Bài viết Đặc điểm chẩn đoán lâm sàng dựa vào hệ số chẩn đoán bệnh ung thư tuyến giáp mô tả đặc điểm hệ số ung thư tuyến giáp. Đối tượng nghiên cứu: Gồm 293 bệnh nhân không phân biệt tuổi, giới, có bệnh lý lành hoặc ác tính của tuyến giáp được điều trị tại Khoa phẫu thuật lồng ngực - mạch máu - nội tiết Bệnh viện 103 từ 2003-2007.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG DỰA VÀO HỆ SỐ
CHẨN ĐOÁN BỆNH UNG THƯ TUYẾN GIÁP
Phạm Văn Trung 1,2 , Phạm Vinh Quang 2
Ngô Thị Mai Lan 3 , Cao Anh Vũ 3
TÓM TẮT 27
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hệ số ung thư
tuyến giáp Đối tượng nghiên cứu: Gồm 293
bệnh nhân không phân biệt tuổi, giới, có bệnh lý
lành hoặc ác tính của tuyến giáp được điều trị tại
Khoa phẫu thuật lồng ngực - mạch máu - nội tiết
Bệnh viện 103 từ 2003-2007 Phương pháp
nghiên cứu: Mô tả lâm sàng Kết quả nghiên
cứu: Đa số các bệnh nhân ác tính (93,4%) có
tổng hệ số chẩn đoán < 0 Đa số các bệnh nhân
lành tính (93,4%) có tổng số các hệ số chẩn đoán
>100 Chỉ có 2 bệnh nhân (3,3%) có tổng các hệ
số chẩn đoán nằm trong khoảng từ 0 – 100 Các
tính toán số học cho thấy: Se =92,50 %; Sp =
88,42% %; PV(+) = 87,06%; PV(-) = 93,33%%;
A = 90,29 % LR = 7.989 ; OR: 94.182
Từ khóa: Ung thư tuyến giáp
SUMMARY
CLINICAL DIAGNOSIS
CHARACTERISTICS ARE BASED ON
THE DIAGNOSTIC COEFFICIENT OF
THYROID CANCER
Objective: Describe the characteristics of
thyroid cancer Study subjects: 293 patients
regardless of age, gender, healthy or malignant
thyroid disease were treated at the Department of
1 Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
2 Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng
3 Bệnh viện Công an Hải Phòng
Chịu trách nhiệm chính: Phạm Văn Trung
Email: phamtrungptth@gmail.com
Ngày nhận bài: 21.2.2022
Ngày phản biện khoa học: 19.3.2022
Ngày duyệt bài: 21.6.2022
Thoracic Surgery - Vascular - Endocrinology
Hospital 103 from 2003-2007 Method: Clinical description Results: The majority of malignant
patients (93.4%) had a total diagnostic coefficient
of <0 The majority of benign patients (93.4%) had total diagnostic coefficients> 100 Only 2 patients (3.3%) had total diagnostic coefficients ranging from 0 to 100 Arithmetic calculations show: Se = 92.50%; Sp = 88.42%; PV (+) = 87.06%; PV (-) = 93.33 %%; A = 90.29% LR = 7.989; OR: 94.182
Key words: Thyroid cancer
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam, theo số liệu của Bệnh viện K
Hà Nội, ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 2,9% tổng số các ung thư [1], trong đó tỉ lệ mắc bệnh chuẩn theo tuổi là 1,9/100 000 dân/năm [2] Ở Pháp tỉ lệ mắc ung thư tuyến giáp là 1,9/100000 ở nam và 3,2/100000 ở
nữ [3] Khả năng phát hiện ung thư tuyến giáp qua các thăm khám lâm sàng là rất hiếm, chỉ chiếm khoảng 1% tổng số các thương tổn ác tính của tuyến giáp [4] Tỉ lệ phát hiện được ung thư tuyến giáp trong 1 triệu người dân Mỹ là 25 - 40 trường hợp [5] Trên thực tế, có tới 60% - 90% các trường hợp ung thư tuyến giáp được phát hiện nhờ phương pháp chẩn đoán tế bào học bằng chọc hút kim nhỏ Việc tìm ra những chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng có ý nghĩa tiên lượng đối với kết quả điều trị ngoại khoa ung thư tuyến giáp cũng có một ý nghĩa rất quan trọng đối với việc lựa chọn chỉ định, chiến thuật và khối lượng can thiệp ngoại khoa
Trang 2cũng như các liệu pháp điều trị kết hợp trước
và sau phẫu thuật nhằm nâng cao chất lượng
điều trị đối với căn bệnh này Xuất phát từ lý
do đó chúng tôi nghiên cứu đề tài nhằm mục
tiêu:“Mô tả đặc điểm hệ số ung thư tuyến giáp”
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian
nghiên cứu
Gồm 293 bệnh nhân không phân biệt tuổi,
giới, có bệnh lý lành hoặc ác tính của tuyến
giáp được điều trị tại Khoa phẫu thuật lồng
ngực - mạch máu - nội tiết Bệnh viện 103 từ
2003-2007
*Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
+ Chẩn đoán dựa trên các dấu hiệu lâm
sàng, cận lâm sàng và có chẩn đoán mô bệnh
học sau mổ, bệnh nhân đồng ý tham gia
nghiên cứu
+ Có hồ sơ lưu trữ đầy đủ
+ Không bị các bệnh mạn tính nặng, hoặc
mắc ung thư khác
*Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Không có hồ sơ lưu trữ đầy đủ, không
có chẩn đoán mô bệnh học, bệnh nhân không
đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính nặng, hoặc mắc bệnh ung thư khác
+ Ung thư tuyến giáp thứ phát do di căn
từ nơi khác đến
2.2 Phương pháp nghiên cứu 2.2.1 Phương pháp: Sử dụng phương
pháp mô tả lâm sàng
2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu: cỡ mẫu
toàn bộ, chọn theo phương pháp tiện ích
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu:
+ Tất cả bệnh nhân đều được nghiên cứu
kỹ về tiền sử, bệnh sử và khám xét thực thể theo trình tự của mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất
+ Từ các thông tin thu được qua nghiên cứu lâm sàng, tìm ra tần xuất của từng triệu
chứng hay gặp đối với 2 nhóm lành và ác tính, tìm ra tỉ số chênh giữa hai nhóm Áp dụng lược đồ nhận dạng trong điều khiển
học vào chẩn đoán bệnh
+ Lựa chọn các dấu hiệu và triệu chứng có tần suất và OR cao, có ý nghĩa để phân biệt trong chẩn đoán phát hiện bệnh để tính điểm (hệ số nhận dạng) cho từng triệu chứng và lập bảng chẩn đoán Hệ số chẩn đoán (HSCĐ) được tính theo công thức:
f(U k / A) f(U k / Ā)
HSCĐ (U k ) = 10 x - - -
f(U k / Ā) f(U k / A)
Trong đó: f(U k / A(Ā) là tỉ lệ các phần tử
có dạng A hoặc Ā rơi vào khoảng U k trên
tổng số các phần tử dạng A hoặc Ā của mẫu
thống kê
- Áp dụng bảng các hệ số chẩn đoán vào
lâm sàng để tìm ra ngưỡng chẩn đoán bệnh
cho từng nhóm lành và ác tính (30 bệnh nhân
lấy ngẫu nhiên cho từng nhóm )
- Áp dụng ngưỡng chẩn đoán vào lâm
sàng để chẩn đoán bệnh cho các bệnh nhân
còn lại (90 bệnh nhân) Từ kết quả thu được,
đánh giá phương pháp chẩn đoán mới dựa
vào các chỉ số: độ nhậy, độ đặc hiệu, giá trị
dự báo dương, giá trị dự báo âm, độ chính xác và tỉ số đúng
2.2.4 Xử lý số liệu : sử dụng chương
trình EPIINFO 6.04 và kết hợp với bộ môn toán tin - Học viện Quân y để xử lý số liệu theo các phương pháp thống kê Y học So sánh hai tỷ lệ, khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p <0,05 Đánh giá giá trị của phương pháp chẩn đoán bằng ma trận quyết định (decision matrix):
Trang 3III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1 Hệ số chẩn đoán
lành
n
ác tính
f lành
f
ác tính HSCĐ
1 Sờ thấy hạch và
bướu
Có 1 50 0,011 0,253 -239,5
2 Dính với mô xung
quanh
Có 5 71 0,053 0,359 -66,7
Có 17 131 0,179 0,662 -34,3
4 Khàn tiếng tăng dần Không 88 165 0,926 0,833 +2,1
Có 7 33 0,074 0,167 -18,2
D.đ kém 7 117 0,074 0,591 -78,9
Nhận xét Trong bảng 3.1: n : số bệnh nhân, f : tần suất của dấu hiệu hoặc triệu chứng
trong từng nhóm, HSCĐ: hệ số chẩn đoán tính theo công thức của lược đồ nhận dạng
Để tìm ra ngưỡng của tổng các HSCĐ trên từng bệnh nhân, chúng tôi đã áp dụng kết quả HSCĐ ở bảng 3.1 để tính HSCĐ cho 30 bệnh nhân nhóm lành tính và 30 bệnh nhân nhóm
ác tính lấy ngẫu nhiên trong tập hợp 293 bệnh nhân nghiên cứu Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.2
Bảng 3.2 Ngưỡng của tổng các hệ số chẩn đoán lâm sàng
Nhận xét Bảng 3.2 cho thấy:
- Đa số các bệnh nhân ác tính (93,4%) có
tổng hệ số chẩn đoán < 0
- Đa số các bệnh nhân lành tính (93,4%)
có tổng số các hệ số chẩn đoán >100
- Chỉ có 2 bệnh nhân (3,3%) có tổng các
hệ số chẩn đoán trong khoảng từ 0 - 100
Từ kết quả nghiên cứu về ngưỡng của
HSCĐ ở bảng 3.2, chúng tôi đã tiến hành chẩn đoán cho 175 bệnh nhân thuộc nhóm tiến cứu (95 bệnh nhân bị các bệnh tuyến
Trang 4giáp lành tính và 80 bệnh nhân bị ung thư
tuyến giáp), lần đầu tiên đến khám và điều trị
tại bệnh viện 103 bằng phương pháp tính
HSCĐ Mỗi bệnh nhân đều được chẩn đoán
dựa vào 7 tiêu chuẩn ở bảng 3.1, tính tổng hệ
số chẩn đoán ( HSCĐ) cho từng bệnh nhân
rồi so sánh với ngưỡng chẩn đoán:
- Nếu HSCĐ của bệnh nhân < 0: bệnh
nhân bị ung thư tuyến giáp
- Nếu HSCĐ của bệnh nhân > 100: bệnh nhân bị bệnh tuyến giáp lành tính
- Nếu HSCĐ của bệnh nhân nằm trong khoảng từ 0 - 100: chưa kết luận được phải làm thêm các xét nghiệm hoặc sinh thiết để
xác định chẩn đoán
Bảng 3.3 So sánh kết quả chẩn đoán lâm sàng dựa vào ngưỡng của tổng các hệ số
chẩn đoán với chẩn đoán giải phẫu bệnh
Tình trạng bệnh có thật chẩn đoán GPB
Ác tính (+) Lành tính (-) Test chẩn đoán lâm
sàng theo ngưỡng
HSCĐ
(a+c) 80 (b+d) 95 (a+b+c+d) 175
Nhận xét Các tính toán số học cho thấy: Se =92,50 %; Sp = 88,42% %; PV(+) = 87,06%;
PV(-) = 93,33%%; A = 90,29 % LR = 7.989 ; OR: 94.182
IV BÀN LUẬN
Mặc dù việc đưa ra bảng các dấu hiệu và
triệu chứng lâm sàng có tỷ trọng cao trong
chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt,
tính chỉ số chênh OR giữa 2 nhóm nghiên
cứu (nhóm lành tính và nhóm ung thư tuyến
giáp) đã giúp ích rất nhiều cho thực hành lâm
sàng trong việc định hướng chẩn đoán,
nhưng các bảng này mới chỉ dừng lại ở các
dấu hiệu và triệu chứng riêng biệt, độc lập
mà chưa giúp cho thầy thuốc lâm sàng kết
hợp được các yếu tố chẩn đoán
Việc tính tỷ trọng của các dấu hiệu và
triệu chứng bằng phương pháp phân tích thụt
lùi của Brezkinni và Skrob O.S và CS cũng
có những hạn chế do phải dựa trên giả thiết
là các dấu hiệu và triệu chứng này hoàn toàn
độc lập và tuân theo luật phân phối chuẩn
Để khắc phục hạn chế của các phương pháp
nói trên, chúng tôi đã áp dụng phương pháp
tính hệ số nhận dạng của lý thuyết điều khiển học vào chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt các bệnh lý tuyến giáp Thực chất quá trình chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt của người thầy thuốc lâm sàng là quá trình "nhận dạng"
trong tập hợp các bệnh nhân có bệnh tuyến giáp (lành và ác tính) xem bệnh nhân nào thuộc nhóm lành tính (A) và bệnh nhân nào thuộc nhóm ác tính (Â) Cơ sở để đưa ra các
hệ số nhận dạng của chúng tôi dựa vào:
- Các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng có tần suất cao, khác nhau có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy cao, có giá trị trong việc phân biệt chẩn đoán và "nhận dạng"
- Kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước và thế giới về các chỉ số nguy cơ ung thư tuyến giáp
- Để làm giảm số lượng các chỉ số chẩn đoán và tăng chất lượng thông tin của các chỉ
số này, từ bảng 3.1 trong số 10 dấu hiệu và
Trang 5triệu chứng lâm sàng có tỷ trọng cao, chúng
tôi kết hợp một số dấu hiệu và triệu chứng để
có các dấu hiệu và triệu chứng mới với tỷ
trọng lớn hơn và chỉ chọn các chỉ số khác
nhau có ý nghĩa thống kê với xác suất tin cậy
cao (p < 0,01- 0,001), có OR cao Bằng cách
lựa chọn này, chúng tôi đã đưa ra 7 chỉ số
chẩn đoán được trình bày trong bảng 3.1, từ
đó tính được hệ số chẩn đoán cho từng dấu
hiệu và triệu chứng, kết quả được trình bày ở
bảng 3.2
- Bảng này có thể giúp cho người thầy
thuốc tính được điểm cho từng dấu hiệu,
triệu chứng lâm sàng Điểm chẩn đoán lâm
sàng tổng hợp của từng bệnh nhân sẽ là tổng
số điểm của các dấu hiệu và triệu chứng
Về ngưỡng chẩn đoán bệnh theo tổng các
hệ số chẩn đoán :
Việc tính tổng hệ số chẩn đoán lâm sàng
(HSCĐ) cho từng bệnh nhân mang ý nghĩa
tổng hợp, khách quan và có độ tin cậy cao
hơn từng yếu tố riêng lẻ Áp dụng phương
pháp tính HSCĐ cho 30 bệnh nhân lành
tính và 30 bệnh nhân ác tính lấy ngẫu nhiên
trong tập hợp 293 bệnh nhân thuộc hai nhóm
nghiên cứu (95 bệnh nhân thuộc nhóm lành
tính và 198 bệnh nhân thuộc nhóm ác tính)
So sánh với chẩn đoán GPB sau mổ và dùng
phương pháp "đám mây tần suất" trong
thống kê chúng tôi đã tìm ra ngưỡng chẩn
đoán bệnh Kết quả về ngưỡng chẩn đoán
bệnh được trình bày trong bảng 3.2
Vì đa số (93,4%) bệnh nhân ung thư có
HSCĐ < 0, đa số các bệnh nhân lành tính
có HSCĐ > 100 (93,4%) Chỉ có 2 bệnh
nhân có HSCĐ nằm trong khoảng 0 - 100
nên chúng tôi đã quyết định chọn ngưỡng
chẩn đoán như sau:
- Nếu HSCĐ của bệnh nhân < 0 Có thể
kết luận, bệnh nhân bị ung thư
- Nếu HSCĐ của bệnh nhân nằm trong khoảng từ 0 - 100: cần làm thêm các xét nghiệm khác hoặc sinh thiết để xác định chẩn đoán
- Nếu HSCĐ của bệnh nhân > 100 Có thể kết luận: bệnh nhân bị bệnh lý tuyến giáp lành tính
Để đánh giá hiệu quả của phương pháp chẩn đoán lâm sàng dựa vào HSCĐ, chúng tôi đã áp dụng kết quả nghiên cứu về ngưỡng của tổng các HSCĐ để chẩn đoán cho 182 bệnh nhân lấy ngẫu nhiên trong số 293 bệnh nhân nghiên cứu Các bệnh nhân này lần đầu tiên đến khám và điều trị tại bệnh viện 103 Tất cả bệnh nhân đều được mổ và có kết quả GPB sau mổ
Mỗi bệnh nhân đều được chẩn đoán dựa vào 7 tiêu chuẩn ở bảng 3.1, tính tổng hệ số chẩn đoán (HSCĐ) cho từng bệnh nhân rồi
so sánh với ngưỡng chẩn đoán:
Tất cả các bệnh nhân đều được mổ và có kết quả chẩn đoán GPB sau mổ
+ Kết quả chẩn đoán theo HSCĐ cho thấy:
- 7 bệnh nhân (3.8%) có HSCĐ nằm trong khoảng từ 0 - 100 nên không kết luận được tình trạng bệnh là lành tính hay ác tính, phải làm thêm các biện pháp chẩn đoán khác
để xác chẩn
- 175 bệnh nhân (95 bệnh nhân bị các bệnh tuyến giáp lành tính và 80 bệnh nhân bị ung thư tuyến giáp) có HSCĐ nằm trong khoảng < 0 hoặc >100 có thể sử dụng phương pháp tính tổng hệ số chẩn đoán để chẩn đoán xác định bệnh lý tuyến giáp là lành hay ác tính Kết quả so sánh giữa chẩn đoán lâm sàng theo ngưỡng của HSCĐ và chẩn đoán GPB được trình bày dưới dạng bảng ma trận Kết quả nghiên cứu thống kê rút ra từ bảng ma trận 3.3 cho thấy:
+ Chẩn đoán phù hợp (giữa chẩn đoán lâm sàng và chẩn đoán GPB)
Trang 6- 74 bệnh nhân có HSCĐ < 0, được chẩn
đoán lâm sàng là ung thư, cũng phù hợp với
chẩn đoán GPB (chẩn đoán dương tính thật =
74)
- 84 bệnh nhân có HSCĐ > 100 được
chẩn đoán lâm sàng là lành tính, cũng phù
hợp với chẩn đoán GPB là lành tính (chẩn
đoán âm tính thật = 84)
+ Chẩn đoán không phù hợp (giữa lâm
sàng và chẩn đoán GPB)
- Chẩn đoán dương tính giả: 11/85 = 12.9%
11 bệnh nhân có HSCĐ < 0 được chẩn
đoán lâm sàng là ung thư, nhưng chẩn đoán
GPB là lành tính
- Chẩn đoán âm tính giả: 6/90 = 6.6%
6 bệnh nhân có HSCĐ > 100 được chẩn
đoán lâm sàng là lành tính nhưng chẩn đoán
GPB là ác tính Các thông số tính được từ
bảng 3.3 sẽ giúp ta đánh giá một cách khách
quan phương pháp chẩn đoán lâm sàng theo
HSCĐ Do độ nhạy của phương pháp chẩn
đoán này khá cao (92.50%) nên tỷ lệ âm tính
giả sẽ thấp Tức là khi dùng test này để
khẳng định một bệnh nhân là lành tính thì chỉ
mắc phải một tỷ lệ sai sót (âm tính giả) khá
thấp Thực tế cho thấy trong số 90 bệnh nhân
được test HSCĐ khẳng định là lành tính, chỉ
có 6 trường hợp (6.6%) bệnh nhân bị chẩn
đoán nhầm (chẩn đoán âm tính giả) Độ đặc
hiệu của test chẩn đoán lâm sàng là 88.42%
cao hơn độ đặc hiệu của test chẩn đoán lâm
sàng cổ điển (60%) Khi dùng test này để
khẳng định một bệnh nhân bị ung thư thì có
thể mắc phải một tỷ lệ sai sót (dương tính
giả) cao hơn Thực tế cho thấy trong số 85
bệnh nhân được test HSCĐ khẳng định là
ung thư thì có tới 11 bệnh nhân (12.9%) bị
chẩn đoán nhầm so với chẩn đoán GPB
(dương tính giả) Giá trị dự báo dương tính
PV(+) của test HSCĐ là 87.06% Có nghĩa
là: nếu một người thật sự bị ung thư tuyến giáp, khi có HSCĐ < 0 (tức là khi test dương tính) thì xác suất ung thư của người
đó sẽ là 87.06% Giá trị dự báo âm tính PV (-) của test HSCĐ là 93.33%, có nghĩa là nếu một người thật sự không bị ung thư tuyến giáp thì số HSCĐ > 100 (tức là test âm tính) thì xác suất người đó không bị ung thư
là 93.33% Độ chính xác của test HSCĐ là 90.29% chính là hiệu suất chẩn đoán đúng một bệnh nhân là lành tính hay ác tính (độ tin cậy chung của phương pháp là 90.29%)
Tỷ số đúng càng lớn thì phương pháp chẩn đoán càng có giá trị Nếu LR = 1 thì phương pháp không có giá trị Tỷ số đúng của phương pháp HSCĐ là 7.989
V KẾT LUẬN
Phương pháp chẩn đoán lâm sàng nhờ sử dụng HSCĐ là một phương pháp chẩn đoán tốt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đoàn Hữu Nghị, Chu Hoàng Hạnh, Hoàng Văn Thi, Nguyễn Bá Đức (2002), “Nhận xét
cơ cấu bệnh nhân được điều trị tại bệnh viện
K qua ghi nhân năm 2001”, Tạp chí Y học thực hành, 431,tr 401 - 405
2 Nguyễn Bá Đức (1999), Ung thư tuyến giáp
trạng, hướng dẫn thực hành chẩn đoán điều trị ung thư, NXB Y học, Hà Nội, tr 135 - 149
3 Blondeau Ph (1996) Chirurgie du corps
thyroide, le cancer thyroidien, Masson Paris
4 Rossi RL., Cady B (1991), Differentiated
carcinoma of thyroid gland In Cady, B., and Rossi, R.L (Eds): Surgery of the thyroid and parathyroid glands, 3rd ed Philadelphia W.B.Saunders, p.139
5 David C., Sabiston Jr., Kimlyerly H (1997), Textbook of surgery: The biological
basis of modern surgical practice 15th ed, W.B Saunders Company