TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC BÁO CÁO THU HOẠCH CHUYÊN ĐỀ THỰC TẾ 1 Họ và tên ĐOÀN THỊ HỒNG THU Mã học viên 22AM0404017 Mã lớp học phần CD1NL28A Lớp hành chính 28AQTNL N1 Giảng viên.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khuvực và thế giới, đặc biệt khi Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác toàn diện vàtiến bộ xuyên Thái Bình Dương, hướng tới ký kết Hiệp định thương mại tự doViệt Nam – Liên minh Châu Âu; hội nhập quốc tế đã hỗ trợ và thay đổi cáchtiếp cận trong chuyển dần từ thụ động sang chủ động tham gia, chuyển giao trithức, kỹ năng quản lý, nhất là tập trung vào nghiên cứu, hoạch định chính sách,xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, triển khai thực hiện và đánh giá việcthực thi
Hội nhập quốc tế về lao động xã hội trong giai đoạn 2016-2020 được thểhiện rõ trong việc Việt Nam đã chủ động tham gia vào các cơ chế, thiết chế quốc
tế, hoàn thiện thể chế trên cơ sở tiếp cận các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế vềlao động và xã hội; thực hiện lồng ghép, nội luật hóa các cam kết quốc tế, cáctiêu chuẩn ASEAN và quốc tế trong xây dựng thể chế, hoàn thiện hệ thống quản
lý và hệ thống dịch vụ chuyên ngành Việt Nam đã tham gia hội nhập về lĩnhvực LĐ&XH với các tổ chức trong hệ thống Liên hợp quốc (LHQ), các định chếtài chính quốc tế và khu vực, các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thếgiới, với ASEAN, Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn hợp tác kinh tếChâu Á - Thái Bình Dương (APEC),v.v
Thời gian qua, Trong bối cảnh hội nhập quốc tế lao động ở Việt Nam đã
có những chuyển biến tích cực, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của ngườilao động, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao đời sống, thu nhập của ngườilao động, giảm thiểu tranh chấp lao động và đình công, cải thiện môi trường đầu
tư, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển Tuynhiên, chất lượng lao động hạn chế đang ngày càng gây nên những áp lực lớnđối với vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động Do vậy, việc làm rõ thựctrạng và những vấn đề còn tồn tại của lao động Việt Nam trong giai đoạn hiệnnay là một vấn đề cần thiết Nghiên cứu nhằm cung cấp bức tranh toàn diện về
Trang 3quan hệ lao động hiện nay cũng như đề xuất các định hướng để xây dựng vàphát triển quan hệ lao động phù hợp với xu thế phát triển trong hội nhập quốc tế
PHẦN 1: HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG Ở VIỆT
Nghị quyết 06/NQ-TW ngày 5/11/2016 của Ban chấp hành Trung ươngĐảng khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữvững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp địnhthương mại tự do thế hệ mới; Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩnHiệp định CPTPP và EVFTA; các chỉ tiêu, nhiệm vụ mới về phát triển kinh tế -
xã hội giai đoạn 2021-2025 và chiến lược đến năm 2030 theo Nghị quyết Đạihội Đảng lần thứ XIII
Năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 07/CT-TTg về giảipháp thúc đẩy tăng năng suất lao động quốc gia, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng
bộ, ngành Chỉ thị 07/CT-TTg xây dựng và thực hiện thành công Chiến lượcQuốc gia về nâng cao năng suất lao động với mục tiêu chung và cụ thể trongtừng giai đoạn để năng suất lao động của Việt Nam bắt kịp các nước trong khuvực Chính phủ phát động phong trào tăng năng suất trong tất cả các khu vựccủa nền kinh tế, trong đó, chọn một số lĩnh vực (may mặc, sản xuất máy mócthiết bị, điện tử ) thực hiện thí điểm Chương trình để thúc đẩy tăng năng suấtlao động, từ đó nhân rộng ra toàn bộ nền kinh tế Doanh nghiệp là trụ cột quantrọng nhất trong tăng năng suất lao động, nên cần có Chương trình Quốc gia về
Trang 4hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa giaiđoạn đến năm 2030.
Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động - xã hội cũng được đẩy mạnhqua các kênh hợp tác đa phương, song phương và với các tổ chức phi chính phủnước ngoài; thu hút thêm được nguồn lực từ bên ngoài , góp phần quan trọnggiải quyết các vấn đề LĐ&XH của Việt Nam như phát triển thị trường lao động,quan hệ lao động, phát triển nguồn nhân lực và việc làm; quản lý lao động di cư;phát triển hệ thống an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, trợ giúp xã hội nhómyếu thế và dễ bị tổn thương, bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; bìnhđẳng giới Về thông tin đối ngoại, trong những năm qua, xu hướng đa dạng hóahình thức thông tin tuyên truyền ngày càng rõ rệt, đặc biệt là trong bối cảnhbùng nổ công nghệ và mạng xã hội Do đó, công tác thông tin đối ngoại đã đượctriển khai thông qua các hình thức hội nghị, hội thảo, in ấn các tài liệu, sản phẩmthông tin trong lĩnh vực lao động và xã hội Đây cũng là những giải pháp hiệuquả góp phần tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế
1.2 Kết quả hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lao động ở Việt Nam 1.2.1 Sự chuyển dịch cơ cấu lao động
Hội nhập quốc tế, Thương mại phát triển và lượng vốn FDI vào Việt Namgia tăng đã tạo tiền đề để mở rộng quy mô kinh tế và gia tăng cơ hội để cácdoanh nghiệp tiếp cận, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh Từ
đó, thúc đẩy nhanh hơn quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, việc làm theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hình 1 Lao động có việc làm theo khu vực kinh tế, 2019-2021
Đơn vị tính: Triệu người
Trang 5(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2021)
Tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực nông - lâm nghiệp và thủy sản
đã giảm từ 14.81% năm 2019 còn 14.18% năm 2021 (Tỷ lệ này là 62,2% năm2000); Tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực dịch vu cũng đã giảm từ19.37% năm 2019 còn 18.58% năm 2021 do trong năm 2021, tình hình dịch kéodài và phức tạp hơn trong năm 2020 đã khiến cho hàng triệu người mất việc, laođộng trong các ngành tiếp tục giảm, đặc biệt là khu vực dịch vụ Ngược lại, tỷtrọng lao động làm việc trong công nghiệp - xây dựng và dịch vụ từ chiếm14.46% năm 2019 đã tăng lên 16,26% tương ứng vào năm 2021 Chuyển dịch cơcấu lao động của Việt Nam tuy diễn ra khá nhanh, nhưng năm 2021 số lao động
có việc làm ở khu vực nông thôn là 31,2 triệu người, giảm 1,5 triệu người và ởnam giới là 26,2 triệu người, giảm 729,5 nghìn người so với năm 2020 Laođộng trong khu vực nông nghiệp chủ yếu làm việc giản đơn, công việc thời vụ,không ổn định, nên giá trị gia tăng thấp, chỉ bằng 39% mức năng suất lao độngchung của nền kinh tế Mặt khác, lao động khu vực nông nghiệp khi chuyển dịchcũng chủ yếu sang công nghiệp chế biến - chế tạo có năng suất thấp, hay cácngành dịch vụ có thu nhập thấp
Để hội nhập quốc tế lao động, sau nhiều năm thực hiện tái cơ cấu nềnkinh tế, đến nay, tăng trưởng kinh tế của nước ta vẫn chủ yếu dựa vào việc mởrộng quy mô những ngành sử dụng nhiều lao động, hàm lượng công nghệ thấp,giá trị gia tăng thấp Công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành dẫn dắt tăng trưởng
Trang 6năng suất lao động nhưng tập trung vào những sản phẩm xuất khẩu dựa trên nềntảng công nghệ thấp đến trung bình và sử dụng nhiều lao động Chế biến, chếtạo công nghệ cao chủ yếu là hoạt động lắp ráp, nhập khẩu linh kiện, có giá trịgia tăng thấp nên chưa tạo đột phá về tăng năng suất lao động.
