Bài viết Hiệu quả phương pháp đặt catheter tĩnh mạch cảnh trong dưới hướng dẫn siêu âm tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Nhi Đồng 2 trình bày việc so sánh hiệu quả của phương pháp đặt catheter tĩnh mạch cảnh trong dưới hướng dẫn siêu âm so với phương pháp mốc giải phẫu.
Trang 1HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP ĐẶT CATHETER TĨNH MẠCH CẢNH TRONG DƯỚI HƯỚNG DẪN SIÊU ÂM
TẠI KHOA CẤP CỨU BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2
Văn Thị Cẩm Thanh 1 , Nguyễn Huy Luân 2 , Hồ Thị Quỳnh Nga 1
Trương Thanh Toàn 1 , Phạm Ngọc Trâm 1
TÓM TẮT 19
Đặt vấn đề - Mục tiêu: Kỹ thuật đặt catheter
tĩnh mạch trung tâm dưới hướng dẫn siêu âm có
nhiều ưu thế so với kỹ thuật dựa trên mốc giải
phẫu Tuy nhiên, kĩ thuật này vẫn chưa được ứng
dụng rộng rãi Nghiên cứu này so sánh hiệu quả
của phương pháp đặt catheter tĩnh mạch cảnh
trong dưới hướng dẫn siêu âm so với phương
pháp mốc giải phẫu
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt
ngang mô tả, tiến cứu được thực hiện tại khoa
Cấp cứu Bệnh viện Nhi đồng 2 trong khoảng thời
gian từ 04/2021 – 05/2022
Kết quả: Có 131 bệnh nhân với 87 bệnh nhân
trong nhóm siêu âm và 44 bệnh nhân trong nhóm
mốc giải phẫu Không có sự khác biệt về tỉ lệ
thành công chung (94,3% so với 88,6%, p =
0,253), biến chứng (9,2% và 15,9%, p = 0,254)
và thời gian từ lúc đâm kim đến khi luồn
guidewire (28 giây so với 30 giây, p = 0,822)
giữa 2 nhóm siêu âm và mốc giải phẫu Đối với
bệnh nhân < 3 kg, nhóm siêu âm có tỉ lệ thành
công cao hơn (100% so với 42,9%, p = 0,049)
Ứng dụng siêu âm làm tăng tỉ lệ thành công ở lần
đâm kim đầu tiên ở nhóm siêu âm so với nhóm
1 Bệnh viện Nhi đồng 2
2 Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Chịu trách nhiệm chính: Văn Thị Cẩm Thanh
Email: camthanh151990@gmail.com
Ngày nhận bài: 25.8.2022
Ngày phản biện khoa học: 23.9.2022
mốc giải phẫu (81,7% so với 59%, p = 0,007, OR
= 3,1 với 95% CI 1,33 – 7,26) Tỉ lệ BN có < 3 lần đâm kim là 96,3% ở nhóm siêu âm và 84,6%
ở nhóm mốc giải phẫu (p = 0,022, OR = 4,78 với 95% CI 1,13 – 20,29) Tỉ lệ biến chứng tràn khí màng phổi ở nhóm siêu âm thấp hơn nhóm mốc giải phẫu (0% và 2,3%, p = 0,036, OR = 0,32 với 95% CI 0,249 – 0,412) Không có sự khác biệt về
tỉ lệ thành công và biến chứng theo kinh nghiệm người thực hiện Bác sĩ có kinh nghiệm ít đến trung bình có tỉ lệ thành công ở lần đâm kim đầu tiên là 83,3% ở nhóm siêu âm so với 44,4% ở nhóm mốc giải phẫu (p = 0,006, OR = 6,2 với 95% CI = 1,46 – 26,46)
Kết luận: Ứng dụng siêu âm khi đặt catheter
tĩnh mạch cảnh trong làm tăng tỉ lệ thành công ở lần đâm kim đầu tiên, đặc biệt ở nhóm bác sĩ không có nhiều kinh nghiệm, tăng tỉ lệ thành công ở nhóm bệnh nhân có cân nặng thấp, giảm
số lần đâm kim, giảm tỉ lệ biến chứng tràn khí màng phổi so với phương pháp mốc giải phẫu
Từ khóa: Đặt catheter tĩnh mạch cảnh trong,
hướng dẫn siêu âm
SUMMARY
THE EFFECTIVENESS OF ULTRASOUND-GUIDED CATHETERIZATION OF THE INTERNAL JUGULAR VEIN AT EMERGENCY DEPARTMENT IN CHILDREN’S HOSPITAL 2
Background - Objectives: Central venous
catheterization with ultrasound-guided shows
Trang 2many advantages compare with traditional
procedure However, this procedure with
ultrasound has not broadly applied This study
aims to evaluate the effectiveness of real-time
ultrasound guidance over landmark technique for
the internal jugular vein catheterization
Methods: A prospective cross-sectional study
in pediatric patients, performed
ultrasound-guided catheterization of the internal jugular vein
at the Emergency department in Children’s
hospital 2 from 04/2021 to 05/2022
Results: There were 131 patients enrolled
with 87 patients into ultrasound (US) group and
44 patients into landmark (LM) group There was
no difference in overall success rates (94.3% US
vs 88.6% LM, p = 0.253), overall complications
(9.2% US vs 15.9% LM, p = 0.254), and the
median canulation time (28 seconds US vs 30
seconds LM, p = 0.822) To patients with a
weight below 3 kg, we found a higher success
rate in the ultrasound guidance than in the LM
group (100% vs 42.9%, p = 0.049) Ultrasound
was associated with an increase in the
first-attempt success rate (81.7% vs 59%, p = 0.007,
OR = 3.1 95% CI 1.33 to 7.26) Fewer than three
attempts were required to achieve success in
96.3% of patients in the US guidance group but
84.6% in the LM group (p = 0.022, OR = 4.78,
95% CI 1.13 to 20.29) Ultrasoud guidance also
significantly reduced the incidence of
pneumothorax (0% và 2.3%, p = 0.036, OR =
0.32, 95% CI 0.249 to 0.412) There was no
difference in overall success rates and
complications according to operator’s
experience Success on the first attempt
performed by operators with limited experience
was seen in 83.3% and 44.4% of venous
punctures in the US guidance and LM groups,
respectively (p = 0.006, OR = 6.2 95% CI = 1.46
– 26.46)
Conclusion: Compared with the landmark
technique, ultrasound guidance for internal jugular vein cannulation in children was associated with an increased first-attempt success rate, especially performed by operators with limited experience, an increased success rate in patients with low weight, a reduced number of puncture attempts, and a fewer incidence of pneumothorax during central venous catheter placement in children
Key words: Central venous catheterization,
Ultrasound guidance
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm (TMTT)
là một trong những kĩ thuật thường được thực hiện trong các khoa lâm sàng, đóng vai trò quan trọng trong việc cấp cứu và hồi sức những bệnh nhân nặng Trước đây, việc đặt catheter được thực hiện thông qua việc xác định các mốc giải phẫu ngoài da Tuy nhiên, phương pháp này phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của người thực hiện và giải phẫu học của từng bệnh nhân Gần đây, việc ứng dụng siêu âm vào kỹ thuật đặt catheter tĩnh mạch trung tâm đã giúp tăng tỷ lệ thành công, giảm biến chứng, giảm thời gian thực hiện thủ thuật khi tiếp cận tĩnh mạch cảnh trong [6] Tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Nhi đồng 2, việc ứng dụng siêu âm khi tiếp cận đường truyền TMTT vẫn chưa được thực hiện đồng
bộ, bên cạnh đó chưa có 1 nghiên cứu nào được thực hiện để tổng kết hiệu quả của phương pháp này Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu để thấy rõ hiệu quả và biến chứng của phương pháp này so với phương pháp dựa theo mốc giải phẫu Từ đó, làm nền tảng để thực hiện áp dụng kĩ thuật đặt catheter tĩnh mạch trung tâm dưới hướng dẫn siêu âm một cách rộng rãi và đồng bộ hơn
Trang 3Mục tiêu nghiên cứu
So sánh hiệu quả của phương pháp đặt
catheter tĩnh mạch cảnh trong (TMCT) dưới
hướng dẫn siêu âm so với phương pháp mốc
giải phẫu
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân được đặt catheter tĩnh mạch
cảnh trong tại khoa Cấp cứu Bệnh viện Nhi
đồng 2 từ tháng 04/2021 đến tháng 05/2022,
có sự đồng ý của thân nhân và kí cam kết
đồng ý làm thủ thuật
Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính dựa vào công thức so
sánh 2 tỉ lệ:
n1 ≥
Với p = ; n2 = n1 x r
Dựa vào nghiên cứu của Leung [6], tỉ lệ
thành công của phương pháp siêu âm và mốc
giải phẫu p1 = 93,9%, p2 = 78,5%, sai lầm
loại 1 (α) là 0,1; sai lầm loại 2 (β) là 0,2; r =
0,5, ta tính được cỡ mẫu là n1 ≥ 87, n2 ≥ 44
Vậy cỡ mẫu là ít nhất là 131 bệnh nhân
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả, tiến cứu
Kĩ thuật chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện Bác sĩ lâm sàng sẽ
quyết định chọn tĩnh mạch muốn tiếp cận và
phương pháp đặt theo mốc giải phẫu hay
dưới hướng dẫn siêu âm, tùy thuộc vào kinh
nghiệm và tình trạng lâm sàng của BN
Phương pháp tiến hành
Dụng cụ: Máy siêu âm Hitachi Arietta
V60 với đầu dò mạch máu
Chuẩn bị tư thế BN: BN nằm ngửa, xoay
đầu sang bên đối diện khoảng 450 để bộc lộ
TMCT
Cách đi kim:
Theo mốc giải phẫu: Tìm vị trí giữa hai
bó cơ ức đòn chũm, ngang mức sụn nhẫn (tam giác Sedillot) Đi kim từ vị trí này, thân kim tạo với mặt phẳng da góc 30-40 độ, hướng kim về hướng núm vú cùng bên Vừa chích vừa rút bơm tiêm tạo áp lực âm, hút cho đến khi có máu trong bơm tiêm thì ngưng, gỡ bơm tiêm ra xác định máu chảy ra
có phải máu tĩnh mạch không, nếu đúng thì dùng ngón tay cái bịt chạt đốc kim, luồn guide wire vào, sau đó luồn catheter
Dưới hướng dẫn siêu âm: Đặt đầu dò siêu
âm để xác định vị trí tĩnh mạch, tương quan động tĩnh mạch và tiến hành chọc tĩnh mạch bằng kim Điều chỉnh đầu dò để thấy đường
đi của kim cho đến khi thấy đầu kim trong lòng mạch Sau đó rút máu, rút nòng kim, luồn guidewire, luồn catheter TMTT
Chụp X quang ngực để kiểm tra vị trí catheter cũng như biến chứng tràn khí, tràn máu màng phổi
Phương pháp thu thập số liệu
Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được nhập và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 20.0
Định nghĩa biến số
Thành công: Thủ thuật được gọi là thành công khi sau khi kết thúc thủ thuật catheter nằm trong lòng tĩnh mạch cảnh trong, bất kể
số lần đâm kim [7] Thất bại: Khi người thực hiện không thể đặt được catheter, cần phải thay đổi người thực hiện hoặc thay đổi phương pháp (từ theo mốc giải phẫu sang siêu âm và ngược lại) [7] Nguy cơ chảy máu: khi số lượng tiểu cầu < 50 k, hoặc PT, aPTT
> 1.5 lần giá trị bình thường [7] Thời gian từ lúc đâm kim lần đầu tiên đến lúc luồn được guide wire vào lòng mạch (canula time): được đo bằng đồng hồ bấm giờ và bấm bởi điều dưỡng [1], [7] Số lần đâm kim: 1 lần đâm
Trang 4kim được tính từ lúc đâm kim qua da đến lúc
rút kim khỏi bề mặt da [4], [8] Kinh nghiệm
người thực hiện: dựa trên số lần đặt catheter
TMTT theo phương pháp hướng dẫn siêu âm hoặc theo mốc giải phẫu đã thực hiện được thành công [7]
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ dân số nghiên cứu
Đặc điểm dịch tễ
Siêu âm (n = 87)
Mốc giải phẫu
Tuổi
0,244
Trung vị (tứ phân vị 25 và 75)
Cân
nặng
0,224
Trung vị (tứ phân vị 25 và 75)
Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng của dân số nghiên cứu
Giá trị
2 nhóm
(n = 131)
Siêu âm
(n = 87)
Mốc giải phẫu
Số BN (%) Số BN (%) Số BN (%)
Bệnh
cảnh
lâm
sàng
nổi bật
Tình trạng sốc 80 (61,1) 60 (69) 20 (45,5)
0,065
Bệnh lý tiêu hóa 12 (9,2) 5 (5,7) 7 (15,9)
Chỉ
định
đặt
catheter
TMCT
Truyền thuốc vận mạch 91 (69,5) 68 (78,2) 23 (52,3)
0,01
Khó tiếp cận TM ngoại
Thở
máy
Trang 510 - < 20 kg 18 (100) 5 (100)
Sử dụng an thần 128 (97,7) 85 (97,7) 43 (97,7) 0.992
Tiền sử đặt catheter cùng bên 3 (2,3) 0 (0) 3 (6,8) 0,014
Bảng 3: Kết quả đặt catheter TMCT của dân số nghiên cứu
Giá trị
2 nhóm (n = 131)
Siêu âm (n = 87)
Mốc giải phẫu
Tỉ lệ
thành
công
3 – < 10 kg 68 (93,2) 43 (91,5) 25 (96,2) 0,649
10 - < 20 kg 23 (100) 18 (100) 5 (100)
Biến
chứng
Tràn khí màng
Chọc vào động
Bảng 4: Số lần đâm kim trên BN thành công ở 2 nhóm
Số lần đâm kim
Siêu âm
(n = 82)
Mốc giải phẫu
OR
[95% CI]
Số BN (%) Số BN (%)
0,885]
< 3 lần 79 (96,3) 33 (84,6) 0,022 4,78 [1,13 – 20,29] Trung vị (tứ phân
Trang 6Thời gian trung vị từ lúc đâm kim đến lúc
luồn guidewire ở nhóm siêu âm là 28 giây,
(khoảng tứ phân vị 25 và 75 là 20 và 60
giây), ở nhóm mốc giải phẫu là 30 giây
(khoảng tứ phân vị 25 và 75 là 20 và 50 giây)
(p = 0,822)
Tỉ lệ biến chứng chung là 11,5%, các biến
chứng như chảy máu, hematoma, rối loạn
nhịp hay chọc vào động mạch giữa 2 nhóm siêu âm và mốc giải phẫu không khác nhau
có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Ở nhóm mốc giải phẫu có 3 bệnh nhân bị tràn khí màng phổi, trong khi ở nhóm siêu âm không có ca nào bị tràn khí màng phổi (0% so với 6,8%,
p < 0,05; OR = 0,32, 95% CI 0,249 – 0,412)
Bảng 5: Tỉ lệ thành công theo kinh nghiệm người thực hiện
Giá trị Kinh nghiệm người thực
hiện
Siêu âm
Số BN (%)
Mốc giải phẫu
Số BN (%)
p
Tỉ lệ thành công
< 20 catheter 37 (90,2) 6 (100) 0,568
> 50 catheter 4 (100) 30 (88.2) 0,628
Tỉ lệ biến chứng
Tỉ lệ thành công
ở lần đâm kim
đầu tiên
< 50 catheter 65 (83,3) 4 (44,4) 0,006
IV BÀN LUẬN
Trong thời gian thực hiện nghiên cứu,
chúng tôi có 131 BN được chia làm 2 nhóm:
nhóm đặt catheter TMCT dưới hướng dẫn
siêu âm (n = 87) và nhóm đặt catheter TMCT
theo mốc giải phẫu (n = 44) Tỉ lệ thành công
là 94,3% ở nhóm siêu âm và 88,6% ở nhóm
mốc giải phẫu (p > 0,05) Tỉ lệ này trong
nhóm siêu âm và nhóm mốc giải phẫu của
chúng tôi tương đương với nghiên cứu của
tác giả Curt D Froehlich (90,8% và 88,2%, p
= 0,54) [5] Tỉ lệ thành công trong nhóm mốc
giải phẫu của chúng tôi cao hơn nghiên cứu
của Tiago Henrique de Souza (61%) [4] Điều
này có thể do khác biệt về kinh nghiệm người thực hiện
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ thành công của nhóm siêu âm và nhóm mốc giải phẫu tương đương nhau Kết quả tương
tự như trong nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng của Curt D Froehlich [5] Tuy nhiên, nghiên cứu cộng gộp năm 2018 từ 23 nghiên cứu ở trẻ em trên 3995 lần làm thủ thuật đã kết luận siêu âm giảm tỉ lệ thất bại khi đặt catheter TMTT so với mốc giải phẫu (OR = 0,34; 95% CI: 0,21 – 0,55) [3] Điều này có thể do sự không tương đồng giữa người thực hiện trong 2 nhóm BN trong nghiên cứu của
Trang 7chúng tôi; nhóm siêu âm đa số là bác sĩ có
kinh nghiệm ít đến trung bình (chiếm
95,4%); trong khi đó nhóm mốc giải phẫu đa
số là bác sĩ có nhiều kinh nghiệm (chiếm
77,3%)
Đặc biệt, trong nghiên cứu của chúng tôi,
nhóm BN có cân nặng < 3 kg có tỉ lệ thành
công cao hơn hẳn so với mốc giải phẫu
(100% so với 42,9%, p < 0,05) Nghiên cứu
của Tiago Henrique cũng ghi nhận ở nhóm
BN có cân nặng < 6 kg, phương pháp siêu
âm có tỉ lệ thành công cao hơn so với
phương pháp mốc giải phẫu (60% so với
8,7%, p < 0,001) Dữ liệu này cho thấy sử
dụng phương pháp siêu âm để đặt catheter
TMTT đặc biệt quan trọng ở trẻ có cân nặng
thấp [4]
Trong nghiên cứu của chúng tôi, ở lần
đâm kim đầu tiên, tỉ lệ thành công ở nhóm
siêu âm cao hơn so với nhóm mốc giải phẫu
(81,7% so với 59%, OR = 3,1 với 95% CI
1,33 – 7,26) Kết quả cũng tương tự như
trong nghiên cứu của Tiago Henrique de
Souza [4] Điều này chứng tỏ rằng, sử dụng
phương pháp siêu âm khi đặt catheter TMCT
làm tăng tỉ lệ thành công ở lần đâm kim đầu
tiên so với phương pháp mốc giải phẫu
Tỉ lệ BN có số lần đâm kim < 3 lần trong
nghiên cứu của chúng tôi ở nhóm siêu âm là
96,3% cao hơn so với nhóm mốc giải phẫu là
84,6% (p = 0,022, OR = 4,78; 95% CI 1,13 –
20,29) Nghiên cứu của Tiago Henrique de
Souza và cộng sự [4] cũng ghi nhận tỉ lệ này
là 100% ở nhóm siêu âm và 44% ở mốc giải
phẫu với OR = 0,46 [95% CI 0,32 – 0,66]
Tỉ lệ thành công và biến chứng theo kinh nghiệm trong nghiên cứu của chúng tôi không khác biệt ở 2 nhóm siêu âm và mốc giải phẫu Tuy nhiên, tỉ lệ thành công ở lần đâm kim đầu tiên được thực hiện bởi bác sĩ
có kinh nghiệm ít và trung bình là 83,3%, cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Neeta
và cộng sự là 52,6% [2] Bên cạnh đó, nghiên cứu của chúng tôi còn cho thấy tỉ lệ này ở nhóm siêu âm cao so với nhóm mốc giải phẫu (83,3% so với 44,4%, p = 0,006, OR = 6,2, 95% CI 1,46 – 26,46) Nghiên cứu của tác giả Ignacio Oulego-Erroz cũng chỉ ra những bác sĩ có ít hơn 5 năm kinh nghiệm dùng siêu âm thực hiện thành công đặt catheter TMCT ở lần đâm kim đầu tiên cao hơn so với theo mốc giải phẫu (48% so với 23%, p < 0,001) [7]
Hạn chế của đề tài
Cỡ mẫu nhỏ, cách chọn mẫu thuận tiện Cách tốt nhất là chọn mẫu xác xuất, có bắt cặp theo các yếu tố về lứa tuổi, cân nặng, bệnh lý
BN ở 2 nhóm siêu âm và mốc giải phẫu không tương đồng về một số đặc điểm dịch
tễ và lâm sàng Kinh nghiệm người thực hiện thủ thuật trong 2 nhóm nghiên cứu không tương đồng nhau
V KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đặt catheter TMCT dưới hướng dẫn siêu
âm làm tăng tỉ lệ thành công ở lần đâm kim đầu tiên, đặc biệt trên nhóm bác sĩ không có nhiều kinh nghiệm, tăng tỉ lệ thành công ở nhóm bệnh nhân có cân nặng thấp, giảm số
Trang 8lần đâm kim, giảm tỉ lệ biến chứng tràn khí
màng phổi so với phương pháp mốc giải
phẫu truyền thống Từ đó, chúng tôi kiến
nghị nên ứng dụng siêu âm rộng rãi cho tất
cả các thủ thuật đặt catheter TMCT, đặc biệt
với các bác sĩ không có nhiều kinh nghiệm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Curt D Froehlich, Mark R Rigby, Eli S
Rosenberg, et al (2009) "Ultrasound-guided
central venous catheter placement decreases
complications and decreases placement
attempts compared with the landmark
technique in patients in a pediatric intensive
care unit" 37 (3), pp 1090-1096
2 Ignacio Oulego-Erroz, Rafael
González-Cortes, Patricia García-Soler, et al (2018)
"Ultrasound-guided or landmark techniques
for central venous catheter placement in
critically ill children" 44 (1), pp tr.61-72
3 Julie Leung, Martin Duffy, Andrew
Finckh (2006) "Real-time
ultrasonographically-guided internal jugular
vein catheterization in the emergency
department increases success rates and
reduces complications: a randomized,
prospective study" Annals of emergency
medicine, 48 (5), pp tr.540-547
4 Marie T Aouad, Ghassan E Kanazi, Faraj
W Abdallah (2010) "Femoral vein
cannulation performed by residents: a comparison between ultrasound-guided and landmark technique in infants and children undergoing cardiac surgery" 111 (3), pp tr.724-728
5 Neeta Bose, Hasmukh Patel, Hemlata Kamat (2014) "Evaluation of ultrasound for
central venous access in ICU by an in experienced trainee" Indian Journal of Critical Care Medicine: Peer-reviewed, Official Publication of Indian Society of Critical Care Medicine, 18 (1), pp 26
6 Susan T Verghese, Willis A McGill, Ramesh I Patel, et al (1999)
"Ultrasound-guided internal jugular venous cannulation in infants: a prospective comparison with the traditional palpation method" 91 (1), pp tr 71-77
7 Tiago Henrique de Souza, Marcelo Barciela Brandao, José Antonio Hersan Nadal, et al (2018) "Ultrasound guidance
for pediatric central venous catheterization: a meta-analysis" 142 (5)
8 Tiago Henrique de Souza, Marcelo Barciela Brandão, Thiago Martins Santos,
et al (2018) "Ultrasound guidance for
internal jugular vein cannulation in PICU: a randomised controlled trial" 103 (10), pp tr.952-956