1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân thủng ổ loét dạ dày tá tràng ở trẻ em

8 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân thủng ổ loét dạ dày tá tràng ở trẻ em
Tác giả Trần Quốc Việt, Nguyễn Minh Ngọc, Trịnh Hữu Tựng, Đặng Minh Xuyên, Vũ Trường Nhön, Phạm Ngọc Thạch
Trường học Bệnh viện Nhi Đồng 2
Chuyên ngành Chuyên Khoa Nhi
Thể loại Nghiên cứu y học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 520,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân thủng ổ loét dạ dày tá tràng ở trẻ em khảo sát kết quả phẫu thuật các trường hợp thủng ổ loét dạ dày tá tràng ở trẻ em.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG

VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN THỦNG Ổ LOÉT DẠ DÀY

TÁ TRÀNG Ở TRẺ EM

Trần Quốc Việt 1 , Nguyễn Minh Ngọc 1 , Trịnh Hữu Tùng 1 , Đặng Minh Xuân 1 , Vũ Trường Nhân 1 , Phạm Ngọc Thạch 1 TÓM TẮT 43

Mục tiêu: Khảo sát kết quả phẫu thuật các

trường hợp thủng ổ loét dạ dày tá tràng (DDTT)

ở trẻ em

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt

trường hợp các trường hợp bệnh nhân đã phẫu

thuật điều trị thủng ổ loét DDTT tại bệnh viện

Nhi đồng 2 từ 1/2015 – 6/2021

Kết quả: Có 18 trường hợp bệnh nhân được

đưa vào nghiên cứu Tuổi trung bình: 13,8 ± 1,9

tuổi Tỷ lệ nam/nữ lần lượt là 72,2% và 27,8%

Tỷ lệ 50% các trường hợp có chẩn đoán trước mổ

là viêm ruột thừa cấp, 27,8% có tình trạng viêm

phúc mạc, và 22,2% là thủng tạng rỗng 100%

các trường hợp được nội soi chẩn đoán, và 2

trường hợp chuyển mổ mở Một trường hợp mổ

mở có nhiễm trùng vết mổ Tất cả các trường hợp

đều cho kết quả tốt: không ghi nhận biến chứng

nặng như tử vong, tắc ruột sau mổ, thủng tái

phát

Kết luận: Thủng ổ loét DDTT là nguyên nhân

không phổ biến gây đau bụng cấp ở trẻ em, tuy

nhiên nên được nghĩ đến ở những bệnh nhân

thiếu niên có biểu hiện đau bụng cấp và đặc biệt

là có tràn khí màng bụng Nội soi ổ bụng vừa

giúp chẩn đoán vừa là phương pháp điều trị an

toàn và hiệu quả

1

Bệnh viện Nhi Đồng 2

Chịu trách nhiệm chính: Trần Quốc Việt

Email: dr.tranquocviet@gmail.com

Ngày nhận bài: 25.8.2022

Ngày phản biện khoa học: 23.9.2022

Từ khóa: Thủng dạ dày tá tràng, loét dạ dày

tá tràng, trẻ em, phẫu thuật nội soi

SUMMARY CLINICAL CHARACTERISTICS AND OUTCOMES OF PATIENTS OPERATED ON FOR PEPTIC ULCER PERFORATION IN CHILDREN: A SINGLE CENTER EXPERIENCES Objectives: To study the surgical results of

peptic ulcer perforation (PUP) in children

Methods: Description of a series of cases of

patients who had surgery to treat PUP at Children's Hospital 2 from January 2015 to June

2021

Results: There were 18 consecutive charts of

patients included in the study Mean age: 13.8 ± 1.9 years old The male/female ratio is 72.2% and 27.8%, respectively The rate of 50% of cases with the preoperative diagnosis was acute appendicitis, 27.8% had peritonitis, and 22.2% was hollow visceral perforation 100% of patients were diagnosed laparoscopically, and 2 cases were converted to open surgery One patient of open surgery had a wound infection All patients had good results: no severe complications, such as death, postoperative intestinal obstruction, or recurrent perforation were recorded

Conclusions: Peptic ulcer perforation is an

uncommon cause of acute abdominal pain in children but should be considered in adolescent patients presenting with acute abdominal pain,

