1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kết quả điều trị viêm gân cơ nhị đầu cánh tay bằng phương pháp siêu âm trị liệu kết hợp điện xung qua da (TENS)

6 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết quả điều trị viêm gân cơ nhị đầu cánh tay bằng phương pháp siêu âm trị liệu kết hợp điện xung qua da (TENS)
Tác giả Nguyễn Thị Bích Nguyệt, Bùi Hải Bình, Nguyễn Thị Ngọc Lan
Trường học Trường Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học
Thể loại Nghiên cứu lâm sàng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 500,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viêm gân cơ nhị đầu cánh tay là một nguyên nhân gây đau vai thường gặp và được xếp vào nhóm bệnh lý viêm quanh khớp vai. Bài viết trình bày đánh giá kết quả điều trị viêm gân cơ nhị đầu cánh tay bằng phương pháp siêu âm trị liệu kết hợp với điện xung qua da (TENS).

Trang 1

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM GÂN CƠ NHỊ ĐẦU CÁNH TAY BẰNG

PHƯƠNG PHÁP SIÊU ÂM TRỊ LIỆU KẾT HỢP ĐIỆN XUNG QUA DA

(TENS)

Nguyễn Thị Bích Nguyệt 1,3 , Bùi Hải Bình 2 , Nguyễn Thị Ngọc Lan 1

TÓM TẮT 24

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị viêm gân

cơ nhị đầu cánh tay bằng phương pháp siêu âm

trị liệu kết hợp với điện xung qua da (TENS)

Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng

có đối chứng, theo dõi dọc Đối tượng gồm 58

bệnh nhân viêm gân cơ nhị đầu cánh tay Đánh

giá kết quả trên 29 người bệnh được điều trị bằng

phương pháp siêu âm trị liệu kết hợp điện xung

qua da; so với 29 người bệnh dùng phác đồ

chuẩn (thuốc NSAIDs và giãn cơ) trong 15 ngày

Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Vật lý trị

liệu - Phục hồi chức năng và khoa Cơ xương

khớp - Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang từ

tháng 1 năm 2021 đến 5/2022 Kết quả: Sau 15

ngày điều trị, ở cả 2 nhóm nghiên cứu và nhóm

chứng, điểm VAS, EFA, SPADI cải thiện có ý

nghĩa thống kê so với thời điểm trước khi điều trị

với p < 0,05, không có sự khác biệt giữa hai

nhóm (p>0,05) Kết luận: Liệu trình siêu âm trị

liệu kết hợp điện xung qua da (TENS) điều trị

viêm đầu dài gân cơ nhị đầu cánh tay có tác dụng

giảm đau và cải thiện chức năng vận động khớp

vai tương tự như phác đồ sử dụng thuốc NSAIDs

và giãn cơ

1 Trường Đại học Y Hà Nội,

2

Bệnh viện Bạch Mai,

3

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang

Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Bích Nguyệt

Email: tieubichnguyet@gmail.com

Ngày nhận bài: 2.6.2022

Ngày phản biện khoa học: 6.6.2022

Ngày duyệt bài: 7.6.2022

Từ khóa: viêm gân cơ nhị đầu cánh tay, siêu

âm trị liệu, TENS (transcutaneous electrical nerve stimulation)

SUMMARY RESULTS OF TREATMENT OF BICEPS TENDONITIS BY THERAPEUTIC ULTRASOUND

COMBINED WITH TRANSCUTANEOUS ELECTRICAL NERVE STIMULATION

Objectives: To evaluate the results of

treatment of biceps tendonitis by therapeutic ultrasound combined with transcutaneous

electrical pulses (TENS) Methods: A case

control study, longitudinal follow-up Subjects included 58 patients with biceps tendonitis Evaluation of results on 29 patients treated by ultrasound therapy combined with transcutaneous electrical nerve stimulation; compared with 29 patients receiving standard regimens (NSAIDs and muscle relaxants) for 15 days The study was carried out at the Department of Physiotherapy - Rehabilitation and the Department of Musculoskeletal - Bac Giang General Hospital

from January 2021 to May 2022 Results: After

15 days of treatment, in both the case and control groups, the scores of VAS, EFA, and SPADI improved statistically significantly compared with the time before treatment with p < 0.05, there was no difference difference between the two groups (p>0.05) Conclusion: The therapeutic ultrasound combined with transcutaneous electrical impulses (TENS) for

Trang 2

treatment of biceps tendonitis has the same effect

on pain relief and improvement of shoulder

mobility as the regimen used NSAIDs and

muscle relaxants

Keywords: biceps tendonitis, therapeutic

ultrasound, TENS

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm gân cơ nhị đầu cánh tay là một

nguyên nhân gây đau vai thường gặp và được

xếp vào nhóm bệnh lý viêm quanh khớp vai

Bệnh thường được biểu hiện bởi tình trạng

đau và hạn chế vận động khớp vai, tái phát

nhiều lần, dẫn đến giảm năng suất lao động,

ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và là

gánh nặng kinh tế cho bệnh nhân và xã

hội Điều trị bước đầu gồm các phương pháp

dùng thuốc (NSAIDs; corticoid tiêm tại

chỗ ) và vật lý trị liệu và phục hồi chức

năng Điện xung và siêu âm trị liệu là đã

được chứng minh là có tác dụng kiểm soát

cơn đau, tăng tuần hoàn giúp gân tổn thương

mau lành, phục hồi tầm vận động của khớp

Do vậy, cải thiện được chất lượng cuộc sống

Hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá tác

dụng của sự phối hợp hai phương pháp này

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu:

“Đánh giá kết quả điều trị viêm gân cơ nhị

đầu cánh tay bằng phương pháp siêu âm trị

liệu kết hợp với điện xung qua da (TENS)”

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Gồm 58 bệnh nhân được chẩn đoán viêm

gân cơ nhị đầu cánh tay đơn độc theo tiêu

chuẩn chẩn đoán của M.C Boissier 1993[3]

với triệu chứng đau tại mặt trước của khớp

vai, lan xuống cánh tay, hạn chế hoặc không

các động tác chủ động khớp vai, test Palm-

up dương tính.Và có khẳng định viêm gân

trên siêu âm: gân nhị đầu dày lên, giảm âm,

có thể có dịch ở bao gân

Các bệnh nhân được điều trị nội hoặc ngoại trú tại khoa Phục hồi chức năng và khoa Cơ xương khớp - Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang từ tháng 1 năm 2021 đến tháng 5 năm 2022

2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu can thiệp lâm sàng có đối chứng, theo dõi dọc

- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn

bộ

- Quy trình nghiên cứu + Bước 1: Tất cả các bênh nhân được hỏi bệnh và khám lâm sàng toàn diện cho bệnh nhân; siêu âm khớp vai đáp ứng tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu Chia bệnh nhân vào 2 nhóm, đảm bảo tính tương đồng về tuổi và mức độ đau theo thang điểm VAS

+ Bước 2: Điều trị đối với từng nhóm theo các phác đồ dưới đây

• Nhóm nghiên cứu: Hàng ngày, điều trị bằng các phương pháp theo thứ tự: siêu

âm trị liệu 15 phút, điện xung 10 phút, liệu trình điều trị 15 ngày

• Nhóm chứng: điều trị bằng thuốc meloxicam (Mobic) 7,5 mg x 2 viên / ngày (7 ngày) và eperison (Myonal) 50 mg x 2 viên/ ngày (trong 15 ngày)

+ Bước 3: Đánh giá kết quả điều trị theo VAS, EFA (Elbow Funtion Assessment, đánh giá chức năng khớp khuỷu qua đó gián tiếp đánh giá chức năng gân cơ nhị đầu cánh tay), SPADI (Shoulder Pain and Disability Index, chỉ số đau và giảm chức năng khớp vai), các tác dụng không mong muốn của liệu pháp: bỏng, điện giật,… ở hai thời điểm D0 (ngày đầu tiên điều trị) và D15 (ngày thứ 15 điều trị)

Trang 3

+ Bước 4: Nhận xét và xử trí về tác dụng

không mong muốn trước và sau điều trị 15

ngày

2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống

kê Y sinh học IBM SPSS 20.0, với p < 0,05 thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở khoảng tin cậy 95%

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 4 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Nhóm

Đặc điểm

p Nhỏ

nhất

Lớn nhất

Trung

Nhỏ nhất

Lớn nhất

Trung

Tuổi 41 76 60,62 10,44 29 84 60,14 13,03 0,877 Thời gian mắc

bệnh (ngày) 15 150 48,45 31,94 20 180 80,69 46,57 0,003

Nhận xét: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu và nhóm chứng khác biệt không có ý

nghĩa thống kê với p > 0,05 Thời gian mắc bệnh trung bình của nhóm nghiên cứu ngắn hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

3.2 Kết quả điều trị điều trị bệnh viêm gân cơ nhị đầu cánh tay bằng phương pháp siêu âm trị liệu kết hợp điện xung qua da

Bảng 5 Đánh giá kết quả điều trị theo VAS, EFA, SPADI so sánh hai nhóm

Nhóm

Chỉ số

Nhóm nghiên cứu (n = 29)

Nhóm chứng (n = 29)

p Nhỏ

nhất

Lớn nhất

Trung

Nhỏ nhất

Lớn nhất

Trung

D0

Điểm

VAS 5 7 5,79 0,77 5 7 5,66 0,67 0,471 Điểm

EFA 7 10 8,55 0,91 7 9 8,48 0,63 0,739 SPADI 40 80 60,45 9,46 40 80 59,93 9,11 0,515

D15

Điểm

VAS 0 3 1,66 0,86 1 3 1,62 0,62 0,861 Điểm

EFA 12 16 14,03 1,05 12 15 13,83 0,85 0,413 SPADI 10 31 19,41 6,63 10 30 18,45 5,13 0,537

Nhận xét: Cả hai nhóm, sau 15 ngày điều trị, đều đạt kết quả giảm đau và cải thiện chức

năng vận động khớp vai qua các thang điểm VAS, EFA, SPADI (p<0,05) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm với p > 0,05

Trang 4

Biểu đồ 2 Đánh giá kết quả điều trị theo VAS, EFA, SPADI so sánh thời điểm D0 và D15 Nhận xét: Cả hai nhóm, sau 15 ngày điều trị, đều đạt kết quả giảm đau và cải thiện chức

năng vận động khớp vai qua các thang điểm VAS, EFA, SPADI (p<0,05) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm với p > 0,05

Bảng 6 Kết quả siêu âm gân dài cơ nhị đầu cánh tay trước và sau điều trị (D0, D15)

Hình ảnh siêu âm

p

Nhóm chứng

Nhóm nghiên cứu

Nhóm chứng

Nhóm nghiên cứu n=

29

tỷ lệ

tỷ lệ (%)

n=

29

tỷ lệ (%)

n=

29

tỷ lệ (%)

Bình thường 0 0 0 0 7 24,10% 8 27,60%

> 0,05

Gân dày, giảm âm 3 10,34% 6 20,69% 22 75,90% 21 72,40%

Dịch quanh gân

đơn thuần 4 13,80% 3 10,34% 0 0 0 0

Gân dày, giảm âm,

dịch quanh gân 22 75,86% 20 69,97% 0 0 0 0

Nhận xét: Cả hai nhóm, sau 15 ngày điều

trị đều có sự thay đổi về hình ảnh tổn thương

trên siêu âm, trước điều trị hình ảnh tổn

thương trên siêu âm chủ yếu là gân dày, giảm

âm, dịch quanh gân Sau 15 ngày điều trị,

hình ảnh tổn thương trên siêu âm chủ yếu là

gân dày, giảm âm; không thấy hình ảnh dịch

quanh gân trên siêu âm Không có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm với p

> 0,05

IV BÀN LUẬN

Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành trên 29 bệnh nhân thuộc nhóm nghiên cứu được điều trị bằng phương pháp siêu âm trị liệu sau đó điện xung, với liệu trình điều trị

15 ngày có tuổi trung bình là 60,62 ± 10,44 (tuổi) và 29 bệnh nhân thuộc nhóm chứng được điều trị bằng thuốc chống viêm kết hợp giãn cơ có tuổi trung bình là 60,14 ± 13,03 (tuổi) Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu

Trang 5

và nhóm chứng khác biệt không có ý nghĩa

thống kê

Về kết quả điều trị, trong mỗi nhóm

nghiên cứu và nhóm chứng đều có sự cải

thiện rõ rệt về điểm đau VAS, điểm EFA và

chức năng vận động khớp qua điểm SPADI

so với trước điều trị, tuy nhiên, khi so sánh

hai nhóm nghiên cứu và nhóm chứng tại mỗi

thời điểm D0 và D15, điểm VAS, EFA,

SPADI ở nhóm nghiên cứu và nhóm chứng

khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở

khoảng tin cậy 95% với p > 0,05 Từ kết quả

nghiên cứu của chúng tôi có thể thấy, điểm

đau VAS ở nhóm nghiên cứu tại thời điểm

D0 trung bình là 5,79 ± 0,77 (điểm) giảm

xuống còn 1,66 ± 0,86 (điểm), giảm trung

bình 4,33 điểm trong khi ở nhóm chứng giảm

4,04 điểm, và từ mức độ đau trung bình sau

điều trị, các bệnh nhân ở cả hai nhóm được

đánh giá điểm VAS còn mức độ đau nhẹ

Mặc dù ở cả hai nhóm đều cải thiện tốt,

nhưng nhóm nghiên cứu sử dụng phương

pháp điều trị không dùng thuốc sẽ giảm nguy

cơ gặp các tác dụng không mong muốn do

dùng thuốc chống viêm giảm đau không

steroid như nhóm chứng Kết quả này tương

đồng với Nguyễn Thị Nga và cộng sự năm

2006 nghiên cứu với 60 bệnh nhân viêm

quanh khớp vai thể đơn thuần chia vào hai

nhóm: nhóm dùng thuốc kết hợp vật lý trị

liệu – phục hồi chức năng (hồng ngoại, siêu

âm trị liệu kết hợp phục hồi chức năng) và

nhóm dùng thuốc đơn thuần Sau 2 tuần điều

trị, tác giả đánh giá mức độ đau theo thang

điểm VAS và tầm vận động khớp vai theo

McGill và ngoài ra nhận thấy hiệu quả đạt

được ở nhóm dùng thuốc kết hợp vật lý trị

liệu – phục hồi chức năng cao hơn nhóm chỉ

dùng thuốc đơn thuần với kết quả lần lượt là

90% so với 84,85%[2] Theo tác giả Nguyễn

Hữu Huyền và Lê Thị Kiều Hoa năm 2011

nghiên cứu hiệu quả điều trị 60 bệnh nhân viêm quanh khớp vai tại khoa Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng Bệnh viện 103 bằng vật

lý trị liệu (parafin + điện xung) kết hợp tập vận động nhận thấy 100% bệnh nhân giảm đau [1]

Khi đánh giá chức năng khớp sau 15 ngày điều trị theo chỉ số đau và giảm chức năng khớp vai SPADI, chúng tôi nhận thấy, tại thời điểm sau điều trị 15 ngày, cả 2 phương pháp đều cải thiện chức năng của vai và sự cải thiện này có ý nghĩa thống kê (p<0,05),

và sự cải thiện này giữa 2 nhóm không có sự khác biệt (p>0,05) Kết quả này tương đồng với Mattthew J Trang và cộng sự năm 2016 nghiên cứu tổng quan hệ thống về các phương pháp trị liệu bằng điện đối với bệnh

lý chóp xoay ví dụ như siêu âm trị liệu, laser trị liệu, điện xung qua da, trong đó có sử dụng điện xung qua da dùng trong nghiên cứu của chúng tôi Theo đó, các phương pháp điều trị bằng điện nêu trên đều có tác dụng giảm đau và phục hồi chức năng khớp vai [6] Gunay Ucurum năm 2018 đã thực hiện nghiên cứu so sánh giữa các phương pháp điện trị liệu khác nhau và vận động trị liệu trong hội chứng chèn ép vai Kết quả siêu âm trị liệu, dòng điện giao thoa và TENS cùng với vận động trị liệu trong điều trị hội chứng chèn ép vai đã có những cải thiện tương tự về mức độ đau, chức năng và chất lượng cuộc sống [4]

Sau 15 ngày điều trị, chúng tôi cũng quan sát thấy rằng hình ảnh tổn trên siêu âm của hai nhóm đều có sự thay đổi, tại thời điểm D0 trước khi điều trị hình ảnh tổn thương trên siêu âm chủ yếu là gân dày, giảm

âm, dịch quanh gân, sau 15 ngày điều trị (D15) hình ảnh tổn thương trên siêu âm chủ yếu là gân dày, giảm âm; hình ảnh dịch quanh gân trên siêu âm đã không quan sát

Trang 6

thấy, sự thay đổi hình ảnh tổn thương trên

siêu âm giữa hai nhóm không có sự khác biệt

(p>0,05) Kết quả này tương đồng với

Francesco Oliva và cộng sự năm 2011 đã

thực hiện nghiên cứu so sánh hiệu quả điều

trị ngắn hạn của hai phương pháp trị liệu

điện xung qua da và vi sóng trong điều trị

viêm gân cơ nhị đầu cánh tay Kết quả cho

thấy hình ảnh dịch quanh gân trên siêu âm

quan sát thấy tại thời điểm T0 trước điều trị,

không quan sát thấy trên siêu âm tại thời

điểm T1 ngay khi kết thúc đợt điều trị [5]

Bên cạnh phương pháp điều trị dùng

thuốc, điện xung và siêu âm trị liệu là

phương pháp có tác dụng kiểm soát cơn đau,

tăng tuần hoàn giúp gân tổn thương mau

lành, chuẩn bị cho vận động trị liệu, cải thiện

chất lượng cuộc sống, phục hồi tầm vận động

của khớp một cách hiệu quả Phương pháp

điện xung qua da hầu như không có biến

chứng, không gây cảm giác khó chịu, thiết bị

rẻ tiền, các thông số kỹ thuật thay đổi được,

độ dốc xung nhanh kết hợp hiện tượng đảo

chiều tránh hiện tượng quen cũng như tổn

thương da ở vị trí điện cực khi dùng dòng

điện một chiều; kết hợp với siêu âm làm

giảm cơn đau một phần do tác dụng nhiệt

sinh ra, một phần khác là do tác dụng trực

tiếp lên đầu dây thần kinh của siêu âm Sự

giảm đau có thể có khi sử dụng dòng xung

siêu âm với cường độ thấp mà hiệu quả sinh

nhiệt là không đáng kể Với các ưu điểm và

tác dụng của điện xung qua da khi kết hợp

với siêu âm trong điều trị viêm gân nhị đầu

xương cánh tay nói riêng và trong phục hồi

chức năng nói chung, trong những năm gần

đây, xu hướng kết hợp phương pháp điều trị

này được các nhà lâm sàng trong nước và

trên thế giới quan tâm do thực hiện đơn giản,

an toàn

Kết quả nghiên cứu này, dù mới trên một

nhóm nhỏ bệnh nhân đã cho thấy liệu trình

15 ngày siêu âm trị liệu kết hợp điện xung qua da điều trị viêm đầu dài gân cơ nhị đầu cánh tay có tác dụng giảm đau và cải thiện chức năng vận động khớp vai tương tự như phác đồ sử dụng thuốc NSAIDs 7 ngày và 15 ngày thuốc giãn cơ

V KẾT LUẬN

Liệu trình 15 ngày siêu âm trị liệu kết hợp điện xung qua da điều trị viêm đầu dài gân

cơ nhị đầu cánh tay có tác dụng giảm đau và cải thiện chức năng vận động khớp vai tương

tự như phác đồ chuẩn sử dụng thuốc NSAIDs

và thuốc giãn cơ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Thị Kiều Hoa, Nguyễn Hữu Huyền

Nghiên cứu hiệu quả điều trị viêm quanh khớp vai bằng vật lý trị liệu kết hợp tập vận động Published online 2011

2 Nguyễn Thị Nga Đánh giá hiệu quả điều trị

viêm quanh khớp vai thể đơn thuần bằng thuốc chống viêm nonsteroid kết hợp vật lý trị liệu - phục hồi chức năng Published online

2006

3 Boissier MC Painful shoulder Diagnostic

orientation Rev Prat 1993;43(6):751-754

4 Gunay Ucurum S, Kaya DO, Kayali Y, Askin A, Tekindal MA Comparison of

different electrotherapy methods and exercise therapy in shoulder impingement syndrome:

A prospective randomized controlled trial Acta Orthop Traumatol Turc

2018;52(4):249-255 doi:10.1016/j.aott.2018.03.005

5 Oliva F, Via AG, Rossi S Short-term

effectiveness of bi-phase oscillatory waves versus hyperthermia for isolated long head biceps tendinopathy Muscles Ligaments Tendons J 2011;1(3):112-117

6 Page MJ, Green S, Mrocki MA, et al

Electrotherapy modalities for rotator cuff disease Cochrane Database of Systematic

doi:10.1002/14651858.CD012225

Ngày đăng: 31/12/2022, 10:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w