Bài viết Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân thủng ổ loét dạ dày tá tràng ở trẻ em khảo sát kết quả phẫu thuật các trường hợp thủng ổ loét dạ dày tá tràng ở trẻ em.
Trang 1NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG
VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN THỦNG Ổ LOÉT DẠ DÀY
TÁ TRÀNG Ở TRẺ EM
Trần Quốc Việt 1 , Nguyễn Minh Ngọc 1 , Trịnh Hữu Tùng 1 , Đặng Minh Xuân 1 , Vũ Trường Nhân 1 , Phạm Ngọc Thạch 1 TÓM TẮT 43
Mục tiêu: Khảo sát kết quả phẫu thuật các
trường hợp thủng ổ loét dạ dày tá tràng (DDTT)
ở trẻ em
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt
trường hợp các trường hợp bệnh nhân đã phẫu
thuật điều trị thủng ổ loét DDTT tại bệnh viện
Nhi đồng 2 từ 1/2015 – 6/2021
Kết quả: Có 18 trường hợp bệnh nhân được
đưa vào nghiên cứu Tuổi trung bình: 13,8 ± 1,9
tuổi Tỷ lệ nam/nữ lần lượt là 72,2% và 27,8%
Tỷ lệ 50% các trường hợp có chẩn đoán trước mổ
là viêm ruột thừa cấp, 27,8% có tình trạng viêm
phúc mạc, và 22,2% là thủng tạng rỗng 100%
các trường hợp được nội soi chẩn đoán, và 2
trường hợp chuyển mổ mở Một trường hợp mổ
mở có nhiễm trùng vết mổ Tất cả các trường hợp
đều cho kết quả tốt: không ghi nhận biến chứng
nặng như tử vong, tắc ruột sau mổ, thủng tái
phát
Kết luận: Thủng ổ loét DDTT là nguyên nhân
không phổ biến gây đau bụng cấp ở trẻ em, tuy
nhiên nên được nghĩ đến ở những bệnh nhân
thiếu niên có biểu hiện đau bụng cấp và đặc biệt
là có tràn khí màng bụng Nội soi ổ bụng vừa
giúp chẩn đoán vừa là phương pháp điều trị an
toàn và hiệu quả
1
Bệnh viện Nhi Đồng 2
Chịu trách nhiệm chính: Trần Quốc Việt
Email: dr.tranquocviet@gmail.com
Ngày nhận bài: 25.8.2022
Ngày phản biện khoa học: 23.9.2022
Từ khóa: Thủng dạ dày tá tràng, loét dạ dày
tá tràng, trẻ em, phẫu thuật nội soi
SUMMARY CLINICAL CHARACTERISTICS AND OUTCOMES OF PATIENTS OPERATED ON FOR PEPTIC ULCER PERFORATION IN CHILDREN: A SINGLE CENTER EXPERIENCES Objectives: To study the surgical results of
peptic ulcer perforation (PUP) in children
Methods: Description of a series of cases of
patients who had surgery to treat PUP at Children's Hospital 2 from January 2015 to June
2021
Results: There were 18 consecutive charts of
patients included in the study Mean age: 13.8 ± 1.9 years old The male/female ratio is 72.2% and 27.8%, respectively The rate of 50% of cases with the preoperative diagnosis was acute appendicitis, 27.8% had peritonitis, and 22.2% was hollow visceral perforation 100% of patients were diagnosed laparoscopically, and 2 cases were converted to open surgery One patient of open surgery had a wound infection All patients had good results: no severe complications, such as death, postoperative intestinal obstruction, or recurrent perforation were recorded
Conclusions: Peptic ulcer perforation is an
uncommon cause of acute abdominal pain in children but should be considered in adolescent patients presenting with acute abdominal pain,
Trang 2especially with pneumoperitoneum Laparoscopy
is both a diagnostic aid and a safe and effective
treatment method
Keywords: peptic ulcer perforation, children,