1.2.2 Chất lượng của lực lượng lao động
Theo Tổng Cục Thống Kê (2021) Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lêncủa cả nước quý IV/2021 ước tính là 50,7 triệu người, tăng 1,7 triệu người sovới quý trước và giảm 1,4 triệu người so với cùng kỳ năm trước Tính chungnăm 2021, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 50,5 triệu người, giảm 0,8triệu người so với năm trước
Hình 2 Lực lượng lao động các quý, năm 2020 và 2021
Đơn vị tính: Triệu người
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2021)
Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý IV/2021 ước tính là 49,1triệu người Tính chung năm nay, lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc là 49triệu người, bao gồm 14,2 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâmnghiệp và thủy sản, tăng 0,3% so với năm trước; khu vực công nghiệp và xâydựng là 16,2 triệu người, giảm 1,5%; khu vực dịch vụ là 18,6 triệu người, giảm4,1%
Hình 3 Lực lượng phân bố tại thành thị và nông thôn năm 2019
Trang 7(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2021)
Theo Báo cáo Tình hình lao động việc cả năm 2019 của Tổng cục Thống
kê về cơ cấu lực lượng lao động, mặc dù lực lượng lao động ở nông thôn chiếm
đa số, đã có sự thay đổi trong cơ cấu lực lượng lao động theo hướng tăng lên ởkhu vực thành thị
Trang 8Bảng 1 Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo nhóm tuổi
Tỷ lệ (%)
Số lượng (nghìn người)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (nghìn người)
cơ cấu tuổi của dân số trong lực lượng lao động gấp đôi các nhóm dân số cònlại
Về độ tuổi tham gia lực lượng lao động, dân cư khu vực thành thị thamgia vào thị trường lao động muộn hơn và rời khỏi thị trường lao động sớm so vớidân cư khu vực nông thôn Điều kiện sống càng cao thì tuổi tham gia thị trườnglao động càng cao Các thành tựu về kinh tế cùng với các yêu cầu cao hơn củathị trường về chất lượng nguồn lao động trong những năm gần đây là nguyên
Trang 9nhân chính dẫn đến việc dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia thị trường lao độngmuộn để kéo dài thời gian học tập, chuẩn bị tốt các kỹ năng cần thiết đáp ứngnhu cầu thị trường hơn trước khi tham gia vào thị trường lao động Trong đó,khu vực thành thị có điều kiện kinh tế phát triển hơn nên việc tham gia vào lựclượng lao động muộn hơn (đặc biệt là nhóm từ 15-19 tuổi) và rời khỏi thị trườnglao động sớm hơn so với khu vực nông thôn.
Hình 4 Số người và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động, các quý năm
2020 và 2021
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2021)
Tính chung năm 2021, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là3,22% (quý I là 2,42%; quý II là 2,62%; quý III là 3,98%; quý IV là 3,56%),trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 4,42%; khu vực nông thôn là2,48% Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) năm 2021 ước tính là8,48%, trong đó khu vực thành thị là 11,91%; khu vực nông thôn là 6,76% Tỷ
lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 3,10% (quý I/2021 là2,20%; quý II là 2,60%; quý III là 4,46%; quý IV là 3,37%), trong đó tỷ lệ thiếuviệc làm khu vực thành thị là 3,33%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là2,96% Ngoài ra, báo cáo cũng cho biết số người thất nghiệp có trình độ từ caođẳng trở lên chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động thất nghiệp (18,9%) trongkhi người thất nghiệp chưa được đào tạo hoặc chỉ được đào tạo ngắn hạn (bao
Trang 10gồm: sơ cấp, trung cấp) chiếm tỷ trọng thấp hơn rất nhiều (6,6%) Điều này là
do nhóm lao động có trình độ chuyên môn thấp thường sẵn sàng làm các côngviệc giản đơn và không đòi hỏi chuyên môn cao với mức lương thấp trong khinhững người có trình độ học vấn cao lại cố gắng tìm kiếm công việc với mứcthu nhập phù hợp hơn Ngoài ra, chính sách tuyển lao động của các nhà tuyểndụng đối với nhóm lao động có trình độ cao cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ này, bởiyêu cầu đối với lao động đã qua đào tạo ở các trình độ càng cao càng khắt khehơn so với lao động giản đơn và cũng do nhóm lao động đã qua đào tạo thường
có yêu cầu về mức thu nhập cao hơn nhóm lao động giản đơn
Theo báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2017 do PhòngThương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố: 69% doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam cho rằng họ đang “vấp” phải khó khăn trong việc tuyển dụng được các cán bộ kỹ thuật có tay nghề để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả báo cáo PCI 2017 cũng cho thấy chất lượng nguồnnhân lực Việt Nam chưa có nhiều đột phá Điều này được thể hiện rõ nét hơnkhi doanh nghiệp FDI cho biết gặp nhiều khó khăn trong việc tuyển dụng laođộng cho các vị trí cán bộ kỹ thuật, quản lý
So sánh với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á về chỉ số nguồnnhân lực, Việt Nam xếp sau Malaysia, Thái Lan, Philippines và chỉ xếp hạnggần tương đương Campuchia
Ngoài ra, doanh nghiệp FDI cũng gặp khó khăn trong việc tìm kiểm nhânlực cho các vị trí đòi hỏi nhiều kỹ năng như quản lý, giám sát và giám đốc điềuhành/giám đốc tài chính Đặc biệt, đối với nhóm lao động giám đốc điềuhành/giám đốc tài chính, 36% doanh nghiệp FDI được hỏi cho biết khó và 28%cho rằng rất khó tuyển dụng Chỉ có 31% doanh nghiệp FDI đánh giá chất lượnglao động Việt Nam tại các tỉnh đáp ứng được nhu cầu của họ
Ở các công ty, nhà xưởng cơ khí, những vị trí đòi hỏi kỹ thuật cao vẫnthường do lao động nước ngoài đảm nhận Không chỉ vậy, khoảng cách giữagiáo dục nghề nghiệp và nhu cầu của thị trường vẫn còn rất lớn Hằng năm có
Trang 11hàng hàng ngàn sinh viên tốt nghiệp ra trường Tuy nhiên các doanh nghiệp vẫntrong tình trạng khan hiếm lao động ở nhiều vị trí.
Hình 5 Cơ cấu nhân lực theo trình độ
Giai đoạn 2016 – 2020 đã đánh dấu việc mở rộng cơ hội hợp tác, hội nhậpquốc tế về lao động và xã hội, với số lượng gia tăng các đối tác quốc tế (từ hơn
40 đối tác giai đoạn 2007 - 2010 lên hơn 70 vào năm 2020), mở rộng về lĩnh vựchợp tác (bảo hiểm xã hội, thị trường lao động, lao động kỳ nghỉ, người cócông ), cấp độ hợp tác (đặc biệt hợp tác cấp Cục/Vụ cấp trường ) Hội nhậpquốc tế đã góp phần tích cực vào những thành tựu của quốc gia về lao động và
an sinh xã hội trong giai đoạn 5 năm vừa qua Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạomôi trường thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài pháttriển sản xuất kinh doanh Khu vực kinh tế này đóng góp rất lớn trong việc tạoviệc làm cho người lao động Theo số liệu thống kê, tính đến năm 2017, cókhoảng hơn 14.600 doanh nghiệp FDI, sử dụng hơn 3,6 triệu người chiếm 6,5%tổng việc làm của nền kinh tế
Trang 12Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội cho việc di chuyển laođộng quốc tế, bao gồm cả lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và laođộng là người nước ngoài vào làm việc ở Việt Nam Giai đoạn 2006 - 2017, sốlao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, bình quân mỗi nămđạt 87,5 nghìn người, tương đương tăng 4,23%/năm Đến nay, Việt Nam cókhoảng 500 nghìn lao động đang làm việc tại hơn 40 nước và vùng lãnh thổ vớihơn 30 nhóm ngành nghề, tập trung chủ yếu ở các nước và vùng lãnh thổ nhưĐài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và khu vực Trung Đông; thị trường ởBắc và Đông Âu cũng có dấu hiệu mở rộng cơ hội cho lao động Việt Nam Songhành với gia tăng số lao động đi làm việc ở nước ngoài, chất lượng lao độngViệt Nam làm việc ở nước ngoài cũng tăng lên do yêu cầu ngày càng cao của thịtrường lao động ngoài nước Bên cạnh đó, lao động là người nước ngoài vào làmviệc tại Việt Nam cũng tăng nhanh, góp phần bổ sung lực lượng lao động quản
lý và lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, đáp ứng nhu cầu phát triểnkinh tế
Năng lực quốc gia từ trung ương tới địa phương ngày càng được cải thiện,thể hiện ở tri thức và kỹ năng hội nhập quốc tế dần được nâng cao, hiểu biết tốthơn các đối tác, tích lũy được nhiều kinh nghiệm về hội nhập, nhất là trong đàmphán, ký kết, gia nhập, tham gia, tổ chức thực hiện các hiệp định và điều ướcquốc tế về lao động, xã hội; mối quan hệ phối hợp với các đối tác trong và ngoàinước để thực hiện các cam kết; các chương trình/ dự án hợp tác được thực hiện
có tính chuyên nghiệp hơn
Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội cho việc di chuyển laođộng quốc tế, bao gồm cả lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và laođộng là người nước ngoài vào làm việc ở Việt Nam Giai đoạn 2006 - 2017, sốlao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, bình quân mỗi nămđạt 87,5 nghìn người, tương đương tăng 4,23%/năm Đến nay, Việt Nam cókhoảng 500 nghìn lao động đang làm việc tại hơn 40 nước và vùng lãnh thổ vớihơn 30 nhóm ngành nghề, tập trung chủ yếu ở các nước và vùng lãnh thổ nhưĐài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và khu vực Trung Đông; thị trường ở
Trang 13Bắc và Đông Âu cũng có dấu hiệu mở rộng cơ hội cho lao động Việt Nam Songhành với gia tăng số lao động đi làm việc ở nước ngoài, chất lượng lao độngViệt Nam làm việc ở nước ngoài cũng tăng lên do yêu cầu ngày càng cao của thịtrường lao động ngoài nước Bên cạnh đó, lao động là người nước ngoài vào làmviệc tại Việt Nam cũng tăng nhanh, góp phần bổ sung lực lượng lao động quản
lý và lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, đáp ứng nhu cầu phát triểnkinh tế
1.2.3 Năng suất lao động
Hội nhập kinh tế quốc tế cũng tác động đến tăng năng suất lao động thôngqua việc ứng dụng công nghệ mới và thúc đẩy nhanh hơn quá trình dịch chuyển
cơ cấu lao động từ khu vực có năng suất thấp (nông - lâm nghiệp và thủy sản)sang khu vực có năng suất cao hơn (công nghiệp - xây dựng và dịch vụ) Giaiđoạn 2006-2017, bình quân năng suất lao động khu vực công nghiệp - xây dựngcao gấp 5 lần và khu vực dịch vụ cao gấp 4 lần so với năng suất lao động trongkhu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản Kết quả là năng suất lao động Việt Namđạt mức tăng bình quân 4,7%/năm, là quốc gia có tốc độ tăng NSLĐ cao trongkhu vực ASEAN
Hình 6 Năng suất lao động của toàn nền kinh tế giai đoan 2011 - 2017
Trang 14(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2018)
Số liệu thống kê cho thấy, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2017theo giá hiện hành ước đạt 92,1 triệu đồng, tương đương khoảng 4.100 USD/laođộng, tăng 5,9% so với năm 2016, cao hơn so với mức tăng bình quân 4,5% giaiđoạn 2011 - 2016 và cao hơn nhiều so với mức tăng 3,45%/năm giai đoạn 2006
- 2010
Năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua có sự cải thiện đáng kể vàViệt Nam là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động khá cao trong khu vựcASEAN Tuy nhiên, Covid-19 đã tác động tiêu cực tới kinh tế - xã hội của cácquốc gia trên thế giới Trong bối cảnh đó, năng suất lao động của nước ta có xuhướng tăng chậm lại Theo giá so sánh, tốc độ tăng năng suất lao động năm 2020
và năm 2021 lần lượt là 4,92% 4,71% Năm 2021, năng suất lao động toàn nềnkinh tế đạt 171,3 triệu đồng/lao động, gấp 1,5 lần năng suất lao động năm 2020,một phần do trình độ của người lao động được cải thiện (tỷ lệ lao động qua đàotạo có bằng, chứng chỉ năm 2021 đạt 26,1%, cao hơn mức 25,3% của năm 2020),phần khác do tính theo quy mô GDP sau khi đánh giá lại
Tốc độ tăng năng suất lao động có giảm, nhưng Việt Nam vẫn là quốc gia
có tốc độ tăng năng suất lao động cao nhất trong khu vực ASEAN, do năm 2020,GDP của phần lớn các nước tăng trưởng âm và năm 2021 cũng tăng không cao,trong khi Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng dương với tốc độ tăng GDP lần lượt là2,91% và 2,58% trong 2 năm qua
Nhìn chung, do xuất phát điểm thấp, tốc độ tăng chưa đủ nhanh, nênkhoảng cách về năng suất lao động giữa nước ta với các nước trong khu vực vẫncòn rất xa Xét về giá trị tuyệt đối, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, năng suấtlao động theo sức mua tương đương (tính theo PPP 2017) năm 2020 của ViệtNam chỉ bằng 9,1% mức năng suất của Singapore; 26,2% của Malaysia; 46,8%của Thái Lan; 61,1% của Indonesia; 68,7% của Philippines; 96,5% của Lào Năngsuất lao động của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á chỉ cao hơn so vớiCampuchia (gấp 1,9 lần) và Myanmar (gấp 1,3 lần)
Trang 15Hình 7 Tỷ lệ năng suất lao động quốc gia khác so với Việt Nam năm 2011
và 2019
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2020)
Tính theo sức mua tương đương (PPP 2011), NSLĐ của Việt Nam giaiđoạn 2011-2019 tăng bình quân 4,87%/năm, cao hơn mức tăng bình quân củaSingapore (1,4%/năm); Malaysia (2%/năm); Thái Lan (3,2%/năm); Indonesia(3,6%/năm); Philippines (4,3%/năm) Nhờ đó, Việt Nam đã thu hẹp được khoảngcách tương đối với các nước ASEAN có trình độ phát triển cao hơn Nếu năm
2011, NSLĐ của Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia lần lượt gấp NSLĐcủa Việt Nam 17,6 lần; 6,3 lần; 2,9 lần và 2,4 lần thì đến năm 2019 khoảng cáchtương đối này giảm xuống tương ứng còn 13,1 lần; 5,1 lần; 2,6 lần và 2,2 lần.Theo PPP 2011, NSLĐ của Việt Nam năm 2019 chỉ bằng 7,6% mức năng suấtcủa Singapore (Singapore gấp 13,2 lần); 19,5% của Malaysia (Malaysia gấp 5,1lần); 37,9% của Thái Lan (Thái Lan gấp 2,4 lần); 45,6% của Indonesia (Indonesia