Bài viết Kiến thức, thái độ và thực hành của các bà mẹ có con bệnh Thalassemia điều trị tại khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang trình bày việc xác định tỷ lệ các nguồn thông tin về bệnh Thalassemia mà các bà mẹ được cung cấp; Xác định tỉ lệ các bà mẹ thực hành đúng: đi tái khám theo định kỳ cho con, và đã làm xét nghiệm cho các con khác. Xác định mối liên quan giữa thực hành đi tái khám đúng theo định kỳ với các đặc điểm của mẹ, kiến thức và thái độ.
Trang 1KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH CỦA CÁC BÀ MẸ
CÓ CON BỆNH THALASSEMIA ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA NHI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA TIỀN GIANG
Nguyễn Thành Nam 1 , Nguyễn Thị Ngọc Sương 1
TÓM TẮT 46
Mục tiêu: Nghiên cứu này giúp khảo sát về
kiến thức, thái độ và thực hành của các bà mẹ có
con bị bệnh thiếu máu tán huyết di truyền
Thalassemia tại khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa
Trung tâm Tiền Giang
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt
ngang mô tả Có 44 trường hợp được phỏng vấn
trực tiếp bằng bảng câu hỏi soạn sẵn từ ngày
01/01/2011 đến ngày 31/08/2021
Kết quả: Kiến thức chung đúng về bệnh là
52,27%, kiến thức chung đúng về điều trị là
45,45% Về thái độ chấp nhận: tái khám định kỳ
đúng lúc là 63,64%, có thể có phản ứng khi
truyền máu là 61,36%, tỷ lệ chấp nhận làm xét
nghiệm chẩn đoán bệnh cho các con khác là
65,91% Về thực hành đi tái khám ở nhóm bà mẹ
có tỉ lệ kiến thức đúng về bệnh và điều trị cao
hơn nhóm bà mẹ có tỉ lệ kiến thức không đúng (p
< 0,05) Nguồn thông tin về bệnh cung cấp chủ
yếu cho các bà mẹ chủ yếu đến từ thân nhân của
bệnh nhi khác (27,27%), tiếp theo là các nguồn
thông tin từ nhân viên y tế và phương tiện thông
tin truyền thông (25%), nguồn khác (22,27%)
Kết luận: Tỷ lệ trẻ được đưa đi tái khám
đúng định kỳ là 45,45%, các bà mẹ có trình độ
học vấn cao có thực hành đi tái khám định kỳ cao
hơn, có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)
1
Bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thành Nam
Email: thanhnam@pediatrician.vn
Ngày nhận bài: 25.8.2022
Ngày phản biện khoa học: 23.9.2022
Từ khóa: Thalassemia, kiến thức, thái độ,
thực hành
SUMMARY KNOWLEDGE, ATTITUDE, AND PRACTICE OF MOTHERS WITH CHILDREN WITH THALASSEMIA DISEASE AT THE PEDIATRICS DEPARTMENT OF TIEN GIANG GENERAL HOSPITAL
Objectives: This study helps to survey the
knowledge, attitudes, and methods of mothers whose children have Thalassemia hereditary hemolytic anemia at the Pediatrics Department of
Tien Giang Central General Hospital
Methods: Descriptive cross-sectional study
Forty-four cases were directly interviewed using
a prepared questionnaire from January 1, 2011,
to August 31, 2021
Results: The correct general knowledge about
the disease was 52.27%, the accurate general knowledge about treatment was 45.45% Regarding the attitude of acceptance: timely re-examination is 63.64%, possible reaction to blood transfusion is 61.36%, the acceptance rate for diagnostic tests for other children is 65.91 % Regarding the re-examination practice in the group of mothers, the rate of correct knowledge about the disease and treatment is higher than that of the group of mothers with the rate of incorrect knowledge (p < 0.05) The primary source of information about the disease for mothers was mainly from relatives of other children (27.27%), followed by data from health
Trang 2workers and the media 25%), other sources
(22.27%)
Conclusions: The rate of children being taken
for regular check-ups was 45.45% Mothers with
high education had a higher practice of going for
regular check-ups, which was statistically
significant (p < 0.001)
Keywords: Thalassemia, knowledge, attitude,
practice
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Thalassemia hay còn gọi là bệnh thiếu
máu tan máu bẩm sinh là một nhóm những
bệnh lý huyết học di truyền phổ biến nhất
trên thế giới Bệnh khá phổ biến ở các vùng
Đông Nam Á, Địa Trung Hải, Trung Quốc,
Châu Phi (1,8) Theo số liệu thống kê của Tổ
chức Thalassemia thế giới (TIF) có đến 7%
dân số thế giới mang gen bệnh Thalassemia,
có từ 300.000 đến 500.000 trẻ em sinh ra
mắc bệnh thể nặng mỗi năm, 50.000-100.000
người bệnh beta-thalassemia ở các nước có
thu nhập thấp mỗi năm (8,7) Tại Việt Nam,
ước tính hiện nay có khoảng 20.000 người bị
Thalassemia thể nặng, mỗi năm có thêm
khoảng 2.000 trẻ em sinh ra bị bệnh
Thalassemia, có khoảng 10 triệu người mang
gen bệnh Thalassemia (1) Bệnh Thalassemia
có sức ảnh hưởng rất lớn không những đối
với cá nhân người bệnh mà còn gây hậu quả
sâu rộng đến toàn xã hội Người bệnh thể
nặng thể chất yếu kém, cơ thể không phát
triển, phải được truyền máu thải sắt thường
xuyên nên rất khó lao động kiếm sống Hàng
năm, theo thống kê của Ngân hàng máu -
bệnh viện Truyền máu Huyết học thì lượng
chế phẩm máu hồng cầu lắng cung cấp cho
người bệnh Thalassemia chiếm hơn một phần mười tổng lượng máu cung cấp cho tất
cả các loại bệnh (2) Đặc biệt, vấn đề mà tất cả người nhà bệnh nhi quan tâm nhất hiện nay đó là làm sao để điều trị được bệnh Thalassemia và phòng ngừa chủ động cho những lần sinh con khoẻ mạnh tiếp theo Theo thống kê tại Bệnh viện
Đa khoa Trung tâm Tiền Giang có khoảng
100 bệnh nhân bị bệnh về máu đến khám bệnh trong đó khoảng 1/3 cháu bị bệnh về hemoglobin chiếm chủ yếu là bệnh Thalassemia Bệnh viện đã có những nỗ lực nhất định về chẩn đoán sớm và điều trị bệnh Thalassemia nhưng hiệu quả điều trị còn chưa như mong muốn, việc điều trị còn gặp nhiều khó khăn tốn kém, bên cạnh đó chúng tôi có rất ít nghiên cứu về bệnh này, việc chăm sóc đúng cách bệnh nhân Thalassemia
là vô cùng cần thiết, giáo dục sức khỏe cộng đồng cho người dân (đặc biệt là người mẹ, bảo mẫu chăm sóc trẻ trực tiếp) hiểu biết về bệnh Thalassemie cũng góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống và chất lượng nòi giống dân tộc, chúng tôi tiến hành một cuộc khảo sát về kiến thức, thái độ thực hành chăm sóc của các bà mẹ có con đang điều trị tại khoa nhi thu thập số liệu để làm cơ sở nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nầy
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỷ lệ các nguồn thông tin về bệnh Thalassemia mà các bà mẹ được cung cấp
Trang 3Xác định tỉ lệ các bà mẹ có kiến thức
đúng: về bệnh Thalassemia, về điều trị và về
cách truyền bệnh
Xác định tỉ lệ các bà mẹ có thái độ chấp
nhận: tái khám định kỳ cho con, các phản
ứng có thể xảy ra với con mình khi truyền
máu và xét nghiệm cho các con khác
Xác định tỉ lệ các bà mẹ thực hành đúng:
đi tái khám theo định kỳ cho con, và đã làm
xét nghiệm cho các con khác
Xác định mối liên quan giữa thực hành đi
tái khám đúng theo định kỳ với các đặc điểm
của mẹ, kiến thức và thái độ
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Dân số chọn mẫu
Những mẹ, cha, người chăm sóc có con bị
Thalassemia được chẩn đoán và điều trị tại
khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền
Giang từ ngày 01/01/2021 đến ngày
31/8/2021
Tiêu chuẩn lựa chọn
Tất cả các cha, mẹ, người chăm sóc có
con nhập khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa Trung
tâm Tiền Giang được chẩn đoán và điều trị
bệnh Thalassemia trong thời gian nghiên cứu
đồng ý tham gia nghiên cứu Là người trực
tiếp chăm sóc bệnh nhân ở nhà và tại bệnh
viện
Tiêu chuẩn loại trừ
Những cha, mẹ, người chăm sóc không
thể trả lời phỏng vấn được như: không hiểu
rõ tiếng Việt, câm, điếc, bệnh tâm thần
Những cha, mẹ, người chăm sóc trẻ bị thiếu
máu tán huyết chưa có chẩn đoán xác định
theo khoa là Thalassemia
Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Cỡ mẫu
Lấy toàn bộ
Thu thập số liệu
Các thông tin được ghi vào phiếu điều tra
Sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp
Các bước tiến hành
Lấy tất cả những trường hợp phù hợp theo tiêu chí chọn bệnh trong thời gian nghiên cứu Các trường hợp bệnh nhân nhập viện nhiều lần trong thời gian nghiên cứu chỉ phỏng vấn lần đầu nhập viện Sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp ghi nhận các đặc điểm dịch tễ, đánh giá về kiến thức bệnh đúng, xác định tỉ lệ thực hành đúng và thái
độ chấp nhận tái khám định kỳ cho con, xét nghiệm cho con các con khác…
Xử trí số liệu
Các số liệu sẽ được mã hóa, nhập liệu và phân tích theo phương pháp thống kê y học, lập bảng vẽ biểu đồ, sử dụng các phần mềm EpiData Manager; Stata 16; Microsoft office
365
Y ĐỨC
Nghiên cứu đã được hội đồng Y đức bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang thông qua, số 1953/QĐ-SYT
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/8/2021 có 44 trường hợp thỏa đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu của chúng tôi, ghi nhận kết quả như sau:
Trang 4Bảng 1 Đặc điểm dịch tễ học của đối tượng nghiên cứu (N=44)
Nhóm tuổi
Số con
Học vấn
Nghề nghiệp
Nhận xét: Tuổi trung bình của các bà mẹ trong nghiên cứu là 36,64 ± 6,53 tuổi, tuổi nhỏ
nhất là 27 tuổi, lớn nhất là 52 tuổi Nhóm tuổi từ 30-40 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là 56,82% 52,37% có 1 con, 59,54% các bà mẹ có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên, mù chữ chiếm 4,55% 43,18% có nghề nghiệp là công nhân, nông dân
Biểu đồ 1 Các nguồn thông tin cung cấp (N=44)
Trang 5Nhận xét: Nguồn thông tin cung cấp chủ yếu cho các bà mẹ trong nghiên cứu của chúng
tôi chủ yếu đến từ thân nhân của bệnh nhi khác, tiếp theo là các nguồn thông tin từ nhân viên
y tế và phương tiện thông tin truyền thông
Bảng 2 Kiến thức của các bà mẹ về bệnh Thalassemia (N=44)
Biết bệnh diễn tiến mạn tính, suốt đời 25 (56,82) 19 (43,18)
Biết xét nghiệm để chần đoán bệnh 11 (25,00) 33 (75,00)
Nhận xét: Tỉ lệ các bà mẹ có kiến thức đúng về bệnh chiếm 52,27 %, trong đó biết tên
bệnh là Thalassemia chiếm 70,45%, biết nguyên nhân gây bệnh là 45,45%, biết bệnh diễn tiến mạn tính, suốt đời là 56,82%, biết dấu hiệu lâm sàng bệnh là 65,91%, biết xét nghiệm để chẩn đoán bệnh là 25%
Bảng 3 Kiến thức của các bà mẹ về bệnh Thalassemia (N=44)
Biết truyền máu và thải sắt là điều trị chính yếu 17 (38,64) 27 (61,36)
Biết định kỳ tái khám của trẻ 32 (72,73) 12 (27,27) Biết mức độ nguy hiểm của bệnh khi không tái khám 30 (68,18) 14 (31,82)
Kiến thức đúng về điều trị bệnh 20 (45,45) 24 (54,55)
Nhận xét: Tỉ lệ các bà mẹ có kiến thức đúng về điều trị chiếm 45,45 %, trong đó biết
truyền máu và thải sắt là điều trị chính yếu chiếm 38,64%, biết phản ứng khi truyền máu là 34,09%, biết định kỳ tái khám của trẻ là 72,73%, biết mức độ nguy hiểm của bệnh khi không tái khám là 68,18%
Bảng 4 Thái độ chấp nhận tái khám, phản ứng xảy ra khi truyền máu và xét nghiệm cho các con khác (N=44)
Chấp nhận phản ứng xảy ra khi truyền máu 27 (61,36) 17 (38,64)
Nhận xét: Tỷ lệ chấp nhận việc tái khám đúng định kỳ mỗi 4 – 6 tuần/lần hoặc theo lịch
hẹn là 63,64% Tỷ lệ chấp nhận con mình có thể có phản ứng khi truyền máu là 61,36%, tỷ lệ chấp nhận làm xét nghiệm chẩn đoán bệnh cho các con khác là 65,91%
Trang 6Biểu đồ 2 Thực hành đi tái khám định kì và xét nghiệm cho các con khác (N=44) Nhận xét: Tỷ lệ trẻ được đưa đi tái khám đúng định kỳ là 45,45%, tỉ lệ chưa được đi khám
đầy đủ là 54,55% Tỷ lệ mẹ/ cha (người chăm sóc) thực hành xét nghiệm cho các con khác là
38,64 %, còn lại 61,36% là chưa xét nghiệm hoặc không ý kiến
Bảng 5 Mối liên quan giữa việc thực hành tái khám định kì với đặc điểm mẫu, kiến thức và thái độ (N=44)
Tuổi mẹ
0,205
Trình độ học vấn
0,001
Kiến thức đúng về bệnh
0,013
Kiến thức đúng về điều trị
0,018
Thái độ về việc tái khám đúng lúc
0,153
Trang 7Nhận xét: Việc thực hành tái khám định
kì ở bà mẹ dưới 40 tuổi cao gấp 1,68 lần bà
mẹ từ 40 tuổi trở lên, thái độ có chấp nhận về
việc tái khám đúng lúc thì việc thực hành tái
khám định kì cao gấp 1,71 lần so với thái độ
không chấp nhận, sự khác biệt không có ý
nghĩa thống kê với p lần lượt là 0,205 và
0,153 Ở các bà mẹ có trình độ học vấn từ
cấp 3 trở lên thì việc thực hành tái khám định
kì cao gấp 7,5 lần so với các bà mẹ có trình
độ học vấn cấp 1, 2 và mù chữ, có ý nghĩa
thống kê với p < 0,001 Các bà mẹ có kiến
thức đúng về bệnh và điều trị đều có thực
hành tái khám định kì cao gấp 2,5; 2,23 lần
so với có kiến thức không đúng, sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê với p lần lượt là 0,013 và
0,018
IV BÀN LUẬN
Trong thời gian từ ngày 01/01/2011 đến
31/8/2021 chúng tôi khảo sát trên 44 trường
hợp các bà mẹ có con bị Thalassemia nhập
viện tại khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa Trung
tâm Tiền Giang Tuổi trung bình của các bà
mẹ trong nghiên cứu là 36,64 ± 6,53 tuổi,
nhất là 27 tuổi, lớn nhất là 52 tuổi Nhóm
tuổi từ 30-40 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là
56,82%
52,37% có 1 con, 59,54% các bà mẹ có trình
độ học vấn từ cấp 3 trở lên, mù chữ chiếm
4,55%
43,18% có nghề nghiệp là công nhân,
nông dân Theo Nguyễn Thị Túy Hà khảo sát
trên 400 các bà mẹ về dự phòng dị tật bẩm
sinh tại trung tâm chăm sóc sức khỏe tỉnh
Thừa Thiên Huế cho thấy nhóm bà mẹ từ
25-34 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất 53,8%, 29,5% có
trình độ đại học trở lên, nghề nghiệp là cán
bộ, công chức chiếm tỉ lệ cao nhất 38,2%, tiếp theo là buôn bán, nội trợ 31,3% tương tự nghiên cứu của chúng tôi (5)
Nguồn thông thông giữ vai trò chính trong việc cung cấp thông tin cho cha, mẹ, người chăm sóc là các nhân viên y tế, do đây là bệnh chưa được thông tin nhiều trong cộng đồng Nguồn thông tin thứ hai và cũng là nguồn thông tin khó kiểm soát, dễ gây ảnh hưởng nhất khi mà người nghe không có kiến thức và không biết chọn lọc, chính là từ các thân nhân khác Đây là một thông tin tuyên truyền khá hiệu quả và dễ tiếp nhận hơn, do tính chất dễ tiếp nhận nên cũng dễ có sai sót, đặc biệt sai lệch do chọn lựa nguồn tin để cung cấp Nguồn thông tin qua phương tiện thông tin đại chúng chiếm 25%, đa phần
là do thân nhân tự tìm hiểu, đa số có trình độ học vấn cao Nguồn thông tin khác không đáng kể và cũng là nguồn thông tin thứ cấp
từ 3 nguồn trên Vì thế ta chỉ cần kiểm soát được 3 nguồn thông tin trên thì sẽ đạt được hiệu quả
Tỉ lệ các bà mẹ có kiến thức đúng về bệnh chiếm 52,27 %, trong đó biết tên bệnh là Thalassemia chiếm 70,45%, biết nguyên nhân gây bệnh là 45,45%, biết bệnh diễn tiến mạn tính, suốt đời là 56,82%, biết dấu hiệu lâm sàng bệnh là 65,91%, biết xét nghiệm để chẩn đoán bệnh là 25% Tỉ lệ các bà mẹ có kiến thức đúng về điều trị chiếm 45,45 %, trong đó biết truyền máu và thải sắt là điều trị chính yếu chiếm 38,64%, biết phản ứng khi truyền máu là 34,09%, biết định kỳ tái khám của trẻ là 72,73%, biết mức độ nguy hiểm của bệnh khi không tái khám là
Trang 868,18% Theo nghiên cứu của tác giả Lâm
Thị Mỹ trên 120 bà mẹ có con bị
Thalassemia nhập viện tại Bệnh viện Nhi
Đồng 1, tỉ lệ có kiến thức đúng về bệnh trong
nghiên cứu chiếm 70%, kiến thức đúng về
điều trị các bà mẹ còn thấp chiếm 42% Tuy
nhiên có một sự khác biệt giữa có kiến thức
về bệnh (70%) và có kiến thức về cách điều
trị bệnh (42%)(3) Như vậy thể hiện sự quan
tâm không đồng đều của các thân nhân và sự
không tương xứng về thông tin mà các thân
nhân nhận được trong thời gian qua Kiến
thức về bệnh có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều
yếu tố do nội dung luôn được đề cập đến
định kì theo định kỳ hoặc mỗi tháng khi đi
khám, qua nhân viên y tế, các thân nhân của
bệnh nhi khác … Trong khi đó kiến thức về
điều trị bệnh thấp hơn là do đa phần các cha
mẹ cho đó là vai trò của bác sĩ nên họ ít tìm
hiểu và ít có thông tin về điều trị
Thái độ các bậc cha, mẹ (người chăm sóc)
chấp nhận tái khám đúng định kỳ mỗi 4 – 6
tuần/lần hoặc theo lịch hẹn là 63,64%, mặc
dù kiến thức về bệnh (52,27%), và điều trị
bệnh (45,45%) thấp hơn thái độ chấp nhận
tái khám đúng định kỳ (63,64%), cho thấy có
một tỷ lệ các bà mẹ có thái độ chấp nhận
không dựa vào kiến thức của mình Theo lẽ
thông thường thì trước hết phải có kiến thức
sau đó mới có thái độ chấp nhận dựa trên nền
tảng kiến thức được trang bị Tuy nhiên đây
có thể là do niềm tin vào hệ thống y tế và
điều trị, bà mẹ biết rằng truyền máu sẽ giúp
trẻ khỏe mạnh nên chấp nhận dù chưa có
nhiều kiến thức về bệnh hay cách điều trị
phản ứng khi truyền máu là 61,36%, tỷ lệ chấp nhận làm xét nghiệm chẩn đoán bệnh cho các con khác là 65,91% Nghiên cứu của Lâm Thị Mỹ, tỷ lệ chấp nhận xét nghiệm cho các con khác là 53% (3) So với các nghiên cứu khác ở nước ngoài tỉ lệ có thái độ chấp nhận tham gia tầm soát là khá cao 68,5% - 73,3%, điều này có thể giải thích là do tại các nước này đã có chương trình tầm soát hoạt động có hiệu quả cao (7,6)
Tỷ lệ thực hành đúng là 45,45%, tuy có trình độ học vấn hạn chế, công việc khó sắp xếp thời gian, phải đi xa để nhập viện phần đông vẫn thực hành tốt Tỷ lệ mẹ, cha (người chăm sóc) thực hành xét nghiệm cho các con khác là 38,64 %, còn lại 61,36% là chưa xét nghiệm hoặc không ý kiến Việc thực hành tái khám định kì ở bà mẹ dưới 40 tuổi cao gấp 1,68 lần bà mẹ từ 40 tuổi trở lên, thái độ
có chấp nhận về việc tái khám đúng lúc thì việc thực hành tái khám định kì cao gấp 1,71 lần so với thái độ không chấp nhận, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p lần lượt là 0,205 và 0,153 Ở các bà mẹ
có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên thì việc thực hành tái khám định kì cao gấp 7,5 lần so với các bà mẹ có trình độ học vấn cấp 1, 2 và
mù chữ, có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Các bà mẹ có kiến thức đúng về bệnh và điều trị đều có thực hành tái khám định kì cao gấp 2,5; 2,23 lần so với có kiến thức không đúng,
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p lần lượt là 0,013 và 0,018 Kết quả của chúng tôi thấy có liên quan chặt chẽ giữa kiến thức của cha, mẹ, người chăm sóc về cách điều trị
Trang 9khoa học hành vi, trước hết là có kiến thức
tiếp đến sẽ có sự thay đổi về thái độ, niềm tin
rồi đến thực hành Vì vậy để đạt được tỷ lệ
tái khám đúng định kỳ cao thì nên xây dựng
kênh tuyên truyền thông qua truyền thông
đại chúng, thực hiện các sách hướng dẫn để
tăng kiến thức về bệnh
V KẾT LUẬN
Có kiến thức chung đúng về bệnh chiếm
52,27%, kiến thức đúng về điều trị chiếm
45,45% Thái độ chấp nhận tái khám định kỳ
chiếm 63,64% Tỷ lệ chấp nhận con mình có
thể có phản ứng khi truyền máu là 61,36%
Thực hành đi tái khám đúng định kỳ 45,45%
Các bà mẹ có trình độ học vấn cao có thực
hành đi tái khám định kỳ cao hơn, có ý nghĩa
thống kê (p < 0,001) Các bà mẹ có kiến thức
đúng về bệnh và điều trị đều có thực hành tái
khám định kì cao hơn, gấp 2 lần so với các
bà mẹ có kiến thức không đúng, sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2015) Hướng dẫn chẩn đoán và điều
trị bệnh Hemophilia và bệnh Thalassemia
(Quyết định 921/QĐ-BYT 2014 ngày
18/3/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế), tr.12-24
2 Bộ Y tế (2015) Hướng dẫn chẩn đoán và điều
trị một số bệnh lý huyết học (Ban hành kèm
theo Quyết định số 1494/QĐ-BYT ngày
22/4/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế),
tr.100-105
3 Lâm Thị Mỹ, Nguyễn Thị Mai Lan, Lê Bích Liên (2011) "Khảo sát kiến thức, thái độ
và thực hành của các bà mẹ có con bị bệnh thalassemia tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 3 đến 6 năm 2010" Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 15 (1), tr.348-352
4 Nguyễn Thị Mai Lan, Lâm Thị Mỹ (2020)
Bệnh Thalassemia IN Phạm Thị Minh Hồng (Ed.) Nhi khoa tập 1 Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tr.357-374
5 Nguyễn Thị Túy Hà (2015) Khảo sát kiến
thức của phụ nữ độ tuổi từ 15-49 về dự phòng
dị tật bẩm sinh đến khám tại trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2015, Luận văn Thạc sĩ Y tế Công cộng, Đại học Y Dược Huế, 76
6 Aamir Shahzad, Nazia Rafiq, Ikram Ullah, Muhammad Asad, Muhammad Ahmad, Usman Waheed (2017) "Knowledge, Attitude and Practices (KAP) of the families
of β-thalassaemia children in thalassaemia centers of Rawalpindi and Islamabad, Pakistan" Journal of the Pakistan Medical Association, 67, 1434-1437
7 Singh Gurmeet, Mitra Yash, Kaur Kamaldeep, Bhardwaj Kanchan (2019)
"Knowledge, Attitude and Practices of Parents of Thalassemic Children in District Patiala, Punjab, India" Public Health Review: International Journal of Public Health Research, 6 (1)
8 T Taher, K M Musallam, M D Cappellini (2021) "β-Thalassemias" N Engl
J Med, 384 (8), 727-743