Trang 2

especially with pneumoperitoneum Laparoscopy

is both a diagnostic aid and a safe and effective

treatment method

Keywords: peptic ulcer perforation, children,

laparoscopic surgery

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Thủng ổ loét dạ dày tá tràng (DDTT) là

tình trạng cấp cứu cần can thiêp ngoại khoa

khẩn cấp Trước đây, bệnh nhi thường được

mổ mở Với sự phát triển, phẫu thuật nội soi

(PTNS) ngày càng được ứng dụng rộng rãi

và là phương pháp thay thế kỹ thuật mổ mở

kinh điển với nhiều ưu điểm đã được báo

cáo Wong và cộng sự báo cáo kết quả PTNS

điều trị thủng ổ loét DDTT ở trẻ em cho kết

quả tốt và khả thi.[6,5]

Dữ liệu về dịch tễ, tần suất, kết quả điều

trị và các yếu tố nguy cơ ở trẻ em liên quan

đến viêm loét dạ dày có biến chứng thủng dạ

dày chưa được báo cáo nhiều tại Việt Nam

cứu chỉ dừng lại mô tả các báo cáo trường

hợp đơn lẻ và chưa có những nghiên cứu với

cỡ mẫu lớn chính thức công bố về đề tài này

Do vậy, nghiên cứu này nhằm mục đích đánh

giá các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết

quả phẫu thuật cũng như theo dõi sau phẫu

thuật các trường hợp thủng dạ dày do loét

điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 2

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Các tiêu chuẩn chọn bệnh

Tất cả các bệnh nhân đã phẫu thuật điều

trị thủng ổ loét DDTT tại bệnh viện Nhi

đồng 2 từ 1/2015 – 6/2021 Những trường

hợp hồ sơ không đầy đủ theo mẫu nghiên cứu được loại ra khỏi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thiết kế theo phương pháp hồi cứu mô tả loạt trường hợp Hồi cứu lại hồ bệnh nhân được phẫu thuật điều trị thủng ổ loét dạ dày tá tràng tại bệnh viện Nhi Đồng 2

từ 1/2016 đến 6/2021 Bệnh nhân thỏa tiêu chí chọn mẫu sẽ được đưa vào nghiên cứu Các biến số nghiên cứu thu thập: bệnh sử, tiền căn, đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, các biến số trong quá trình phẫu thuật, biến chứng sau phẫu thuật

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Dữ liệu được kiểm tra, thu thập mã hóa nhập máy tính bằng phần mềm Microsoft Excel (MS Excel), và được phân tích bằng phần mềm SPSS Statistics cho Windows, version 20.0 (SPSS Inc., Chicago, Ill., USA) Thống kê mô tả các biến định lượng và biến định tính Biến số định lượng được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất – lớn nhất

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong nghiên cứu này, chúng tôi hồi cứu lại cơ sở dữ liệu và hồ sơ bệnh án tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 1/2015 đến 6/2021 ghi nhận được 18 trường hợp bệnh nhân thủng ổ loét dạ dày tá tràng và được đưa vào nghiên cứu này

Đặc điểm dân số nghiên cứu

Tuổi trung bình của nhóm dân số nghiên cứu: 13,8 ± 1,9 tuổi, khoảng giá trị: [8,9 – 16,3] tuổi Tỷ lệ giới nam và nữ lần lượt là 72,2% và 27,8% (Bảng 1)

Trang 3

Đặc điểm lâm sàng

Các đặc điểm lâm sàng thời điểm nhập

viện trước lúc phẫu thuật, tiền căn, và chẩn

đoán trước phẫu thuật được mô tả trong

Bảng 1 Tất cả các trường hợp nhập viện vì

triệu chứng đau bụng, trong đó có 5 trường

hợp bệnh nhân có triệu chứng đau bụng khởi

phát đột ngột vùng thượng vị, cường độ dữ

dội Còn lại, 13 trường hợp bệnh nhân có

triệu chứng đau quanh rốn, sau đó lan nhanh

đau vùng hố chậu phải hoặc khắp bụng

44,4% các trường hợp bệnh nhân có triệu chứng sốt

Đặc điểm chẩn đoán trước phẫu thuật được mô tả trong Bảng 2 Tỷ lệ 50% các trường hợp có chẩn đoán trước mổ là viêm ruột thừa cấp, 27,8% các trường hợp có biểu hiện lâm sàng là tình trạng bụng ngoại khoa viêm phúc nghi ngờ do VRT có biến chứng Chỉ có 22,2% các trường hợp được chẩn đoán trước mổ là thủng tạng rỗng

Bảng 1 Đặc điểm dịch tể và lâm sàng của dân số nghiên cứu (n=18)

Tuổi lúc phẫu thuật

- Trung bình  SD (năm)

- Khoảng giá trị

13,8 ± 1,9 [8,9 – 16,3]

Giới (n,%)

- Nam

- Nữ

13 (72,2)

5 (27,8)

Triệu chứng lâm sàng thời điểm nhập viện (n,%)

- Đau bụng

- Sốt

- Nôn, buồn nôn

- Xuất huyết tiêu hoá

18 (100)

8 (44,4)

2 (11,1)

0

Tiền căn

- Dùng NSAIDS

- Viêm dạ dày tá tràng

N/A

4 (22,2)

Chẩn đoán trước phẫu thuật (n,%)

- Thủng tạng rỗng

- Viêm phúc mạc nghĩ do viêm ruột thừa

- Viêm ruột thừa cấp

4 (22,2)

5 (27,8)

9 (50,0)

Ghi chú: N/A (no available): không ghi

nhận

Đặc điểm kết quả cận lâm sàng trước

lúc phẫu thuật

Đặc điểm cận lâm sàng lúc nhập viện

được mô tả trong Bảng 2 Số lượng bạch cầu

trong máu trung bình của bệnh nhân là 16,7

± 5,2 K/µL Chỉ số CRP-hs trong huyết thanh trung bình 17,2 ± 14,8 Nhìn chung, các trường hợp bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng

Tỷ lệ bệnh nhân được chụp XQ bụng không sữa soạn trước phẫu thuật là 10/18

Trang 4

trường hợp Trong đó, 4/10 trường hợp có

ghi nhận hình ảnh liềm hơi dưới hoành rõ

Đặc điểm siêu âm bụng trước mổ ghi

nhận 22,2% trường hợp bệnh nhân có kết

quả theo dõi tình trạng viêm ruột thừa, 44,4% có dịch tự do trong ổ bụng, và có 1 trường hợp (2,2%) thấy hình ảnh hơi tự do trong ổ bụng

Bảng 2 Đặc điểm cận lâm sàng lúc nhập viện của dân số nghiên cứu

Bạch cầu/ máu, (K/µL)

- TB ± SD

- Khoảng giá trị

16,7 ± 5,2 [7,0 - 32,3]

Hematocrit, (L/L)

- TB ± SD

- Khoảng giá trị

38,1 ± 4,9 [27,6 - 45,6]

Hemoglobin, (g/L)

- TB ± SD

- Khoảng giá trị

12,0 ± 2,0 [8,1 – 16,3]

C- reative protein (CRP-hs), (mg/dL)

- TB ± SD

- Khoảng giá trị

17,2 ± 14,8 [3,3 – 55.0]

X quang bụng đứng không sữa soạn (N=10), (%, n/N)

- Hình ảnh liềm hơi dưới hoành

- Tắc ruột

40,0 (4/10)

0

Đặc điểm phẫu thuật và kết quả điều

trị sau phẫu thuật

Đặc điểm phẫu thuật và kết quả điều trị

sau phẫu thuật được mô tả trong Bảng 3

Kích thước lỗ thủng trung bình 0,6 ± 0,2 cm

Vị trí thủng của ổ loét thường gặp ở vị trí

tiền môn vị Tỷ lệ viêm ruột thừa cấp kèm

theo, cắt ruột thừa trong lúc phẫu thuật là

6/18 trường hợp (33,3%) Có 2 trường hợp

bệnh nhân được nội soi thám sát chẩn đoán

và chuyển mổ mở để khâu lỗ thủng Còn lại

16/18 trường hợp được phẫu thuật bằng

phương pháp nội soi ổ bụng Trong đó, có

3/16 trường hợp có phủ miệng khâu lỗ thủng

bằng mạc nối lớn (Hình 1)

Thời gian phẫu thuật trung bình của nhóm

mổ nội soi là 110,0 ± 35,1 phút so với 135,0

± 49,5 phút ở nhóm phẫu thuật hở Thời gian nhịn ăn đường miệng trung bình là 4,5 ± 1,2 ngày ở nhóm mổ nội soi và nhóm phẫu thuật

mở là 5.0 ± 1.5 ngày Thời gian nằm viện ở 2 nhóm là 7,6 ± 2,1 ngày so với 5,0 ± 1,5 ngày

ở lần lượt nhóm mổ nội soi và mổ mở

Kết quả vi sinh và giải phẫu bệnh

Xét nghiệm Clo test trong lúc mổ ở 3 trường hợp đều cho kết quả âm tính 15/15 trường hợp có gửi kết quả giải phẫu bệnh đều cho kết quả viêm mạn tính

Trang 5

Bảng 3 Đặc điểm phẫu thuật và theo dõi sau phẫu thuật bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Vị trí lỗ thủng (%, n/N)

- Tiền môn vị

- Hành tá tràng

77,8 (14/18) 22,2 (4/18)

Tổn thương kèm theo, (%, n/N)

- Viêm ruột thừa cấp

- Khác

33,3 (6/18)

0

Phương pháp phẫu thuật, (%, n/N)

- Mổ hở

- Mổ nội soi

11,1 (2/18) 88,9 (16/18)

Thời gian phẫu thuật, (TB ± SD, phút)

- Mổ nội soi

- Mổ mở

110,0 ± 35,1 135,0 ± 49,5

Thời gian nhịn cho ăn lại đường miệng, (TB ± SD, ngày)

- Mổ nội soi

- Mổ mở

4,5 ± 1,2 5,0 ± 1,5

Thời gian nằm viện, (TB ± SD, ngày)

- Mổ nội soi

- Mổ mở

7,6 ± 2,1 7,5 ± 0,9

Kháng sinh điều trị sau phẫu thuật (%)

- Cephalosporin 3 + metronidazol

- Cephalosporin 3 + metronidazol + aminoglicosid

22,2 72,8

Xét nghiệm Clo test mô bệnh phẩm trong, (%, n/N)

- Dương

- Âm

- Không làm

0 16,7 (3/18) 83,3 (15/18)

Kết quả giải phẫu bệnh, (%, n/N)

- Hình ảnh HP/ nhuộm HE

- Viêm cấp tính

- Viêm mạn tính

- Viêm teo

- Quá sản

- Loạn sản

0

0

100 (15/15)

0

0

0

Biến chứng sau phẫu thuật, (%, n/N)

- Tắc ruột

- Nhiễm trùng huyết

- Xì lỗ thủng

- Nhiễm trùng vết mổ

0

0

0 5,6 (1/18)

Trang 6

IV BÀN LUẬN

Bệnh lý loét DDTT ít gặp ở trẻ em, số liệu

còn ít được báo cáo và có tần suất thống kê

chung hằng năm giao động từ 1,5- 3% Biến

chứng thủng ổ loét DDTT là tình trạng ngoại

khoa nặng, có tỷ lệ tử vong chung từ 1,3% -

20% tại Mỹ.[3] Các báo cáo trong y văn ghi

nhận bệnh thường gặp ở trẻ trai hơn trẻ gái

và ở trẻ lớn trên 10 tuổi

Tại Việt Nam chưa có ghi nhận báo cáo

chính thức bệnh thủng ổ loét DDTT ở trẻ em,

các nghiên cứu chủ yếu là các báo cáo ca lâm

sàng, hoặc ở bệnh nhân người lớn Trong

nghiên cứu của chúng tôi từ 1/2015 đến

1/2021, ghi nhận 18 trường hợp bệnh nhi có

biến chứng thủng ổ loét DDTT Tuổi trung

bình của nhóm dân số nghiên cứu: 13,8 ± 1,9

tuổi, khoảng giá trị: [8,9 – 16,3] tuổi Tỷ lệ

nam thường gặp hơn nữ, lần lượt là 72,2%

và 27,8% (Bảng 1)

Hua và công sự mô tả 52 bệnh nhân bị

thủng ổ loét DDTT, 90% bệnh nhân là thanh

thiếu niên, nam chiếm 80% Tuổi trung bình

là 14,2 tuổi.[7] Một công bố năm 1988, trong

36 bệnh nhân bị bệnh loét DDTT ở độ tuổi từ

6 đến 18 tuổi, đã lưu ý rằng trẻ em dưới 10

tuổi, tất cả các trường hợp loét DDTT là thứ

phát với các nguyên nhân như: do điều trị

dùng thuốc, bệnh nhi có bệnh lý nội khoa

nặng, hoặc tăng áp lực nội sọ Bệnh nhân

hơn 10 tuổi thì có tỷ lệ tái phát cao (67%)

Như vậy các đặc điểm về tuổi và giới

trong nghiên cứu của chúng tôi khá tương

đồng với báo cáo của tác giả trong y văn

Một nghiên cứu hồi cứu lớn kiểm tra dữ liệu

từ 20 năm đã quan sát thấy ngày càng nhiều

trường hợp thủng ổ loét DDTT trong dân số

trẻ em và xác định tuổi > 10 và giới tính nam

là các yếu tố nguy cơ Trong y văn các tác giả báo cáo tuổi trung bình giao động từ 7-16 tuổi.[6,5]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, triệu chứng lâm sàng thời điểm bệnh nhân nhập viện chủ yếu là đau bụng Cơn đau bụng điểm hình của thủng tạng rỗng chiếm tỷ lệ thấp Tỷ lệ nhập viện và có chỉ định phẫu thuật cấp cứu chủ yếu là viêm phúc mạc, chưa loại trừ nguyên nhân do viêm ruột thừa

Do vậy, trên thực hành lậm sàng, tỷ lệ khác biệt giữa chẩn đoán trước và sau mổ khá cao trong nghiên cứu của chúng tôi Một số các báo cáo có ghi nhận tình trạng viêm ruột thừa kèm theo Các tác giả cho rằng viêm ruột thừa là điều kiện kích hoạt thủng ổ loét DDTT, trong khi đó một số tác giả khác ghi nhận ruột thừa viêm chỉ là thứ phát sau thủng DDTT.[7,3]

Tất cả các trường hợp nhập viện vì triệu chứng đau bụng, trong đó có 5 trường hợp bệnh nhân có triệu chứng đau bụng khởi phát đột ngột vùng thượng vị, cường độ dữ dội Còn lại, 13 trường hợp bệnh nhân có triệu chứng đau quanh rốn, sau đó lan nhanh đau vùng hố chậu phải hoặc khắp bụng 44,4% các trường hợp bệnh nhân có triệu chứng sốt (Bảng 1)

Tỷ lệ ghi nhận tiền căn sử dụng thuốc trong nghiên này còn rất hạn chế Do đây là nghiên cứu hồi cứu 4/18 BN có ghi nhận điều trị viêm dạ dày trước đó, không rõ thuốc

đã dùng, thời gian điều trị, tuân thủ phát đồ, cũng như những thuốc khác đã dùng kèm theo

Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu thời điểm nhập viện ghi nhận tình trạng tỷ lệ tăng bạch cầu khá cao 16,7 ± 5,2 K/µL Chỉ

Trang 7

số CRP-hs trong huyết thanh trung bình 17,2

± 14,8 mg/L Nhìn chung, các trường hợp

bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng Phù

hợp với bệnh cảnh nhiễm trùng nặng và có

biểu hiện viêm phúc mạc toàn thể ở 50%

trường hợp các bệnh nhân thời điểm chẩn

đoán trước phẫu thuật (22,2% có chẩn đoán

viêm phúc mạc do thủng tạng rỗng và 27,8%

nghĩ do viêm ruột thừa)

Đặc điểm siêu âm trước mổ có tỷ lệ dịch ổ

bụng tương đối cao 44,4% Chỉ có 1 trường

hợp (2,2%) thấy hình ảnh hơi tự do nhiều

trong khoang phúc mạc Tỷ lệ chẩn đoán trên

siêu âm theo dõi viêm ruột thừa cũng tương

đối cao 22,2% với hình ảnh, dịch vùng hố

chậu phải, dày mạc nối, tăng nhẹ kích thước

ruột thừa

Về mặt chẩn đoán hình ảnh học thì

X-Quang là phương tiện thường qui giúp chẩn

đoán với triệu chứng hình ảnh học liềm hơi

dưới hoánh rất kinh điển Trong nghiên cứu

này, liềm hơi dưới hoành chỉ xuất hiện trong

40% (4/10 trường hợp) Tỷ lệ thủng bít, lỗ

thủng nhỏ không có hơi tự do khá cao Tác

giả Hua và cộng sự báo cáo tỷ lệ liềm hơi tự

do dưới hoành là 82,7%.[7]

Mặc dù việc phẫu thuật bằng nội soi đã được mô tả nhiều ở bệnh nhân người lớn, các tài liệu về nhi khoa chỉ giới hạn trong các báo cáo loạt trường hợp Wong và cộng sự

đã ghi nhận những ưu điểm chính của phương pháp nội soi giúp xác định bệnh lý khi chẩn đoán không chắc chắn, cùng với việc tránh đặt nhầm vết mổ ở bụng.[8] Reusens và cộng sự, đã công bố một trường hợp 5 bệnh nhân loạt với kết quả tốt và họ ủng hộ việc phẫu thuật bằng phương pháp nội soi với miếng đắp mạc nối lớn làm tiêu chuẩn cho điều trị thủng ổ loét DDTT ở trẻ

em.[6]

Trong nghiên cứu này, 100% các trường hợp được nội soi chẩn đoán Có 2 trường hợp phải chuyển mở mổ hở vì PTNS khó khăn Một trường hợp mổ mở có nhiễm trùng vết

mổ Tuy nhiên, nhìn chung tất cả các trường hợp đều cho kết quả tốt Không có các biến chứng nặng, nguy hiểm khác như tử vong, tắc ruột sau mổ Đặc biệt, có 3 trường hợp có

sử dụng đắp mạc nối lớn vào ổ loét (Hình 1).[6]

Hình 6 Phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng ổ loét hành tá tràng có

sử dụng kỹ thuật đắp mạc nối lớn

Trang 8

Về đặc điểm phẫu thuật, nghiên cứu ghi

nhận thời gian phẫu thuật ở nhóm mổ nội soi

ngắn hơn so với nhóm chuyển mổ hở Ghi

nhận tương tự ở đặc điểm thời gian cho ăn lại

đường miệng và thời gian nằm viện

Nhìn chung, PTNS điều trị thủng ổ loét

DDTT ở trẻ em được chứng minh qua các

báo cáo tính hiệu quả, an toàn với các ưu

điểm như: ít đau, tính thẩm mỹ cao, thời gian

phục hồi nhanh chóng, thời gian cho ăn lại

đường miệng và cũng như thời gian nằm

viện tương đối ngắn hơn so với nhóm mổ

Hiện nay, với sự phát triển và những ứng

dụng các phương pháp điều trị mới trong

bệnh loét DDTT như các thuốc ức chế bơm

proton, điều trị tiệt căn H pylori là giảm tỷ lệ

tái phát của loét DDTT.[4] Tuy nhiên, cũng

mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới chẳng

hạn như vai trò của H pylori trong việc thúc

đẩy tiến triển bệnh, đặc biệt ở những quốc

gia đang phát triển có tần suất nhiễm H

Pylori khá cao

V KẾT LUẬN

Phẫu thuật nội soi ổ bụng giúp ích trong

việc chẩn đoán và điều trị biến chứng thủng

ổ loét DDTT Theo nghiên cứu này, tỷ lệ

chẩn đoán thủng tạng rỗng trước mổ còn

tương đối khiêm tốn trên thực tế lâm sàng

Tuy nhiên vai trò của nội soi ổ bụng với ưu

điểm ít xâm lấn giúp chẩn đoán chính xác và

điều trị hiệu quả

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Văn Ngoan (2004), Nghiên cứu đặc

điểm lâm sàng, nội soi, mô bệnh học và kết

quả điều trị viêm dạ dày mạn tính có nhiễm

Helicobacter pylori ở trẻ em, Luận án tiến sỹ

y học, số Đại học Y Hà Nội

2 Tăng Lê Châu Ngọc (2018), Đặc điểm đề

kháng kháng sinh và đáp ứng điều trị trên trẻ viêm dạ dày do Helicobacter Pylori, Khoa Y, Đại Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

3 A S Munoz Abraham, H Osei, A Martino, S Kazmi, S Saxena, C M Fitzpatrick, và G A Villalona (2019),

Incidence and Outcomes of Perforated Peptic Ulcers in Children: Analysis of the Kid's Inpatient Database and Report of Two Cases Treated by Laparoscopic Omental Patch Repair, J Laparoendosc Adv Surg Tech A, số 29(2), tr 248-255

4 C Noguiera, A S Silva, J N Santos, A G Silva, J Ferreira, E Matos, và H Vilaça (2003), Perforated peptic ulcer: main factors

of morbidity and mortality, World J Surg, số 27(7), tr 782-7

5 C W Wong, P H Chung, P K Tam, và

K K Wong (2015), Laparoscopic versus

open operation for perforated peptic ulcer in pediatric patients: A 10-year experience, J

Pediatr Surg, số 50(12), tr 2038-40

6 H Reusens, M Dassonville, và H Steyaert (2017), Laparoscopic Repair for Perforated

Peptic Ulcer in Children, Eur J Pediatr Surg,

số 27(3), tr 251-254

7 M C Hua, M S Kong, M W Lai, và C

C Luo (2007), Perforated peptic ulcer in

children: a 20-year experience, J Pediatr Gastroenterol Nutr, số 45(1), tr 71-4

8 W T Siu, C H Chau, B K Law, C N Tang, P Y Ha, và M K Li (2004), Routine

use of laparoscopic repair for perforated peptic ulcer, Br J Surg, số 91(4), tr 481-4

Ngày đăng: 31/12/2022, 11:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w