Bài viết Suy giáp thoáng qua ở trẻ sinh non có tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 trình bày việc xác định tỉ lệ bị suy giáp và các đặc điểm về dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ở trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi thai có tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod tại bệnh viện Nhi Đồng 2.
Trang 1TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 519 - THÁNG 10 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022
SUY GIÁP THOÁNG QUA Ở TRẺ SINH NON CÓ TIẾP XÚC DUNG DỊCH
SÁT KHUẨN DA CHỨA IOD TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2
Nguyễn Thị Kim Anh 1 , Hồ Thị Bích Tuyền 1 , Nguyễn Thúc Bội Ngọc 1 ,
Nguyễn Tố Na 1 , Nguyễn Thanh Thiện 1
TÓM TẮT 17
Đặt vấn đề: Hormone giáp đóng vai trò quan
trọng trong sự trưởng thành và phát triển của não
bộ Suy giáp thường gặp ở trẻ non tháng và có
thể bị ảnh hưởng do tiếp xúc dung dịch sát khuẩn
da có iod
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ bị suy giáp và các
đặc điểm về dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng
và điều trị ở trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi thai có
tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod tại bệnh
viện Nhi Đồng 2
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Mô
tả hàng loạt ca, sàng lọc chức năng tuyến giáp
cho 40 trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi thai có tiếp
xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod
Kết quả: Có 8 ca bị suy giáp chiếm tỉ lệ 20%
Tuổi thai trung bình 31±2,6 (25-34 tuần) Cân
nặng lúc sinh trung bình 1631±464 (700-2600g)
Tuổi trung bình lúc suy giáp là 18,3±6,2 ngày
Thời gian trung bình từ khi tiếp xúc iod đến khi
suy giáp là 14,1 ± 4,4 ngày Các bệnh cảnh lâm
sàng: 7 ca có nhiễm trùng, 6 ca có suy hô hấp, 4
ca có cơn ngưng thở kéo dài, 5 ca có vàng da kéo
dài Giá trị TSH ≥ 20 mU/L ở lần đầu là 3 ca, lần
hai là 4 ca và lần ba là 1 ca Kết quả điều trị có 7
ca bị suy giáp thoáng qua
1
Bệnh viện Nhi Đồng 2
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Kim Anh
Email: kimanhy98a@yahoo.com
Ngày nhận bài: 25.8.2022
Ngày phản biện khoa học: 23.9.2022
Ngày duyệt bài: 10.10.2022
Kết luận: Cần sàng lọc chức năng tuyến giáp
ở trẻ sinh non để tránh bỏ sót suy giáp nhất là những trẻ có tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod
Từ khóa: suy giáp, sinh non, iod
SUMMARY TRANSIENT HYPOTHYROIDISM IN PRETERM INFANTS AFTER TOPICAL IODINE EXPOSURE AT CHILDREN ’ S
HOSPITAL 2
Backgrounds: Thyroid hormones are critical
for growth and brain development during the newborn period and infancy Hypothyroidism is common in preterm infants and may be affected after topical iodine exposure
Objective: To identify the proportion of
hypothyroidism and characteristics of the epidemiology, clinical, laboratory, and treatment
of hypothyroidism in preterm infants born before
34 gestational weeks after topical iodine exposure at Children’s Hospital 2
Methods: Case series study, screening thyroid
functions for 40 preterm infants born before 34 gestational weeks after topical iodine exposure
Results: Eight cases (20%) with hypothyroidism The mean gestational age was 31±2.6 (25-34 weeks), and the mean birth weight was 1631±464 (700-2600g) The mean postnatal age for hypothyroidism was 18.3±6.2 days The mean time from iodine exposure to demonstrated hypothyroidism was 14.1±4.4 days The clinical conditions: seven cases with infection, six cases with respiratory distress, four cases with
Trang 2prolonged apnea, and five cases with prolonged
jaundice The initial, second and third TSH levels
≥ 20 mU/L were three cases, four cases and one
case, respectively The final results showed seven
cases in total had transient hypothyroidism
Conclusions: Screening thyroid functions is
needed in preterm infants in order to prevent
missing hypothyroidism especially after topical
iodine exposure
Keywords: hypothyroidism, preterm, iodine
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hormone giáp đóng một vai trò quan
trọng trong sự trưởng thành và phát triển của
não bộ Tình trạng thiếu hormone giáp sẽ gây
ra chậm phát triển thần kinh nếu được điều
trị trễ
Suy giáp thường gặp ở trẻ non tháng hơn
so với trẻ đủ tháng do trục hạ đồi - tuyến yên
- tuyến giáp chưa trưởng thành, làm suy yếu
tổng hợp và chuyển hóa hormone giáp Suy
giáp ở trẻ sinh non có thể là thoáng qua hoặc
vĩnh viễn Các nghiên cứu cho thấy tần suất
suy giáp xảy ra ở trẻ sinh dưới 37 tuần tuổi
thai là 2,3% [4] và ở trẻ dưới 32 tuần là
19,4% [5] Trẻ sinh non dễ bị suy giáp thoáng
qua do ảnh hưởng của quá trình điều trị bệnh
lý sinh non như thuốc vận mạch,
amiodarone, thuốc động kinh, thiếu hay quá
tải iod,… [8].
Suy giáp ở trẻ sinh non thường không có
triệu chứng lâm sàng như suy giáp ở trẻ lớn,
đa số được phát hiện qua xét nghiệm chức
năng tuyến giáp tầm soát trong quá trình nằm
viện Trẻ sinh non bị suy giáp thường có tình
trạng chậm tăng TSH nên việc sàng lọc được
khuyến cáo thực hiện ít nhất 2 lần để tránh
bỏ sót [3].
Đã có một số báo cáo về tình trạng suy
giáp thoáng qua ở trẻ sơ sinh non tháng có
tiếp xúc iod Trẻ non tháng dễ bị suy giáp
do quá tải iod, vì hoạt động của hiệu ứng Wolff-Chaikoff kém hiệu quả Hiệu ứng này giúp ngăn sản xuất hormone giáp quá mức khi nồng độ iod trong máu vượt mức báo động làm ngăn hấp thu và gắn iod vào tyrosine [8].
Nghiên cứu về sàng lọc suy giáp cho trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi thai của chúng tôi tại bệnh viện Nhi Đồng 2 năm 2021 cho thấy
tỉ lệ suy giáp cần điều trị hormone giáp là 6,1%; trong đó nhiều yếu tố có liên quan đến suy giáp như sinh ngạt, nhiễm trùng huyết và phẫu thuật có sử dụng dung dịch sát khuẩn
da có iod [1].
Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi muốn khảo sát tỉ lệ suy giáp, đặc điểm dịch
tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị của những trẻ sinh dưới 34 tuần tuổi thai có tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod lúc phẫu thuật và chăm sóc vết thương hậu phẫu
Mục tiêu nghiên cứu
Ở trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi thai, có tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod lúc phẫu thuật và chăm sóc vết thương hậu phẫu được điều trị tại khoa Sơ Sinh và Hồi sức sơ sinh, bệnh viện Nhi Đồng 2 trong 12 tháng,
từ 8/2020 đến 7/2021, xác định:
+ Tỉ lệ trẻ bị suy giáp
+ Tỉ lệ các đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu
Mô tả hàng loạt ca
Đối tượng nghiên cứu Tiêu chuẩn đưa vào
Trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi thai, có
Trang 3TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 519 - THÁNG 10 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022
tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod lúc
phẫu thuật và chăm sóc vết thương hậu phẫu
tại khoa Sơ Sinh và Hồi sức sơ sinh bệnh
viện Nhi Đồng 2, được xét nghiệm TSH và
FT4 sau thời điểm tiếp xúc iod
Tiêu chí loại trừ
Gia đình không đồng ý tham gia nghiên
cứu
Các bước tiến hành
Xét nghiệm TSH và FT4 huyết tương
được làm bằng phương pháp miễn dịch hóa
phát quang với máy sinh hóa Abbotte
Architect 12000SR, tại bệnh viện Nhi Đồng
2
Trẻ sinh non tại bệnh viện được xét
nghiệm tầm soát suy giáp 2 lần ở các thời
điểm:
+ Lần đầu: 4 -14 ngày tuổi
+ Lần hai: cách lần đầu từ 1-2 tuần, nếu
lần đầu chẩn đoán suy giáp thì không cần
tầm soát lần hai
+ Những trẻ có CNTG lần hai còn bất
thường nhưng chưa điều trị hormone giáp sẽ
được xét nghiệm theo dõi đến khi CNTG
bình thường
+ Những trẻ có điều trị hormone giáp sẽ
được xét nghiệm đánh giá lại CNTG sau điều
trị 1-2 tuần
+ Những trẻ ngưng hormone giáp cũng xét
nghiệm đánh giá lại CNTG sau khi ngưng
điều trị 1-2 tuần và 4 tuần
Chẩn đoán suy giáp và điều trị hormone
giáp khi thỏa một trong các trường hợp
[2],[5],[8]:
+ TSH ≥ 20 mU/L bất kể FT4
+ TSH tiếp tục tăng từ 10 - 19,9 mU/L lúc
4 - 6 tuần tuổi dù FT4 bình thường
+ FT4 thấp so với ngưỡng theo tuổi thai
kéo dài đến thời điểm 6 tuần tuổi dù TSH
bình thường
Chúng tôi chỉ thu thập số liệu những ca phải có ít nhất 1 lần xét nghiệm CNTG sau tiếp xúc iod và thời điểm chẩn đoán suy giáp phải sau tiếp xúc iod
Phân tích và xử lý số liệu
Bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0
Đạo đức trong nghiên cứu
Thông tin được bảo mật, gia đình đồng ý tham gia và việc lấy máu sàng lọc CNTG sẽ làm cùng mẫu xét nghiệm sinh hóa kiểm tra bệnh lý của trẻ
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong 12 tháng, từ 8/2020 đến 7/2021, có
40 trẻ sinh dưới 34 tuần tuổi thai, tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod khi phẫu thuật và chăm sóc vết thương hậu phẫu, được xét nghiệm TSH và FT4 có ít nhất 1 lần sau thời điểm tiếp xúc iod
Kết quả sàng lọc chức năng tuyến giáp:
Nghiên cứu chúng tôi có 8/40 ca bị suy giáp chiếm tỉ lệ 20%
Đặc điểm về dân số nghiên cứu
Tuổi nhập viện trung bình: 2,3 ± 2,6 (0-14 ngày tuổi)
Tuổi thai trung bình: 31 ± 2,6 (25-34 tuần)
Cân nặng lúc sinh trung bình: 1631 ± 464 (700-2600 gram)
Tuổi trung bình tiếp xúc iod lần đầu: 6,4 ± 7,1 (1-30 ngày tuổi)
Số ngày trung bình tiếp xúc iod: 7,3 ± 1,7 (5-14 ngày)
Tuổi trung bình lúc chẩn đoán suy giáp: 18,3 ± 6,2 (11-30 ngày tuổi)
Thời gian trung bình từ khi tiếp xúc iod lần đầu đến khi suy giáp: 14,1 ± 4,4 (8-20 ngày)
Trang 4Bảng 1: Đặc điểm về dân số nghiên cứu
Đặc điểm dân số nghiên cứu Chung
(n=40)
n (%)
Suy giáp (n=8)
n (%)
Không SG (n=32)
n (%)
p
Giới tính Nam 27 (67,5) 5 (62,5) 22 (68,8) 0,521
Nữ 13 (32,5) 3 (37,5) 10 (32,2)
Tuổi thai < 32 tuần 27 (67,5) 4 (50) 16 (50) 0,410
32-34 tuần 13 (32,5) 4 (50) 16 (50)
0,592
> 1500g 20 (50) 4 (50) 17 (53,1)
Không 30 (75) 4 (50) 26 (81,2)
Đặc điểm về lâm sàng
Các triệu chứng lâm sàng liên quan suy
giáp thường không biểu hiện rõ ở trẻ sơ sinh
non tháng giống như trẻ lớn Đa phần trẻ sinh
non sẽ có các bệnh cảnh chung của các bệnh
lý liên quan sinh non như suy hô hấp, vàng
da, nhiễm trùng hoặc có cơn ngưng thở kéo
dài
Trong 8 ca suy giáp, tại thời điểm chẩn
đoán, trẻ có các biểu hiện lâm sàng của các
bệnh đang mắc khác: 7 ca còn dấu hiệu
nhiễm trùng, 6 ca còn suy hô hấp, 5 ca có vàng da kéo dài, 4 ca có còn ngưng thở kéo dài, 5 ca còn nuôi ăn tĩnh mạch và 3 ca đã nuôi ăn tiêu hóa đủ
Bệnh lý đi kèm sinh non trong quá trình điều trị
Trong 8 ca suy giáp được phẫu thuật có 3
ca bị viêm phúc mạc do thủng ruột, 1 ca thoát vị hoành, 1 ca còn ống động mạch lớn,
1 ca tắc tá tràng, 1 ca u thận và 1 ca áp xe da
đầu
Bảng 2: Bệnh lý đi kèm sinh non
Bệnh lý đi kèm Chung (n=40)
n (%)
Suy giáp (n=8)
n (%)
Không SG
Nhiễm trùng huyết 34 (85) 7 (87,5) 27 (84,4) 0,656
Viêm ruột hoại tử 17 (42,5) 1 (12,5) 17 (53,1) 0,054 Bệnh màng trong 14 (35) 3 (37,5) 11 (34,4) 0,588 Còn ống động mạch 14 (35) 3 (37,5) 11 (34,4) 0,588 Vàng da ứ mật 12 (30) 1 (12,5) 11 (34,4) 0,225
Viêm màng não 5 (12,5) 1 (12,5) 4 (12,5) 0,743
Trang 5TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 519 - THÁNG 10 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022
Đặc điểm về cận lâm sàng
Xét nghiệm chức năng tuyến giáp
Xét nghiệm TSH và FT4 huyết tương
được thực hiện cùng lúc lấy máu kiểm tra
các bệnh lý nhằm giảm số lần lấy máu xét
nghiệm cho trẻ
Có 3 ca chẩn đoán xác định suy giáp ở lần
đầu và có chỉ định điều trị hormone giáp nên
không xét nghiệm tầm soát lại lần hai Có 13
ca có CNTG còn bất thường ở lần hai được theo dõi CNTG lần ba Những ca có CNTG ở lần ba còn bất thường được theo dõi cho đến khi CNTG về bình thường
Trong 8 ca chẩn đoán suy giáp: tất cả đều
có TSH ≥ 20mU/L, 3 ca có FT4 thấp và 5 ca
có FT4 bình thường
Bảng 3: Giá trị xét nghiệm chức năng tuyến giáp các lần sàng lọc
n(%)
Lần 2 (n=37)
n (%)
Lần 3 (n=13)
n (%)
TSH trung bình 9,03 ± 9,92 11,60 ± 20,96 6,13 ± 5,66
FT4 (ng/dL)
FT4 trung bình 1,18 ± 0,35 1,11 ± 0,26 1,10 ± 0,18
Siêu âm tuyến giáp: có 7 ca suy giáp
được siêu âm tuyến giáp, tất cả đều có kích
thước và vị trí tuyến giáp bình thường, 1 ca
chưa được siêu âm do bệnh diễn tiến nặng và
tử vong trong bệnh cảnh nhiễm trùng huyết
nặng sau mổ u thận
Đặc điểm về điều trị
Điều trị hormone giáp
Có 1 ca chưa điều trị do trẻ còn nhịn ăn sau phẫu thuật và trẻ này sau đó tử vong trong bệnh cảnh nhiễm trùng huyết nặng sau
mổ u thận
Có 7 ca được điều trị levothyroxin liều 10-15µg/kg/ngày Tất cả 7 ca được điều trị đều có CNTG về bình thường sau điều trị 1-2 tuần
Các phương pháp điều trị khác
Bảng 4: Các phương pháp điều trị khác
Điều trị Chung (n=40)
n (%)
Suy giáp (n=8)
n (%)
Không SG
Trang 6Kết quả điều trị
Thời gian nằm viện trung bình là 49,1 ±
26,3 (25-100 ngày)
Có 1 ca tử vong và 7 ca sống Ca tử vong
trong bệnh cảnh trẻ bị trẻ bị nhiễm trùng
huyết nặng sau mổ u thận khổng lồ
Diễn tiến sau ngưng điều trị hormone
giáp:
Có 1 ca ngưng hormone giáp sau điều trị
1 tháng lúc trẻ còn nằm viện và theo dõi
CNTG vẫn bình thường sau ngưng thuốc 1
tuần và 4 tuần
Có 6 ca xuất viện được tiếp tục hormone
giáp đến 3-6 tháng sau đó ngưng điều trị, tất
cả đều có CNTG bình thường sau ngưng
thuốc 2 tuần và 4 tuần
Nhận xét: 7 ca suy giáp trong nghiên cứu
đều bị suy giáp thoáng qua
IV BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ suy
giáp ở trẻ sinh non dưới 34 tuần có tiếp xúc
dung dịch sát khuẩn chứa iod là 20% Tỉ lệ
này cao hơn hẳn so với các nghiên cứu trên
dân số non tháng nói chung: 6,1% trong
nghiên cứu của chúng tôi tầm soát trên dân
số sinh dưới 34 tuần tuổi thai tại bệnh viện
Nhi Đồng 2 [1]; 2,3% trong nghiên cứu của
Hemmati ở trẻ sinh non dưới 37 tuần [4] Tuy
nhiên, nghiên cứu của tác giả Kim là 19,4%
ở sinh non dưới 32 tuần [5]. Hai nghiên cứu
này đều không đề cập đến suy giáp có liên
quan iod Tỉ lệ suy giáp của tác giả Kim cao
có thể do dân số nghiên cứu là trẻ non tháng
hơn và chỉ nhận vào những trẻ có thời gian
nằm viện kéo dài trên 8 tuần
Trong nghiên cứu chúng tôi tỉ lệ trẻ nam
bị suy giáp là 62,5% so với nữ là 37,5%
Theo nghiên cứu tác giả Kim và cộng sự thì
tỉ lệ trẻ nam bị suy giáp là 48,6% gần tương
đương với trẻ nữ là 51,8% Tỉ lệ trẻ nam bị suy giáp cao hơn nữ có thể do dân số nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ trẻ nam cao hơn trẻ
nữ
Trong 8 ca suy giáp được phẫu thuật có 3
ca bị viêm phúc mạc do thủng ruột, 1 ca thoát vị hoành, 1 ca còn ống động mạch lớn,
1 ca tắc tá tràng, 1 ca u thận và 1 ca áp xe da đầu Trẻ sơ sinh trước khi được phẫu thuật sẽ được sát khuẩn da với dung dịch betadine 10%, sau phẫu thuật trẻ sẽ được chăm sóc vết
mổ với dung dịch betadine 1% tùy tình trạng vết mổ có nhiễm trùng hay không mà thời gian sử dụng dung dịch sát khuẩn sẽ kéo dài Tuổi trung bình lúc chẩn đoán suy giáp là 18,3 ± 6,2 ngày Thời gian trung bình từ khi tiếp xúc iod lần đầu đến khi chẩn đoán suy giáp là 14,1 ± 4,4 ngày Như vậy trẻ cần được sàng lọc CNTG sau 1-2 tuần từ khi tiếp xúc iod vì đây là giai đoạn chức năng tuyến giáp dễ bị ảnh hưởng nhất bởi tiếp xúc iod và cũng tránh bỏ sót những trường hợp suy giáp
có tình trạng chậm tăng TSH
Xét nghiệm CNTG trong nghiên cứu chúng tôi có kết quả TSH ≥ 20mU/L ở lần đầu là 3 ca; lần hai là 4 ca và lần ba là 1 ca
