1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng thang đo kết quả giảm nhẹ trong chăm sóc toàn diện người sống với HIV tại Thuỷ Nguyên, Hải Phòng

7 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng Thang đo kết quả giảm nhẹ trong chăm sóc toàn diện người sống với HIV tại Thủy Nguyên, Hải Phòng
Tác giả Phạm Thị Võn Anh, Bùi Minh Khụi, Lờ Khắc Tựng, Phạm Văn Linh
Trường học Trường Đại Học Y Dược Hải Phòng
Chuyên ngành Chăm sóc y tế
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 383,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này sử dụng thang đo VietPOS để mô tả nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người sống với HIV tại Thuỷ Nguyên, Hải Phòng. Đối tượng và phương pháp: Chúng tôi thực hiện một nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 48 bệnh nhân HIV đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú Thuỷ Nguyên. Các bác sĩ và điều dưỡng phòng khám phỏng vấn bệnh nhân bằng thang đo kết quả giảm nhẹ cho người Việt Nam (Vietnamese Palliative Outcome Scale- VietPOS).

Trang 1

SỬ DỤNG THANG ĐO KẾT QUẢ GIẢM NHẸ TRONG CHĂM SÓC

TOÀN DIỆN NGƯỜI SỐNG VỚI HIV TẠI THUỶ NGUYÊN, HẢI PHÒNG

Phạm Thị Vân Anh 1 , Bùi Minh Khôi 2 , Lê Khắc Tùng 2 , Phạm Văn Linh 1

TÓM TẮT 10

Mục tiêu: Nghiên cứu này sử dụng thang đo

VietPOS để mô tả nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ

(CSGN) của người sống với HIV tại Thuỷ

Nguyên, Hải Phòng Đối tượng và phương

pháp: Chúng tôi thực hiện một nghiên cứu cắt

ngang mô tả trên 48 bệnh nhân HIV đang điều trị

ARV tại phòng khám ngoại trú Thuỷ Nguyên

Các bác sĩ và điều dưỡng phòng khám phỏng vấn

bệnh nhân bằng thang đo kết quả giảm nhẹ cho

người Việt Nam (Vietnamese Palliative Outcome

Scale- VietPOS) Kết quả: Các triệu chứng thể

chất thường gặp ở bệnh nhân HIV đang điều trị

ARV là mệt mỏi (50%), ăn không ngon (31,3%),

các vấn đề về miệng (29,2 %) Đau gặp ở 25% số

bệnh nhân với 18,8% đau nhẹ và trung bình,

4,2% đau nặng và 2,1% đau rất nặng và đau

khủng khiếp.Về tâm lý, gần 40% số bệnh nhân

HIV lo lắng về bệnh tật và gần 30% số bệnh nhân

cảm thấy buồn Về xã hội, 41,6% bị kỳ thị, 75%

lo lắng về tiền cho các nhu cầu cơ bản trong đó

27,5% lo lắng nhiều đến vô cùng Về tinh thần,

6,3% bệnh nhân không cảm thấy bình yên chút

nào, 29,2% thỉnh thoảng và 35,4% đôi khi cảm

thấy bình yên.Về nhu cầu thông tin, đa số bệnh

nhân nhận được nhiều thông tin cần thiết và đáp

ứng được sự mong muốn (89,60%) Điểm trung

1 Trường Đại Học Y Dược Hải Phòng

2 Bệnh viện Đa Khoa Thuỷ Nguyên, Hải Phòng

Chịu trách nhiệm chính: Phạm Thị Vân Anh

Email: ptvananh@hpmu.edu.vn

Ngày nhận bài: 28.1.2022

Ngày phản biện khoa học: 26.3.2022

Ngày duyệt bài: 20.5.2022

bình của các thành phần của thang đo VietPOS thể hiện các nhu cầu CSGN bao gồm lo lắng về tài chính (1,94 ±1,40), hỗ trợ tình cảm (2,62

±1,85) và hỗ trợ về tinh thần (2,12 ±1,31) Kết

luận: VietPOS đánh giá được một cách toàn diện

các lĩnh vực của CSGN theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới là thể chất, tâm lý, xã hội, tinh thần của người nhiễm HIV tại Thuỷ Nguyên Người nhiễm HIV tại Thuỷ Nguyên có nhu cầu CSGN cao hơn trong các lĩnh vực về tâm lý, xã

hội và tinh thần Kiến nghị: Thang đo VietPOS

nên được lồng ghép vào chăm sóc HIV toàn diện

để đánh giá và theo dõi nhu cầu chăm sóc của người bệnh như đã được khuyến cáo bởi Bộ Y Tế Việt Nam Bên cạnh các biện pháp điều trị làm thay đổi tiên lượng bệnh, các nhà chăm sóc sức khoẻ cần đẩy mạnh hơn việc hỗ trợ tâm lý, xã hội, tinh thần cho người sống chung với HIV

