 3 trình bày
sự khác nhau giữa các chỉ số huyết học trên
các bệnh nhân mang đột biến β+-thalassemia
(các thể đột biến: -28 [A>G], IVS 2.654
[C>T], chiếm 6.86%), bệnh nhân mang đột
biến β0-thalassemia (các thể đột biến Cap+1
[A>C], cd17 [A>T], IVS 1.1 [G>T], cd41/42
[-TTCT], cd71/72 [+A], cd95 [+A], chiếm
73.53%) Nhận thấy, có sự khác biệt có ý
nghĩa đối với các chỉ số HGB, MCV, MCH
giữa hai nhóm đối tượng này Cụ thể, các bệnh nhân β0-thalassemia có mức độ hồng cầu nhỏ, nhược sắc nặng hơn so với nhóm bệnh nhân β+-thalassemia, với giá trị trung bình của các chỉ số MCV: 64.24±4.77fL vs 69.48±4.30 (p<0.05); MCH: 20.49±1.52pg
vs 22.92±1.27pg (p<0.05) Tuy nhiên, chưa nhận thấy sự khác biệt trong chỉ số HGB: 103.70±17.45g/dL vs 108.33±10.68g/dL (p>0.05) và dải phân bố kích thước hồng cầu giữa hai nhóm: RDW: 67.23±3.88% và 15.38±0.60% (p>0.05)
3.2.2 Sắt và ferritin huyết thanh
Biểu đồ 1: Chỉ số sắt - ferritin huyết thanh của các thai phụ
Trang 6Nhận xét: Trong nhóm bệnh và nhóm
chứng ban đầu, một số thai phụ tiếp tục được
làm xét nghiệm đo nồng độ sắt và ferritin
huyết thanh Biểu đồ 1 là kết quả các chỉ số
liên quan đến hàm lượng sắt trong máu của
các đối tượng nghiên cứu Về chỉ số sắt
huyết thanh, các bệnh nhân khỏe mạnh
(N=95) có giá trị trung vị là 15.67mcg/dL
[3.08 - 763.7], trong khi đó các thai phụ
mang gen beta-thalassemia (N=76) có trung
vị là 20.02mcg/dL [6.9 - 39.0]
(p=0.000<0.05), đã ghi nhận sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về nồng độ sắt huyết thanh giữa 2 nhóm đối tượng trên (p=0.000
< 0.05) Ngược lại, về chỉ số ferritin huyết thanh, trung vị lần lượt của thai phụ khỏe mạnh và thai phụ mang gen bệnh là 112.03ng/ml [2.5 - 906] và 109.53ng/ml [9.51 - 1423.2] Với p=0.0653>0.05, 2 số liệu trên của 2 nhóm chưa thể hiện sự khác biệt về thống kê
3.2.3 Tỉ lệ các loại huyết sắc tố
Bảng 4: Tỉ lệ HbA1 của hai nhóm đối tượng
Nhóm bệnh (N=64) Nhóm chứng (N=95)
[95% Conf Interval] 77.83-93.76 96.33-97.27
Nhận xét: Với các bệnh nhân đã được kiểm tra nồng độ sắt và ferritin huyết thanh, chúng
tôi cũng thực hiện thêm điện di hemoglobin để phục vụ mục đích chẩn đoán Đầu tiên, kết
quả điện di HbA1 trong Bảng 4 cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa nồng độ HbA1 ở hai
nhóm bệnh nhân Bệnh nhân khỏe mạnh có tỉ lệ HbA1 là 96.8±2.46%, tỉ lệ này ở nhóm bệnh nhân mang gen bệnh là 85.79±24.57% (p<0.01) Nhận thấy lượng HbA1 ở nhóm bệnh giảm
so với nhóm chứng
Biểu đồ 2: Kết quả điện di HbA2 của người tham gia Nhận xét: Biểu đồ 2 là kết quả các chỉ số liên quan đến tỉ lệ các loại huyết sắc tố HbA2
trong máu của các đối tượng nghiên cứu Về tỉ lệ HbA2, ở những người khỏe mạnh (N=95)
có giá trị trung vị là 2.4% [0.3 -6.3], trong khi đó các thai phụ mang gen beta-thalassemia (N=64) có trung vị là 5.2% [1.1 - 6.5], và đã có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về chỉ số này được ghi nhận giữa 2 nhóm đối tượng (p<0.05) Như vậy, tỉ lệ HbA2 tăng ở nhóm bệnh
Trang 7IV BÀN LUẬN
