1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận xét suy giảm nhận thức và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi điều trị tại Bệnh viện Thanh Nhàn

7 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận xét suy giảm nhận thức và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi điều trị tại Bệnh viện Thanh Nhàn
Tác giả Lại Thanh Hà, Trần Thị Nhị Hà, Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Thị Phương Nam
Trường học Bệnh viện Thanh Nhàn
Chuyên ngành Y học, Đa khoa
Thể loại Nghiên cứu y học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 454,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Nhận xét suy giảm nhận thức và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi điều trị tại Bệnh viện Thanh Nhàn trình bày nhận xét đặc điểm suy giảm nhận thức trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị tại bệnh viện Thanh Nhàn; Tìm hiểu mối liên quan của một số yếu tố với suy giảm nhận thức trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi.

Trang 1

NHẬN XÉT SUY GIẢM NHẬN THỨC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ

LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 CAO TUỔI

ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN THANH NHÀN

Lại Thanh Hà*, Trần Thị Nhị Hà**, Nguyễn Thế Anh*, Nguyễn Thị Phương Nam* TÓM TẮT 2

Đặt vấn đề: Đái tháo đường týp 2 là một yếu

tố nguy cơ độc lập của suy giảm nhận thức nhẹ

và sút trí tuệ Mục tiêu:1.Nhận xét đặc điểm suy

giảm nhận thức trên bệnh nhân đái tháo đường

typ 2 điều trị tại bệnh viện Thanh Nhàn 2.Tìm

hiểu mối liên quan của một số yếu tố với suy

giảm nhận thức trên bệnh nhân đái tháo đường

typ 2 cao tuổi Đối tượng và phương pháp:

Nghiên cứu mô tả cắt ngang suy giảm nhận thức

và một số yếu tố liên quan ở 210 bệnh nhân đái

tháo đường typ 2 từ 60 tuổi trở lên, điều trị tại

bệnh viện Thanh Nhàn từ tháng 01/2020 đến

tháng 10/2020 Kết quả: Tỷ lệ suy giảm nhận

thức của bệnh nhân đái tháo đường là 29,0%

Trong đó suy giảm nhận thức nhẹ chiếm tỷ lệ

77%, trung bình là 16,4% và nặng : 6,6 %; Tuổi

cao, tăng huyết áp, nhồi máu não là những yếu

tố liên quan đến suy giảm nhận thức ở bệnh nhân

đái tháo đường cao tuổi

Từ khóa: Đái tháo đường, suy giảm nhận

thức, sa sút trí tuệ

*Bệnh viện Thanh Nhàn

**Sở Y tế Hà Nội

Chịu trách nhiệm chính: Lại Thanh Hà

Email: laithanhhabvtn@gmail.com

ĐT: 0904516365

Ngày nhận bài: 15/5/2022

Ngày phản biện khoa học: 10/6/2022

SUMMARY

TO COMMENT ON COGNITIVE IMPAIRMENT AND SOME RELATED FACTORS OF THE ELDERLY TYPE II DIABETES PATIENT, TREATED AT THANH NHAN HOSPITAL

Background: Type 2 diabetes is an independent risk factor for mild cognitive impairment and dementia Objectives: 1 Review the characteristics of cognitive impairment in patients with type 2 diabetes treated at Thanh Nhan hospital 2 Understanding the relationship

of some related factors of cognitive impairment

in elderly type 2 diabetes patients Subjects and methods: A cross-sectional descriptive study of cognitive decline and some related factors in 210 type 2 diabetes patients aged 60 years and older, treated at Thanh Nhan hospital from January

2020 to October 2020 Results: The rate of cognitive impairment of diabetic patients was 29.0% In which mild cognitive impairment accounted for 77%, medium cognitive impairment was 16.4% and, severe: 6.6% Old age, hypertension, cerebral infarction are factors related to cognitive decline in elderly diabetic patients

Keywords: Diabetes, cognitive impairment,

dementia

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh không lây nhiễm có tốc độ phát triển nhanh nhất ĐTĐ typ 2 là bệnh thường

Trang 2

gặp trên người cao tuổi và có tỷ lệ mắc cao

(>10%) Đái tháo đường (ĐTĐ) đã được

chứng minh là một yếu tố nguy cơ độc lập

của sa sút trí tuệ (SSTT) và suy giảm nhận

thức (SGNT) nhẹ Suy giảm nhận thức

(SGNT) là sự thoái hoá thần kinh mắc phải

về khả năng nhận thức có thể làm ảnh hưởng

tới hoạt động sinh hoạt hàng ngày Chức

năng nhận thức bị suy yếu có thể dẫn đến

việc tuân thủ kém với điều trị, kiểm soát

đường huyết kém hơn do thất thường của chế

độ ăn và thuốc men và làm tăng nguy cơ hạ

đường huyết Lợi ích của việc phát hiện sớm

suy giảm nhận thức ở bệnh nhân đái tháo

đường giúp định hướng các bác sĩ lâm sàng

tạo cơ hội để xem xét can thiệp suy giảm

nhận thức liên quan đến bệnh ĐTĐ như kiểm

soát đường huyết tối ưu, kiểm soát huyết áp

và mỡ máu, cho phép các bệnh nhân và gia

đình được hưởng lợi ích sớm với kế hoạch tài

chính và xã hội, đồng thời giúp tiếp cận

thông tin về các nhóm hỗ trợ và tư vấn

Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài này

với mục tiêu:

- Nhận xét đặc điểm suy giảm nhận thức

trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị

tại bệnh viện Thanh Nhàn

- Tìm hiểu mối liên quan của một số yếu

tố với suy giảm nhận thức trên bệnh nhân đái

tháo đường typ 2 cao tuổi

II Đối tượng và phương pháp nghiên

cứu

1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng được chọn là những bệnh nhân

≥ 60 tuổi đã được chẩn đoán xác định ĐTĐ

typ 2 đang theo dõi điều trị tại bệnh viện

Thanh Nhàn, Hà Nội từ tháng 1 năm 2020

đến tháng 10 năm 2020

*Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

- Bệnh nhân ≥ 60 tuổi (theo quy định

Điều 1, Pháp lệnh người cao tuổi Việt Nam)

- Được chẩn đoán ĐTĐ typ 2 theo tiêu chuẩn của IDF 2013: Bệnh nhân có ít nhất 1 trong 4 tiêu chuẩn sau

1 Mức glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,0 mmol/l (126 mg/dl) ở ít nhất 2 lần xét nghiệm

2 Mức glucose huyết tương ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose máu bằng đường uống 75g đường

3 HbA1c ≥ 6,5%

4 Có các triệu chứng của bệnh ĐTĐ về mặt lâm sàng + mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl)

* Chẩn đoán typ 2:

- Tuổi khởi phát thường > 30

- Triệu chứng lâm sàng không rầm rộ

- Thể trạng hay gặp béo

- Tiền sử: Đái tháo đường thai kỳ ở nữ

- Điều trị: chế độ ăn, sunfonylureas có hiệu quả, insulin được chỉ định theo giai đoạn bệnh

* Tiêu chuẩn loại trừ

- BN hoặc gia đình không đồng ý tham gia nghiên cứu

- BN bị trầm cảm và/ hoặc bệnh tâm thần kèm theo

- BN đang bị đột quỵ não, chấn thương sọ não, u não, viêm não

-BN đang được điều trị bằng thuốc an thần kinh, thuốc kháng cholinergic

- BN bị suy giáp chưa điều trị

- BN bị câm, khiếm khuyết các giác quan:

mù, điếc

- BN mù chữ, không biết đọc biết viết

2 Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

- Cỡ mẫu : Theo công thức tính cỡ mẫu cho ước lượng một tỷ lệ: n = z21-α/2.p.(1-p)/d2

• p = 0,16 ; d = 0.05; Z = 1.96

Trang 3

• n = 206

Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng giá trị

p=0,16 từ nghiên cứu của tác giả Phạm

Thắng (2014)

- Quy trình nghiên cứu, kỹ thuật và công

cụ thu thập thông tin

+ Tất cả các bệnh nhân nghiên cứu được

tiến hành thu thập số liệu nghiên cứu thông

qua bệnh án nghiên cứu (phụ lục1) được thiết

kế sẵn gồm có: Hành chính, tiền sử bệnh tật,

thời gian mắc bệnh, thăm khám lâm sàng,

cận lâm sàng, kết quả đánh giá suy giảm

nhận thức theo thang điểm trắc nghiệm tâm

thần tối thiểu (Minimental state

Examination/MMSE) , kết quả đánh giá hoạt

động chức năng hàng ngày bằng công cụ

theo thang điểm IADL (Instrumental

Activity Daily Living Scale)

+ Xác định đối tượng mắc ĐTĐ typ 2 để

tiến hành nghiên cứu (theo tiêu chuẩn chẩn

đoán ĐTĐ typ2)

Dựa theo tiêu chuẩn của IDF 2013 chẩn

đoán ĐTĐ typ 2 cho người cao tuổi

+ Đánh giá suy giảm nhận thức ở các đối

tượng

* Đánh giá chức năng nhận thức: Sử dụng

thang điểm đánh giá tâm thần tối thiểu

(mini–mental stateexamination (MMSE) hay

còn gọi là Folstein test là một bảng câu hỏi

ngắn 30 điểm được dùng để sàng lọc suy

giảm nhận thức (phụ lục 2)

Đánh giá kết quả: Không có suy giảm nhận thức : ≥ 24; Suy giảm nhận thức nhẹ :

20 – 23; Suy giảm nhận thức vừa : 14 – 19; Suy giảm nhận thức nặng : 0 – 13

+ Đánh giá hoạt động chức năng hàng ngày (ADLs/ Activities of Daily Living scale)

* Đánh giá hoạt động cơ bản hàng ngày thông qua thang điểm đánh giá hoạt động hàng ngày (ADLs /Activities of Daily Living scale) Thang điểm đánh giá hoạt động hàng ngày gồm 6 mục bao gồm: tắm rửa, mặc quần áo, đi vệ sinh, di chuyển, sự tự chủ (đại, tiểu tiện), ăn uống Đánh giá : 0 điểm nếu phụ thuộc, 1 điểm nếu không phụ thuộc Điểm tối đa của thang điểm này là 6 điểm, tối thiểu là 0 điểm Điểm tối đa với một người bình thường khỏe mạnh là 6 điểm; dưới 6 điểm là có suy giảm chức năng hoạt động hàng ngày

* Đánh giá hoạt động chức năng hàng ngày có sử dụng phương tiện, dụng cụ (Instrumental Activity Daily Living/IADL) Đánh giá bằng thang điểm Lawton Phỏng vấn bệnh nhân/người chăm sóc theo 8 câu hỏi về các hoạt động sinh hoạt hàngngày của bệnh nhân khi sử dụng các dụng cụ phương tiện: Điểm tối đa đối với một người bình thường khỏe mạnh là 8 điểm; dưới 8 điểm là

có suy giảm chức năng hoạt động hàng ngày

có sử dụng dụng cụ, phương tiện

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Đặc điểm suy giảm nhận thức ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi

Bảng 1: Đặc điểm nhân trắc-xã hội học của nhóm nghiên cứu (n = 210)

Đặc điểm nhân trắc – xã hội học Số lượng (n) Tỉ lệ (%)

Nhóm tuổi

(năm)

Trang 4

≥80 28 13,3 Trình độ học vấn

Dưới phổ thông trung học 119 56,7

Trung cấp/cao đẳng/đại học 21 10,0 Tuổi trung bình (Trung bình ± độ lệch chuẩn) 72 ±6,3

Nhận xét: - Tỷ lệ bệnh nhân nữ chiếm 72,4%, nam chiếm 27,6% Tỷ lệ nữ/nam là 2,6

- Tuổi trung bình của bệnh nhân là 72,0 ± 6,3, thấp nhất là 60 tuổi và cao nhất 86 tuổi

- Tỷ lệ bệnh nhân có trình độ học vấn dưới PTTH cao nhất là 56,7% (119 bệnh nhân)

Biểu đồ 1 Mức độ suy giảm nhận thức của nhóm suy giảm nhận thức (SGNT) (n=61) Nhận xét: Trong nhóm SGNT chung số bệnh nhân SGNT nặng chiếm tỷ lệ 6,6% (4 bệnh

nhân) ; SGNT vừa là 16,3%, số bệnh nhân SGNT nhẹ là 47 chiếm tỷ lệ cao nhất (77,0%)

Bảng 2 Đặc điểm rối loạn nhận thức của nhóm nghiên cứu

Đánh giá khả năng ghi nhận (trí nhớ tức thì) (3đ) 05 8,2 Đánh giá sự chú ý và tính toán (5đ) 48 78,7 Đánh giá khả năng hồi ức nhớ lại (3đ) 39 63,9

Đánh giá khả năng tưởng tượng, trừu tượng (1đ) 51 83,6

Nhận xét: Tỷ lệ suy giảm nhận thức về sự chú ý và tính toán gặp ở 48BN (78,7%); 83,6 %

số BN suy giảm về khả năng trìu tượng; 63,9 % số BN suy giảm khả năng hồi ức nhớ lại

2 Một số yếu tố liên quan với suy giảm nhận thức

Trang 5

Bảng 3 Liên quan giữa suy giảm nhận thức và một số yếu tố nguy cơ

Yếu tố nguy cơ

Đánh giá nhận thức (MMSE)

OR; (95%CI)

p

p=0,0283

Nhồi máu

não

Có 30 50,8 29 49,2 4,00;(2,10- 7,65)

p<0,0001

Hút thuốc

p=0,7367

Nhận xét:

- Tỷ lệ SGNT trong nhóm có THA là

33,1% cao hơn tỷ lệ SGNT trong nhóm

không THA là 17,0% sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê (p<0,05)

- Tỷ lệ SGNT trong nhóm có nhồi máu

não (NMN) là 50,8% cao hơn tỷ lệ SGNT

trong nhóm không NMN là 20,5% sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,0001

- Tỷ lệ SGNT trong nhóm có hút thuốc lá

là 38,5% cao hơn tỷ lệ SGNT trong nhóm không có hút thuốc lá là 28,8% tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p= 0,73 (>0,05)

Bảng 4 Hồi quy đa biến các yếu tố liên quan với SGNT

Thời gian mắc ĐTĐ 0,777 1,138 0,464-2,792

Nhận xét: Tuổi ≥ 80, NMN là 2 yếu tố tiên lượng độc lập

IV BÀN LUẬN

1 Đặc điểm suy giảm nhận thức của

bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm

tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm từ 70-79

tuổi (47,6%), tỷ lệ thấp nhất là nhóm ≥80

tuổi chiếm 13,3% Tuổi trung bình của bệnh

nhân cao tương đương với thời gian mắc

bệnh lâu, có nhiều bệnh lý phối hợp do đó

làm tăng nguy cơ SGNT Tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với nghiên cứu của Lê Anh Tú (2016)

là 71,9 ± 7,6 và của a Yaffe Kristin (2013) tại Hoa Kỳ nghiên cứu trên 783 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 cao tuổi có tuổi trung bình là 74,0 giới tính nữ 47,6% có sự khác biệt về độ tuổi trung bình này là do trong nghiên cứu này

Trang 6

người tham gia có tuổi từ 65 trở lên do hội

Lão khoa Mỹ quy định người cao tuổi là từ

65 tuổi trở lên Tỷ lệ về giới nữ cao hơn nam

trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự như

trong nghiên cứu của Phạm Thị Thu Hằng

(2013): 61,5%, nam 38,5% nghiên cứu của

Hoàng Minh Khoa (2017): nữ chiếm tỷ lệ

61,3%, nam 38,7% Tỷ lệ này phù hợp với

phân bố giới ở người cao tuổi: Nữ nhiều hơn

nam và tỷ lệ mắc ĐTĐ chung ở nữ cũng cao

hơn nam

Trình độ học vấn có liên quan đến mức độ

hiểu biết về chăm sóc theo dõi và điều chỉnh

chế độ điều trị Trong nghiên cứu của chúng

tôi số lượng bệnh nhân dưới phổ thông trung

học là 119 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 56,7% tỷ lệ

này gần tương tự như nghiên cứu của

Nguyễn Thị Hạnh (2014) (50% hết cấp I) tỷ

lệ này cao hơn trong nghiên cứu của Yaffe

Kristine (2013) bệnh nhân dưới phổ thông

trung học là 24,9%

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 210

bệnh nhân được đánh giá theo thang điểm

MMSE Kết quả 29,0% bệnh nhân có SGNT

trong đó có tỷ lệ SGNT nặng là 6,6% (4 bệnh

nhân), SGNT nhẹ là 77,0 % (47%) và SGNT

trung bình là 16,3% (10 bệnh nhân) Kết quả

nghiên cứu của chúng tôi tương tự của tác

giả Phạm Thắng SGNT nhẹ chiếm tỷ lệ 75%,

SGNT mức độ vừa và nặng chiếm tỷ lệ 25%

[28] Nghiên cứu của chúng tôi có kết quả

tương tự với nghiên cứu của Yuko Murata và

cộng sự (2017) SGNT là 31,3%, SGNT nặng

là 26%, SSTT là 5,3% [33] ĐTĐ typ 2 có

liên quan đến giảm trí nhớ, giảm tốc độ vận

động tâm lý và giảm chức năng điều hành

của thùy trán Trong ĐTĐ typ 2, tăng đường

huyết mãn tính, thời gian dài của ĐTĐ typ 2,

sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ mạch máu (ví dụ, tăng huyết áp và béo phì), và các biến chứng vi mạch và đại mạch có liên quan đến tăng nguy cơ phát triển rối loạn chức năng nhận thức Bệnh mất trí nhớ Alzheimer

và do thiếu máu cục bộ não có khả năng xảy

ra gần gấp đôi ở những người mắc bệnh ĐTĐ so với các đối tượng không bị ĐTĐ phù hợp với lứa tuổi Tỷ lệ suy giảm nhận thức cao ở người cao tuổi cho thấy điều quan trọng là phải kiểm tra định kỳ rối loạn chức năng nhận thức

2 Một số yếu tố liên quan với suy giảm nhận thức

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ SGNT trong nhóm có THA là 33,1% cao hơn

tỷ lệ SGNT trong nhóm không THA là 17,0% sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p= 0,025 Nguy cơ SGNT trong nhóm THA cao gấp 2,5 lần với 95% CI là 1,09-5,3 (p<0,05) Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng tăng huyết áp thực chất có mối liên hệ nghịch với khả năng nhận thức, và nghiên cứu Honolulo-Asia (1995) đã chứng minh có mối liên quan giữa mức độ huyết áp giữa cuộc đời và chức năng nhận thức ở cuối cuộc đời Nghiên cứu Uppsala (1998) đã chứng minh rằng tăng huyết áp có liên quan đến suy mòn nhận thức ở 999 nam giới theo dõi 20 năm Mối quan hệ giữa suy mòn nhận thức với sự hiện diện của một trong hai bệnh ĐTĐ và cao huyết áp cũng được quan sát thấy trong nghiên cứu nguy cơ xơ vữa động mạch trong cộng đồng ARIC (2011) được tiến hành trong 6 năm, theo dõi gần 11.000 người trong độ tuổi từ 47-70 tuổi tại thời điểm đánh giá ban đầu Tăng insulin ở bệnh nhân tăng huyết áp cũng đã được chứng

Trang 7

minh có liên quan đến hoạt động nhận thức

kém hơn

Tỷ lệ SGNT trong nhóm có NMN cũ là

50,8% cao hơn tỷ lệ SGNT trong nhóm

không NMN cũ là 20,5% sự khác biệt không

có ý nghĩa thống kê với p= 0,00 Nguy cơ

SGNT trong nhóm NMN cũ cao gấp 4 lần

với 95% CI là 2,1 – 7,6 (p<0,01) Tỷ lệ

SGNT trong nhóm có hút thuốc lá là 38,5%

cao hơn tỷ lệ SGNT trong nhóm không có

hút thuốc lá là 28,8% tuy nhiên sự khác biệt

không có ý nghĩa thống kê với p= 0,73

(>0,05) (Bảng 3.8) Có kết quả này là do

trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi số

lượng những BN không bị rối loạn mỡ máu

nhỏ nên không tìm thấy sự khác biệt giữa 2

nhóm

V KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 210 bệnh nhân ĐTĐ typ

2 ≥ 60 tuổi theo dõi điều trị tại bệnh viện

Thanh Nhàn từ 01/2020 đến 10/2020 chúng

tôi rút ra kết luận sau:

- Tỷ lệ SGNT chung trong nhóm nghiên

cứu 29,0% trong đó SGNT nhẹ chiếm tỷ lệ

77%, SGNT trung bình là 16,4% và nặng:

6,6%

- Tuổi cao, tăng huyết áp, tiền sử nhồi

máu não là những yếu tố liên quan đến suy

giảm nhận thức

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 International Diabetes Federation (2013),

Global Guideline for Managing Older People with Type 2 Diabetes https://www.idf.org/e- library/guidelines/78-global-guideline-for- managing-older-people-with-type-2-diabetes.html

2 Biessels GJ et al (2006) "Risk of dementia in

diabetes mellitus: a systematic review" Lancet Neurol, 5(1): 64-74

3 Petersen RC et al (1999) "Mild cognitive

impairment: clinical characterization and outcome" Arch Neurol, 56(3): 303-8.7

4 Lê Anh Tú (2016), Đánh giá lão khoa toàn

diện ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi tại bệnh viện Lão khoa trung ương,Luậnvăn thạc sỹ y học Trường Đại học

Y Hà Nội : p tr 36-53

5.Võ Thành Nam, Trần Công Thắng,(2019)

“Suy giảm nhận thức trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có biến chứng thận”, Y Học TP

Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 1 * 2019

6 Murata Y (2016), "Cognitive impairment in

elderly patients with type 2 diabetes mellitus: prevalence and related clinical factors" Diabetology International, 8(2): 193-198

7 Sinclair AJ, Girling AJ và Bayer AJ (2000),

"Cognitive dysfunction in older subjects with diabetes mellitus: impact on diabetes self-management and use of care services All Wales Research into Elderly (AWARE) Study.", Diabetes Res Clin Pract, 50: 203–212

Ngày đăng: 31/12/2022, 10:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w