1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Suy giáp thoáng qua ở trẻ sinh non có tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod tại Bệnh viện Nhi Đồng 2

7 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Suy Giáp Thoáng Qua Ở Trẻ Sinh Non Có Tiếp Xúc Dung Dịch Sát Khuẩn Da Chứa Iod Tại Bệnh Viện Nhi Đồng 2
Tác giả Nguyễn Thị Kim Anh, Hồ Thị Bớch Tuyền, Nguyễn Thỳc Bội Ngọc, Nguyễn Tố Na, Nguyễn Thanh Thiện
Trường học Bệnh viện Nhi Đồng 2
Chuyên ngành Y học, Nhi khoa
Thể loại báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 442,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Suy giáp thoáng qua ở trẻ sinh non có tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 trình bày việc xác định tỉ lệ bị suy giáp và các đặc điểm về dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ở trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi thai có tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod tại bệnh viện Nhi Đồng 2.

Trang 1

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 519 - THÁNG 10 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022

SUY GIÁP THOÁNG QUA Ở TRẺ SINH NON CÓ TIẾP XÚC DUNG DỊCH

SÁT KHUẨN DA CHỨA IOD TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Nguyễn Thị Kim Anh 1 , Hồ Thị Bích Tuyền 1 , Nguyễn Thúc Bội Ngọc 1 ,

Nguyễn Tố Na 1 , Nguyễn Thanh Thiện 1

TÓM TẮT 17

Đặt vấn đề: Hormone giáp đóng vai trò quan

trọng trong sự trưởng thành và phát triển của não

bộ Suy giáp thường gặp ở trẻ non tháng và có

thể bị ảnh hưởng do tiếp xúc dung dịch sát khuẩn

da có iod

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ bị suy giáp và các

đặc điểm về dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng

và điều trị ở trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi thai có

tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod tại bệnh

viện Nhi Đồng 2

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Mô

tả hàng loạt ca, sàng lọc chức năng tuyến giáp

cho 40 trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi thai có tiếp

xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod

Kết quả: Có 8 ca bị suy giáp chiếm tỉ lệ 20%

Tuổi thai trung bình 31±2,6 (25-34 tuần) Cân

nặng lúc sinh trung bình 1631±464 (700-2600g)

Tuổi trung bình lúc suy giáp là 18,3±6,2 ngày

Thời gian trung bình từ khi tiếp xúc iod đến khi

suy giáp là 14,1 ± 4,4 ngày Các bệnh cảnh lâm

sàng: 7 ca có nhiễm trùng, 6 ca có suy hô hấp, 4

ca có cơn ngưng thở kéo dài, 5 ca có vàng da kéo

dài Giá trị TSH ≥ 20 mU/L ở lần đầu là 3 ca, lần

hai là 4 ca và lần ba là 1 ca Kết quả điều trị có 7

ca bị suy giáp thoáng qua

1

Bệnh viện Nhi Đồng 2

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Kim Anh

Email: kimanhy98a@yahoo.com

Ngày nhận bài: 25.8.2022

Ngày phản biện khoa học: 23.9.2022

Ngày duyệt bài: 10.10.2022

Kết luận: Cần sàng lọc chức năng tuyến giáp

ở trẻ sinh non để tránh bỏ sót suy giáp nhất là những trẻ có tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod

Từ khóa: suy giáp, sinh non, iod

SUMMARY TRANSIENT HYPOTHYROIDISM IN PRETERM INFANTS AFTER TOPICAL IODINE EXPOSURE AT CHILDREN ’ S

HOSPITAL 2

Backgrounds: Thyroid hormones are critical

for growth and brain development during the newborn period and infancy Hypothyroidism is common in preterm infants and may be affected after topical iodine exposure

Objective: To identify the proportion of

hypothyroidism and characteristics of the epidemiology, clinical, laboratory, and treatment

of hypothyroidism in preterm infants born before

34 gestational weeks after topical iodine exposure at Children’s Hospital 2

Methods: Case series study, screening thyroid

functions for 40 preterm infants born before 34 gestational weeks after topical iodine exposure

