Bài viết Phẫu thuật nội soi trong ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm: Báo cáo nhân một trường hợp trình bày một trường hợp ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm được điều trị tại khoa Sản của Bệnh viện Thanh Nhàn bằng kỹ thuật nội soi cắt tử cung và vét hạch chậu.
Trang 1TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 517 - THÁNG 8 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2022
PHẪU THUẬT NỘI SOI TRONG UNG THƯ CỔ TỬ CUNG GIAI ĐOẠN SỚM:
BÁO CÁO NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP
Nguyễn Thị Ngọc Bích*, Kiều Tiến Quyết*, Đặng Thuỳ Trang* TÓM TẮT 14
Phẫu thuật xâm lấn tối thiểu đang trở thành
một lựa chọn phổi biến hơn cho nhiều ca phẫu
thuật phụ khoa, nó giảm mất máu trong phẫu
thuật và thời gian nằm viện sau phẫu thuật cũng
như thời gian phục hồi nhanh hơn Điều đó thôi
thúc các nhà ung thư phụ khoa tìm cách thực hiện
các ca mổ mở truyền thống thông qua nội soi Vì
những lợi ích trên mà phẫu thuật cắt tử cung nội
soi ngày càng được nhiều nhà ung thư phụ khoa
sử dụng
Từ khoá: ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm,
phẫu thuật nội soi, cắt tử cung, phẫu thuật mổ
mở,…
SUMMARY
LAPAROSCOPIC RADICAL
HYSTERECTOMY FOR EARLY
STAGE CERVICAL CANCER:
A CASE REPORT
Minimally invasive surgery is becoming a
more popular option for many gynecological
surgeries, because of its decrease in operative
blood loss and length of stay after surgery as well
as faster recovery time Gynecologic oncologists
have sought to perform traditionally open cases
through laparoscopy Because of benefits like
these, laparoscopic radical hysterectomy is
*Bệnh viện Thanh Nhàn
Chịu trách nhiệm chính: Kiều Tiến Quyết
Email: quyet.hmu@gmail.com
ĐT: 0981468129
Ngày nhận bài: 20/05//2022
Ngày phản biện khoa học: 14/06/2022
Ngày duyệt bài:28/06/2022
becoming a more popular option in treatment early stage cervical cancer by Gynecologic oncologists because of its advantages
Keyword: early stage cervical cancer, laparoscopic, hysterectomy, laparotomy,…
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là ung thư phổ biến thứ 3 trong các ung thư phụ khoa và thứ 8 trong các loại ung thư tại Mỹ Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung là một trong năm ung thư thường gặp ở phụ nữ và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu Hiện nay nhờ sự phát triển của khoa học, kinh tế, trình độ dân trí, các phương pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung như: PAP smear, tế bào nhúng dịch, thin – prep, đặc biệt là kết hợp sàng lọc HPV – DNA, soi cổ tử cung ngày càng được sử dụng phổ biến đã giúp phát hiện và chẩn đoán ra rất nhiều ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm Vào đầu những năm 90, phương pháp mổ mở cắt tử cung triệt để kết hợp với nạo vét hạch vùng chậu đã được phát triển để điều trị ung thư cổ tử cung nhưng vì còn nhiều biến chứng nên chưa được áp dụng phổ biến Cùng với sự phát triển của kháng sinh, truyền máu, và gây mê, phẫu thuật đã trở lên phổ biến trong ung thư cổ tử cung giai đoạn đầu và được sử dụng phổ biến ở 115 quốc gia trên thế giới Đến những năm 1990 các nhà ung thư phụ khoa bắt đầu đưa kỹ thuật nội soi cắt tử cung hoàn toàn và vét hạch chậu vào trong điều trị ung thư, phải
Trang 2HỘI NGHỊ KHOA HỌC BỆNH VIỆN THANH NHÀN LẦN THỨ VIII NĂM 2022
đến năm 2004 với nhưng phát triển của kỹ
thuật nội soi và công nghệ cho thấy sự khả
thi và an toàn thì phẫu thuật nội trong điều trị
ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm mới được
áp dụng và đưa vào các khuyến cáo Từ đó
đến nay qua tổng kết người ta đã thấy rằng
việc phẫu thuật nội soi cắt tử cung triệt để
kèm nạo vét hạch chậu trong giai đoạn sớm
của UTCTC mang lại nhiều ưu điểm vượt
trội như thời gian phẫu thuật, lượng máu mất
ít hơn, thời gian hồi phục nhanh hơn, nằm
viện ngắn hơn, ít tai biến hơn phẫu thuật mổ
mở ngày càng được áp dụng rộng dãi
Tại Việt Nam khi mà các bệnh viện
chuyên khoa đầu ngành đã áp dụng nội soi
trong điều trị ung thư phụ khoa và có các báo
cáo chất lượng thì các khoa sản trong bệnh
viện đa khoa như khoa sản bệnh viện Thanh
Nhàn mới từng bước áp dụng và nắm vững
kỹ thuật nội soi để điều trị cho các bênh nhân
ung thư phụ khoa giai đoạn sớm Đặc biệt
với phẫu thuật nội soi cắt tử cung và vét hạch
chậu không nhiều khoa sản trong các viện đa
khoa có thể làm được Nhân đây chúng tôi
xin trình bày một trường hợp ung thư cổ tử
cung giai đoạn sớm được điều trị tại khoa
Sản của Bệnh viện Thanh Nhàn bằng kỹ
thuật nội soi cắt tử cung và vét hạch chậu
II MÔ TẢ CA BỆNH
Bệnh nhân 65 tuổi, PARA 2022, mãn kinh
10 năm, BMI 22.6 Tiền sử: tăng huyết áp
phát hiện 6 năm, điều trị thường xuyên bằng
amlordipin 5mg/ng Bệnh nhân ra máu âm
đạo 1 ngày đi khám
Khám bằng mỏ vịt: âm đạo nhẵn, không
có khối Cổ tử cung kích thước bình thường,
cứng, vị trí 12 giờ có hình ảnh tăng sinh
mạch kt 0.5x1cm, tử cung kích thước bình
thường, di động tốt 2 phần phụ không có khối bất thường Cùng đồ mềm, không thâm nhiễm
Bệnh nhân được làm PAP smear: kết quả tổn thương tế bào vảy mức độ cao ( HSIL) Bệnh nhân được soi cổ tử cung và sinh thiết
cổ tử cung kết quả: ung thư biểu mô vảy kém biệt hoá
Siêu âm vùng chậu: tử cung kích thước bình thường, phần phụ 2 bên bình thường, niêm mạc tử cung dày 3mm, cổ tử cung dài 34mm, không có khối bất thường MRI tiểu khung: Thành trước cổ tử cung có nốt giảm tín hiệu trên T1W kích thước 10x20mm, ngấm mạnh thuốc đối quang từ sau tiêm, không xâm lấn dây chẳng rộng, không xâm lấn 1/3 trên âm đạo, cùng đồ, bàng quang, trực tràng bình thường, không thấy hình ảnh hạch tiểu khung
Chẩn đoán trước phẫu thuật: Ung thư cổ
tử cung giai đoạn IB1/ Tăng huyết áp
Bệnh nhân được chỉ định cắt tử cung hoàn toàn, 2 phần phụ và vét hạch chậu 2 bên Thực hiện phẫu thuật: Đầu tiên, cắt dây chằng tròn bên phải tại vị trí sát thành chậu, bóc tách phúc mạc bộc lộ niệu quản bên phải, bóc tách bạch huyết bên phải theo thứ tự: hạch quanh động mạch chậu chung, quanh động mạch chậu ngoài, hạch hố bịt, hạch quanh mạch chậu trong, thắt động mạch
tử cung phải Quy trình được lặp lại tương tự với bên trái tử cung Bóc tách bàng quang và trực tràng Cắt tử cung, lấy bệnh phẩm qua đường âm đạo, đóng mỏm cắt qua nội soi Tổng lượng máu mất 100ml
Tổng thời gian phẫu thuật 195 phút Kết quả giải phẫu bệnh: Ung thư biểu mô
tế bào vảy xâm nhập ½ lớp cơ cổ tử cung,
Trang 3TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 517 - THÁNG 8 - SỐ ĐẶC BIỆT - 2022
bên phải có 1/8 hạch có ung thư biểu mô tế
bào vảy di căn, bên trái có 7/7 hạch không có
tế bào ác tính
Bệnh nhân được theo dõi và điều trị kháng
sinh tại viện 5 ngày, và khám lại sau 30 ngày
không có biến chứng
IV BÀN LUẬN
Cắt tử cung triểt để vẫn là phương pháp
được lựa chọn trong điều trị ung thư cổ tử
cung giai đoạn đầu [1] trong đó phương pháp
xâm lấn tối thiểu để cắt tử cung triệt để trở
thành lựa chọn ngày càng phổ biến hơn vì
giảm mất máu trong phẫu thuật và thời gian
lưu lại sau phẫu thuật cũng như thời gian
phục hồi nhanh hơn[2]
Khi đánh giá số lượng hạch vét được qua
nội soi người ta thấy rằng không có sự khác
biệt về số lượng hạch vét được ở hai hố chậu
và di căn hạch vi thể Thật vậy trong nghiên
cứu của Michael Frumovitz và cộng sự báo
cáo so sánh giữa mổ nội soi và mở bụng ở
bệnh nhân UTCTC giai đoạn sớm thì số hạch
vét được qua nội soi trung bình là 15.3 hạch,
trung bình hạch bên phải là 6.3 hạch, bên trái
7.2 hạch thì không thấy sự khác biệt về số
lượng hạch vét được ở hai hố chậu và tỉ lệ di
căn trên vi thể ( 14%) Trong nghiên cứu này
cũng cho thấy không có sự khác biệt trong
các mẫu bệnh phẩm thu được từ tổ chức lấy
giữa hai nhóm phẫu thuật mổ mở và mổ nội
soi, thêm vào đó cũng không có sự khác biệt
tỉ lệ phát hiện ung thư ở hạch vét được[3]
Hiện nay khi với sự xuất hiện của công nghệ
ICG ( Indocyanine Green) trong phẫu thuật
ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm giúp xác
định hạch tiền tiêu ( hạch cửa), qua sinh thiết
hạch cửa chúng ta đánh giá được mức độ, giai đoạn ung thư từ đó giúp giảm thời gian phẫu thuật, giảm biến cố, giảm can thiệp không cần thiết cho bệnh nhân
Tổng thời gian phẫu thuật nội soi trong nhiều nghiên cứu thấp hơn nhiều hoặc ngang bằng thời giai mổ mở [4] điều này rất có ý nghĩa đặc biệt ở nhóm bệnh nhân trên 65 tuổi Theo ghi nhận từ các kết quả nghiên cứu, mất máu trong phẫu thuật nội soi xu hướng ít hơn so với mở bụng truyền thống Đây cũng
là lý do khiến nhiều bác sỹ phẫu thuật bắt đầu chuyển sang sử dụng mổ nội soi, nó cũng cho thấy phẫu thuật nội soi ổ bụng là phương pháp thay thế an toàn Khi đánh giá lượng máu mất, Taylor và CS thấy rằng trung bình trong mổ nội soi mất khoảng 161,11ml thấp hơn nhiều so với 394 ml của
mở bụng, không có trường hợp nào phải truyền máu[4], trong nghiên cứu của Frumovitz, Yan X cũng cho kết quả tương tự[5][6]
Các nghiên cứu cũng không ghi nhận các trường hợp xuất hiện di căn tại chân trocart Các biến chứng sau phẫu thuật thường được nhắc đến như sốt, nhiễm trùng vết mổ, nhiễm trùng đường niệu, viêm phổi, abcess ổ bụng đều thấp hơn ở nhóm mổ nội soi
Phương pháp nội soi giúp giảm thời gian nằm viện, mức độ đau giảm, cải thiện kiểm soát đau sau mổ tốt hơn so với mở bụng truyền thống[7]
V KẾT LUẬN
Kết quả của nhiều nghiên cứu và kinh nghiệm của các nhà ung thư phụ khoa đã chỉ
Trang 4HỘI NGHỊ KHOA HỌC BỆNH VIỆN THANH NHÀN LẦN THỨ VIII NĂM 2022
ra rằng nội soi ổ bụng là phương pháp thay
thế khả thi cho phẫu thuật mở bụng cắt tử
cung triệt để, vét hạch chậu trong điều trị ung
thư cổ tử cung giai đoạn sớm Phương pháp
này nên được xem xét để điều trị cho bất kỳ
phụ nữ nào bị ung thư cổ tử cung giai đoạn
sớm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Wright JD, Herzog TJ, Neugut AI, et al
Comparative effectiveness of minimally
invasive and abdominal radical hysterectomy
for cervical cancer Gynecologic oncology
2012;127(1):11−17
2 Nam JH, Park JY, Kim DY, et al
Laparoscopic versus open radical
hysterectomy in early-stage cervical cancer:
long-term survival outcomes in a matched
cohort study Ann Oncol 2012;23(4):903–
911
3 Taylor SE, McBee WC Jr, Richard SD, et
al Radical hysterectomy for early stage
cervical cancer: laparoscopy versus laparotomy JSLS 2011;15(2):213−217
4 Vũ Bá Quyết et al Phẫu thuật nội soi trong
ung thư cổ tử cung giai đoạn sớm, Tạp chí phụ sản – 15(02), 152-157, 2017
5 Frumovitz M, dos Reis R, Sun CC, et
al Comparison of total laparoscopic and
abdominal radical hysterectomy for patients with early-stage cervical cancer Obstet Gynecol 2007;110:96–102
6 Yan X, Li G, Shang H, Wang G, Chen L, Han Y Complications of laparoscopic radical
hysterectomy and pelvic lymphadenectomy– experience of 117 patients Int J Gynecol Cancer 2009 July;19(5):963–967
7 Wright JD, Herzog TJ, Neugut AI, et al
Comparative effectiveness of minimally invasive and abdominal radical hysterectomy for cervical cancer Gynecologic oncology 2012;127(1):11−17