Bài viết Nghiên cứu tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến bệnh nấm da ở bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Da liễu Thái Bình trình bày mô tả thực trạng bệnh nấm da ở bệnh nhân tại Bệnh viện Da liễu Thái Bình năm 2021; Xác định một số yếu tố liên quan đến bệnh nấm da ở bệnh nhân tại địa điểm nghiên cứu.
Trang 1NGHIÊN CỨU TỶ LỆ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH NẤM DA
Ở BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU THÁI BÌNH
Nguyễn Thị Huyền Sương 1 , Võ Thị Thanh Hiền 1 , Đinh Thị Thanh Mai 1 ,
Vũ Văn Thái 1 , Trịnh Văn Khương 1 , Đỗ Thị Huỳnh 2 TÓM TẮT 29
Nấm da là một trong những bệnh phổ biến
nhất ở người và phân bố ở khắp nơi nhất là các
nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Trong nghiên
cứu tỷ lệ nhiễm và một số yếu tố liên quan đến
nhiễm nấm da ở bệnh nhân đến khám tại bệnh
viện Da liễu Thái Bình cho thấy tỷ lệ nhiễm nấm
da chiếm 56,5%, trong đó lứa tuổi 20 – 39 chiếm
tỷ lệ 42%, chủ yếu là học sinh sinh viên chiếm tỷ
lệ 25,3% Và mặc quần áo ẩm có nguy cơ mắc
bệnh cao gấp 3,3 lần so với những bệnh nhân
khác Có mối liên quan giữa cơ địa ra mồ hôi
nhiều với tình trạng nhiễm nấm da Những người
có cơ địa ra mồ hôi nhiều có nguy cơ mắc bệnh
nấm da cao gấp 2,6 lần những người khác có ý
nghĩa thống kê với p = 0,001
Từ khóa: nấm da, yếu tố liên quan, Bệnh viện
Da liễu Thái Bình
SUMMARY
RESEARCH RATE AND SOME
FACTORS RELATED TO
DERMATOPHYTOSIS IN PATIENTS
VISITING THAI BINH
DERMATOLOGY HOSPITAL
1 Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
2 Bệnh viện Da liễu Thái Bình
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Huyền Sương
Email: nthsuong@hpmu.edu.vn
Ngày nhận bài: 11.2.2022
Ngày phản biện khoa học: 16.3.2022
Dermatophytosis one of the most common diseases in humans and is widely distributed, especially in tropical and subtropical countries
In a study on the infection rate and some factors related to dermatophytosis in patients visiting Thai Binh Dermatology Hospital, the rate of dermatophytosis accounted for 56.5%, of which the age group 20 - 39 accounting for 42%, mainly students for 25.3% And wearing damp clothes was 3.3 times more likely to get sick than other patients There is a relationship between excessive sweating and dermatophytosis People who tend to sweat a lot have a 2.6 times higher risk of vitiligo than others, statistically significant with p = 0.001
Keywords: Dermatophytosis, factorsn related,
Thai Binh Dermatology Hospital
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh nấm da (Dermatophytosis) là một trong các bệnh phổ biến nhất ở người và phân bố ở khắp nơi nhất là các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Tác nhân gây bệnh nấm
da được chia làm hai nhóm chính là vi nấm dạng sợi và vi nấm hạt men Trên thế giới, theo ước tính có ít nhất từ 10 – 20 % dân số
có thể mắc bệnh nấm da [8] Trong nấm ngoại biên thì nấm da chiếm tỷ lệ cao hơn so với nấm ở các vị trí khác và chủ yếu gặp ở những người trẻ tuổi hay vận động Các yếu
tố môi trường tự nhiên liên quan tới bệnh nấm da cũng được nhiều tác giả đề cập tới, nhất là yếu tố về thời tiết và khí hậu, ngoài ra còn một số yếu tố liên quan như tuổi, giới
Trang 2tính và nghề nghiệp, thói quen, vệ sinh cá
nhân,… cũng ảnh hưởng đến bệnh nấm da
Việt Nam là khu vực có khí hậu nhiệt đới,
điều kiện môi trường nóng ẩm thường xuyên
cũng là điều kiện thuận lợi cho nấm ngoại
biên phát triển, đặc biệt là nấm da Ở nước
ta, theo ý kiến nhận xét của tác giả Nguyễn
Thái Dũng và cộng sự (2017) có kết quả tiếp
xúc với đất, động vật, sống tập tập thể, mặc
chung quần áo và dùng chung khăn tắm tăng
nguy cơ nhiễm bệnh nấm da [4] Xuất phát từ
thực, trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu tỷ lệ và một số yếu tố
liên quan đến bệnh nấm da ở bệnh nhân đến
khám tại Bệnh viện Da liễu Thái Bình” với
hai mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng bệnh nấm da ở bệnh
nhân tại Bệnh viện Da liễu Thái Bình năm
2021
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến
bệnh nấm da ở bệnh nhân tại địa điểm
nghiên cứu
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân đến khám tại phòng
khám nấm Bệnh viện Da liễu Thái Bình
* Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu:
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Không sử dụng thuốc kháng nấm trước
đó
- Đối với điều tra KAP: đối tượng nghiên
cứu ≥11 tuổi
* Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh nấm:
- Lâm sàng: là các dát đỏ, hồng hoặc thẫm
màu, có hình tròn hoặc bầu dục, ranh giới rõ,
có bờ viền rõ rệt, trên bờ viền có mụn nước,
vảy khô, bờ đa cung, có xu hướng lành giữa
Ngứa tại tổn thương và tăng lên khi ra mồ
hôi
- Xét nghiệm: soi tươi từ vảy da tại tổn thương có sợi nấm, bào tử nấm hoặc nấm men
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm khám, phỏng vấn, lấy mẫu bệnh phẩm, xét nghiệm nấm trực tiếp được thực hiện tại Bệnh viện Da liễu Thái Bình -Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2021 đến tháng 09/2021
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang
- Phương pháp nghiên cứu thực trạng bệnh nấm da: Mô tả tỷ lệ mắc bệnh qua điều tra cắt ngang
- Phương pháp nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến bệnh nấm da: Mô tả có phân tích qua điều tra KAP của đối tượng nghiên cứu về bệnh nấm da
2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
- Cỡ mẫu cho nghiên cứu thực trạng nấm da: Chọn mẫu thuận tiện, chọn các bệnh nhân đến khám tại phòng khám nấm của Bệnh viện Da liễu Thái Bình trong thời gian từ 01/01/2021 đến 30/09/2021 có đủ tiêu chuẩn theo nghiên cứu Thực tế chúng tôi đã lựa chọn được 308 bệnh nhân đưa vào nghiên cứu thực trạng nhiễm nấm da
- Cỡ mẫu cho nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến bệnh nấm da: chúng tôi đã phỏng vấn kiến thức thực hành của đối tượng nghiên cứu ≥ 11 tuổi Thực tế chúng tôi đã lựa chọn được 235 bệnh nhân đưa vào nghiên cứu
2.5 Nội dung nghiên cứu
- Mô tả tỷ lệ bệnh nấm da
- Mô tả tỷ lệ bệnh nấm da theo tuổi, nghề nghiệp
- Phân tích một số yếu tố liên quan đến bệnh nấm da của bệnh nhân
Trang 32.6 Phương pháp thu thập số liệu và kỹ
thuật sử dụng trong nghiên cứu
* Kỹ thuật xét nghiệm nấm trực tiếp
Được thực hiện đánh giá bởi cán bộ
phòng xét nghiệm Bệnh viện Da liễu Thái
Bình
- Ghi tên, mã số bệnh nhân lên lam kính
sạch
- Lấy bệnh phẩm vào giữa lam kính
- Nhỏ dung dịch KOH vào bệnh phẩm
- Để ở nhiệt độ phòng 30 phút
- Soi kính hiển vi tìm nấm
- Nhận định kết quả:
+ Dương tính: khi thấy sợi nấm hay đoạn
sợi nấm có dáng dấp mềm, thành tế bào sợi
hơi đậm, bào tương đục hơn, ngoài ra còn có
thể thấy bào tử nấm hoặc thấy tế bào nấm
men hình tròn hoặc hình bầu dục
+ Âm tính: khi soi ít nhất 30 vi trường mà
không thấy sợi nấm hay bào tử nấm hay tế
bào nấm men
* Phỏng vấn kiến thức thực hành:
Phỏng vấn kiến thức thực hành của bệnh nhân ≥ 11 tuổi về bệnh nấm da theo phiếu điều tra đã được thiết kế sẵn
2.7 Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm thống kê y sinh học SPSS 20.0
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đã được Hội đồng khoa học thông qua
Nghiên cứu được tiến hành khi có sự cam kết giữa người nghiên cứu và cơ quan chủ quản là Bệnh viện Da liễu tỉnh Thái Bình Những bệnh nhân tự nguyện tham gia nghiên cứu mới đưa vào danh sách sau khi đã được giải thích rõ về mục đích và yêu cầu của nghiên cứu Các bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu vẫn được khám tư vấn, điều trị chu đáo, không có phân biệt đối xử
Các thông tin cá nhân của bệnh nhân được giữ bí mật và mọi số liệu thu được chỉ nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu và không
sử dụng cho mục đích nào khác
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng nhiễm nấm da
3.1 Thực trạng nhiễm nấm da
Hình 3.1 Tỷ lệ bệnh nấm da của đối tượng nghiên cứu (n = 308) Nhận xét: Kết quả trên cho thấy có 174 đối tượng chiếm 56,5% có kết quả xét nghiệm
nấm dương tính
Trang 4Bảng 3.1 Phân bố bệnh nấm da theo nhóm tuổi (n = 174)
Nhận xét: Kết quả bảng trên cho thấy nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất trong số những
người bị bệnh là 20 - 39 tuổi với 42,0%; tiếp đến nhóm tuổi 40 - 59 chiếm 27,0%; là nhóm tuổi dưới 10 tuổi với 13,8%; nhóm tuổi 10 - 19 chiếm 8,0%; nhóm tuổi ≥ 60 chiếm 9,2%
Bảng 3.2 Phân bố bệnh nấm da theo nghề nghiệp (n = 174)
Nhận xét: Kết quả bảng trên cho thấy phân bố nghề nghiệp của đối tượng, chiếm tỷ lệ cao
nhất là học sinh, sinh viên với 25,3%; công nhân chiếm 24,6%; nông dân chiếm 21,3% và cán
bộ viên chức chiếm 14,6% Ngoài ra còn có 14,4% là nghề khác
3.2 Một số yếu tố liên quan đến bệnh nấm da ở đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3 Mối liên quan giữa bệnh nấm da và giới tính (n = 308)
Bệnh
OR = 1,5; 95%CI = 0,9 - 2,3; p > 0,05
Nhận xét: Kết quả bảng trên cho thấy nam giới có nguy cơ nhiễm nấm cao hơn gấp 1,5 lần
so với nữ giới, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Trang 5Bảng 3.4 Mối liên quan giữa yếu tố cơ địa với bệnh nấm da của đối tượng nghiên cứu (n = 235)
Bệnh
Cơ địa ra
mồ hôi nhiều
OR = 2,6 ; CI95% = 1,5 - 4,5 ; p = 0,001
Nhận xét: Có mối liên quan giữa cơ địa ra mồ hôi nhiều với tình trạng nhiễm nấm ngoại
biên Những người có cơ địa ra mồ hôi nhiều có nguy cơ mắc bệnh nấm ngoại biên cao gấp 2,6 lần những người khác có ý nghĩa thống kê với p = 0,001 (CI95% = 1,5 - 4,5)
Bảng 3.5 Mối liên quan giữa một số yếu tố hành vi với nhiễm nấm da của đối tượng nghiên cứu (n=235)
Bệnh Hành vi
Bệnh nấm da
Tổng
Tắm ngay
OR = 1,4 ; CI95% = 0,8 - 2,4 ; p > 0,05
Dùng xà
phòng
OR = 0,55 ; CI95% = 0,3 - 0,9 ; p < 0,05 Thay giặt
quần áo sinh
hoạt hàng
ngày
OR = 1,0 ; CI95% = 0,5 - 2,1 ; p > 0,05 Thay giặt
quần áo đi
làm hàng
ngày
OR = 0,48 ; CI95% = 0,5 - 2,1 ; p > 0,05
Mặc quần áo
ẩm
OR = 3,3 ; CI95% = 1,9 - 5,8 ; p = 0,0001
Trang 6Nhà ở ẩm
thấp
OR = 1,7 ; CI95% = 0,9 - 3,2 ; p > 0,05
Nhận xét: Mặc quần áo ẩm có mối liên quan đến bệnh nấm da Bệnh nhân mặc quần áo
ẩm có nguy cơ mắc bệnh nấm da cao gấp 3,3 lần so với bệnh nhân khác có ý nghĩa thống kê với p < 0,0001
IV BÀN LUẬN
4.1 Thực trạng nhiễm nấm da
Nghiên cứu tỷ lệ bệnh nấm da của chúng
tôi dựa trên các trường hợp có triệu chứng
lâm sàng nghi nhiễm nấm và có kết quả xét
nghiệm nấm Chúng tôi không tính trên tổng
số những người đến khám vì có nhiều trường
hợp nhiễm nấm không có triệu chứng
Chúng tôi thu thập thông tin trên 308 bệnh
nhân, kết quả xét nghiệm nấm trực tiếp xác
định được 174 trường hợp dương tính chiếm
tỷ lệ 56,5% chủ yếu là nấm da
Kết quả nghiên cứu này thấp hơn kết quả
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quý Thái cho
thấy tỷ lệ nhiễm nấm da là 66,4% Điều này
có thể giải thích do đặc điểm đối tượng
nghiên cứu của tác giả là các công nhân khai
thác than, có môi trường làm việc đặc thù là
yếu tố nguy cơ cao của bệnh nấm da [3]
Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm nấm này của
chúng tôi lại cao hơn rất nhiều nghiên cứu
của tác giả Nguyễn Hoàng Ân được thực
hiện ở người bệnh khám tại Bệnh viện
Phong-Da liễu Trung ương Quy Hòa, khi
đánh giá một số đặc điểm nhiễm nấm da ở
người bệnh đồng thời xác định tỷ lệ các loài
nấm da gây bệnh nấm da trên 300 người
bệnh, kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm nấm da ở người bệnh là 6,27% [2]
Nấm da gặp ở mọi lứa tuổi Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất trong số những người bị bệnh là 20 - 39 tuổi với 42,0%; tiếp đến nhóm tuổi 40 - 59 chiếm 27,0%; là nhóm tuổi dưới 10 tuổi với 13,8%; nhóm tuổi 10 - 19 chiếm 8,0%; nhóm tuổi ≥ 60 chiếm 9,2% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với nghiên cứu của tác giả Khodadadi khi đánh giá tỷ lệ nhiễm nấm trên da ở Shiraz, Iran kéo dài 5 năm (2015–2019) cũng cho kết quả nhóm tuổi cao nhất là 21–40 tuổi với 786 người (43,5%) và thấp nhất là trên 60 tuổi với 196 người (10,8%) [6] Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Quốc Tuấn về thực trạng nhiễm nấm trên da-niêm mạc và một số yếu tố liên quan
ở người bệnh da liễu tại Bệnh viện Phong-Da liễu Trung ương Quy Hòa, cho thấy tỷ lệ nhiễm nấm da và niêm mạc cao nhất ở nhóm tuổi trẻ từ 16 - 25 tuổi với 32,5% [1] Có thể đây là lứa tuổi trưởng thành, hoạt động nhiều, tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy cơ khác nhau nên hay có tổn thương ở da nói chung và nhiễm nấm da nói riêng
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy về nghề nghiệp, chiếm cao nhất là học
Trang 7sinh, sinh viên với 25,3%; công nhân chiếm
24,6%; nông dân chiếm 21,3% và cán bộ
viên chức chiếm 14,6% Ngoài ra còn có
14,4% là nghề khác như buôn bán, nghề tự
do Có thể thấy tình trạng này rất phổ biến ở
học sinh, sinh viên gây ra bệnh tật và làm
giảm chất lượng cuộc sống của trẻ, đặt ra
một vấn đề sức khỏe cộng đồng lớn Các yếu
tố như vệ sinh cá nhân kém, thường xuyên
tiếp xúc với người khác, vệ sinh môi trường
kém, dân số quá đông và tình trạng kinh tế xã
hội thấp khiến trẻ em trong độ tuổi đi học dễ
bị nhiễm nấm Đồng thời sinh viên là đối
tượng mắc nấm da cao nhất do điều kiện sinh
hoạt còn thiếu thốn, sống tập thể, có thói
quen ngủ chung và dùng chung đồ của nhau,
đồng thời cũng chưa có ý thức phòng chống
bệnh tạo điều kiện thuận lợi cho nấm lây lan
và phát triển Các nghiên cứu từ các vùng
Đông và Nam của Châu Phi cho thấy tỷ lệ
nhiễm nấm da ở học sinh ở các nước đang
phát triển nằm trong khoảng từ 20% đến
90% [7]
4.2 Một số yếu tố liên quan đến nhiễm
nấm da ở đối tượng nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy nam giới có nguy cơ nhiễm nấm cao
hơn gấp 1,5 lần so với nữ giới, tuy nhiên sự
khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p >
0,05 Theo các tác giả thì tỷ lệ mắc nấm
ngoại biên cao hơn ở nam giới có thể liên
quan tới yếu tố hormon (progesteron có tác
dụng ức chế nấm ngoại biên) hay yếu tố hành
vi (nam giới hoạt động thể lực, ngoài trời hay
các hoạt động có tiếp xúc trực tiếp nhiều hơn
hay gặp ở nam giới hơn so với nữ giới
Ra mồ hôi nhiều cũng liên quan tới tỷ lệ mắc bệnh nấm da Làn da ẩm ướt với nhiều
mồ hôi và các chất bài tiết trên da là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn, vi nấm sinh sôi phát triển gây ra các vấn đề về da như mụn nhọt, ban sẩn, mề đay và đặc biệt là nấm da Do đặc điểm các loại nấm đều ưa độ
ẩm nên ra mồi hôi nhiều được coi là yếu tố nguy cơ với hầu hết các thể bệnh nấm da Khi mồ hôi ra nhiều, sự bài tiết amoniac tăng, làm pH của da chuyển về hướng kiềm (đạt 6,5 - 7,5) tạo điều kiện cho hoạt động của các enzyme proteinase của nấm da Mặt khác, khi mồ hôi ra nhiều, hiệu quả diệt khuẩn của axit béo sẽ giảm và còn làm giảm sức đề kháng của da do đó đã làm tăng mức
độ bệnh Tác giả Krishnan và cộng sự trong nghiên cứu của họ phát hiện ra rằng ngứa chủ yếu xuất hiện khi đổ nhiều mồ hôi [5] Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng đã chỉ
ra có mối liên quan giữa cơ địa ra mồ hôi nhiều với tình trạng nhiễm nấm da Những người có cơ địa ra mồ hôi nhiều có nguy cơ mắc bệnh nấm ngoại biên cao gấp 2,6 lần những người khác có ý nghĩa thống kê với p
= 0,001 (CI95% = 1,5 - 4,5) Kết quả của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thái Dũng cũng cho thấy người
cơ địa ra mồ hôi nhiều đều tăng nguy cơ mắc bệnh nấm mức độ vừa - nặng hơn so với người bình thường [4]
Quần áo ẩm mốc không những có mùi khó chịu, làm giảm đi sự tự tin của người
Trang 8mốc có thể bám vào da, gây ra dị ứng, nhiễm
trùng da, nhất là những vùng da nhạy cảm
hoặc da của trẻ nhỏ Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi cho thấy mặc quần áo ẩm có mối
liên quan đến nhiễm nấm Bệnh nhân mặc
quần áo ẩm có nguy cơ mắc bệnh nấm da cao
gấp 3,3 lần so với bệnh nhân khác có ý nghĩa
thống kê với p < 0,0001 Nghiên cứu của tác
giả Nguyễn Thái Dũng cũng cho thấy tỷ lệ
bệnh nhân hay mặc quần áo ẩm mắc bệnh
mức độ nhẹ thấp; mức độ vừa và nặng là chủ
yếu (50/68 = 73,5%); ngược lại tỷ lệ mắc
bệnh nhẹ ở bệnh nhân không hay mặc quần
áo ẩm (64/116 = 55,2%) [4]
V KẾT LUẬN
Tỷ lệ nhiễm nấm da tại Bệnh viện Da liễu
Thái Bình năm 2021 là 56,5% trong đó lứa
tuổi 20 – 39 chiếm tỷ lệ 42%, chủ yếu là học
sinh sinh viên chiếm tỷ lệ 25,3% Mặc quần
áo ẩm có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 3,3 lần
so với những bệnh nhân khác có ý nghĩa
thống kê với p < 0,0001 Có mối liên quan
giữa cơ địa ra mồ hôi nhiều với tình trạng
nhiễm nấm da Những người có cơ địa ra mồ
hôi nhiều có nguy cơ mắc bệnh nấm da cao
gấp 2,6 lần những người khác có ý nghĩa
thống kê với p = 0,001
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Huỳnh Quốc Tuấn (2017).Thực trạng nhiễm
nấm trên da-niêm mạc và một số yếu tố liên
quan ở người bệnh da liễu tại Bệnh viện Phong-Da liễu Trung ương Quy Hòa, năm
2016 – 2017, Tạp chí Y học dự phòng 27(9),
tr 45-56
2 Nguyễn Hoàng Ân (2019) Đặc điểm một số
loài nấm sợi gây bệnh nấm da ở bệnh nhân đến khám điều trị tại Bệnh viện Phong-Da liễu Trung ương Quy Hòa, Tạp chí Y học dự
phòng 29(6), tr 45-49
3 Nguyễn Quý Thái (2004) Đặc điểm dịch tễ
học, yếu tố nguy cơ và giải pháp can thiệp phòng bệnh nấm da cho công nhân khai thác than tại Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Hà Nội
4 Nguyễn Thái Dũng (2017) Nghiên cứu một
số đặc điểm nhiễm nấm da và kết quả điều trị
ở bệnh nhân tại Trung tâm Chống Phong - Da liễu tỉnh Nghệ An 2015 - 2016, Luận án tiến
sĩ y học Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương
5 Ajaykrishnan and Thappa D.M (2003),
Morphological, and pigmentary variations of
tinea 48(2), pp 83-86
6 Khodadadi H and Zomorodian K (2021)
Prevalence of superficial‐cutaneous fungal infections in Shiraz, Iran: A five‐year retrospective study (2015–2019), Journal of
Clinical Laboratory Analysis 35(7), pp 2-6
7 Nweze E I and Eke I E (2018)
Dermatophytes and dermatophytosis in the eastern and southern parts of Africa, Medical
Mycology 56(1), pp 13-28
8 Gupta A, Simpson F (2012) Device-based
therapies for onychomycosis treatment, Skin
Therapy Lett;17(9):4-9