4.1 Thành phần kiểu gen
Về thành phần kiểu gen của các trường
hợp mắc beta-thalassemia, nghiên cứu của
tác giả Supawadee Yamsri năm 2011 đã xác
định được 17 đột biến β-thalassemia khác
nhau bao gồm cả β0- và β+ thalassemias
được xác định trong 849 alen Ba đột biến
phổ biến nhất là codon CD41/42 (−TTCT),
CD17 (A-T) và sự thay thế A-G ở nucleotide
(NT) -28 8 trong số 17 gen β-thalassemia
bao gồm 3 đột biến trước đó và CD 71/72 (+
A), IVSI-1 (GT), IVSII-654 (CT), mất đoạn
3,4 kb và IVSI-5 (GC) chiếm nhiều nhất,
tổng số chiếm đến 97,4% số alen được kiểm
tra Các đột biến khác với tần số nhỏ hơn 1%
bao gồm CD43 (G-T), CD35 (C-A), CD26
(G-T), NT-87 (C-A), CD 15 (−T), CD27 (+
C), CD19 (A-G)/Hb Malay, CD95(+A) và
NT-31(A-G) [4] Có thể thấy, có sự tương
đồng giữa 2 trong số 3 đột biến phổ biến
giữa nghiên cứu trên với kết quả chúng tôi đã
tìm ra: CD41/42 (−TTCT), CD17 (A-T); tuy
nhiên các loại đột biến IVSI-1 (GT),
IVSII-654 (CT) trong nghiên cứu của chúng tôi lại
chỉ chiếm chưa đến 2% mỗi loại
Tương tự, theo nghiên cứu của tác giả
Boonchai Boonyawat năm 2014 cũng cho
kết quả 6 đột biến phổ biến nhất, bao gồm:
cd41/42 (−TTCT), CD17 (A-T), IVSI-5
(GC), IVSII-654 (CT), IVSI-1 (GT),
CD71/72 (+ A)[6]
Mặt khác, nghiên cứu của tác giả Guvenc
năm 2012 lại chỉ ra rằng các đột biến thường
gặp nhất của β-thal được tìm thấy là
IVSI.110 (G> A) ở Adana, tiếp đến là các
đột biến: cd 8 (AA), IVSI.1 (G> A), IVSI.6
(T> C), - 30 (T> A), IVSII.1 (G> A), cd 39
(C> T), cd 44 (C), IVSI.5 (G> C), cd 5 (-CT), cd 8 / 9 (+ G), IVSII.745 (C> G), cd 22 (7bp del), –101 (C> T), cd 36/37 (–T), IVSI.15 (T> G), cd 6 (–A), và –88 (G> A)[7] Nhận thấy, kết quả ở nghiên cứu này lại hoàn toàn khác với các số liệu chúng tôi
đã đề cập trong phần kết quả ở trên
Sự tương đồng và khác biệt khi so sánh giữa kết quả nghiên cứu của chúng tôi với ba công trình của các tác giả trước đó có lẽ xuất phát từ chủng tộc của đối tượng nghiên cứu
và cỡ mẫu, cách chọn mẫu Cả hai nghiên cứu đầu đều được thực hiện trên người Thái Lan, cùng thuộc khu vực Đông Nam Á với Việt Nam, trong khi đó nghiên cứu thứ ba lại trên đối tượng người Thổ Nhĩ Kỳ, một đất nước thuộc vùng Trung Đông, do đó có sự khác biệt về kiểu gen với ba kết quả còn lại
4.2 Chỉ số huyết học của bệnh nhân beta thalassemia
4.2.1 Phân tích tế bào máu
Về các chỉ số huyết học, theo nghiên cứu của tác giả AMin S năm 2020, khi tiến hành
đo chỉ số huyết học trên 243 bệnh nhân beta thalassemia: HGB tại thời điểm nghiên cứu dao động trong khoảng 4,1–13,8 g/dL với mức trung bình là 8,8±1,3 g/dL MCV và MCH trung bình lần lượt là 74,4±9,7 fl và 25,6±3,8 pg [8] Một nghiên cứu khác của tác giả Karim MF năm 2016, cho kết quả các chỉ số trên giữa nhóm bệnh và nhóm chứng: HGB: 7.2 ± 1.5g/dL vs 13 ± 1.4g/dL (p<0.001); MCV: 70 ± 9.5fL vs 80 ± 11fL (p<0.05) và MCH: 23.8 ± 3.8pg vs 28 ± 5pg (p<0.05) [9] Có thể thấy, nghiên cứu của chúng tôi đã cho kết quả tương tự các nghiên cứu trên, với các chỉ số HGB, MCV, MCH đều giảm, ngược lại RDW tăng trên đối
Trang 8tượng bệnh nhân Mặt khác, khi chia nhỏ hơn
thành hai thể β+-thalassemia và
β0-thalassemia, nhận thấy 2 chỉ số MCV và
MCH của bệnh nhân mang β0-thalassemia
giảm so với bệnh nhân mang β+-thalassemia,
2 chỉ số HGB và RDW chưa có sự khác biệt
thống kê Điều này tương tự với nhận định
trong nghiên cứu năm 1992 của tác giả
Deborah Rund, với MCV của β0-thalassemia
là 63.1±3.4fL, giảm so với mức MCV của
β+-thalassemia là 69.3±5.6fL[5]
4.2.2 Tình trạng sắt và ferritin huyết
thanh
Về đánh giá tình trạng ứ đọng sắt trong
huyết thanh, nghiên cứu của tác giả Asama
Kassab-Chekir năm 2003 trên 107 người
tham gia (56 người bệnh, 51 người khoẻ
mạnh) đã cho kết quả: nồng độ sắt trong
huyết thanh người bệnh tăng 2 lần so với
thông thường: 24.90±5.93 vs 11.96±2.88
µmol/l, trong khi đó nồng độ ferritin huyết
tương tăng hơn 60 lần: 2098±1311 vs
33.52±15.31 ng/ml [10] Nghiên cứu trên đã
ghi nhận sự tăng cao của cả sắt và ferritin
trong máu người bệnh, trong khi đó kết quả
của chúng tôi chỉ đưa ra sự tăng lên của nồng
độ sắt trong huyết thanh, nồng độ ferritin
chưa ghi nhận Sự khác biệt này có thể do
nghiên cứu trên được thực hiện trên đối
tượng đã được nhận diện mắc beta -
thalassemia, còn trong nghiên cứu của chúng
tôi, người tham gia nhóm bệnh là các đối
tượng mới chỉ được nhận định mang 1 đột
biến trên gen beta-globin, cần theo dõi bệnh
beta - thalassemia
4.2.3 Kết quả điện di Hb
Về kết quả điện di Hemoglobin, nghiên
cứu của tác giả JR Lych năm đã chỉ ra trong
các loại đột biến β- thalassemia được tìm thấy trong quần thể, chỉ đột biến xóa 3,4kb
có đặc tính điển hình là nồng độ HbA2 và HbF cao[11] Nhưng trong nghiên cứu này của chúng tôi không có đột biến xóa 3,4kb, thay vào đó là đột biến CD17 [A>T] lại có HbA2 cao hơn dạng đột biến khác thuộc b0- thalassemia Tương tự kết quả của chúng tôi đưa ra: 39 trường hợp mang CD17 [A>T] có HbA2 5.2±0.87%, nghiên cứu của tác giả Supawadee Yamsri năm 2011 trên 849 bệnh nhân beta thalassemia cũng chỉ ra có 56 nam
và 57 nữ mang đột biến này với chỉ số HbA2 lần lượt là 5.8±0.7% và 5.6±0.6% [4]
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Có bốn loại đột biến phổ biến nhất trên bệnh beta thalassemia của nhóm bệnh là cd17 [A>T], cd41/42[-TTCT], cd 71/72, [+A]-28 [A>G] Đối với việc mô tả tình trạng huyết học của người mang gen beta-thalassemia, bốn chỉ số có sự khác biệt là lượng huyết sắc tố (HGB), trung bình thể tích khối hồng cầu (MCV), lượng huyết sắc
tố trung bình (MCH) và dải phân bố kích thước hồng cầu (RDW), trong điện di huyết sắc tố, ghi nhận tỷ lệ HbA1 giảm, ngược lại với tỉ lệ của HbA2 và HbF
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Galanello R, Origa R Beta-thalassemia
Orphanet J Rare Dis 2010;5:11
2 Svasti S, Hieu TM, Munkongdee T, Winichagoon P, Van Be T, Van Binh T, et
al Molecular analysis of beta-thalassemia in
South Vietnam Am J Hematol 2002;71(2):85-8
3 User S IthaGenes [Available from:
https://www.ithanet.eu/db/ithagenes