laparoscopic surgery
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Thủng ổ loét dạ dày tá tràng (DDTT) là
tình trạng cấp cứu cần can thiêp ngoại khoa
khẩn cấp Trước đây, bệnh nhi thường được
mổ mở Với sự phát triển, phẫu thuật nội soi
(PTNS) ngày càng được ứng dụng rộng rãi
và là phương pháp thay thế kỹ thuật mổ mở
kinh điển với nhiều ưu điểm đã được báo
cáo Wong và cộng sự báo cáo kết quả PTNS
điều trị thủng ổ loét DDTT ở trẻ em cho kết
quả tốt và khả thi.[6,5]
Dữ liệu về dịch tễ, tần suất, kết quả điều
trị và các yếu tố nguy cơ ở trẻ em liên quan
đến viêm loét dạ dày có biến chứng thủng dạ
dày chưa được báo cáo nhiều tại Việt Nam
cứu chỉ dừng lại mô tả các báo cáo trường
hợp đơn lẻ và chưa có những nghiên cứu với
cỡ mẫu lớn chính thức công bố về đề tài này
Do vậy, nghiên cứu này nhằm mục đích đánh
giá các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết
quả phẫu thuật cũng như theo dõi sau phẫu
thuật các trường hợp thủng dạ dày do loét
điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 2
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Các tiêu chuẩn chọn bệnh
Tất cả các bệnh nhân đã phẫu thuật điều
trị thủng ổ loét DDTT tại bệnh viện Nhi
đồng 2 từ 1/2015 – 6/2021 Những trường
hợp hồ sơ không đầy đủ theo mẫu nghiên cứu được loại ra khỏi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thiết kế theo phương pháp hồi cứu mô tả loạt trường hợp Hồi cứu lại hồ bệnh nhân được phẫu thuật điều trị thủng ổ loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện Nhi Đồng 2
từ 1/2016 đến 6/2021 Bệnh nhân thỏa tiêu chí chọn mẫu sẽ được đưa vào nghiên cứu Các biến số nghiên cứu thu thập: bệnh sử, tiền căn, đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, các biến số trong quá trình phẫu thuật, biến chứng sau phẫu thuật
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Dữ liệu được kiểm tra, thu thập mã hóa nhập máy tính bằng phần mềm Microsoft Excel (MS Excel), và được phân tích bằng phần mềm SPSS Statistics cho Windows, version 20.0 (SPSS Inc., Chicago, Ill., USA) Thống kê mô tả các biến định lượng và biến định tính Biến số định lượng được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất – lớn nhất
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu này, chúng tôi hồi cứu lại cơ sở dữ liệu và hồ sơ bệnh án tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 1/2015 đến 6/2021 ghi nhận được 18 trường hợp bệnh nhân thủng ổ loét dạ dày tá tràng và được đưa vào nghiên cứu này
Đặc điểm dân số nghiên cứu
Tuổi trung bình của nhóm dân số nghiên cứu: 13,8 ± 1,9 tuổi, khoảng giá trị: [8,9 – 16,3] tuổi Tỷ lệ giới nam và nữ lần lượt là 72,2% và 27,8% (Bảng 1)
Trang 3Đặc điểm lâm sàng
Các đặc điểm lâm sàng thời điểm nhập
viện trước lúc phẫu thuật, tiền căn, và chẩn
đoán trước phẫu thuật được mô tả trong
Bảng 1 Tất cả các trường hợp nhập viện vì
triệu chứng đau bụng, trong đó có 5 trường
hợp bệnh nhân có triệu chứng đau bụng khởi
phát đột ngột vùng thượng vị, cường độ dữ
dội Còn lại, 13 trường hợp bệnh nhân có
triệu chứng đau quanh rốn, sau đó lan nhanh
đau vùng hố chậu phải hoặc khắp bụng
44,4% các trường hợp bệnh nhân có triệu chứng sốt
Đặc điểm chẩn đoán trước phẫu thuật được mô tả trong Bảng 2 Tỷ lệ 50% các trường hợp có chẩn đoán trước mổ là viêm ruột thừa cấp, 27,8% các trường hợp có biểu hiện lâm sàng là tình trạng bụng ngoại khoa viêm phúc nghi ngờ do VRT có biến chứng Chỉ có 22,2% các trường hợp được chẩn đoán trước mổ là thủng tạng rỗng
Bảng 1 Đặc điểm dịch tể và lâm sàng của dân số nghiên cứu (n=18)
Tuổi lúc phẫu thuật
- Trung bình SD (năm)
- Khoảng giá trị
13,8 ± 1,9 [8,9 – 16,3]
Giới (n,%)
- Nam
- Nữ
13 (72,2)
5 (27,8)
Triệu chứng lâm sàng thời điểm nhập viện (n,%)
- Đau bụng
- Sốt
- Nôn, buồn nôn
- Xuất huyết tiêu hoá
18 (100)
8 (44,4)
2 (11,1)
0
Tiền căn
- Dùng NSAIDS
- Viêm dạ dày tá tràng
N/A
4 (22,2)
Chẩn đoán trước phẫu thuật (n,%)
- Thủng tạng rỗng
- Viêm phúc mạc nghĩ do viêm ruột thừa
- Viêm ruột thừa cấp
4 (22,2)
5 (27,8)
9 (50,0)
Ghi chú: N/A (no available): không ghi
nhận
Đặc điểm kết quả cận lâm sàng trước
lúc phẫu thuật
Đặc điểm cận lâm sàng lúc nhập viện
được mô tả trong Bảng 2 Số lượng bạch cầu
trong máu trung bình của bệnh nhân là 16,7
± 5,2 K/µL Chỉ số CRP-hs trong huyết thanh trung bình 17,2 ± 14,8 Nhìn chung, các trường hợp bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng
Tỷ lệ bệnh nhân được chụp XQ bụng không sữa soạn trước phẫu thuật là 10/18
Trang 4trường hợp Trong đó, 4/10 trường hợp có
ghi nhận hình ảnh liềm hơi dưới hoành rõ
Đặc điểm siêu âm bụng trước mổ ghi
nhận 22,2% trường hợp bệnh nhân có kết
quả theo dõi tình trạng viêm ruột thừa, 44,4% có dịch tự do trong ổ bụng, và có 1 trường hợp (2,2%) thấy hình ảnh hơi tự do trong ổ bụng
Bảng 2 Đặc điểm cận lâm sàng lúc nhập viện của dân số nghiên cứu
Bạch cầu/ máu, (K/µL)
- TB ± SD
- Khoảng giá trị
16,7 ± 5,2 [7,0 - 32,3]
Hematocrit, (L/L)
- TB ± SD
- Khoảng giá trị
38,1 ± 4,9 [27,6 - 45,6]
Hemoglobin, (g/L)
- TB ± SD
- Khoảng giá trị
12,0 ± 2,0 [8,1 – 16,3]
C- reative protein (CRP-hs), (mg/dL)
- TB ± SD
- Khoảng giá trị
17,2 ± 14,8 [3,3 – 55.0]
X quang bụng đứng không sữa soạn (N=10), (%, n/N)
- Hình ảnh liềm hơi dưới hoành
- Tắc ruột
40,0 (4/10)
0
Đặc điểm phẫu thuật và kết quả điều
trị sau phẫu thuật
Đặc điểm phẫu thuật và kết quả điều trị
sau phẫu thuật được mô tả trong Bảng 3
Kích thước lỗ thủng trung bình 0,6 ± 0,2 cm
Vị trí thủng của ổ loét thường gặp ở vị trí
tiền môn vị Tỷ lệ viêm ruột thừa cấp kèm
theo, cắt ruột thừa trong lúc phẫu thuật là
6/18 trường hợp (33,3%) Có 2 trường hợp
bệnh nhân được nội soi thám sát chẩn đoán
và chuyển mổ mở để khâu lỗ thủng Còn lại
16/18 trường hợp được phẫu thuật bằng
phương pháp nội soi ổ bụng Trong đó, có
3/16 trường hợp có phủ miệng khâu lỗ thủng
bằng mạc nối lớn (Hình 1)
Thời gian phẫu thuật trung bình của nhóm
mổ nội soi là 110,0 ± 35,1 phút so với 135,0
± 49,5 phút ở nhóm phẫu thuật hở Thời gian nhịn ăn đường miệng trung bình là 4,5 ± 1,2 ngày ở nhóm mổ nội soi và nhóm phẫu thuật
mở là 5.0 ± 1.5 ngày Thời gian nằm viện ở 2 nhóm là 7,6 ± 2,1 ngày so với 5,0 ± 1,5 ngày
ở lần lượt nhóm mổ nội soi và mổ mở
Kết quả vi sinh và giải phẫu bệnh
Xét nghiệm Clo test trong lúc mổ ở 3 trường hợp đều cho kết quả âm tính 15/15 trường hợp có gửi kết quả giải phẫu bệnh đều cho kết quả viêm mạn tính
Trang 5Bảng 3 Đặc điểm phẫu thuật và theo dõi sau phẫu thuật bệnh nhân tham gia nghiên cứu
Vị trí lỗ thủng (%, n/N)
- Tiền môn vị
- Hành tá tràng
77,8 (14/18) 22,2 (4/18)
Tổn thương kèm theo, (%, n/N)
- Viêm ruột thừa cấp
- Khác
33,3 (6/18)
0
Phương pháp phẫu thuật, (%, n/N)
- Mổ hở
- Mổ nội soi
11,1 (2/18) 88,9 (16/18)
Thời gian phẫu thuật, (TB ± SD, phút)
- Mổ nội soi
- Mổ mở
110,0 ± 35,1 135,0 ± 49,5
Thời gian nhịn cho ăn lại đường miệng, (TB ± SD, ngày)
- Mổ nội soi
- Mổ mở
4,5 ± 1,2 5,0 ± 1,5
Thời gian nằm viện, (TB ± SD, ngày)
- Mổ nội soi
- Mổ mở
7,6 ± 2,1 7,5 ± 0,9
Kháng sinh điều trị sau phẫu thuật (%)
- Cephalosporin 3 + metronidazol
- Cephalosporin 3 + metronidazol + aminoglicosid
22,2 72,8
Xét nghiệm Clo test mô bệnh phẩm trong, (%, n/N)
- Dương
- Âm
- Không làm
0 16,7 (3/18) 83,3 (15/18)
Kết quả giải phẫu bệnh, (%, n/N)
- Hình ảnh HP/ nhuộm HE
- Viêm cấp tính
- Viêm mạn tính
- Viêm teo
- Quá sản
- Loạn sản
0
0
100 (15/15)
0
0
0
Biến chứng sau phẫu thuật, (%, n/N)
- Tắc ruột
- Nhiễm trùng huyết
- Xì lỗ thủng
- Nhiễm trùng vết mổ
0
0
0 5,6 (1/18)
Trang 6IV BÀN LUẬN
Bệnh lý loét DDTT ít gặp ở trẻ em, số liệu
còn ít được báo cáo và có tần suất thống kê
chung hằng năm giao động từ 1,5- 3% Biến
chứng thủng ổ loét DDTT là tình trạng ngoại
khoa nặng, có tỷ lệ tử vong chung từ 1,3% -
20% tại Mỹ.[3] Các báo cáo trong y văn ghi
nhận bệnh thường gặp ở trẻ trai hơn trẻ gái
và ở trẻ lớn trên 10 tuổi
Tại Việt Nam chưa có ghi nhận báo cáo
chính thức bệnh thủng ổ loét DDTT ở trẻ em,
các nghiên cứu chủ yếu là các báo cáo ca lâm
sàng, hoặc ở bệnh nhân người lớn Trong
nghiên cứu của chúng tôi từ 1/2015 đến
1/2021, ghi nhận 18 trường hợp bệnh nhi có
biến chứng thủng ổ loét DDTT Tuổi trung
bình của nhóm dân số nghiên cứu: 13,8 ± 1,9
tuổi, khoảng giá trị: [8,9 – 16,3] tuổi Tỷ lệ
nam thường gặp hơn nữ, lần lượt là 72,2%
và 27,8% (Bảng 1)
Hua và công sự mô tả 52 bệnh nhân bị
thủng ổ loét DDTT, 90% bệnh nhân là thanh
thiếu niên, nam chiếm 80% Tuổi trung bình
là 14,2 tuổi.[7] Một công bố năm 1988, trong
36 bệnh nhân bị bệnh loét DDTT ở độ tuổi từ
6 đến 18 tuổi, đã lưu ý rằng trẻ em dưới 10
tuổi, tất cả các trường hợp loét DDTT là thứ
phát với các nguyên nhân như: do điều trị
dùng thuốc, bệnh nhi có bệnh lý nội khoa
nặng, hoặc tăng áp lực nội sọ Bệnh nhân
hơn 10 tuổi thì có tỷ lệ tái phát cao (67%)
Như vậy các đặc điểm về tuổi và giới
trong nghiên cứu của chúng tôi khá tương
đồng với báo cáo của tác giả trong y văn
Một nghiên cứu hồi cứu lớn kiểm tra dữ liệu
từ 20 năm đã quan sát thấy ngày càng nhiều
trường hợp thủng ổ loét DDTT trong dân số
trẻ em và xác định tuổi > 10 và giới tính nam
là các yếu tố nguy cơ Trong y văn các tác giả báo cáo tuổi trung bình giao động từ 7-16 tuổi.[6,5]
Trong nghiên cứu của chúng tôi, triệu chứng lâm sàng thời điểm bệnh nhân nhập viện chủ yếu là đau bụng Cơn đau bụng điểm hình của thủng tạng rỗng chiếm tỷ lệ thấp Tỷ lệ nhập viện và có chỉ định phẫu thuật cấp cứu chủ yếu là viêm phúc mạc, chưa loại trừ nguyên nhân do viêm ruột thừa
Do vậy, trên thực hành lậm sàng, tỷ lệ khác biệt giữa chẩn đoán trước và sau mổ khá cao trong nghiên cứu của chúng tôi Một số các báo cáo có ghi nhận tình trạng viêm ruột thừa kèm theo Các tác giả cho rằng viêm ruột thừa là điều kiện kích hoạt thủng ổ loét DDTT, trong khi đó một số tác giả khác ghi nhận ruột thừa viêm chỉ là thứ phát sau thủng DDTT.[7,3]
Tất cả các trường hợp nhập viện vì triệu chứng đau bụng, trong đó có 5 trường hợp bệnh nhân có triệu chứng đau bụng khởi phát đột ngột vùng thượng vị, cường độ dữ dội Còn lại, 13 trường hợp bệnh nhân có triệu chứng đau quanh rốn, sau đó lan nhanh đau vùng hố chậu phải hoặc khắp bụng 44,4% các trường hợp bệnh nhân có triệu chứng sốt (Bảng 1)
Tỷ lệ ghi nhận tiền căn sử dụng thuốc trong nghiên này còn rất hạn chế Do đây là nghiên cứu hồi cứu 4/18 BN có ghi nhận điều trị viêm dạ dày trước đó, không rõ thuốc
đã dùng, thời gian điều trị, tuân thủ phát đồ, cũng như những thuốc khác đã dùng kèm theo
Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu thời điểm nhập viện ghi nhận tình trạng tỷ lệ tăng bạch cầu khá cao 16,7 ± 5,2 K/µL Chỉ
Trang 7số CRP-hs trong huyết thanh trung bình 17,2
± 14,8 mg/L Nhìn chung, các trường hợp
bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng Phù
hợp với bệnh cảnh nhiễm trùng nặng và có
biểu hiện viêm phúc mạc toàn thể ở 50%
trường hợp các bệnh nhân thời điểm chẩn
đoán trước phẫu thuật (22,2% có chẩn đoán
viêm phúc mạc do thủng tạng rỗng và 27,8%
nghĩ do viêm ruột thừa)
Đặc điểm siêu âm trước mổ có tỷ lệ dịch ổ
bụng tương đối cao 44,4% Chỉ có 1 trường
hợp (2,2%) thấy hình ảnh hơi tự do nhiều
trong khoang phúc mạc Tỷ lệ chẩn đoán trên
siêu âm theo dõi viêm ruột thừa cũng tương
đối cao 22,2% với hình ảnh, dịch vùng hố
chậu phải, dày mạc nối, tăng nhẹ kích thước
ruột thừa
Về mặt chẩn đoán hình ảnh học thì
X-Quang là phương tiện thường qui giúp chẩn
đoán với triệu chứng hình ảnh học liềm hơi
dưới hoánh rất kinh điển Trong nghiên cứu
này, liềm hơi dưới hoành chỉ xuất hiện trong
40% (4/10 trường hợp) Tỷ lệ thủng bít, lỗ
thủng nhỏ không có hơi tự do khá cao Tác
giả Hua và cộng sự báo cáo tỷ lệ liềm hơi tự
do dưới hoành là 82,7%.[7]
Mặc dù việc phẫu thuật bằng nội soi đã được mô tả nhiều ở bệnh nhân người lớn, các tài liệu về nhi khoa chỉ giới hạn trong các báo cáo loạt trường hợp Wong và cộng sự
đã ghi nhận những ưu điểm chính của phương pháp nội soi giúp xác định bệnh lý khi chẩn đoán không chắc chắn, cùng với việc tránh đặt nhầm vết mổ ở bụng.[8] Reusens và cộng sự, đã công bố một trường hợp 5 bệnh nhân loạt với kết quả tốt và họ ủng hộ việc phẫu thuật bằng phương pháp nội soi với miếng đắp mạc nối lớn làm tiêu chuẩn cho điều trị thủng ổ loét DDTT ở trẻ
em.[6]
Trong nghiên cứu này, 100% các trường hợp được nội soi chẩn đoán Có 2 trường hợp phải chuyển mở mổ hở vì PTNS khó khăn Một trường hợp mổ mở có nhiễm trùng vết
mổ Tuy nhiên, nhìn chung tất cả các trường hợp đều cho kết quả tốt Không có các biến chứng nặng, nguy hiểm khác như tử vong, tắc ruột sau mổ Đặc biệt, có 3 trường hợp có
sử dụng đắp mạc nối lớn vào ổ loét (Hình 1).[6]
Hình 6 Phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng ổ loét hành tá tràng có
sử dụng kỹ thuật đắp mạc nối lớn
Trang 8Về đặc điểm phẫu thuật, nghiên cứu ghi
nhận thời gian phẫu thuật ở nhóm mổ nội soi
ngắn hơn so với nhóm chuyển mổ hở Ghi
nhận tương tự ở đặc điểm thời gian cho ăn lại
đường miệng và thời gian nằm viện
Nhìn chung, PTNS điều trị thủng ổ loét
DDTT ở trẻ em được chứng minh qua các
báo cáo tính hiệu quả, an toàn với các ưu
điểm như: ít đau, tính thẩm mỹ cao, thời gian
phục hồi nhanh chóng, thời gian cho ăn lại
đường miệng và cũng như thời gian nằm
viện tương đối ngắn hơn so với nhóm mổ
Hiện nay, với sự phát triển và những ứng
dụng các phương pháp điều trị mới trong
bệnh loét DDTT như các thuốc ức chế bơm
proton, điều trị tiệt căn H pylori là giảm tỷ lệ
tái phát của loét DDTT.[4] Tuy nhiên, cũng
mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới chẳng
hạn như vai trò của H pylori trong việc thúc
đẩy tiến triển bệnh, đặc biệt ở những quốc
gia đang phát triển có tần suất nhiễm H
Pylori khá cao
V KẾT LUẬN
Phẫu thuật nội soi ổ bụng giúp ích trong
việc chẩn đoán và điều trị biến chứng thủng
ổ loét DDTT Theo nghiên cứu này, tỷ lệ
chẩn đoán thủng tạng rỗng trước mổ còn
tương đối khiêm tốn trên thực tế lâm sàng
Tuy nhiên vai trò của nội soi ổ bụng với ưu
điểm ít xâm lấn giúp chẩn đoán chính xác và
điều trị hiệu quả
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Văn Ngoan (2004), Nghiên cứu đặc
điểm lâm sàng, nội soi, mô bệnh học và kết
quả điều trị viêm dạ dày mạn tính có nhiễm
Helicobacter pylori ở trẻ em, Luận án tiến sỹ
y học, số Đại học Y Hà Nội
2 Tăng Lê Châu Ngọc (2018), Đặc điểm đề
kháng kháng sinh và đáp ứng điều trị trên trẻ viêm dạ dày do Helicobacter Pylori, Khoa Y, Đại Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh
3 A S Munoz Abraham, H Osei, A Martino, S Kazmi, S Saxena, C M Fitzpatrick, và G A Villalona (2019),
Incidence and Outcomes of Perforated Peptic Ulcers in Children: Analysis of the Kid's Inpatient Database and Report of Two Cases Treated by Laparoscopic Omental Patch Repair, J Laparoendosc Adv Surg Tech A, số 29(2), tr 248-255
4 C Noguiera, A S Silva, J N Santos, A G Silva, J Ferreira, E Matos, và H Vilaça (2003), Perforated peptic ulcer: main factors
of morbidity and mortality, World J Surg, số 27(7), tr 782-7
5 C W Wong, P H Chung, P K Tam, và
K K Wong (2015), Laparoscopic versus
open operation for perforated peptic ulcer in pediatric patients: A 10-year experience, J
Pediatr Surg, số 50(12), tr 2038-40
6 H Reusens, M Dassonville, và H Steyaert (2017), Laparoscopic Repair for Perforated
Peptic Ulcer in Children, Eur J Pediatr Surg,
số 27(3), tr 251-254
7 M C Hua, M S Kong, M W Lai, và C
C Luo (2007), Perforated peptic ulcer in
children: a 20-year experience, J Pediatr Gastroenterol Nutr, số 45(1), tr 71-4
8 W T Siu, C H Chau, B K Law, C N Tang, P Y Ha, và M K Li (2004), Routine
use of laparoscopic repair for perforated peptic ulcer, Br J Surg, số 91(4), tr 481-4