So sánh nghiên cứu [1] thì tỉ lệ TSH ≥ 20mU/L ở lần đầu là 5 ca; lần hai là 9 ca và lần ba là 2 ca Theo nghiên cứu của tác giả Kim thì trong 35 ca suy giáp có 16 ca xét nghiệm CNTG lần đầu bình thường và 3/16
ca này CNTG vẫn bình thường ở lần hai [5] Như vậy trẻ sinh non khi bị suy giáp có thể được chẩn đoán ở lần đầu tiên hoặc CNTG vẫn có thể bình thường ở lần đầu Do đó trẻ sinh non được khuyến cáo cần sàng lọc CNTG ít nhất 2 lần để tránh bỏ sót
Thời gian nằm viện trung bình trong nghiên cứu là 49,1 ± 26,3 ngày So sánh với
Trang 7TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 519 - THÁNG 10 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022
nghiên cứu sàng lọc suy giáp ở trẻ sinh non
dưới 34 tuần tuổi thai thì thời gian nằm viện
trung bình là 42,6 ± 22 ngày [1] Thời gian
nằm viện trong nghiên cứu chúng tôi có dài
hơn, có thể là do nhóm trẻ sinh non có bệnh
lý ngoại khoa nằm viện lâu hơn
Trừ ca tử vong do nhiễm trùng huyết sau
mổ u thận, kết quả điều trị có 7 ca đều bị suy
giáp thoáng qua Những trẻ bị suy giáp do
quá tải iod thường bị thoáng qua và phục hồi
sau đó nhưng nếu không phát hiện và điều trị
kịp thời trẻ vẫn có thể bị ảnh hướng phát
triển thần kinh [6]
V KẾT LUẬN
Trẻ sinh non có tiếp xúc dung dịch sát
khuẩn da chứa iod có thể liên quan suy giáp
nên cần xét nghiệm tầm soát suy giáp Xét
nghiệm CNTG cần làm 2 lần và sau tiếp xúc
iod từ 1-2 tuần Cần hạn chế sử dụng dung
dịch sát khuẩn da có chứa iod trong quá trình
chăm sóc, điều trị trẻ sinh non và thay thế
bằng dung dịch sát khuẩn khác an toàn hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Thị Kim Anh (2021) Đặc điểm và
các yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn
chức năng tuyến giáp ở trẻ sinh non dưới 34
tuần tuổi thai Luận văn tốt nghiệp bác sĩ
chuyên khoa II, Đại học y khoa Phạm Ngọc
Thạch
2 Lê Nguyễn Nhật Trung (2019) Suy giáp ở
trẻ sinh non cực nhẹ cân và nhẹ cân Hướng dẫn điều trị nhi khoa, Bệnh viện Nhi Đồng 2, NXB Y Học, trang 229
3 Chung HR (2019) Screening and management of thyroid dysfunction in preterm infants Ann Pediatr Endocrinol Metab;24:15-21
4 Hemmati F, Moghtaderi M, Hasanshahi P (2019) Congenital hypothyroidism in preterm
newborns: A retrospective study arising from
a screening program in fars province, Southwestern Iran Oman Medical Journal, Vol 34, N 0 3:262-265
5 Kim HR, Jung YH, Choi CW, et al (2019)
Thyroid dysfunction in preterm infants born before 32 gestational weeks BMC Pediatrics 19; 391
6 Pinsker JE, McBayne K, Edwards M, et al (2013) Transient Hypothyroidism in Premature Infants After Short-term Topical Iodine Exposure: An Avoidable Risk? Pediatrics and Neonatology 54, 128-131
7 Williams F, Watson J, Day C, et al (2017)
Thyroid dysfunction in preterm neonates exposed to iodine Journal of Perinatal Medicine, 45(1) https://doi.org/10.1515/jpm-2016-0141
8 Zdraveska N (2021) Thyroid fuction and
dysfuction in preterm infants - Challenges in evaluation, diagnosis and therapy Clinical Endocrinology, 00,1-15