1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm viêm tiểu phế quản tắc nghẽn hậu nhiễm ở trẻ em nhập khoa Hô hấp 1 Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 05/2018 đến tháng 05/2021

7 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm Viêm Tiểu Phế Quản Tắc Nghịen Hậu Nhiễm Ở Trẻ Em Nhập Khoa Hô Hấp 1 Bệnh Viện Nhi Đồng 2 Từ Tháng 05/2018 Đến Tháng 05/2021
Tác giả Nguyễn Hoàng Phong, Phạm Xuân Tín, Huỳnh Minh Thiện, Lê Thanh Tuyền, Đỗ Thị Thúy Hằng
Trường học Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại Báo cáo Nghiên cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 450,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Đặc điểm viêm tiểu phế quản tắc nghẽn hậu nhiễm ở trẻ em nhập khoa Hô hấp 1 Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 05/2018 đến tháng 05/2021 mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị của bệnh nhân viêm tiểu phế quản tắc nghẽn (VTPQTN) hậu nhiễm nhập khoa Hô Hấp 1 - Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 05/2018 đến tháng 05/2021.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM VIÊM TIỂU PHẾ QUẢN TẮC NGHẼN HẬU NHIỄM

Ở TRẺ EM NHẬP KHOA HÔ HẤP 1 BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

TỪ THÁNG 05/2018 ĐẾN THÁNG 05/2021

Nguyễn Hoàng Phong 1 , Phạm Xuân Tín 2 , Huỳnh Minh Thiện 1 , Lê Thanh Tuyền 1 , Đỗ Thị Thúy Hằng 1

TÓM TẮT 35

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng,

cận lâm sàng và điều trị của bệnh nhân viêm tiểu

phế quản tắc nghẽn (VTPQTN) hậu nhiễm nhập

khoa Hô Hấp 1- Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng

05/2018 đến tháng 05/2021

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt

ca tiền cứu và hồi cứu

Kết quả: Trong khoảng thời gian từ tháng

05/2018 đến tháng 05/2021, chúng tôi có 13 ca

bệnh thỏa tiêu chí đưa vào nghiên cứu Trong đó

có 11 nam, 2 nữ Tuổi trung bình của trẻ khi

được chẩn đoán là 14.26 tháng 100% các trẻ

thuộc dân tộc Kinh và đến từ các tỉnh miền Đông

Nam Bộ

Chúng tôi ghi nhận 100% trẻ có tiền căn

nhiễm trùng hô hấp dưới nặng cần hỗ trợ hô hấp

Trong đó, viêm phổi do sởi chiếm 46,2%, viêm

phổi do Adenovirus chiếm 15,4%, viêm phổi do

Parainfluenza virus chiếm 7,7%, viêm phổi

không xác định tác nhân chiếm 30,8% Biểu hiện

thường gặp nhất của bệnh là ho, khò khè, khó thở

với trên 80% các trường hợp Ran ngáy là dấu

hiệu hằng định nhất, ghi nhận ở 100% các trẻ

Về hình ảnh học, HRCT ghi nhận ứ khí và

kiểu hình thể khảm là hai hình ảnh hằng định

1

Bệnh viện Nhi Đồng 2

2 Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Hoàng Phong

Email: nguyenhoangphong@gmail.com

Ngày nhận bài: 25.8.2022

Ngày phản biện khoa học: 23.9.2022

Ngày duyệt bài: 10.10.2022

nhất với 100% các trường hợp Các hình ảnh khác bao gồm dày thành phế quản (92,3%), xẹp phổi (69,2%), đông đặc (46,2%), dãn phế quản (23,1%)

Biện pháp điều trị chính trong nghiên cứu của chúng tôi là Corticoid kết hợp Azithromycin giúp cải thiện điểm số độ nặng của bệnh trên 92,3% các trường hợp Có 1 trường hợp ghi nhận tác dụng phụ tăng men gan do Azithromycin