Results: Eight cases (20%) with hypothyroidism The mean gestational age was 31±2.6 (25-34 weeks), and the mean birth weight was 1631±464 (700-2600g) The mean postnatal age for hypothyroidism was 18.3±6.2 days The mean time from iodine exposure to demonstrated hypothyroidism was 14.1±4.4 days The clinical conditions: seven cases with infection, six cases with respiratory distress, four cases with

Trang 2

prolonged apnea, and five cases with prolonged

jaundice The initial, second and third TSH levels

≥ 20 mU/L were three cases, four cases and one

case, respectively The final results showed seven

cases in total had transient hypothyroidism

Conclusions: Screening thyroid functions is

needed in preterm infants in order to prevent

missing hypothyroidism especially after topical

iodine exposure

Keywords: hypothyroidism, preterm, iodine

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Hormone giáp đóng một vai trò quan

trọng trong sự trưởng thành và phát triển của

não bộ Tình trạng thiếu hormone giáp sẽ gây

ra chậm phát triển thần kinh nếu được điều

trị trễ

Suy giáp thường gặp ở trẻ non tháng hơn

so với trẻ đủ tháng do trục hạ đồi - tuyến yên

- tuyến giáp chưa trưởng thành, làm suy yếu

tổng hợp và chuyển hóa hormone giáp Suy

giáp ở trẻ sinh non có thể là thoáng qua hoặc

vĩnh viễn Các nghiên cứu cho thấy tần suất

suy giáp xảy ra ở trẻ sinh dưới 37 tuần tuổi

thai là 2,3% [4] và ở trẻ dưới 32 tuần là

19,4% [5] Trẻ sinh non dễ bị suy giáp thoáng

qua do ảnh hưởng của quá trình điều trị bệnh

lý sinh non như thuốc vận mạch,

amiodarone, thuốc động kinh, thiếu hay quá

tải iod,… [8].

Suy giáp ở trẻ sinh non thường không có

triệu chứng lâm sàng như suy giáp ở trẻ lớn,

đa số được phát hiện qua xét nghiệm chức

năng tuyến giáp tầm soát trong quá trình nằm

viện Trẻ sinh non bị suy giáp thường có tình

trạng chậm tăng TSH nên việc sàng lọc được

khuyến cáo thực hiện ít nhất 2 lần để tránh

bỏ sót [3].

Đã có một số báo cáo về tình trạng suy

giáp thoáng qua ở trẻ sơ sinh non tháng có

tiếp xúc iod Trẻ non tháng dễ bị suy giáp

do quá tải iod, vì hoạt động của hiệu ứng Wolff-Chaikoff kém hiệu quả Hiệu ứng này giúp ngăn sản xuất hormone giáp quá mức khi nồng độ iod trong máu vượt mức báo động làm ngăn hấp thu và gắn iod vào tyrosine [8].

Nghiên cứu về sàng lọc suy giáp cho trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi thai của chúng tôi tại bệnh viện Nhi Đồng 2 năm 2021 cho thấy

tỉ lệ suy giáp cần điều trị hormone giáp là 6,1%; trong đó nhiều yếu tố có liên quan đến suy giáp như sinh ngạt, nhiễm trùng huyết và phẫu thuật có sử dụng dung dịch sát khuẩn

da có iod [1].

Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi muốn khảo sát tỉ lệ suy giáp, đặc điểm dịch

tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị của những trẻ sinh dưới 34 tuần tuổi thai có tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod lúc phẫu thuật và chăm sóc vết thương hậu phẫu

Mục tiêu nghiên cứu

Ở trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi thai, có tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod lúc phẫu thuật và chăm sóc vết thương hậu phẫu được điều trị tại khoa Sơ Sinh và Hồi sức sơ sinh, bệnh viện Nhi Đồng 2 trong 12 tháng,

từ 8/2020 đến 7/2021, xác định:

