CHƯƠNG TRÌNH CAN THIỆP DỰA TRÊN CHÁNH NIỆM VỀ GIẢM CĂNG THẲNG KHI MANG THAI Liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm, công việc lý thuyết và lâm sàng để giải quyết các vấn đề về tâm trạng khi mang thai.
Trang 1CHƯƠNG TRÌNH CAN THIỆP DỰA TRÊN CHÁNH NIỆM VỀ GIẢM
CĂNG THẲNG KHI MANG THAI
Liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm, công việc lý thuyết và lâm sàng để giải
quyết các vấn đề về tâm trạng khi mang thai Mục đích của nghiên cứu này là đánh
giá hiệu quả của Chương trình can thiệp dựa trên chánh niệm đối với việc Giảm
Căng thẳng khi Mang thai Thiết kế: Một thiết kế gần như thử nghiệm đã được sử dụng trong nghiên cứu này Bối cảnh: Nghiên cứu được thực hiện tại các phòng khám ngoại trú sản khoa ở Kafr El sheikh, Bệnh viện Đại học Mẫu: Một mẫu có
mục đích được sử dụng cho 100 phụ nữ mang thai, những người đã đạt được cài
đặt nêu trên Công cụ: ba công cụ được sử dụng để thu thập dữ liệu, bảng câu hỏi
phỏng vấn để đánh giá các đặc điểm nhân khẩu học cho phụ nữ mang thai Thang
đo căng thẳng nhận thức 2, Thang đo nhận thức chú ý chánh niệm 3 Kết quả: có
những tác động tích cực của chương trình can thiệp chánh niệm đối với mức độcăng thẳng của các bà mẹ được nghiên cứu và sự khác biệt giữa mức độ căng thẳng
trước và sau can thiệp là rất có ý nghĩa (p=0,000) Kết luận nghiên cứu này kết
luận rằng những phụ nữ học chánh niệm khi mang thai có khả năng sử dụng những
kỹ năng đó để kiểm soát khía cạnh căng thẳng khi mang thai, sinh con và nuôi dạy
con cái dẫn đến giảm đau khổ tâm lý và cải thiện sức khỏe tâm lý Sự giới thiệu: Tiếp tục chương trình chánh niệm về khía cạnh giảm căng thẳng khi mang
thai, và cần có các nghiên cứu để phát hiện các vấn đề khác để quản lý sớm
1 Giới thiệu
Mang thai , là thời gian mà một hoặc nhiều con cái phát triển bên trong một người
phụ nữ Đa thai liên quan đến nhiều hơn một đứa trẻ, chẳng hạn như với cặp songsinh Mang thai có thể xảy ra bằng cách quan hệ tình dục hoặc công nghệ hỗ trợsinh sản Sinh con thường xảy ra khoảng 40 tuần kể từ kỳ kinh nguyệt cuối cùng(LMP),1
Khoảng 213 triệu ca mang thai đã xảy ra vào năm 2012, trong đó 190 triệu (89%) ởcác nước đang phát triển và 23 triệu (11%) ở các nước phát triển Số lần mang thai
ở phụ nữ từ 15 đến 44 tuổi là 133 trên 1.000 phụ nữ Khoảng 10% đến 15% trườnghợp mang thai được công nhận kết thúc bằng sảy thai Năm 2016, các biến chứngkhi mang thai đã khiến 230.600 ca tử vong, giảm so với 377.000 ca tử vong vàonăm 1990 Các nguyên nhân phổ biến bao gồm chảy máu, nhiễm trùng, bệnh tănghuyết áp khi mang thai, chuyển dạ bị cản trở và các biến chứng liên quan đến sảythai, thai ngoài tử cung hoặc phá thai tự chọn.2
Trang 2Mang thai và sinh con là một số trải nghiệm quan trọng, thú vị và đáng sợ nhất màmột người phụ nữ sẽ trải qua trong đời Những trải nghiệm và sức khỏe tinh thầncủa người phụ nữ trong thời kỳ mang thai và trong suốt giai đoạn sau khi mangthai là vô cùng quan trọng đối với sức khỏe của cả mẹ và con Trầm cảm hoặc lolắng trong thai kỳ có liên quan đến sự gia tăng các biến chứng sản khoa bao gồmthai chết lưu, trẻ sơ sinh nhẹ cân, chăm sóc chuyên khoa sau sinh cho trẻ sơ sinh và
dễ dẫn đến các kết quả phát triển thần kinh bất lợi hơn bao gồm các vấn đề về hành
vi, cảm xúc và nhận thức Lo lắng và căng thẳng khi mang thai có mối liên hệ vớinhau sinh non, nhẹ cân, bệnh tật và tử vong sơ sinh,3
Mang thai là thời điểm quan trọng để chăm sóc tâm trí và thái độ tinh thần củangười mẹ,4 Một cách mà điều này có thể được hỗ trợ là thông qua chánh niệm,được biết là thúc đẩy sự tích cực và ổn định về cảm xúc Ngoài ra, chánh niệm là
“chú ý theo một cách cụ thể: có mục đích, trong thời điểm hiện tại và không phánxét” Quá trình chấp nhận mọi thứ như chúng vốn có và tiếp cận các tình huống vớitinh thần cởi mở sẽ làm giảm căng thẳng, sợ hãi và tăng cường sự tin tưởng Chánhniệm có thể hỗ trợ người mẹ cả trong thời kỳ chu sinh và sau đó,5
Chương trình can thiệp dựa trên chánh niệm là việc dạy hoặc học các thực hànhđược thiết kế để giúp phụ nữ mang thai tăng cường khả năng sống trọn vẹn tronggiây phút hiện tại Khả năng hiện diện và nhận thức là một biện pháp mạnh mẽchống lại xu hướng phổ biến là hồi tưởng lại các sự kiện trong quá khứ hoặc lolắng về các sự kiện có thể xảy ra,6
Các can thiệp dựa trên chánh niệm cho thấy nhiều hứa hẹn trong việc giải quyếtmột số kết quả bất lợi, chẳng hạn như trầm cảm và lo lắng trước khi sinh, mang lạicho phụ nữ mang thai nhiều quyền lực và hài lòng hơn với quá trình chuyển
dạ Mặc dù việc lập kế hoạch sinh con có thể là một trải nghiệm tích cực và cónhững lợi ích riêng, nhưng việc này nên linh hoạt vì nếu kế hoạch sinh con khôngthống nhất với nhau, nó có thể gây ra đau khổ và căng thẳng cho cơ thể.7
Các can thiệp dựa trên chánh niệm cho phép phát triển các khả năng quan trọng đốivới phụ nữ mang thai và bà mẹ mới sinh Những can thiệp này khuyến khích thựchành nhận thức và chấp nhận những suy nghĩ, cảm xúc và cảm giác cơ thể của mộtngười, xây dựng khả năng chịu đựng căng thẳng, giảm phản ứng và tránh nhữngtrải nghiệm không thoải mái Bảy yếu tố thái độ được đề cập trong các can thiệpdựa trên chánh niệm bao gồm không phán xét, kiên nhẫn, tâm thức của người mớibắt đầu, tin tưởng, không phấn đấu, chấp nhận và buông bỏ8
Trang 3Phụ nữ mang thai có thể cần được hỗ trợ trong suốt quá trình mang thai của họbằng các biện pháp can thiệp dựa trên chánh niệm đã được đề xuất là có khả năngmang lại lợi ích để hỗ trợ những phụ nữ này.
Điều dưỡng viên phải biết các loại yếu tố gây căng thẳng phổ biến có liên quannhất đến phụ nữ khi mang thai cùng với các khía cạnh văn hóa xã hội của họ để cô
ấy xem xét những vấn đề đó khi chăm sóc, tư vấn và giáo dục sức khỏe Là một y
tá trong phòng khám thai hoặc khoa tiền sản, cô ấy có trách nhiệm xem xét trạngthái cảm xúc của phụ nữ mang thai theo cả hai cách chủ quan và khách quan,9
2.3 Đánh giá hiệu quả của chương trình can thiệp dựa trên chánh niệm đối với phụ
nữ mang thai để giảm căng thẳng trong thai kỳ
3 Giả thuyết
Chương trình can thiệp dựa trên chánh niệm sẽ cải thiện nhận thức của bà bầu vàgiảm căng thẳng trong thai kỳ
4 Đối tượng và phương pháp
Thiết kế: Một thiết kế gần như thử nghiệm đã được sử dụng để tiến hành nghiên
cứu
Bối cảnh : Nghiên cứu này được thực hiện tại các phòng khám ngoại trú sản khoa ở
Kafr El sheikh Bệnh viện Đại hoc
Lấy mẫu : Một mẫu có mục đích gồm 100 phụ nữ mang thai Tổng số phụ nữ
mang thai đến khám trong năm qua (2017-2018) tại các phòng khám Sản khoa
Ngoại trú ở Kafr El sheikh Bệnh viện Đại học là khoảng 1000 10% được chọn
ngẫu nhiên (100 phụ nữ mang thai) theo các tiêu chí: phụ nữ mang thai 3 thánggiữa và đồng ý tham gia nghiên cứu
4.1 Công cụ của nghiên cứu
Trang 4Ba công cụ được sử dụng để thu thập dữ liệu
Công cụ đầu tiên: Một dạng câu hỏi phỏng vấn, được các nhà nghiên cứu xây
dựng sau khi xem xét các tài liệu liên quan Bảng câu hỏi được chia thành ba phần:
Phần I: Bao gồm các đặc điểm nhân khẩu của mẫu nghiên cứu như tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân , nơi cư trú và thu nhập hàng tháng Phần II: tiền sử sản khoa: phần này liên quan đến tuổi bắt đầu có kinh, tuổi kết
hôn, số lần mang thai, số lần phá thai, số lần sinh nở, kiểu sinh nở, số con cònsống, khám thai trong lần mang thai trước, tuổi thai và dự kiến ngày giao hàng
Phần III: Kiến thức thai phụ về ý nghĩa, lợi ích cho bà mẹ và thai nhi sau khi sinh,
ứng dụng chánh niệm trong thai kỳ và phương pháp áp dụng chương trình canthiệp chánh niệm
Cách tính điểm: đối với phần kiến thức, cho điểm đúng câu trả lời đầy đủ (Hai
điểm) và câu trả lời đúng chưa đầy đủ được tính điểm (Một điểm), còn câu trả lờisai hoặc không biết (Không) theo cách trả lời của thai phụ, kiến thức của họ đượcphân loại thành (Kiến thức tốt) ≥ 75%, (Kiến thức trung bình) ≥ 50% - < 75% và(Kiến thức kém) < 50%
Công cụ II: Thang đo căng thẳng nhận thức (PSS):
Thang đo căng thẳng nhận thức là một công cụ đánh giá căng thẳng cổ điển Trongkhi ban đầu bởi Cohen &Williamson trong (1988)10 Câu hỏi trong thang đo nàyhỏi về cảm xúc và suy nghĩ trong tháng trước Câu hỏi bao gồm 10 mục, mỗi mụcđược kiểm tra theo thang điểm Liker năm điểm (0-4) Thang đánh giá cho điểmcăng thẳng là (0) không bao giờ, (1) hầu như không bao giờ, (2) thỉnh thoảng (3)cho thường xuyên (4) rất thường xuyên
4.2 Hệ thống tính điểm
Điểm có được bằng cách đảo ngược các câu trả lời (ví dụ: 0= 4/1 = 3/2 = 2/3 =1/&4 = 0) đối với bốn mục được nêu tích cực (mục 4, 5, 7 & 8) và sau đó tính tổngtất cả chia tỷ lệ các mục và danh mục như sau
Ÿ Điểm từ 0-13 được coi là ít căng thẳng
Ÿ Điểm từ 14-26 được coi là căng thẳng vừa phải
Ÿ Điểm từ 27-40 được coi là căng thẳng nhận thức cao
Công cụ III: Thang đo Nhận thức Chú ý Chánh niệm (MAAS):
Trang 5Đặc điểm MAAS là thang đo 15 mục được thiết kế bởi 11 để đánh giá một đặc điểmcốt lõi của chánh niệm cụ thể là Một trạng thái dễ tiếp nhận của tâm trong đó sựchú ý, được thông báo bởi một nhận thức nhạy cảm về những gì đang xảy ra tronghiện tại, chỉ đơn giản là quan sát những gì đang diễn ra Điều này trái ngược vớichế độ xử lý dựa trên khái niệm Trong đó các sự kiện và kinh nghiệm được sànglọc thông qua thẩm định, đánh giá nhận thức, ký ức, niềm tin và các hình thức thaotác nhận thức khác Các mục đánh giá nhận thức khi mang thai được nhấn mạnh,mỗi mục có sáu điểm Thang đo Liker (1-6) như 1= hầu như luôn luôn, 2=rấtthường xuyên, 3= hơi thường xuyên, 4= hơi hiếm khi, 5= rất hiếm khi, 6= gần nhưkhông bao giờ.
4.3 Hệ thống tính điểm
Tổng điểm của từng sản phụ dao động từ 15-90, và được xếp vào nhóm “trí óckém” khi đạt ≤ 50% tổng số điểm và “có ý thức cao” được đánh giá khi đạt ≥ 50%tổng số điểm Theo đó, những phụ nữ có tổng điểm từ 15-48 điểm được coi là “tâmtrí thấp” và những người có từ 49 đến 90 điểm được coi là “tâm trí cao”
4.4 Thiết Kế Hoạt Động
4.4.1 giai đoạn chuẩn bị
Việc xem xét các tài liệu liên quan hiện tại, quá khứ, trong nước và quốc tế và kiến thức lý thuyết về các khía cạnh khác nhau của nghiên cứu sử dụng sách, bài báo,internet, tạp chí định kỳ và tạp chí đã được thực hiện
Tính hiệu lực của các công cụ : Tính hợp lệ của nội dung được thực hiện thông
qua năm chuyên gia từ các Thành viên Khoa của khoa Điều dưỡng Sản khoa vàChuyên khoa Y để xác định mức độ phù hợp và đầy đủ
Độ tin cậy: Hệ số độ tin cậy đã được tính toán cho các mục câu hỏi Hệ số alpha là
76,00 %
Nghiên cứu thử nghiệm: Một nghiên cứu thử nghiệm đã được tiến hành trên 10%
(10 phụ nữ mang thai) để kiểm tra độ rõ ràng của nội dung và thời gian cần thiết đểđiền vào công cụ dưới dạng thử nghiệm trước Theo nghiên cứu thí điểm, không cósửa đổi nào được thực hiện Vì vậy, mẫu nghiên cứu thử nghiệm đã được đưa vàomẫu nghiên cứu
4.4.2 Xem xét đạo đức
Trang 6Mỗi phụ nữ mang thai đã được thông báo về mục đích và lợi ích của nghiên cứu,sau đó có được sự đồng ý bằng miệng trước khi bắt đầu thu thập dữ liệu Bảo mậtnghiêm ngặt được đảm bảo trong suốt quá trình nghiên cứu Đối tượng nghiên cứuđược đảm bảo rằng tất cả dữ liệu chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu vàphụ nữ mang thai được thông báo về quyền từ chối hoặc rút lại bất kỳ lúc nào màkhông phải chịu hậu quả.
4.4.3 nghiên cứu thực địa
Sau khi được phép chính thức thực hiện nghiên cứu, mục đích của nghiên cứu đãđược giải thích cho các đối tượng được chọn Nghiên cứu được thực hiện trongkhoảng thời gian 6 tháng, bắt đầu từ đầu tháng 9 năm 2017 đến cuối tháng 2 năm
2018 Thời gian trung bình để đổ đầy dụng cụ là 30 phút Các cài đặt được đề cậptrước đó đã được các nhà nghiên cứu truy cập hai ngày/tuần (thứ Bảy và thứ Năm)
từ 10 giờ sáng đến 2 giờ chiều
Chương trình can thiệp dựa trên chánh niệm : bao gồm 4 giai đoạn:
-Giai đoạn I : Đánh giá: -Giai đoạn này bao gồm việc phỏng vấn các phụ nữ mang
thai trong thời gian đến khám tại các phòng khám ngoại trú ở khu vực chờ đợi đểthu thập dữ liệu cơ bản Khi bắt đầu phỏng vấn, nghiên cứu viên chào hỏi các sảnphụ, giới thiệu bản thân với từng người trong nghiên cứu Điều đó dựa trên dữ liệu
cơ bản thu được từ đánh giá trước chương trình và xem xét các tài liệu liên quanhiện tại và trước đây, trong nước và quốc tế về các khía cạnh khác nhau của cácvấn đề mà phụ nữ mang thai phải đối mặt được thực hiện bằng cách sử dụng sáchgiáo khoa, bài báo và tạp chí định kỳ
Giai đoạn II: giai đoạn lập kế hoạch : Xây dựng chương trình theo mục tiêu chung nhằm nâng cao khả năng giảm căng thẳng cho bà bầu khi mang thai thông
qua Thang đo Nhận thức Chú ý Chánh niệm theo 4 bước
Nội dung Chương trình can thiệp dựa trên chánh niệm 4 bước:
BƯỚC 1: Thiền buổi sáng Buổi sáng thức dậy, ngồi trong tư thế thoải mái và
nhắm mắt lại Hãy chắc chắn rằng bạn không bị quấy rầy trong 5-10 phút Hít mộtvài hơi thở sâu Hít vào bằng mũi, thở ra bằng mũi Quét cơ thể của bạn bắt đầu từđầu đến chân Kiểm tra xem bạn có bất kỳ khó chịu về thể chất nào trong cơ thểkhông Sự khó chịu về thể chất có thể xảy ra do tư thế cơ thể không đúng trong khingủ hoặc thiếu ngủ, một khi bạn đã xác định được sự khó chịu về thể chất, chỉ cần
Trang 7nhắm mắt lại và thực hiện một số bài tập kéo dài Nếu bạn vẫn còn cảm giác khóchịu về thể chất, chỉ cần nhận thức được cơn đau trong vài giây.
BƯỚC 2: Ăn trong chánh niệm : Nên ăn sau 15 – 30 phút sau khi thức dậy Trái
cây sẽ là lý tưởng để ăn ngay sau khi bạn thức dậy Nhẹ nhàng cầm lấy trái cây trêntay Trong vài giây, hãy chánh niệm nhìn vào màu sắc, kết cấu và bản chất của tráicây Sau đó lặp lại những lời khẳng định trong tâm trí của bạn “Hãy để trái câynày cung cấp dinh dưỡng cần thiết cho tôi và con tôi.” Bây giờ hãy ăn trái cây mộtcách chậm rãi trong chánh niệm Hãy dành ít nhất 10 phút để ăn trong chánhniệm Bạn sẽ thực hành kỹ thuật này trong khi dùng bữa
BƯỚC 3: Đi bộ trong chánh niệm Nếu bạn là phụ nữ đi làm, bạn cần có những
khoảng nghỉ nhỏ trong giờ làm việc Chỉ cần đi bộ trong chánh niệm Tốt hơn là đi
bộ bằng chân trần Nếu bạn đang sống ở vùng quá nóng hoặc quá lạnh, hãy mangmột đôi giày thoải mái Bắt đầu bằng cách đứng yên và nhận thức được cơ thể củabạn và cảm giác của nó Chú ý tư thế của bạn, cảm nhận trọng lượng cơ thể bạnđang đè xuống đất và gót chân ấn vào giày; nhận thức được tất cả các chuyển độngtinh tế đang giữ cho bạn cân bằng và đứng thẳng Và Tiếp tục đi bộ chánh niệmnày trong khoảng 10-20 phút mỗi ngày vào buổi sáng và buổi tối
BƯỚC 4: Thiền Tối/Thiền Ngủ Bạn có thể thực hiện bài thiền này vào buổi tối
hoặc trước khi đi ngủ Kỹ thuật này sẽ giúp bạn ngủ ngon Bạn có thể thoải máingồi trên một tư thế thuận tiện, hoặc bạn có thể nằm xuống Nhẹ nhàng nhắm mắtlại
Bây giờ, hãy dễ dàng nhận biết hơi thở của bạn Bạn có cảm nhận được hơi thở củamình vào và ra không Chỉ cần thư giãn và thở theo cách tự nhiên đối với bạn Tậptrung vào ngực hoặc bụng của bạn phồng lên và xẹp xuống – bạn có cảm nhậnđược không, tâm trí của bạn có thể sẽ đi lang thang vào một lúc nào đó và nhữngsuy nghĩ sẽ nảy sinh Bây giờ nhẹ nhàng chuyển sự tập trung của bạn sang em bécủa bạn Đặt cả hai tay lên bụng và cảm nhận em bé trong vài giây Bây giờ, yêucầu bé đi ngủ Nếu có thể hãy hát một bài hát ru Cho bé ngủ từ 8-10 tiếng Sau đó,
từ từ đếm từ 10 đến 1 Người mẹ đã luyện cho con mình giấc ngủ từ 8 – 10 tiếngtrong thời kỳ mang thai sẽ ngủ nhiều giờ hơn vào ban đêm sau khi sinh Nóichuyện với đứa trẻ một cách chánh niệm trong khi mang thai giúp ích rất nhiều choviệc lập trình lại cơ thể và tâm trí của trẻ sơ sinh để chúng được khỏe mạnh
Giai đoạn III: Triển khai: Chương trình can thiệp dựa trên chánh niệm được thực
hiện trong thời gian 6 tháng; nó đã được thực hiện thông qua 5 phiên Thời lượngcủa mỗi phiên dao động từ 20-30 phút Chương trình can thiệp được thực hiện theo
Trang 8hình thức cá nhân hoặc theo nhóm từ 2 đến 4 thai phụ tại phòng khám Vào đầumỗi phần, các nghiên cứu viên bắt đầu bằng một bản tóm tắt về những gì đã đượcđưa ra trong phần trước, có cân nhắc sử dụng ngôn ngữ đơn giản và rõ ràng để phùhợp với trình độ học vấn của phụ nữ mang thai Các phương pháp giảng dạy khácnhau đã được sử dụng bao gồm thảo luận nhóm nhỏ, động não, trình diễn và trìnhdiễn lại Các công cụ hỗ trợ giảng dạy được sử dụng là tờ rơi, áp phích màu và mànhình máy tính xách tay Vào cuối mỗi phiên, mẫu nghiên cứu được thông báo vềnội dung và thời gian của phiên tiếp theo.
Giai đoạn V: Đánh giá Chương trình can thiệp dựa trên chánh niệm được thực
hiện sau hai tuần kể từ khi thực hiện chương trình can thiệp dựa trên chánh niệmtrong quá trình theo dõi của họ bằng cách sử dụng cùng một định dạng trướcchương trình
5 Thiết kế thống kê:
Nhập và phân tích dữ liệu được thực hiện bằng gói thống kê cho Khoa học xã hội(SPSS) phiên bản 17 Dữ liệu được trình bày bằng thống kê mô tả dưới dạng tầnsuất, tỷ lệ phần trăm, trung bình và độ lệch chuẩn cho các biến định lượng Cácbiến phân loại định tính được so sánh bằng cách sử dụng thử nghiệm t ghép đôi Ýnghĩa thống kê được xem xét ở giá trị P <0,05
6 Kết quả
Bảng 1 Chứng minh rằng 46,0% phụ nữ được nghiên cứu thuộc nhóm tuổi(20≤25 tuổi) với trung bình là 22,3 ± 4,7 tuổi và 55% trong số họ sống ở khu vựcnông thôn Về tình trạng hôn nhân, 78,0% trong số họ đã kết hôn và 11,0% đã lyhôn hoặc góa bụa hơn một nửa số phụ nữ được nghiên cứu không có đủ thu nhậphàng tháng 56,0%, về trình độ học vấn 40,0% trong số họ mù chữ, 30,0% trong số
họ có trình độ trung học
Bảng 2 Tiết lộ rằng chỉ có 14,0% trong số họ là mang thai lần đầu, trong khi74,0% trong số họ mang thai từ 3 lần trở lên không phá thai 56,0%, trong khi37,0% đã phá thai 1-2 lần 56,0% phụ nữ được nghiên cứu đã sinh một đến hailần Về khám thai trong lần mang thai trước, 56,0% cho biết đã khám thai trong lầnmang thai trước, còn 21,0% không khám thai
Hình 1 cho thấy 62,0% phụ nữ được nghiên cứu được mổ lấy thai
Bảng 3 Chứng minh tác động tích cực của can thiệp chánh niệm đối với mức độcăng thẳng của các bà mẹ được nghiên cứu 49,0% bà mẹ trước can thiệp có mức
độ căng thẳng cao, giảm xuống còn 5,0% sau can thiệp Sự khác biệt giữa mức độ
Trang 9căng thẳng trước và sau can thiệp là rất có ý nghĩa (p=0,000) Hơn thế nữa giá trịtrung bình của tổng thang đo mức độ căng thẳng nhận thức trước can thiệp (26,6 ±6,8) giảm xuống (12,9 ± 2,6) sau can thiệp, cho thấy mức độ căng thẳng đáng kểthấp hơn sau can thiệp.
• Bảng 1 Phân bố các đặc điểm nhân khẩu học của phụ nữ nghiên cứu (n=100)
• Bảng 2 Phân bố phụ nữ nghiên cứu theo tiền sử sản khoa (n=100)
Trang 10Hình 2 Chứng minh rằng khoảng 49,0% trong số họ bị căng thẳng nhận thức cao,tiếp theo là 39,0% trong số họ bị căng thẳng vừa phải và tỷ lệ thấp nhất là căngthẳng nhẹ 12,0%
Trang 11Bảng 4 cho thấy có sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê về mức độ hiểu biết củaphụ nữ mang thai về các khóa học chánh niệm tại chương trình sau can thiệp, sovới trước chương trình ở tất cả các hạng mục kiến thức với p≤0,001.
Hình 3 cho thấy rằng, đã có sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê ở tổng mức độkiến thức của phụ nữ mang thai về các khóa học chánh niệm ở chương trình saugiáo dục, so với trước chương trình ở tất cả các hạng mục kiến thức với p≤0,001.Bảng 5 tiết lộ rằng thử nghiệm pared t xác định rằng tổng điểm trung bình củaThang đo Nhận thức chú ý chánh niệm khác nhau với giá trị p có ý nghĩa thống kêcao giữa trước và sau can thiệp (pared t=13,2 p≤ 0,000) Điểm trung bình của từngmục trước can thiệp thấp hơn đối với tất cả mười lăm mục so với điểm trung bìnhsau can thiệp Ngoài ra, bảng cho thấy hiệu quả của các khóa học Chánh niệmtrong việc gợi ra sự gia tăng đáng kể trong Thang đo Nhận thức Chú ý Chánh niệmtổng trung bình từ trước can thiệp (57,7 ± 6,8) đến sau can thiệp (67,8 ± 7,1) có ýnghĩa thống kê cao về mặt thống kê (p=0,000) Do đó, chúng ta có thể kết luậnrằng các khóa học về chánh niệm gợi ra sự gia tăng đáng kể về mặt thống kê mức
độ chánh niệm theo khuynh hướng
Bảng 6 Tiết lộ rằng có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa tuổi phụ
nữ mang thai, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, trình độ học vấn nơi cư trú và thunhập hàng tháng và tổng điểm MAAS p≤0,001
Bảng 7 Tiết lộ rằng có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa tuổi phụ
nữ mang thai, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, trình độ học vấn nơi cư trú và thunhập hàng tháng và mức độ căng thẳng tổng số điểm p≤0,001
•
• Hình 1 Phân bố phụ nữ nghiên cứu theo cách sinh
Trang 12• Hình 2 Đánh giá mức độ căng thẳng tổng điểm của phụ nữ nghiên cứu
trong thời kỳ mang thai (trước can thiệp)
•