Từ khoá: Chăm sóc giảm nhẹ, người sống

chung với HIV, thang đo kết quả giảm nhẹ cho người Việt Nam

SUMMARY USE OF PALLIATIVE OUTCOME SCALE IN COMPREHENSIVE CARE FOR PEOPLE LIVING WITH HIV IN THUY NGUYEN, HAI PHONG

Objective: This study used Vietnamese

Palliative Outcome Scale (VietPOS) to characterize the palliative care needs of people living with HIV (PLWH) in Thuy Nguyen, Hai

Phong Subject and methods: We implemented

a descriptive cross-sectional study including 48 PLWH who were taking antiretroviral therapy at Thuy Nguyen outpatient clinic The clinic’s

Trang 2

doctors and nurses interviewed the patients with

VietPOS Results: The most prevalent physical

symptoms of the participants were fatigue (50%),

loss of appetite (33.30%) and mouth problems

(29.20%) Pain was reported in 25% of the

participants; 18.8% reported mild-moderate pain,

4.20% reported severe pain, and 2.1% reported

overwhelming pain About psychological

aspects, 40% of the participants worried about

their illness, 30% felt sad About social aspects,

41.60% of the participants experienced stigma,

75% worried about money for the basic needs

About spiritual aspects, 6.3% of participants did

not feel at peace at all, 29.20% of participants

occasionally felt at peace, and 35.4% of

participants sometimes felt at peace Majority of

patients received full information or as much as

they wanted (89.60%) The mean scores of items

in VietPOS demonstrated palliative care needs

including worry about money for basic needs

(1.94 ±1.40), emotional supports (2.62 ±1.85),

and spiritual support (2.12 ±1.31) Conclusions:

VietPOS assessed comprehensively all domains

of palliative care including physical,

psychosocial, and spiritual aspects as defined by

World Health Organization for PLWH in Thuy

Nguyen PLWH in Thuy Nguyen had unmet

psychosocial and spiritual needs of palliative

care Recommendations: VietPOS should be

integrated in comprehensive HIV management to

assess and monitor the care needs of PLWH as

recommended by Ministry of Health of Vietnam

In addition to disease-modifying treatments,

healthcare providers should promote

psychosocial and spiritual supports for PLWH

Key words: Palliative care, people living with

HIV, VietPOS

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Bất chấp những thành công trong liệu

HIV trên toàn cầu và tại Việt Nam đang phải chịu đựng nhiều đau khổ về thể chất và tâm

lý Ước tính của Hội đồng Lancet Theo ước tính của Hội Đồng Lancet về gánh nặng toàn cầu về đau khổ liên quan đến HIV, trong năm 2015 đã có 16.821.559 người nhiễm HIV cần CSGN, trong đó có 15.761.933 người còn sống và 1.059.626 người đã tử vong [1]

Trước những đau khổ mà người nhiễm HIV đang phải chịu đựng như trên, Tổ chức

Y tế Thế giới khẳng định rằng CSGN ( đánh giá và kiểm soát các vấn đề về thể chất, tâm

lý, tinh thần và xã hội ở một bệnh giới hạn sự sống ) là một phần thiết yếu của quản lý lâm sàng HIV và nên được thực hiện từ lúc được chẩn đoán cho đến khi người bệnh qua đời [2 ] Tại Việt Nam, CSGN cho người sống với HIV đã được quan tâm và đưa lên tầm chiến lược quốc gia Hướng dẫn quốc gia đầu tiên

về CSGN năm 2006 dành cho hai đối tượng chính là người bệnh ung thư và AIDS[3] Đặc biệt, trong hướng dẫn chăm sóc và điều trị HIV của Bộ Y Tế ngày 31/12/2021 cũng

đã bổ sung thêm 1 chương về CSGN [4 ] Mặc dù vậy, hiện vẫn còn thiếu những bằng chứng về hiệu quả của CSGN cho người nhiễm HIV Điều này là do sự thiếu hụt công

cụ đo lường kết quả CSGN Nghiên cứu này thử nghiệm việc sử dụng thang đo VietPOS trong đánh giá ban đầu nhu cầu CSGN cho người sống với HIV tại phòng khám ngoại trú bệnh viện Đa Khoa Thuỷ Nguyên, Hải Phòng Thang đo VietPOS đã được Bộ Y Tế khuyến cáo sử dụng trong CSGN cho những người mắc bệnh hiểm nghèo tại Việt Nam trong đó có người nhiễm HIV [5]

Trang 3

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang mô

tả

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn: người nhiễm HIV,

trên 18 tuổi, đang điều trị thuốc kháng vi rút

tại phòng khám ngoại trú bệnh viện Thuỷ

Nguyên, Hải Phòng Tiêu chuẩn loại trừ: rối

loạn nhận thức hoặc không đủ sức khoẻ thể

chất để trả lời bộ câu hỏi

2.3 Thời gian nghiên cứu: từ tháng

5/2021 đến tháng 11/2021

2.4 Cỡ mẫu và chọn mẫu: Nghiên cứu

được thưc hiện trên 48 người sống với HIV

và sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận

tiện

2.5 Thu thập và xử lý số liệu

Những người bệnh HIV được các bác sĩ

và điều dưỡng của phòng khám ngoại trú

phỏng vấn bằng thang đo VietPOS Thang đo

gồm 10 câu hỏi về những gì mà người bệnh

trải qua trong vòng 3 ngày trước đó: đau, các

triệu chứng khác, lo lắng, buồn, bị kỳ thị, hỗ

trợ tình cảm, lo lắng về chi tiêu, sự bình yên,

thông tin và vấn đề quan tâm nhất Các câu

trả lời được đánh dấu trên thang đo Likert 6

điểm từ 0 đến 5 Trong thang Likert này,

điểm số của đau, các triệu chứng khác ngoài

đau, buồn, lo lắng, bị kỳ thị, lo lắng về tài

chính càng cao thì các vấn đề này càng trầm

trọng Ngược lại, điểm số của hỗ trợ tình

cảm, bình yên, thông tin càng cao thì việc hỗ

trợ, cảm giác bình yên hay nhận được thông

tin càng tốt Số liệu được xử lý và phân tích

bởi phần mềm IBM Statistical Package

(SPSS ) phiên bản 22.0.Các phân tích mô tả

được sử dụng cho các dữ liệu mô tả đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm bệnh tật của đối tượng nghiên cứu Các câu trả lời của người bệnh trong thang đo VietPOS được tính thành tỷ lệ Điểm trung bình và độ lệch chuẩn của mỗi thành phần trong VietPOS cũng được tính toán

2.6 Các vấn đề về y đức

Người nhiễm HIV được tiếp cận, giới thiệu về nghiên cứu và chỉ được phỏng vấn khi đồng ý tham gia vào nghiên cứu Các thông tin của người bệnh được giữ bảo mật Nghiên cứu được Hội Đồng Đạo Đức của Trường Đại Học Y Dược Hải Phòng và Bệnh Viện Đa Khoa Thuỷ Nguyên chấp thuận

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm của đối tượng tham gia nghiên cứu

Tuổi trung bình của người tham gia nghiên cứu là 41,9 tuổi Đa số người tham gia nghiên cứu là nam (83,30%), sống ở nông thôn (89,60% ), có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở lên (70,90 %), 22,90% có thu nhập bình quân trong 1 tháng trên mức nghèo đói của Việt Nam vào năm 2021; 47,9% đã kết hôn Liên quan đến tình trạng sức khoẻ, 75,00% người tham gia nghiên cứu

có tình trạng hoạt động khoẻ mạnh hoàn toàn; 83,30% ở giai đoạn lâm sàng 1, tải lượng CD4 trung bình là 557,10±254,50 Có 77,10 % người tham gia nghiên cứu đã tiết lộ tình trạng HIV và 25,00% hiện đang được điều trị duy trì bằng methadone

Trang 4

Bảng 1 Đặc điểm của các đối tượng nghiên cứu (n=48)

Học vấn

Trung học cơ sở 20 (41,70) Trung học phổ thông 11 (22,90) Đại học/cao đẳng 3 (6,30)

Tình trạng hôn nhân

Sống chung với bạn tình 1 (2,10)

Ly thân/Ly hôn/Góa 5 (10,50)

Thu nhập trung bình

hàng tháng

Dưới 1,5 triệu đồng 11 (22,90) 1,5-2,5 triệu đồng 1 (2,10)

>=2,5 -3,5 triệu đồng 5 (10,40)

>=3,5 triệu đồng 31 (64,60)

Tình trạng hoạt động

(ECOG)

Khoẻ mạnh hoàn toàn 36 (75,00)

Đi lại được, có thể làm việc nhẹ 12 (25,00)

Giai đoạn lâm sàng theo

TCYTTG

Số lượng tế bào CD4 gần nhất (mean±SD) 557,10±254,50

3.2 Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh nhiễm HIV

Bảng 2 Tỷ lệ phần trăm của thành phần trong thang đo VietPOS

Các thành phần của

VietPOS

Thang điểm VietPOS n (%)

Đau 36 (75,00) 9 (18,80) 2 (4,20) 1 (2,10)

Vấn đề ở miệng 34 (70,80) 13 (27,10) 1 (2,10)

Trang 5

Buồn nôn, nôn 45 (93,80) 3 (6,30)

Lo lắng về bệnh tật 29 (60,40) 14 (29,10) 3 (10,40)

Lo lắng về tài chính 12 (25,00) 18 (28,50) 12 (25,00) 6 (12,50)

Hỗ trợ tình cảm 14 (29,20) 9 (18,80) 10 (20,80) 15 (31,30)

Các triệu chứng về thể chất phổ biến ở

người nhiễm HIV tại phòng khám ngoại trú

bệnh viện đa khoa Thuỷ Nguyên là mệt mỏi

(45,80% ở mức độ nhẹ và trung bình, 4,20%

ở mức độ nặng ) và ăn không ngon (31,30%

ở mức độ nhẹ và trung bình), các vấn đề về

miệng (27,10 % ở mức độ nhẹ và trung bình,

2,10% ở mức độ nặng) Đau gặp ở 25,00%

số người bệnh với 18,80% đau nhẹ và trung

bình, 4,20% đau nặng và 2,10 % đau rất nặng

và đau khủng khiếp Về tâm lý, xấp xỉ

40,00% số người bệnh HIV lo lắng về bệnh

tật và gần 30,00% số bệnh nhân cảm thấy buồn, 41,60 % bị kỳ thị Tỷ lệ lo lắng về tài chính cho các nhu cầu cơ bản của cuộc sống

là 75,00% trong đó 27,50% lo lắng nhiều đến

vô cùng lo lắng Về tinh thần, 6,30% bệnh nhân không cảm thấy bình yên chút nào, 29,20% thỉnh thoảng và 35,40% đôi khi cảm thấy bình yên.Về nhu cầu thông tin, đa số người bệnh nhận được nhiều thông tin cần thiết và đáp ứng được sự mong muốn, chỉ có 2,10% không có được thông tin gì và 8,40% thông báo nhận được rất ít thông tin

Bảng 3 Điểm trung bình của các thành phần trong thang đo VietPOS

Trang 6

Điểm trung bình của đau là 0,58 ±1,12,

mệt mỏi là 0,79 ±0,92, các vấn đề ở miệng

0,42 ±0,74, ăn không ngon 0,54 ±1,09 Điểm

đau của các triệu chứng tâm lý là: lo lắng

(0,81 ±1,10), buồn 0,58 ±1,12 Điểm trung

bình của các vấn đề về xã hội là: bị kỳ thị

(0,81 ±1,06), lo lắng về tài chính (1,94 ±

1,40), hỗ trợ tình cảm (2,62 ±1,85) Về tinh

thần, điểm trung bình của cảm giác bình yên

là 2,12 ±1,31 Điểm trung bình về thông tin

nhận được là 1,46 ± 1,09

IV BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu này, 50% người sống

với HIV thông báo có mệt mỏi Đây cũng

chính là triệu chứng thường gặp nhất trong

nghiên cứu của Lê Đại Dương và Phạm Thị

Vân Anh trên 567 bệnh nhân HIV tại miền

Bắc và miền Nam với tỷ lệ 40,4% [6] Tỷ lệ

đau, lo lắng và buồn ở nghiên cứu của chúng

tôi gần tương đương với nghiên cứu của Lê

Đại Dương và Phạm Thị Vân Anh [6] Đặc

biệt, thang đo VietPOS cho thấy phần lớn

người nhiễm HIV (75%) lo lắng về tài chính

cho các nhu cầu cơ bản như điều trị, thức ăn,

tiền học phí, đi lại, thuê nhà với điểm trung

bình là 1,94 ±1,40 Điều này nhấn mạnh việc

hỗ trợ xã hội cho người sống với HIV cần

phải được quan tâm hơn nữa Điểm số trung

bình của các thành phần trong thang đo

VietPOS trong nghiên cứu này thấp hơn một

nghiên cứu ở châu Phi trên các lĩnh vực về

đau ( 0,58 ± 1,12 so với 3,22 ±1,30), lo lắng

về bệnh tật ( 0,81 ±1,10 so với 2,92 + 1,44)

[7] Như vậy, người sống với HIV ở Thuỷ

Nguyên ít đau hơn và ít lo lắng về bệnh tật

hơn người sống với HIV ở châu Phi Tuy

nhiên, điểm số trung bình của hỗ trợ tình cảm

từ gia đình và bạn bè của người nhiễm HIV tại Thuỷ Nguyên cao hơn của châu Phi ( 2,62

±1,85 so với 1,18 ±1,57), thể hiện nhu cầu cần được hỗ trợ tình cảm nhiều hơn Mặc dù phải chịu đựng ảnh hưởng của nhiều triệu chứng nặng và lo lắng về bệnh nhiều hơn nhưng người sống với HIV ở châu Phi lại có thể chia sẻ được cảm xúc của mình với gia đình và bạn bè nhiều hơn [7] Điểm trung bình về cảm giác bình yên ở 2 nghiên cứu gần tương đương nhau ( 2,12 ±1.31 so với 2,34 ±1,48) [7] Thang đo kết quả giảm nhẹ còn được dùng để đánh giá hiệu quả của CSGN [8]

V KẾT LUẬN

VietPOS đánh giá được một cách toàn diện các lĩnh vực của CSGN là thể chất, tâm

lý, xã hội, tinh thần theo định nghĩa CSGN của Tổ chức Y tế Thế giới Qua việc sử dụng thang đo, nhu cầu cần CSGN của người nhiễm HIV ở Thuỷ Nguyên được thể hiện rõ, đặc biệt trên các lĩnh vực về tâm lý, xã hội và tinh thần

VI KIẾN NGHỊ

Thang đo VietPOS có thể được sử dụng như một phần của hồ sơ theo dõi tiến triển của tình trạng sức khoẻ của người bệnh HIV qua thời gian Kết quả đánh giá trong các lần thăm khám là những bằng chứng cho việc xây dựng các chiến lược, chính sách phù hợp như đào tạo nhân lực về CSGN Điều đó sẽ đảm bảo việc chăm sóc lấy người bệnh là trung tâm, giảm bớt và dự phòng những đau

Trang 7

khổ, nâng cao chất lượng cuộc sống cho

người sống với HIV

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Knaul, F.M., et al., Alleviating the access

abyss in palliative care and pain relief-an

imperative of universal health coverage: the

Lancet Commission report Lancet, 2018

391(10128): p 1391-1454

2 World Health Organization Consolidated

guidelines on HIV prevention, testing,

treatment, service delivery and monitoring:

recommendations for a public health

approach 2021 [cited 2021 15 August]

3 Bộ Y Tế, Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ đối

với người bệnh ung thư và AIDS 2006, Hà

Nội: Nhà xuất bản Y Học

4 Bộ Y Tế, Chăm sóc giảm nhẹ cho người

nhiễm HIV, in Hướng dẫn Điều Trị và Chăm

Sóc HIV 2021, Bộ Y Tế p 91-95

5 Bộ Y Tế, Hướng dẫn chăm sóc giảm nhẹ

2022

6 Duong Le Dai, Thi Van Anh Pham, Thi Thanh Huyen Bui, The Ngoc Ha Than, Van Thuc Pham, Ngoc Khue Luong, Richard Harding & Eric L Krakauer Symptom

prevalence, burden and correlates among people living with HIV in Vietnam: a two-centre self- report study, AIDS Care, 2021.DOI: 10.1080/09540121.2021.1922577

7 Lentsoane, P., P., Meyer, J.C., Schellack, N., Cameron, D.A., Challenges in the provision

of palliative care at resource-limited South African hospice settings African Journal for Physical, Health Education, Recreation and Dance, 2014 September (Supplement 1:2), 420-432

8 Lowther K, Selman L, Simms V, Gikaara N, Ahmed A, Ali Z, Kariuki H, Sherr L, Higginson IJ, Harding R., Nurse-led

palliative care for HIV-positive patients taking antiretroviral therapy in Kenya: a randomised controlled trial Lancet HIV 2015 Aug;2(8): e328-34 doi: 10.1016/S2352-3018(15)00111-3 Epub 2015 Jun 15 PMID:

26423375

Ngày đăng: 31/12/2022, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w