+ Tỉ lệ trẻ bị suy giáp

+ Tỉ lệ các đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt ca

Đối tượng nghiên cứu Tiêu chuẩn đưa vào

Trẻ sinh non dưới 34 tuần tuổi thai, có

Trang 3

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 519 - THÁNG 10 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022

tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod lúc

phẫu thuật và chăm sóc vết thương hậu phẫu

tại khoa Sơ Sinh và Hồi sức sơ sinh bệnh

viện Nhi Đồng 2, được xét nghiệm TSH và

FT4 sau thời điểm tiếp xúc iod

Tiêu chí loại trừ

Gia đình không đồng ý tham gia nghiên

cứu

Các bước tiến hành

Xét nghiệm TSH và FT4 huyết tương

được làm bằng phương pháp miễn dịch hóa

phát quang với máy sinh hóa Abbotte

Architect 12000SR, tại bệnh viện Nhi Đồng

2

Trẻ sinh non tại bệnh viện được xét

nghiệm tầm soát suy giáp 2 lần ở các thời

điểm:

+ Lần đầu: 4 -14 ngày tuổi

+ Lần hai: cách lần đầu từ 1-2 tuần, nếu

lần đầu chẩn đoán suy giáp thì không cần

tầm soát lần hai

+ Những trẻ có CNTG lần hai còn bất

thường nhưng chưa điều trị hormone giáp sẽ

được xét nghiệm theo dõi đến khi CNTG

bình thường

+ Những trẻ có điều trị hormone giáp sẽ

được xét nghiệm đánh giá lại CNTG sau điều

trị 1-2 tuần

+ Những trẻ ngưng hormone giáp cũng xét

nghiệm đánh giá lại CNTG sau khi ngưng

điều trị 1-2 tuần và 4 tuần

Chẩn đoán suy giáp và điều trị hormone

giáp khi thỏa một trong các trường hợp

[2],[5],[8]:

+ TSH ≥ 20 mU/L bất kể FT4

+ TSH tiếp tục tăng từ 10 - 19,9 mU/L lúc

4 - 6 tuần tuổi dù FT4 bình thường

+ FT4 thấp so với ngưỡng theo tuổi thai

kéo dài đến thời điểm 6 tuần tuổi dù TSH

bình thường

Chúng tôi chỉ thu thập số liệu những ca phải có ít nhất 1 lần xét nghiệm CNTG sau tiếp xúc iod và thời điểm chẩn đoán suy giáp phải sau tiếp xúc iod

Phân tích và xử lý số liệu

Bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0

Đạo đức trong nghiên cứu

Thông tin được bảo mật, gia đình đồng ý tham gia và việc lấy máu sàng lọc CNTG sẽ làm cùng mẫu xét nghiệm sinh hóa kiểm tra bệnh lý của trẻ

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong 12 tháng, từ 8/2020 đến 7/2021, có

40 trẻ sinh dưới 34 tuần tuổi thai, tiếp xúc dung dịch sát khuẩn da chứa iod khi phẫu thuật và chăm sóc vết thương hậu phẫu, được xét nghiệm TSH và FT4 có ít nhất 1 lần sau thời điểm tiếp xúc iod

Kết quả sàng lọc chức năng tuyến giáp:

Nghiên cứu chúng tôi có 8/40 ca bị suy giáp chiếm tỉ lệ 20%

Đặc điểm về dân số nghiên cứu

Tuổi nhập viện trung bình: 2,3 ± 2,6 (0-14 ngày tuổi)

Tuổi thai trung bình: 31 ± 2,6 (25-34 tuần)

Cân nặng lúc sinh trung bình: 1631 ± 464 (700-2600 gram)

Tuổi trung bình tiếp xúc iod lần đầu: 6,4 ± 7,1 (1-30 ngày tuổi)

Số ngày trung bình tiếp xúc iod: 7,3 ± 1,7 (5-14 ngày)

Tuổi trung bình lúc chẩn đoán suy giáp: 18,3 ± 6,2 (11-30 ngày tuổi)

Thời gian trung bình từ khi tiếp xúc iod lần đầu đến khi suy giáp: 14,1 ± 4,4 (8-20 ngày)

Trang 4

Bảng 1: Đặc điểm về dân số nghiên cứu

Đặc điểm dân số nghiên cứu Chung

(n=40)

n (%)

Suy giáp (n=8)

n (%)

Không SG (n=32)

n (%)

p

Giới tính Nam 27 (67,5) 5 (62,5) 22 (68,8) 0,521

Nữ 13 (32,5) 3 (37,5) 10 (32,2)

Tuổi thai < 32 tuần 27 (67,5) 4 (50) 16 (50) 0,410

32-34 tuần 13 (32,5) 4 (50) 16 (50)

0,592

> 1500g 20 (50) 4 (50) 17 (53,1)

Không 30 (75) 4 (50) 26 (81,2)

Đặc điểm về lâm sàng

Các triệu chứng lâm sàng liên quan suy

giáp thường không biểu hiện rõ ở trẻ sơ sinh

non tháng giống như trẻ lớn Đa phần trẻ sinh

non sẽ có các bệnh cảnh chung của các bệnh

lý liên quan sinh non như suy hô hấp, vàng

da, nhiễm trùng hoặc có cơn ngưng thở kéo

dài

Trong 8 ca suy giáp, tại thời điểm chẩn

đoán, trẻ có các biểu hiện lâm sàng của các

bệnh đang mắc khác: 7 ca còn dấu hiệu

nhiễm trùng, 6 ca còn suy hô hấp, 5 ca có vàng da kéo dài, 4 ca có còn ngưng thở kéo dài, 5 ca còn nuôi ăn tĩnh mạch và 3 ca đã nuôi ăn tiêu hóa đủ

Bệnh lý đi kèm sinh non trong quá trình điều trị

Trong 8 ca suy giáp được phẫu thuật có 3

ca bị viêm phúc mạc do thủng ruột, 1 ca thoát vị hoành, 1 ca còn ống động mạch lớn,

1 ca tắc tá tràng, 1 ca u thận và 1 ca áp xe da

đầu

Bảng 2: Bệnh lý đi kèm sinh non

Bệnh lý đi kèm Chung (n=40)

n (%)

Suy giáp (n=8)

n (%)

Không SG

Nhiễm trùng huyết 34 (85) 7 (87,5) 27 (84,4) 0,656

Viêm ruột hoại tử 17 (42,5) 1 (12,5) 17 (53,1) 0,054 Bệnh màng trong 14 (35) 3 (37,5) 11 (34,4) 0,588 Còn ống động mạch 14 (35) 3 (37,5) 11 (34,4) 0,588 Vàng da ứ mật 12 (30) 1 (12,5) 11 (34,4) 0,225

Viêm màng não 5 (12,5) 1 (12,5) 4 (12,5) 0,743

Trang 5

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 519 - THÁNG 10 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022

Đặc điểm về cận lâm sàng

Xét nghiệm chức năng tuyến giáp

Xét nghiệm TSH và FT4 huyết tương

được thực hiện cùng lúc lấy máu kiểm tra

các bệnh lý nhằm giảm số lần lấy máu xét

nghiệm cho trẻ

Có 3 ca chẩn đoán xác định suy giáp ở lần

đầu và có chỉ định điều trị hormone giáp nên

không xét nghiệm tầm soát lại lần hai Có 13

ca có CNTG còn bất thường ở lần hai được theo dõi CNTG lần ba Những ca có CNTG ở lần ba còn bất thường được theo dõi cho đến khi CNTG về bình thường

Trong 8 ca chẩn đoán suy giáp: tất cả đều

có TSH ≥ 20mU/L, 3 ca có FT4 thấp và 5 ca

có FT4 bình thường

Bảng 3: Giá trị xét nghiệm chức năng tuyến giáp các lần sàng lọc

n(%)

Lần 2 (n=37)

n (%)

Lần 3 (n=13)

n (%)

TSH trung bình 9,03 ± 9,92 11,60 ± 20,96 6,13 ± 5,66

FT4 (ng/dL)

FT4 trung bình 1,18 ± 0,35 1,11 ± 0,26 1,10 ± 0,18

Siêu âm tuyến giáp: có 7 ca suy giáp

được siêu âm tuyến giáp, tất cả đều có kích

thước và vị trí tuyến giáp bình thường, 1 ca

chưa được siêu âm do bệnh diễn tiến nặng và

tử vong trong bệnh cảnh nhiễm trùng huyết

nặng sau mổ u thận

Đặc điểm về điều trị

Điều trị hormone giáp

Có 1 ca chưa điều trị do trẻ còn nhịn ăn sau phẫu thuật và trẻ này sau đó tử vong trong bệnh cảnh nhiễm trùng huyết nặng sau

mổ u thận

Có 7 ca được điều trị levothyroxin liều 10-15µg/kg/ngày Tất cả 7 ca được điều trị đều có CNTG về bình thường sau điều trị 1-2 tuần

Các phương pháp điều trị khác

Bảng 4: Các phương pháp điều trị khác

Điều trị Chung (n=40)

n (%)

Suy giáp (n=8)

n (%)

Không SG

Trang 6

Kết quả điều trị

Thời gian nằm viện trung bình là 49,1 ±

26,3 (25-100 ngày)

Có 1 ca tử vong và 7 ca sống Ca tử vong

trong bệnh cảnh trẻ bị trẻ bị nhiễm trùng

huyết nặng sau mổ u thận khổng lồ

Diễn tiến sau ngưng điều trị hormone

giáp:

Có 1 ca ngưng hormone giáp sau điều trị

1 tháng lúc trẻ còn nằm viện và theo dõi

CNTG vẫn bình thường sau ngưng thuốc 1

tuần và 4 tuần

Có 6 ca xuất viện được tiếp tục hormone

giáp đến 3-6 tháng sau đó ngưng điều trị, tất

cả đều có CNTG bình thường sau ngưng

thuốc 2 tuần và 4 tuần

Nhận xét: 7 ca suy giáp trong nghiên cứu

đều bị suy giáp thoáng qua

IV BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ suy

giáp ở trẻ sinh non dưới 34 tuần có tiếp xúc

dung dịch sát khuẩn chứa iod là 20% Tỉ lệ

này cao hơn hẳn so với các nghiên cứu trên

dân số non tháng nói chung: 6,1% trong

nghiên cứu của chúng tôi tầm soát trên dân

số sinh dưới 34 tuần tuổi thai tại bệnh viện

Nhi Đồng 2 [1]; 2,3% trong nghiên cứu của

Hemmati ở trẻ sinh non dưới 37 tuần [4] Tuy

nhiên, nghiên cứu của tác giả Kim là 19,4%

ở sinh non dưới 32 tuần [5]. Hai nghiên cứu

này đều không đề cập đến suy giáp có liên

quan iod Tỉ lệ suy giáp của tác giả Kim cao

có thể do dân số nghiên cứu là trẻ non tháng

hơn và chỉ nhận vào những trẻ có thời gian

nằm viện kéo dài trên 8 tuần

Trong nghiên cứu chúng tôi tỉ lệ trẻ nam

bị suy giáp là 62,5% so với nữ là 37,5%

Theo nghiên cứu tác giả Kim và cộng sự thì

tỉ lệ trẻ nam bị suy giáp là 48,6% gần tương

đương với trẻ nữ là 51,8% Tỉ lệ trẻ nam bị suy giáp cao hơn nữ có thể do dân số nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ trẻ nam cao hơn trẻ

nữ

Trong 8 ca suy giáp được phẫu thuật có 3

ca bị viêm phúc mạc do thủng ruột, 1 ca thoát vị hoành, 1 ca còn ống động mạch lớn,

1 ca tắc tá tràng, 1 ca u thận và 1 ca áp xe da đầu Trẻ sơ sinh trước khi được phẫu thuật sẽ được sát khuẩn da với dung dịch betadine 10%, sau phẫu thuật trẻ sẽ được chăm sóc vết

mổ với dung dịch betadine 1% tùy tình trạng vết mổ có nhiễm trùng hay không mà thời gian sử dụng dung dịch sát khuẩn sẽ kéo dài Tuổi trung bình lúc chẩn đoán suy giáp là 18,3 ± 6,2 ngày Thời gian trung bình từ khi tiếp xúc iod lần đầu đến khi chẩn đoán suy giáp là 14,1 ± 4,4 ngày Như vậy trẻ cần được sàng lọc CNTG sau 1-2 tuần từ khi tiếp xúc iod vì đây là giai đoạn chức năng tuyến giáp dễ bị ảnh hưởng nhất bởi tiếp xúc iod và cũng tránh bỏ sót những trường hợp suy giáp

có tình trạng chậm tăng TSH

Xét nghiệm CNTG trong nghiên cứu chúng tôi có kết quả TSH ≥ 20mU/L ở lần đầu là 3 ca; lần hai là 4 ca và lần ba là 1 ca