Kết luận: Tất cả các trẻ VTPQTN hậu nhiễm

trong nghiên cứu đều có đợt nhiễm trùng hô hấp dưới nặng trước đó cần hỗ trợ hô hấp Triệu chứng ho, khò khè, thở mệt là biểu hiện thường gặp nhất Ran ngáy được ghi nhận ở tất cả các trẻ Hình ảnh ứ khí và thể khảm trên CT scan ngực có ở 100% các trường hợp Phác đồ Corticoid kết hợp Azithromycin an toàn và giúp cải thiện điểm số độ nặng của bệnh trên 92,3% các trường hợp

Từ khóa: Viêm tiểu phế quản tắc nghẽn hậu

nhiễm

SUMMARY CLINICAL FEATURES OF CHILDREN WITH POST-INFECTIOUS

BRONCHIOLITIS OBLITERANS ADMITTED TO RESPIRATORY DEPARTMENT 1 - NHI DONG 2 HOSPITAL FROM MAY 2018

TO MAY 2021

Objectives: Describe the epidemiological,

clinical, subclinical and therapeutic characteristics of children with post-infectious

Trang 2

bronchiolitis obliterans admitted to the

Respiratory Department 1- Nhi Dong 2 Hospital

from May 2018 to May 2021

Method: Prospective and retrospective study

of case series

Results:During the period from May 2018 to

May 2021, we recorded 13 cases that met the

diagnostic criteria and were included in the

study, including 11 boys and 2 girls The mean

age of children at diagnosis was 14.26 months

100% of the children are Kinh ethnic group and

most of them come from the Southeast provinces

Regarding the medical history, we recorded

that 100% of children had a history of severe

lower respiratory tract infection requiring

respiratory support In which, pneumonia caused

by measles accounted for 46.2%, pneumonia

with unknown agent accounted for 30.8%,

pneumonia caused by Adenovirus accounted for

15.4% and pneumonia caused by Parainfluenza

virus accounted for 7.7% The most common

manifestations of the disease are cough,

wheezing, shortness of breath in over 80% of

cases Wheezing is the most consistent sign

observed in 100% of children

On chest HRCT, air retention and mosaic are

the two most consistent images with 100% of

cases Other images include bronchial wall

thickening (92.3%), atelectasis (69.2%),

consolidation (46.2%), bronchiectasis (23.1%)

The main treatment in our study was

Corticosteroid combined with Azithromycin,

which improved the disease severity score in

92.3% of cases There was 1 case reported side

effect of increasing liver enzymes due to

Azithromycin

Conclusion: All children with post-infectious

bronchiolitis obliterans in our study had a

previous episode of severe lower respiratory tract

infection requiring respiratory support Cough,

wheezing, and shortness of breath are the most

common symptoms Wheezing was noted in all children The image of air retention and mosaic

on chest CT scan was present in 100% of the cases studied Corticosteroid regimen combined with Azithromycin is safe and helps to improve disease severity score in 92.3% of cases

Key word: Post-infectious bronchiolitis obliterans

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm tiểu phế quản tắc nghẽn được báo cáo lần đầu vào năm 1901, là hội chứng tắc nghẽn mạn tính đường dẫn khí nhỏ do viêm

Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này

Ở trẻ em thì hậu nhiễm trùng là nguyên nhân thường gặp nhất, do đó thể bệnh này có tên

là viêm tiểu phế quản tắc nghẽn hậu nhiễm Sinh bệnh học của bệnh đến nay vẫn chưa được hiểu cặn kẽ, dẫn đến chẩn đoán thường

ở giai đoạn trễ và điều trị chưa đạt được hiệu quả tối ưu Bệnh diễn tiến dần thành bệnh phổi mạn, gây ảnh hưởng lâu dài đến chức năng hô hấp và chất lượng cuộc sống của trẻ, tăng chi phí chăm sóc y tế Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mô tả những đặc điểm của bệnh về lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị; góp phần giúp chẩn đoán bệnh sớm, tìm kiếm các phương pháp điều trị để giảm thiểu tác động của bệnh lên chức năng hô hấp của trẻ

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp nghiên cứu:

Mô tả hàng loạt ca tiền cứu và hồi cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Tất cả các trẻ từ 1 tháng đến 15 tuổi nhập khoa Hô Hấp 1 Bệnh viện Nhi Đồng 2 được chẩn đoán VTPQTN hậu nhiễm trong khoảng thời gian từ tháng 05/2018 đến tháng 05/2021

Trang 3

Tiêu chuẩn chọn mẫu:

Bệnh nhi thỏa tiêu chuẩn chẩn đoán

VTPQTN hậu nhiễm và hoàn tất liệu trình

điều trị từ 3 đến 6 tháng

Thân nhân bệnh nhi đồng ý tham gia

nghiên cứu

VTPQTN hậu nhiễm được chẩn đoán khi

thỏa tất cả 4 tiêu chuẩn sau:

- Tiền căn nhiễm khuẩn hô hấp dưới

nặng (viêm phổi, viêm tiểu phế quản) ở trẻ

trước đó hoàn toàn khỏe mạnh

- Khò khè kéo dài do tắc nghẽn đường

dẫn khí nhỏ sau tổn thương ban đầu nói trên

ít nhất 6 tuần và không đáp ứng với điều trị

steroid và dãn phế quản

- Hình ảnh CT ngực phù hợp với ứ khí

và/hoặc kiểu hình thể khảm, có thể kèm các

hình ảnh khác như dày thành phế quản, dãn

phế quản, xẹp phổi

- Loại trừ các bệnh phổi mạn tính khác:

Lao, hen nặng, loạn sản phổi, dị vật đường

thở, suy giảm miễn dịch

Tiêu chuẩn loại trừ: không

Thu thập số liệu:

Thu thập dữ liệu bằng cách ghi nhận tình trạng bệnh, khám lâm sàng, các kết quả xét nghiệm, các biện pháp điều trị theo bệnh án mẫu

Xử lý số liệu:

Số liệu thu thập được sẽ được mã hoá và nhập vào chương trình quản lý dữ liệu của phần mềm SPSS phiên bản 26

Phân tích số liệu: Thống kê sẽ được thực hiện bởi phần mềm SPSS

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Có 13 trẻ thỏa tiêu chuẩn và được đưa vào

nghiên cứu Đặc điểm dịch tễ

Giới tính: Giới nam chiếm đa số Nam: 11 trẻ (84,6%) Nữ: 2 trẻ (15,4%)

Dân tộc: 100% các ca thuộc dân tộc kinh

Độ tuổi: Trẻ có độ tuổi trung bình là 14,26 tháng, ca bệnh nhỏ nhất 9,73 tháng, ca bệnh lớn nhất 21,67 tháng

Tiền căn nhiễm trùng hô hấp dưới

Bảng 1: Tác nhân nhiễm trùng hô hấp dưới

Tất cả các ca bệnh đều có đợt nhiễm trùng hô hấp dưới nặng trước đó và cần hỗ trợ hô hấp Trong đó có 5 ca nặng phải đặt nội khí quản và thở máy

Bảng 2: Các biện pháp hỗ trợ hô hấp trong giai đoạn nhiễm khuẩn cấp

Đặc điểm lâm sàng lúc chẩn đoán

Ran ngáy là triệu chứng hằng định ở tất cả các ca VTPQTN hậu nhiễm Xếp sau đó là khò khè, thở nhanh, thở co lõm ngực, chiếm 84.6% các trường hợp

Trang 4

Bảng 3: Phân bố triệu chứng lâm sàng lúc chẩn đoán

Trong 13 trẻ thì có 7 trẻ phụ thuộc các phương pháp hỗ trợ hô hấp (oxy canula, CPAP, thở máy) và không cai được 6 trẻ còn lại thở khí trời nhưng có dấu hiệu thở co lõm ngực, thở nhanh, mệt khi vận động và có những đợt khó thở kịch phát cần điều trị với hỗ trợ hô hấp, khí dung dãn phế quản, không thể xuất viện được

Bảng 4: Phương pháp hỗ trợ hô hấp lúc chẩn đoán

Điểm số độ nặng của bệnh được đánh giá theo thang điểm FAN, sau đó phân chia thành nhóm nguy cơ tử vong thấp khi điểm số là 1,2,3 Nhóm nguy cơ tử vong cao khi điểm số là 4,5 (p=0.03)

Bảng 5: Đánh giá độ nặng của bệnh theo thang điểm FAN

2 Có triệu chứng, SpO2 khí trời ≥ 90% trong mọi điều kiện

3 Có triệu chứng, SpO2 khí trời ≥ 90% khi thức, nhưng < 90% khi ngủ/gắng sức

4 Có triệu chứng, SpO2 khí trời < 90% trong mọi điều kiện

Khi đánh giá độ nặng của bệnh theo FAN, chúng tôi có 7 ca điểm 4 trong số 13 ca Đây là những ca phụ thuộc các phương pháp hỗ trợ hô hấp (oxy canula, CPAP, máy thở) và có nguy

cơ tử vong cao, chiếm 53,8%

Bảng 6: Phân bố điểm số độ nặng

Trang 5

Bảng 7: Nguy cơ tử vong theo FAN lúc chẩn đoán viêm tiểu phế quản tắc nghẽn

Đặc điểm hình ảnh CT scan ngực lúc chẩn đoán

Hình ảnh hằng định nhất của tất cả bệnh nhân là ứ khí và kiểu hình thể khảm, 100% các ca đều có hình ảnh này Các hình ảnh khác gồm: dày thành phế quản, xẹp phổi, đông đặc, dãn phế quản

Bảng 8: Phân bố các đặc điểm trên CT scan ngực

Đặc điểm điều trị

Phác đồ điều trị VTPQTN hậu nhiễm tại

Bệnh viện Nhi Đồng 2 Dùng trong 6 tháng:

▪ Mức độ 1: Chỉ khò khè hoặc ran phổi

Không thở nhanh, không co lõm:

Azithromycin 10mg/kg x 3 ngày mỗi tuần +

ICS liều cao

▪ Mức độ 2: Thở nhanh/ co lõm/ co kéo

cơ hô hấp phụ Không cần hỗ trợ hô hấp:

Azithromycin + Truyền Methylprednisolone

10 mg/kg/ngày x 3 ngày mỗi tháng

▪ Mức độ 3: Thở nhanh/ co lõm/ co kéo

cơ hô hấp phụ Cần hỗ trợ hô hấp:

Azithromycin + Truyền Methylprednisolone

30 mg/kg/ngày x 3 ngày mỗi tháng

Bảng 9: Phân bố mức độ điều trị viêm

tiểu phế quản tắc nghẽn

Mức độ điều trị

Tỉ lệ (%)

Kết quả điều trị sau 6 tháng

Điểm số độ nặng của bệnh được đánh giá lại sau đợt điều trị Có 6 ca điểm 1 và 7 ca điểm 2 Ghi nhận 12 ca trong số 13 ca bệnh cải thiện điểm số độ nặng Tất cả các trẻ đều

có nguy cơ tử vong thấp sau điều trị Điều đáng chú ý là tất cả cả các ca phụ thuộc oxy, CPAP hay máy thở đều cai được các phương tiện hỗ trợ hô hấp, chuyển sang thở khí trời

Bảng 10: Phân bố điểm số độ nặng sau điều trị

Điểm số độ nặng của

bệnh

Tần

số

Tỉ lệ (%)

Bảng 11: Tỉ lệ cải thiện điểm số độ nặng

Kết quả điều trị Tần

số

Tỉ lệ (%)

Cải thiện thang điểm độ

Về tác dụng phụ của thuốc chúng tôi ghi nhận 1 trường hợp tăng men gan (chiếm tỉ lệ

Trang 6

7.7%) ở tháng điều trị thứ 6 do sử dụng

Azithromycin kéo dài Chỉ số AST 111 U/L,

ALT 130 U/L Sau khi ngưng thuốc thì men

gan sau đó trở lại bình thường

IV BÀN LUẬN

Chúng tôi có 13 ca bệnh thỏa các tiêu chí

để đưa vào nghiên cứu

Về đặc điểm dịch tễ chúng tôi ghi nhận có

11 nam, 2 nữ (tỉ lệ nam/nữ là 5,5: 1), so với

nghiên cứu của V.Aguerre và cộng sự thì tỉ

lệ nam/nữ là 3,4:1, của tác giả Ya-Nan-Li là

2,2:1 [8,7] Điều này phù hợp với các tổng

quan về VTPQTN hậu nhiễm, tỉ lệ mắc bệnh

ở trẻ nam cao hơn so với nữ Tuổi mắc bệnh

trung bình là 14,26 tháng (nhỏ nhất là 9,73

tháng và lớn nhất là 21,67 tháng), so với tác

giả Ya-Nan-Li với tuổi trung bình là 2,32

tuổi Điều này cho thấy các trẻ VTPQTN hậu

nhiễm thường mắc bệnh trong vòng 2 đến 3

năm đầu đời

Về đặc điểm lâm sàng, chúng tôi ghi nhận

92,3 % các trẻ sinh đủ tháng, đủ cân Chỉ có

1 ca tiền sử sinh non 30 tuần, nặng 1500

gram Ca này sau sinh trẻ không thở máy,

không bơm Surfactant, nằm viện 6 tuần, sau

đó khỏe cho đến khi bị viêm phổi lúc 7,2

tháng Ghi nhận 1 trẻ bị thông liên thất đã

phẫu thuật, sau đó trẻ ổn định cho đến trước

khi bị viêm phổi nặng do sởi lúc 6,3 tháng

11 trẻ còn lại khỏe mạnh không có tiền căn

bệnh lý

Trong đợt nhiễm khuẩn hô hấp dưới trước

đó, chúng tôi ghi nhận 30,8% ca viêm phổi

không xác định tác nhân gây bệnh, 46,2%

viêm phổi do sởi, 15,4% viêm phổi do

Adenovirus, 7,7% viêm phổi do

Parainfluenza virus So với nghiên cứu của

tác giả Ya-Nan-Li, VTPQTN hậu nhiễm do

Adenovirus chiếm đến 50% các trường hợp Theo tác giả Fei Huang, VTPQTN hậu nhiễm do Adenovirus chiếm đến gần 66%

Sự khác biệt trên do nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành trong thời gian có dịch sởi, kéo theo tình trạng VTPQTN hậu sởi cũng tăng theo Thứ hai là do hạn chế trong nghiên cứu của chúng tôi, chưa xét nghiệm chẩn đoán tác nhân siêu vi cho tất cả các ca bệnh, nên số ca không xác định tác nhân lên đến 30,8% Chúng tôi ghi nhận tất cả các bệnh nhân đều có đợt nhiễm trùng hô hấp dưới nặng cần hỗ trợ hô hấp Trong đó 38,5% các trường hợp thở máy, 23,1% thở NCPAP và 38,5% thở oxy canula

Về đặc điểm cận lâm sàng lúc chẩn đoán, trên CT ngực chúng tôi ghi nhận 100% các trường hợp có ứ khí, 100% có kiểu hình thể khảm, so với nghiên cứu của Giberto lần lượt

là 92% có ứ khí và 88% có kiểu hình thể khảm[6], trong nghiên cứu của Ya - Nan - Li kiểu hình thể khảm chiếm 97,6% các trường hợp[7] Đây là hai hình ảnh tương đối hằng định cũng như phù hợp với đặc điểm sinh lý bệnh Tất cả bệnh nhi trong nghiên cứu của chúng tôi đều dưới 3 tuổi nên không thể thực hiện đo chức năng hô hấp

Về đặc điểm điều trị, chúng tôi ghi nhận

có 15,4% các trường hợp phải thở máy lúc chẩn đoán (2/13 ca), 23,1% bệnh nhân thở NCPAP (2/13 ca), 15,4% thở oxy cannula (2/13 ca) Các trường hợp này phụ thuộc hỗ trợ hô hấp, không cai được Các ca còn lại thở khí trời lúc chẩn đoán nhưng trẻ thở co lõm ngực, khò khè, mệt khi vận động và có những cơn khó thở kịch phát, không thể xuất viện Về điều trị đặc hiệu, có 46,2% ca được điều trị ở mức độ 2, 53,8% ca được điều trị ở

Trang 7

mức độ 3 và không có trường hợp nào được

điều trị ở mức độ 1 Sau 6 tháng điều trị,

chúng tôi ghi nhận 92,3% trường hợp (12/13

ca) cải thiện điểm số độ nặng của bệnh, 7,7%

không thay đổi (1/13 ca) 100% các trường

hợp sau điều trị đều thuộc nhóm nguy cơ tử

vong thấp (53,8% điểm số 2, 46,2% điểm số

1) Tất cả trẻ phụ thuộc hỗ trợ hô hấp đều cai

được dụng cụ hỗ trợ, thở khí trời Nhóm trẻ

không phụ thuộc hỗ trợ hô hấp có thể xuất

viện, chăm sóc tại nhà

Về tác dụng phụ của điều trị, chúng tôi

ghi nhận 1 trường hợp tăng men gan vào

tháng thứ 5 của quá trình điều trị, AST 111

U/L, ALT 130 U/L Sau khi tầm soát nguyên

nhân, chúng tôi nghĩ nhiều đây là tác dụng

phụ của Azithromycin, bệnh nhân được kết

thúc liệu trình sớm một tháng Sau khi ngưng

thuốc thì men gan trở lại bình thường

V KẾT LUẬN

VTPQTN hậu nhiễm là bệnh lý tương đối

hiếm ở trẻ em Bệnh thường gặp ở nam nhiều

hơn nữ Tất cả các bệnh nhân đều có tiền căn

nhiễm khuẩn hô hấp dưới nặng trong vòng 2

năm đầu đời Biểu hiện lâm sàng thường gặp

là ho, khò khè, khó thở kéo dài Trên CT

ngực, hai hình ảnh tương đối hằng định nhất

là ứ khí và kiểu hình thể khảm, trong đó kiểu

hình thể khảm có tính gợi ý cao trong chẩn

đoán thể bệnh này Việc điều trị với 2 liệu

pháp chính là Corticoid và Azithromycin

giúp cải thiện điểm số độ nặng ở gần như tất

cả các bệnh nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Castro-Rodriguez JA, Daszenies C, Garcia

M (2006) ‘‘ Adenovirus pneumonia in

infants and factors for developing bronchiolitis obliterans: a 5-year follow-up’’, Pediatric Pulmonology, 41(10): pp 947 - 953

2 Ema Kavaliunaite, Paul Aurora (2019)

‘‘Diagnosing and managing bronchiolitis obliterans in children ’’, Expert Review of Respiratory Medicine, 13(5): pp 481-488

3 Fei Huang, Yu-Cong Ma, Fang Wang (2021) ‘‘Clinical analysis of adenovirus

postinfectious bronchiolitis obliterans and non-adenovirus postinfectious bronchiolitis obliterans in children’’, Lung India, 38(2): pp.117 - 121

4 Gilberto B Fischer, Edgar E Sarria, Rita Mattiello (2010) ‘‘Post Infectious Bronchiolitis Obliterans in Children’’, Paediatric Respiratory Reviews, 11: pp.233 -

239

5 Leland L.Fan (1997) ‘‘Factors Influencing

Survival in Children with Chronic Interstitial Lung Disease’’, American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine,156:pp939-942

6 Steven R Boas (2016) ‘‘Bronchiolitis

Obliterans’’, in Nelson Text book of pediatrics Elsevier, 20th ed, pp.2053 - 2055

7 V Aguerre, C Castanos, H Gonzalez Pena (2010) ‘‘Postinfectious Bronchiolitis Obliterans in Children: Clinical and Pulmonary Function Findings’’, Pediatric Pulmonology, 45: pp 1180 - 1185

8 Ya-Nan-Li, Li -Liu, Hong-Mei-Qiao (2014)

‘‘Post-infectious bronchiolitis obliterans in children: a review of 42 cases’’, BMC Pediatrics, 14: pp.238

Ngày đăng: 31/12/2022, 11:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm