1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm kiểu gen và kiểu hình của các thai phụ mang gen bệnh beta thalassemia và HBE tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

8 8 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm kiểu gen và kiểu hình của các thai phụ mang gen bệnh beta thalassemia và HBE tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Tác giả Lê Thị Minh Phương, Nguyễn Thị Trang, Trần Danh Cường, Ngụ Toàn Anh, Nguyễn Thỳy Hà, Nguyễn Quốc Anh
Trường học Trường Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu y học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 521,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Nghiên cứu đặc điểm kiểu gen và kiểu hình của các thai phụ mang gen bệnh beta thalassemia và HBE tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trình bày mô tả các loại đột biến của bệnh ꞵ- thalassemia; Phân tích các chỉ số huyết học của người bệnh với người bình thường.

Trang 1

8 Luewan S, Sirichotiyakul S Fau - Yanase

Y, Yanase Y Fau - Traisrisilp K, Traisrisilp

K Fau - Tongsong T, Tongsong T Median

levels of serum biomarkers of fetal Down

syndrome detected during the first trimester

among pregnant Thai women

2012;(1879-3479 (Electronic))

9 Leung TY, Spencer K, Leung TN, Fung

TY, Lau TK Higher median levels of free

beta-hCG and PAPP-A in the first trimester of

pregnancy in a Chinese ethnic group

Implication for first trimester combined

screening for Down's syndrome in the

Chinese population Fetal diagnosis and

therapy 2006;21(1):140-3

10 Hu ZM, Luo LL, Li L, Dai SD, Zhang HG, Liu RZ Indigenization of the median of

markers for Down syndrome screening based

on statistical analysis of medical big data (1875-6263 (Electronic))

11 Neocleous Ac Fau - Nicolaides KH,

Nicolaides Kh Fau - Schizas CN, Schizas CN First Trimester Noninvasive Prenatal Diagnosis: A Computational Intelligence Approach 2016;(2168-2208 (Electronic))

12 Ling Li WL, Hongguo Zhang, Yuting Jiang, Xiaonan Hu, Ruizhi Liu Down

Syndrome Prediction Using a Cascaded Machine Learning Framework Designed for Imbalanced and Feature-correlated Data IEEEAcess 2017;

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM KIỂU GEN VÀ KIỂU HÌNH CỦA CÁC

THAI PHỤ MANG GEN BỆNH BETA THALASSEMIA VÀ HBE

TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG

Lê Thị Minh Phương 1 , Nguyễn Thị Trang 2 , Trần Danh Cường 2,3 ,

Ngô Toàn Anh 2,3 , Nguyễn Thúy Hà 2 , Nguyễn Quốc Anh 2

TÓM TẮT 22

Bệnh beta- thalassemia là một bệnh do đột

biến gen làm giảm hoặc không tổng hợp chuỗi ꞵ

globin Ở Việt Nam, tỷ lệ người mắc bệnh ꞵ-

thalassemia dao động từ 1,5%-25% Mục tiêu

1 Trường Đại học Y dược, ĐHQGHN

2 Trường Đại học Y Hà Nội

3 Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Chịu trách nhiệm chính: Lê Thị Minh Phương

Email: minhphuong88.hmu@gmail.com

Ngày nhận bài: 15/7/2022

Ngày phản biện khoa học: 03/08/2022

Ngày duyệt bài: 19/08/2022

nghiên cứu: 1) mô tả các loại đột biến của bệnh

ꞵ- thalassemia 2) phân tích các chỉ số huyết học

của người bệnh với người bình thường Đối tượng và phương pháp: Tiến hành nghiên cứu

bệnh-chứng trên 95 người mắc bệnh ꞵ-Thalassemia và 95 người khỏe mạnh khám sàng lọc trước sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung

Ương Kết quả: Trong 95 bệnh nhân mắc bệnh

ꞵ- thalassemia thì xuất hiện 8 đột biến lần lượt là cd17 [A>T] (44,21%), cd41/42[-TTCT] (32,63%), cd 71/72 (10,52%), [+A]-28 [A>G] (3,16), Cap+1 [A>C] (3,16%), IVS 1.1 [G>T] (1,05%), cd95 [+A] (1,05%), IVS 2.654 [C>T] (1,05%) Về phân tích tế bào máu, ở nhóm bệnh

Trang 2

có MCV, MCH và HGB giảm so với nhóm

chứng Ngược lại, chỉ số RDW lớn hơn Về nồng

độ sắt huyết thanh và tỷ lệ huyết sắc tố HbA1,

HbA2, HbF có sự khác biệt giữa hai nhóm

Kết luận: Nghiên cứu cập nhật các bằng

chứng hỗ trợ sàng lọc trước sinh bệnh ꞵ-

thalassemia

Từ khóa: ꞵ- thalassemia, Kiểu hình, sàng lọc

trước sinh

SUMMARY

GENOTYPES AND PHENOTYPES OF

BETA THALASSEMIA AND HBE

GENE CARRIERS AT NATIONAL

GYNECOLOGICAL HOSPITAL

Beta-thalassemia is a disease caused by a

genetic mutation that reduces or fails to

synthesize the ꞵ-globin chain In Vietnam, the

prevalence of ꞵ- thalassemia ranges from

1.5%-25% Research objectives: 1) describe the types

of mutations of ꞵ- thalassemia 2) analysis of

hematological parameters of patients with normal

people Subjects and methods: Conducted a

case-control study on 95 people with ꞵ-Thalassaemia

and 95 healthy people undergoing prenatal

screening at the National Hospital of Obstetrics

and Gynecology Results: In 95 patients with

ꞵ-thalassemia, 8 mutations appeared, respectively,

cd17 [A>T] (44.21%), cd41/42[-TTCT]

(32.63%), cd 71 /72 (10.52%), [+A]-28 [A>G]

(3,16), Cap+1 [A>C] (3.16%), IVS 1.1 [G>T]

(1,05%), cd95 [+A] (1.05%), IVS 2,654 [C>T]

(1.05%) Regarding blood cell analysis, in the

group of patients with MCV, MCH and HGB

decreased compared to the control group In

contrast, the RDW index is larger Regarding

serum iron concentration and hemoglobin ratio

HbA1, HbA2, HbF there were differences

between the two groups

Conclusion: The study updated the evidence

in support of prenatal screening for ꞵ- thalassemia

Key words: ꞵ- thalassemia, phenotype,

prenatal screening

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Beta – thalassemia một nhóm bệnh rối loạn máu di truyền đặc trưng bởi sự bất thường trong quá trình tổng hợp chuỗi beta của hemoglobin dẫn đến các kiểu hình khác nhau[1] Ở Việt Nam, tỷ lệ người mang bệnh ꞵ- thalassemia dao động từ 1,5% đến 25% tùy theo dân tộc [2] Cho tới hiện nay đã xác định được hơn 400 đột biến gây bệnh[3] .Tuy nhiên, ở Việt Nam, trong các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra được một số loại đột biến phổ biến ở quần thể người Việt cd 17[A→T], IVS-1-1[G→T], Cd 41/42[−TCTT], Cd 71/72, [+A], IVS-II-654 [C→T], Cd 95 [+A] [4]

Về chỉ số huyết học của bệnh ꞵ- thalassemia, tùy theo mức độ giảm hoặc mất khả năng tổng hợp chuỗi beta mà có các thể nặng, nhẹ khác nhau, trong đó HGB, MCV, MCH, RDW là các chỉ số quan trọng trên bệnh nhân mắc β-thalassemia [5] Cụ thể, nghiên cứu của tác giả Supawadee Yamsri năm 2011 chỉ ra các số liệu thu được khi tiến hành xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu của 849 người tham gia, trong đó: 357 người thể nặng mang β (0) có MCV: 63.2± 3.9fL; MCH: 20.3± 1.4 pg; RDW: 17.0± 1.8%; 70 người thể nhẹ mang β (+) có MCV: 70.5± 4.4fL; MCH: 23.3± 2.1pg; RDW: 16.9± 2.3% [4] Ở Việt Nam, các con số phổ biến nhất đã ghi nhận trên bệnh nhân ꞵ-

Trang 3

thalassemia là: Thể nhẹ: Hb >10g/dL, MCV

<78 fL, MCH <28pg; thể trung gian: Hb từ

7- 10 g/dl, MCV từ 50-80 fL và MCH từ 16 -

24 pg; thể nặng: Hb giảm (<7 g / dl), MCV

từ 50-70 fL và MCH từ 12 - 20 pg

Nhận thấy tầm quan trọng của sàng lọc

người mắc bệnh ꞵ- thalassemia từ đó xây

dựng hướng đi trong việc giáo dục sức khỏe

cũng như tầm soát trước sinh cho các gia

đình, nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh ở Việt Nam,

chúng tôi thực hiện nghiên cứu này trên các

bệnh nhân tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

với hai mục tiêu:

1) Mô tả các đột biến phổ biến của bệnh

β-thalassemia ở các thai phụ đến khám tại

bệnh viện Phụ sản Trung Ương

2) Phân tích sự biến đổi trong các chỉ số

huyết học ở thai phụ mang gen

β-thalassemia so với thai phụ khỏe mạnh

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân

khám sàng lọc trước sinh tại Bệnh viện Phụ

sản Trung Ương

Tiêu chuẩn lựa chọn

- Bắt buộc có xét nghiệm máu

- Bắt buộc có xét nghiệm gen đối với

trường hợp nghi ngờ mắc bệnh

- Có thể có điện di huyết sắc tố, định

lượng sắt huyết thanh và ferritin huyết thanh

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Thiếu một trong những điều kiện trên

- Bệnh nhân mang đột biến α và β

thalassemia hoặc β thalassemia/HbE

- Bệnh nhân mắc bệnh mạn tính khác

Cỡ mẫu: phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

Theo nghiên cứu của tác giả Md Fazlul Karim và cộng sự năm 2016 đã chỉ ra MCH

nhỏ nhất là 24 người nhóm bệnh và người 24 người nhóm chứng

Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn

190 người trong đó 95 người nhóm bệnh và

95 người nhóm chứng

2 Thời gian địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ tháng 06 năm 2021 đến tháng 06 năm 2022

- Địa điểm: Bệnh viện Phụ sản Trung Ương

3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô

tả cắt ngang có đối chứng

4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

- Kết quả tổng phân tích tế bào máu ngoại vi: RBC, Hb, MCV, MCH, RDW

- Kết quả điện di huyết sắc tố: HbA2; HbF

- Kết quả định lượng sắt huyết thanh

- Kết quả định lượng ferritin huyết thanh

- Kết quả xét nghiệm gen thalassemia

5 Phương pháp phân tích số liệu: sử

dụng phần mềm Stata 12

Trang 4

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thành phần kiểu gen của đối tượng nghiên cứu

Bảng 1: Kết quả phân tích đột biến gen β- globin

Nhận xét: Qua phân tích strip assay cấu trúc gen β-globin, nhận thấy có 8 đột biến khác

nhau, bao gồm cả β0và β+-thalassemia Kết quả được trình bày trong Bảng 1 4 đột biến phổ

biến nhất ở các thai phụ này là cd17 [A>T], cd41/42[-TTCT], cd 71/72, [+A]-28 [A>G], chiếm tỉ lệ lần lượt là 44.21%, 32.63%, 10.52% và 6.31% Các đột biến khác ít phổ biến hơn bao gồm Cap+1 [A>C], IVS 1.1 [G>T], cd95 [+A], IVS 2.654 [C>T] có tỉ lệ tổng số trên 6% trên tổng số người mang gen beta-thalassemia

3.2 Chỉ số huyết học của bệnh nhân β-thalassemia

3.2.1 Phân tích tế bào máu

Bảng 2: Công thức máu của các thai phụ mắc β- thalassemia

Nhóm bệnh ( n = 95)

Nhóm chứng

Nhận xét: Bảng 2 so sánh một số chỉ số trong tổng phân tích tế bào máu của các nhóm

người khỏe mạnh và nhóm mắc beta-thalassemia Qua bảng trên, nhận thấy có sự khác biệt có

ý nghĩa trong hàm lượng huyết sắc tố (HGB), thể tích trung bình khối hồng cầu (MCV), huyết sắc tố trung bình (MCH) và dải phân bố kích thước hồng cầu (RDW) của những người mang gen bệnh Cụ thể, HGB của họ là 105.34±18.07g/dL, giảm so với HGB của những người khỏe mạnh: 125.84±22.23g/dL (p <0.01); MCV của họ là 65.64±6.10fL, giảm so với

Trang 5

MCV ở nhóm chứng : 74.44±11.89fL (p<0.01) MCH của họ là 21.23±2.02pg, giảm so với MCH ở nhóm người khỏe mạnh: 24.36±4.04fL (p<0.01) Ngược lại, RDW của họ là 17.89±6.24g/dL, tăng so với số liệu của nhóm bình thường: 14.75±2.16g/dL (p <0.01) Có thể thấy, kết quả tổng phân tích tế bào máu của các bệnh nhân đã phản ánh tình trạng: huyết

sắc tố giảm, nhược sắc, hồng cầu nhỏ và kích thước hồng cầu không đều

Bảng 3: Chỉ số huyết học trên các bệnh nhân mang gen beta-thalassemia

B0 thalassemia (N =88) B+ thalassemia (N=7) P- value

Nhận xét: Bên cạnh đó, các đột biến khác

nhau cũng có sự ảnh hưởng khác nhau tới

các chỉ số đã đề cập trên Bảng 3 trình bày

sự khác nhau giữa các chỉ số huyết học trên

các bệnh nhân mang đột biến β+-thalassemia

(các thể đột biến: -28 [A>G], IVS 2.654

[C>T], chiếm 6.86%), bệnh nhân mang đột

biến β0-thalassemia (các thể đột biến Cap+1

[A>C], cd17 [A>T], IVS 1.1 [G>T], cd41/42

[-TTCT], cd71/72 [+A], cd95 [+A], chiếm

73.53%) Nhận thấy, có sự khác biệt có ý

nghĩa đối với các chỉ số HGB, MCV, MCH

giữa hai nhóm đối tượng này Cụ thể, các bệnh nhân β0-thalassemia có mức độ hồng cầu nhỏ, nhược sắc nặng hơn so với nhóm bệnh nhân β+-thalassemia, với giá trị trung bình của các chỉ số MCV: 64.24±4.77fL vs 69.48±4.30 (p<0.05); MCH: 20.49±1.52pg

vs 22.92±1.27pg (p<0.05) Tuy nhiên, chưa nhận thấy sự khác biệt trong chỉ số HGB: 103.70±17.45g/dL vs 108.33±10.68g/dL (p>0.05) và dải phân bố kích thước hồng cầu giữa hai nhóm: RDW: 67.23±3.88% và 15.38±0.60% (p>0.05)

3.2.2 Sắt và ferritin huyết thanh

Biểu đồ 1: Chỉ số sắt - ferritin huyết thanh của các thai phụ

Trang 6

Nhận xét: Trong nhóm bệnh và nhóm

chứng ban đầu, một số thai phụ tiếp tục được

làm xét nghiệm đo nồng độ sắt và ferritin

huyết thanh Biểu đồ 1 là kết quả các chỉ số

liên quan đến hàm lượng sắt trong máu của

các đối tượng nghiên cứu Về chỉ số sắt

huyết thanh, các bệnh nhân khỏe mạnh

(N=95) có giá trị trung vị là 15.67mcg/dL

[3.08 - 763.7], trong khi đó các thai phụ

mang gen beta-thalassemia (N=76) có trung

vị là 20.02mcg/dL [6.9 - 39.0]

(p=0.000<0.05), đã ghi nhận sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về nồng độ sắt huyết thanh giữa 2 nhóm đối tượng trên (p=0.000

< 0.05) Ngược lại, về chỉ số ferritin huyết thanh, trung vị lần lượt của thai phụ khỏe mạnh và thai phụ mang gen bệnh là 112.03ng/ml [2.5 - 906] và 109.53ng/ml [9.51 - 1423.2] Với p=0.0653>0.05, 2 số liệu trên của 2 nhóm chưa thể hiện sự khác biệt về thống kê

3.2.3 Tỉ lệ các loại huyết sắc tố

Bảng 4: Tỉ lệ HbA1 của hai nhóm đối tượng

Nhóm bệnh (N=64) Nhóm chứng (N=95)

[95% Conf Interval] 77.83-93.76 96.33-97.27

Nhận xét: Với các bệnh nhân đã được kiểm tra nồng độ sắt và ferritin huyết thanh, chúng

tôi cũng thực hiện thêm điện di hemoglobin để phục vụ mục đích chẩn đoán Đầu tiên, kết

quả điện di HbA1 trong Bảng 4 cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa nồng độ HbA1 ở hai

nhóm bệnh nhân Bệnh nhân khỏe mạnh có tỉ lệ HbA1 là 96.8±2.46%, tỉ lệ này ở nhóm bệnh nhân mang gen bệnh là 85.79±24.57% (p<0.01) Nhận thấy lượng HbA1 ở nhóm bệnh giảm

so với nhóm chứng

Biểu đồ 2: Kết quả điện di HbA2 của người tham gia Nhận xét: Biểu đồ 2 là kết quả các chỉ số liên quan đến tỉ lệ các loại huyết sắc tố HbA2

trong máu của các đối tượng nghiên cứu Về tỉ lệ HbA2, ở những người khỏe mạnh (N=95)

có giá trị trung vị là 2.4% [0.3 -6.3], trong khi đó các thai phụ mang gen beta-thalassemia (N=64) có trung vị là 5.2% [1.1 - 6.5], và đã có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về chỉ số này được ghi nhận giữa 2 nhóm đối tượng (p<0.05) Như vậy, tỉ lệ HbA2 tăng ở nhóm bệnh

Trang 7

IV BÀN LUẬN

4.1 Thành phần kiểu gen

Về thành phần kiểu gen của các trường

hợp mắc beta-thalassemia, nghiên cứu của

tác giả Supawadee Yamsri năm 2011 đã xác

định được 17 đột biến β-thalassemia khác

nhau bao gồm cả β0- và β+ thalassemias

được xác định trong 849 alen Ba đột biến

phổ biến nhất là codon CD41/42 (−TTCT),

CD17 (A-T) và sự thay thế A-G ở nucleotide

(NT) -28 8 trong số 17 gen β-thalassemia

bao gồm 3 đột biến trước đó và CD 71/72 (+

A), IVSI-1 (GT), IVSII-654 (CT), mất đoạn

3,4 kb và IVSI-5 (GC) chiếm nhiều nhất,

tổng số chiếm đến 97,4% số alen được kiểm

tra Các đột biến khác với tần số nhỏ hơn 1%

bao gồm CD43 (G-T), CD35 (C-A), CD26

(G-T), NT-87 (C-A), CD 15 (−T), CD27 (+

C), CD19 (A-G)/Hb Malay, CD95(+A) và

NT-31(A-G) [4] Có thể thấy, có sự tương

đồng giữa 2 trong số 3 đột biến phổ biến

giữa nghiên cứu trên với kết quả chúng tôi đã

tìm ra: CD41/42 (−TTCT), CD17 (A-T); tuy

nhiên các loại đột biến IVSI-1 (GT),

IVSII-654 (CT) trong nghiên cứu của chúng tôi lại

chỉ chiếm chưa đến 2% mỗi loại

Tương tự, theo nghiên cứu của tác giả

Boonchai Boonyawat năm 2014 cũng cho

kết quả 6 đột biến phổ biến nhất, bao gồm:

cd41/42 (−TTCT), CD17 (A-T), IVSI-5

(GC), IVSII-654 (CT), IVSI-1 (GT),

CD71/72 (+ A)[6]

Mặt khác, nghiên cứu của tác giả Guvenc

năm 2012 lại chỉ ra rằng các đột biến thường

gặp nhất của β-thal được tìm thấy là

IVSI.110 (G> A) ở Adana, tiếp đến là các

đột biến: cd 8 (AA), IVSI.1 (G> A), IVSI.6

(T> C), - 30 (T> A), IVSII.1 (G> A), cd 39

(C> T), cd 44 (C), IVSI.5 (G> C), cd 5 (-CT), cd 8 / 9 (+ G), IVSII.745 (C> G), cd 22 (7bp del), –101 (C> T), cd 36/37 (–T), IVSI.15 (T> G), cd 6 (–A), và –88 (G> A)[7] Nhận thấy, kết quả ở nghiên cứu này lại hoàn toàn khác với các số liệu chúng tôi

đã đề cập trong phần kết quả ở trên

Sự tương đồng và khác biệt khi so sánh giữa kết quả nghiên cứu của chúng tôi với ba công trình của các tác giả trước đó có lẽ xuất phát từ chủng tộc của đối tượng nghiên cứu

và cỡ mẫu, cách chọn mẫu Cả hai nghiên cứu đầu đều được thực hiện trên người Thái Lan, cùng thuộc khu vực Đông Nam Á với Việt Nam, trong khi đó nghiên cứu thứ ba lại trên đối tượng người Thổ Nhĩ Kỳ, một đất nước thuộc vùng Trung Đông, do đó có sự khác biệt về kiểu gen với ba kết quả còn lại

4.2 Chỉ số huyết học của bệnh nhân beta thalassemia

4.2.1 Phân tích tế bào máu

Về các chỉ số huyết học, theo nghiên cứu của tác giả AMin S năm 2020, khi tiến hành

đo chỉ số huyết học trên 243 bệnh nhân beta thalassemia: HGB tại thời điểm nghiên cứu dao động trong khoảng 4,1–13,8 g/dL với mức trung bình là 8,8±1,3 g/dL MCV và MCH trung bình lần lượt là 74,4±9,7 fl và 25,6±3,8 pg [8] Một nghiên cứu khác của tác giả Karim MF năm 2016, cho kết quả các chỉ số trên giữa nhóm bệnh và nhóm chứng: HGB: 7.2 ± 1.5g/dL vs 13 ± 1.4g/dL (p<0.001); MCV: 70 ± 9.5fL vs 80 ± 11fL (p<0.05) và MCH: 23.8 ± 3.8pg vs 28 ± 5pg (p<0.05) [9] Có thể thấy, nghiên cứu của chúng tôi đã cho kết quả tương tự các nghiên cứu trên, với các chỉ số HGB, MCV, MCH đều giảm, ngược lại RDW tăng trên đối

Trang 8

tượng bệnh nhân Mặt khác, khi chia nhỏ hơn

thành hai thể β+-thalassemia và

β0-thalassemia, nhận thấy 2 chỉ số MCV và

MCH của bệnh nhân mang β0-thalassemia

giảm so với bệnh nhân mang β+-thalassemia,

2 chỉ số HGB và RDW chưa có sự khác biệt

thống kê Điều này tương tự với nhận định

trong nghiên cứu năm 1992 của tác giả

Deborah Rund, với MCV của β0-thalassemia

là 63.1±3.4fL, giảm so với mức MCV của

β+-thalassemia là 69.3±5.6fL[5]

4.2.2 Tình trạng sắt và ferritin huyết

thanh

Về đánh giá tình trạng ứ đọng sắt trong

huyết thanh, nghiên cứu của tác giả Asama

Kassab-Chekir năm 2003 trên 107 người

tham gia (56 người bệnh, 51 người khoẻ

mạnh) đã cho kết quả: nồng độ sắt trong

huyết thanh người bệnh tăng 2 lần so với

thông thường: 24.90±5.93 vs 11.96±2.88

µmol/l, trong khi đó nồng độ ferritin huyết

tương tăng hơn 60 lần: 2098±1311 vs

33.52±15.31 ng/ml [10] Nghiên cứu trên đã

ghi nhận sự tăng cao của cả sắt và ferritin

trong máu người bệnh, trong khi đó kết quả

của chúng tôi chỉ đưa ra sự tăng lên của nồng

độ sắt trong huyết thanh, nồng độ ferritin

chưa ghi nhận Sự khác biệt này có thể do

nghiên cứu trên được thực hiện trên đối

tượng đã được nhận diện mắc beta -

thalassemia, còn trong nghiên cứu của chúng

tôi, người tham gia nhóm bệnh là các đối

tượng mới chỉ được nhận định mang 1 đột

biến trên gen beta-globin, cần theo dõi bệnh

beta - thalassemia

4.2.3 Kết quả điện di Hb

Về kết quả điện di Hemoglobin, nghiên

cứu của tác giả JR Lych năm đã chỉ ra trong

các loại đột biến β- thalassemia được tìm thấy trong quần thể, chỉ đột biến xóa 3,4kb

có đặc tính điển hình là nồng độ HbA2 và HbF cao[11] Nhưng trong nghiên cứu này của chúng tôi không có đột biến xóa 3,4kb, thay vào đó là đột biến CD17 [A>T] lại có HbA2 cao hơn dạng đột biến khác thuộc b0- thalassemia Tương tự kết quả của chúng tôi đưa ra: 39 trường hợp mang CD17 [A>T] có HbA2 5.2±0.87%, nghiên cứu của tác giả Supawadee Yamsri năm 2011 trên 849 bệnh nhân beta thalassemia cũng chỉ ra có 56 nam

và 57 nữ mang đột biến này với chỉ số HbA2 lần lượt là 5.8±0.7% và 5.6±0.6% [4]

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Có bốn loại đột biến phổ biến nhất trên bệnh beta thalassemia của nhóm bệnh là cd17 [A>T], cd41/42[-TTCT], cd 71/72, [+A]-28 [A>G] Đối với việc mô tả tình trạng huyết học của người mang gen beta-thalassemia, bốn chỉ số có sự khác biệt là lượng huyết sắc tố (HGB), trung bình thể tích khối hồng cầu (MCV), lượng huyết sắc

tố trung bình (MCH) và dải phân bố kích thước hồng cầu (RDW), trong điện di huyết sắc tố, ghi nhận tỷ lệ HbA1 giảm, ngược lại với tỉ lệ của HbA2 và HbF

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Galanello R, Origa R Beta-thalassemia

Orphanet J Rare Dis 2010;5:11

2 Svasti S, Hieu TM, Munkongdee T, Winichagoon P, Van Be T, Van Binh T, et

al Molecular analysis of beta-thalassemia in

South Vietnam Am J Hematol 2002;71(2):85-8

3 User S IthaGenes [Available from:

https://www.ithanet.eu/db/ithagenes

Ngày đăng: 31/12/2022, 11:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w