So sánh nghiên cứu [1] thì tỉ lệ TSH ≥ 20mU/L ở lần đầu là 5 ca; lần hai là 9 ca và lần ba là 2 ca Theo nghiên cứu của tác giả Kim thì trong 35 ca suy giáp có 16 ca xét nghiệm CNTG lần đầu bình thường và 3/16

ca này CNTG vẫn bình thường ở lần hai [5] Như vậy trẻ sinh non khi bị suy giáp có thể được chẩn đoán ở lần đầu tiên hoặc CNTG vẫn có thể bình thường ở lần đầu Do đó trẻ sinh non được khuyến cáo cần sàng lọc CNTG ít nhất 2 lần để tránh bỏ sót

Thời gian nằm viện trung bình trong nghiên cứu là 49,1 ± 26,3 ngày So sánh với

Trang 7

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 519 - THÁNG 10 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2022

nghiên cứu sàng lọc suy giáp ở trẻ sinh non

dưới 34 tuần tuổi thai thì thời gian nằm viện

trung bình là 42,6 ± 22 ngày [1] Thời gian

nằm viện trong nghiên cứu chúng tôi có dài

hơn, có thể là do nhóm trẻ sinh non có bệnh

lý ngoại khoa nằm viện lâu hơn

Trừ ca tử vong do nhiễm trùng huyết sau

mổ u thận, kết quả điều trị có 7 ca đều bị suy

giáp thoáng qua Những trẻ bị suy giáp do

quá tải iod thường bị thoáng qua và phục hồi

sau đó nhưng nếu không phát hiện và điều trị

kịp thời trẻ vẫn có thể bị ảnh hướng phát

triển thần kinh [6]

V KẾT LUẬN

Trẻ sinh non có tiếp xúc dung dịch sát

khuẩn da chứa iod có thể liên quan suy giáp

nên cần xét nghiệm tầm soát suy giáp Xét

nghiệm CNTG cần làm 2 lần và sau tiếp xúc

iod từ 1-2 tuần Cần hạn chế sử dụng dung

dịch sát khuẩn da có chứa iod trong quá trình

chăm sóc, điều trị trẻ sinh non và thay thế

bằng dung dịch sát khuẩn khác an toàn hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Thị Kim Anh (2021) Đặc điểm và

các yếu tố liên quan đến tình trạng rối loạn

chức năng tuyến giáp ở trẻ sinh non dưới 34

tuần tuổi thai Luận văn tốt nghiệp bác sĩ

chuyên khoa II, Đại học y khoa Phạm Ngọc

Thạch

2 Lê Nguyễn Nhật Trung (2019) Suy giáp ở

trẻ sinh non cực nhẹ cân và nhẹ cân Hướng dẫn điều trị nhi khoa, Bệnh viện Nhi Đồng 2, NXB Y Học, trang 229

3 Chung HR (2019) Screening and management of thyroid dysfunction in preterm infants Ann Pediatr Endocrinol Metab;24:15-21

4 Hemmati F, Moghtaderi M, Hasanshahi P (2019) Congenital hypothyroidism in preterm

newborns: A retrospective study arising from

a screening program in fars province, Southwestern Iran Oman Medical Journal, Vol 34, N 0 3:262-265

5 Kim HR, Jung YH, Choi CW, et al (2019)

Thyroid dysfunction in preterm infants born before 32 gestational weeks BMC Pediatrics 19; 391

6 Pinsker JE, McBayne K, Edwards M, et al (2013) Transient Hypothyroidism in Premature Infants After Short-term Topical Iodine Exposure: An Avoidable Risk? Pediatrics and Neonatology 54, 128-131

7 Williams F, Watson J, Day C, et al (2017)

Thyroid dysfunction in preterm neonates exposed to iodine Journal of Perinatal Medicine, 45(1) https://doi.org/10.1515/jpm-2016-0141

8 Zdraveska N (2021) Thyroid fuction and

dysfuction in preterm infants - Challenges in evaluation, diagnosis and therapy Clinical Endocrinology, 00,1-15

Ngày đăng: 31/12/2022, 10:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm