Hội Chùa Thầy là một lễ hội lâu đời, mang đậm tính lịch sử, văn hóa thể hiện vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh cũng như văn hóa của con người nơi đây.. Quần thể Chùa Dưới Chùa đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCM
KHOA DU LỊCH VÀ ẨM THỰC
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ 1
HỌC PHẦN:
CHÙA THẦY VÀ HỘI CHÙA THẦY HÀ NỘI
Giảng viên giảng dạy: Lưu Đức Anh Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hữu Nin
Mã số sinh viên: 200821549 Lớp: 12DHSH3
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN
Tp HCM, ngày … tháng … năm … (Ký và ghi rõ họ tên) Mục Lục LỜI MỞ ĐẦU 3
1 CHƯƠNG 1: CHÙA THẦY 9
Trang 31.1 Lịch sử Chùa Thầy 9
1.2 Kiến trúc Chùa Thầy 10
1.2.1 Quần thể Chùa Dưới 10
1.2.2 Quần thể Chùa Cao 11
1.3 Tiểu kết chương 1 12
2 Chương 2: Hội Chùa Thầy 12
2.1 Phần lễ 13
2.1.1 Lễ Mộc Dục 13
2.1.2 Lễ phụng nghênh bài vị và cúng An vị 13
2.1.3 Lễ tế và Lễ rước 14
2.2 Phần Hội 14
2.2.1 Hội múa rối 14
2.2.2 Trò bịt mắt đập niêu 15
2.2.3 Cùng với những hoạt động khác 15
2.2.4 Nơi giao lưu, kết duyên trai gái 15
2.3 Tiểu kết chương 2 16
KẾT LUẬN 16
DANH MỤC HÌNH ẢNH Thủy đình 17
Trang 4Thủy đình vào ngày hội 18
Bút tích được khắc trên đá 19
Nhật Tiên Kiều 19
Bộ tượng ở Chùa Thượng 20
Hang Thánh Hóa 20
Cặp tượng Hộ Pháp bằng đất sét lớn nhất 20
Hệ thống hang cắc cớ 21
Hình ảnh Lễ rước 22
LỜI MỞ ĐẦU
Trang 5Dân tộc Việt Nam chúng ta là một nước với bề dày lịch sử, văn hiến lâu đời, trải qua hang ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước Trong thời gian ấy những người đi trước đã để lại cho đời con đời cháu một truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất và những nét đẹp truyền thống, sự kiện văn hóa mạng đậm bản sắc dân tộc Và sẽ thật thiếu sót khi không nói tới những lễ hội truyền thống được diễn ra khắp đất nước ta
Lễ hội được ra đời dựa vào những câu truyện, tín ngưỡng, phong tục phản ánh chân thực đời sống văn hóa, con người nơi mà nó được ra đời Trong đó , những giá trị nhân văn, bài học đạo đức được truyền qua bao đời ,thông qua lễ hội
Hội Chùa Thầy là một lễ hội lâu đời, mang đậm tính lịch sử, văn hóa thể hiện vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh cũng như văn hóa của con người nơi đây
Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về những nét văn hóa có tính giá trị cao cụ thể
là tổng quan về lễ hội Chùa Thầy,từ đó rút ra những cách làm để truyền bá, bảo tồn Em quyết định chọn đề tài “Lễ Hội Chùa Thầy” để làm tiểu luận cho môn Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam Bằng cách vận dụng những phương pháp như: “Tìm kiếm thông qua sách, báo; Trên những phương tiện truyền thông và thông qua lời kể của con người nơi đây”
Bố cục bài tiểu luận được chia như sau:
Chương 1: Chùa Thầy
+Cung cấp những thông tin về Chùa Thầy
Chương 2: Hội Chùa Thầy
+ Tìm hiểu nét văn hóa, độc đáo ở Hội Chù Thầy
1 CHƯƠNG 1: CHÙA THẦY
Trang 61.1 Lịch sử Chùa Thầy
Được mệnh danh là một ngôi chùa cổ kính và lâu đời bậc nhất ở Hà Nội Chùa Thầy tọa lạc tại xã Sài Sơn,huyện Quốc Oai, thủ đô Hà Nội cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 cây số Chùa được xây dựng vào thời vua Lý Nhân Tông (1072-1127) Chùa Thầy gắn liền với tên tuổi Thiền sư nổi tiếng Từ Đạo Hạnh người đã tu hành tại đây
Thuở ban đầu Chùa Thầy chỉ là một am nhỏ nơi mà Từ Đạo Hạnh trụ trì gọi là Hương Hải Am Sau này khu vực ấy được Vua Lý Nhân Tông cho xây dựng hai cụm chùa: Chùa Cả được xây trên núi và Chùa Dưới (hay còn gọi là Chùa Cả)
Thiền sư Tự Đạo Hạnh là một thiền sư nổi tiếng thời nhà Lý, cuộc đời ông được ghi lại dưới nhiều màu sắc huyền thoại Tương truyền ông tên thật là Từ Lộ con trai của quan
Đô Sát Từ Vinh và bà Tăng Thị Loan Cha ông là Từ Vinh bị sát hại bởi một pháp sư tên
là Đại Điên vì mối thù cha nên Từ Lộ đã xuất gia học đạo rồi cùng với các ngài Giác Hải, Không Lộ sang Tây Thiên cầu Pháp Học được pháp thuật, Thiền Sư trở về núi Sài (tức núi Sài Sơn) dựng gậy tích ngày đêm tu tâm, luyện tập Sau khi trả thù cho cha, thì niềm tục lắng đọng, lòng thiền mở rộng, ngài đã đi khắp nơi để tham thiền, vấn đạo Sau khi ngộ được tâm ấn, thiền sư trở về giảng đạo, dạy học, bốc thuốc chữa bệnh giúp dân, dạy cho dân những trò chơi như đá cầu, đánh vật, múa rối nước,… Bởi vậy mà người dân trong vùng kính trọng gọi ngài là Thầy Chùa thầy tu gọi là Chùa Thầy, Núi ngài hóa gọi
là Núi Thầy, làng thầy ở gọi là làng Thầy
1.2 Kiến trúc Chùa Thầy
1.2.1 Quần thể Chùa Dưới
Chùa được xây dựng hoàn toàn từ các vật liệu quen thuộc trong cuộc sống con người nơi đây, mộc mạc, gắn liền với thiên nhiên như tre, tranh cho đến gỗ, gạch ngói âm dương
Chùa Dưới được xây dựng trên thế đất thiêng dưới chân núi Sài Sơn mà theo thuyết phong thủy gọi đây là khu đất Rồng Núi thầy được ví như một con rồng, sân chùa ở phía trước tựa như chiếc lưỡi rồng thè ra uống nước ở hồ nước Long Trì lớn đối diện Ở giữa
hồ là nhà Thủy Đình được ví như viên ngọc mà rồng ngậm, gồm hai tầng, tám mái xòe
Trang 7riêng ra bốn phía tự như bông hoa sen mọc lên giữa hồ, là nơi diễn ra tiết mục múa rối nước và ngày hội hằng năm Hai bên là hai cây cầu đá được gọi là Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều uốn cong nối sang hai bên, do chính tay trạng Phùng Khắc Khoan cho xây dựng vào năm 1602, trên nền tổng thể hai cây cầu tựa như hai chiếc rang nanh của con rồng Ngoài nét đẹp của kiến trúc soi bóng nước bên hồ, tạo sự bề thế cho ngôi chùa, Nhât-Nguyệt Tiên Kiều còn thể hiện cho hình ảnh Trời-Trăng, Âm-Dương, hòa hợp tạo thế cân đối, tăng vẻ đẹp cho ngôi chùa Chưa hết hai bên còn có hai giếng tượng trưng cho mắt rồng Hai cây hoa gạo mọc cao trước chùa chính là râu rồng Ba cấp chùa là Hạ-Trung-Thượng chính là đầu rồng Hành lang hai bên có gác chuông, gác trống tức chỉ tai rồng
Gía trị nổi bật của chùa Thầy nằm ở kiến trúc được xây dựng theo kiến trúc lâu đài cung điện cung đình thời nhà Lý ngày xưa Là kiến trúc Nội Công Ngoại Quốc, Tam Cấp nối liền nhau Nghĩa là được xây dựng theo kiểu khép kín bên trong Có các dãy hành lang khép kín, dãy nhà tổ hai bên hành lang kéo dài thờ Thập Bát La Hán, gác trống gác chuông nối liền bao bọc Tạo cho chùa một khoảng không thông thoáng bên trong nhưng lại kín đáo bên ngoài
Ở giữa chính là Ba cấp lần lượt là Thượng-Trung-Hạ Trong đó giữa cấp Hạ và Trung có ống muỗng nối nhau tạo thế hạ công thượng nhất Ngoài ra kết hợp với lối kiến trúc văn hóa địa phương nơi đây là Tiền Phật Hậu Thánh vô cùng linh thiêng và đẹp đẽ , tức là cấp Trung là nơi thờ chư vị Bồ Tát Tam Bảo Phật, còn cấp Thương là thờ thánh tức thờ 3 kiếp tu của sư tổ của chùa chính là thiền sư Từ Đạo Hạnh Còn cấp Hạ ở ngoài cùng
là nhà bái đường dùng hành lễ
Ở cấp Trung (Chùa Trung) chính là nơi thờ Phật Được chia ra làm 2 trục chính trong đó: Trục ngang chỉ thời gian thờ bộ tượng Tam Thế (Qúa khứ-Hiện tại-Tương lai) và trục dọc (không gian) có tượng Tuyết Sơn-Di Lắc-Thích Ca sơ sinh Còn có những bức tượng Đức Ông, các pho tượng Kim Cương đứng trong tư thế võ mạnh mẽ, sống động Tượng được chú trọng đến thần thái và cách tạo hình tương ứng với mỗi tượng Đáng chú ý nhất nơi đây có hai bức tượng Đức Hộ Pháp lớn nhất trong các ngôi chùa ở Việt Nam, được đặt hai bên chùa, tượng được làm từ thế kỷ 17 khoảng 300 năm về trước Tượng cao gần
Trang 84 mét, nặng 3 tấn được làm từ đất sét, giấy bản giã nhỏ trộn với mật và trứng nên dù trải qua 300 năm cho đến bây giờ vẫn còn tốt Đây là điều chỉ riêng ở Chùa Thầy có, nếu như
so với các chùa khác ở miền Bắc hay cả Việt Nam nói chung thì tượng Hộ Pháp không to bằng hay chỉ được làm từ đồng, đá, hay gỗ, tạo được nét riêng cho Chùa Thầy Bao bọc hai bên Tam Bảo là hành lang với hệ thống tượng La Hán Tuy nhiên 18 vị La Hán bằng đất ở chùa Thầy không quá đặc sắc về thẩm mỹ và tạo hình nếu so với một số chùa cùng niên đại Hệ thống tượng chùa Thầy ít, không đầy đủ, thấy được vai trò Phật Pháp ở chùa không lớn bằng bai trò của Từ Đạo Hạnh
Ở cấp Thượng (Chùa Thượng) là tập hợp những pho tượng đẹp nhất, bề thế nhất của
cả ngôi chùa như tượng Di Đà tam tôn được tạc vào đời nhà Mạc Trong đó Phật A Di
Đà ngồi giữa dáng vẻ phúc hậu, tượng Quan Thế Âm bên phải ngồi buông chân trái xuống chân phải co lên tay cầm một cây phất trần dáng vẻ ung dung, tượng Đại Thế Chí Tôn thì ngồi xếp bằng Ba pho tượng, mỗi pho một vẻ không giống nhau tạo thành một
bộ tượng đẹp đặc biệt Chính giữa là 3 bức tượng ba kiếp (Tăng, Phật và Đế vương) của thiền sư Từ Đạo Hạnh Chính giữa là bức tương Từ Đạo Hạnh trong kiếp Phật khuôn mặt khắc khổ nổi rõ mạch máu, ngồi xếp bằng tròn trên bệ hoa sen bằng đá từ thời nhà Lý Tượng kiếp tu tiên đặt trong khám thờ bên phải và bên trái là tượng vua Lý Thần Tông
Ba bức tượng tượng trưng cho ba kiếp tu hành của Từ Đạo Hạnh Sinh ra là con người bằng xương bằng thịt rồi nhờ học pháp, tu tâm giúp đỡ chúng sinh để rồi thành vị thánh,
và bức tượng vua Lý Thần Tông chính là hóa thân kiếp sau của Từ Đạo Hạnh
1.2.2 Quần thể Chùa Cao
Băng qua cây cầu Nguyệt Tiên Kiều nối với con đường lên núi Thầy Đường lên Chùa Cao gian nan phải trải qua 251 bậc thang đá dựng đứng Trên núi là Chùa Cao còn goi là Đỉnh Sơn Tự tức là chùa đính trên núi Tương truyền đây là nơi thiền sư Từ Đạo Hạnh đặt bước chân đầu tiên đến tu hành
Trên vách đá ở đây vẫn còn lưu lại những bút tích của các danh nho qua nhiều thời
kỳ lịch sử của đất nước ta
Tuy không bề thề như quần thể Chùa ở dưới chân núi, nhưng ở đây lại gợi cho người
ta vẻ huyền bí đến kì lạ Trời và đát như hòa quyện với nhau tạo nên một không gian
Trang 9thanh bình, sâu lắng.
Nơi đặc biệt nhất ở đây chính là Hang Thánh Hóa, theo tương truyền thì đây chính là nơi mà thiền sư Từ Đạo Hạnh đã hóa thân, thoát xác, chuyển kiếp trở thành vua Lý Thần Tông
Nếu như núi Thầy được ví hình dáng rồng thì Hang Cắc Cớ thì được ví con như là chiếc bụng rồng Khi vượt qua được cửa hang nhỏ hẹp tối om là đến một khoảng không gian rộng lớn Ánh sáng mặt trời chiếu thẳng xuống từ đỉnh núi xuống tạo vẻ bí ẩn Nơi đây được coi là điểm giao nhau giữa đất và trời mà người dân nơi đây gọi là Giếng Trời Hiện ở hang trên những bức tường đá mấp mô vẫn lưu lại những dấu chân, dấu tay của
Từ Đạo Hạnh khi ngài bám vào vách đá cheo leo thẳng đứng để lên trời
1.3 Tiểu kết chương 1
Trải qua những biến thiên thời gian và lịch sử chỉ còn lại những dấu ấn kiến trúc độc đáo kết hợp với cảnh quan thiên nhiên hung vĩ, tuyệt đẹp vốn có và những câu chuyện truyền thuyết còn lưu truyền trong dân gian nhưng đó là những giá trị to lớn về mặt văn hóa và tâm linh của người dân nơi đây
2 Chương 2: Hội Chùa Thầy
Là một trong những lễ hội lớn có truyền thống lâu đời của xứ Đoài nói riêng cũng cũng như cả nước nói chung Hội Chùa Thầy được tổ chức 3 ngày từ mùng 5 đến mùng 8 tháng 3 âm lịch hằng năm (chính hội mùng 7 tháng 3 âm lịch) Hội với nhiều nghi lễ độc đáo như Tắm tượng (mộc dục), lễ nghinh bài vị Đức thánh Từ Đạo Hạnh từ chùa Thượng xuống chùa Trung, lễ cúng yên vị, lễ tế, lễ rước…
Vào những ngày hội chùa Thầy diễn ra, người dân địa phương hay du khách khắp nơi còn được xem biểu diễn múa rối nước mang đậm sắc thái dân gian với nhiều trò chơi dân gian độc đáo, sôi động
2.1.Phần lễ
2.1.1 Lễ Mộc Dục
Lễ Mộc Dục hay còn gọi là lễ tắm tượng, tại cung cấm ở khu vực Chùa Thượng có thờ thân xác của Từ Đạo Hạnh Tượng vẫn còn nguyên về xương cốt, các khớp xương vẫn có thể cử động được Khi xưa dân thôn nghe theo lời ngài, mang xác ngài xuống để
Trang 10làm tượng thờ, trước khi làm tượng để thờ người dân nơi đây đã lấy gỗ chiên đàn, nghiền nhỏ trộn cùng với sơn ta và chế tác ra một loại nhũ ướp qua xác của ngài Để bảo quản thân xác ngài cũng như tôn sùng sự cao quý tropng sạch của ngài theo quy định địa phương mỗi năm chỉ mở cửa mỗi năm một lần vào 2 giờ chiều mùng 5 tháng 3 âm lịch để tắm rửa thay quần áo
Vào ngày này người dân cũng như tăng ni trong chùa chuẩn bị nước thơm và khăn
để tiến hành lễ Nước thơm là nước mưa được nấu cùng 5 loại lá thơm khác nhau Tham gia lễ tắm tượng với sư trụ trì trong chùa là 12 vị bô lão trong làng người có đạo đức tốt
sự tín nhiệm của người dân trong làng và đầu óc vẫn còn phải minh mẫn Khi tham gia nghi lễ, các cụ phải mặc trang phục chỉnh tề: Áo the, khăn xếp, quàng khăn bịt khẩu Buỗi lễ diễn ra trong không khí trang nghiêm
2.1.2 Lễ phụng nghênh bài vị và cúng An vị
Sau Lễ Mộc Dục là lễ rước bài vị của Đức Thánh Từ Đạo Hạnh từ tòa điện thánh xuống Chùa Trung để cho Đức Thánh Từ Đạo Hạnh được chứng kiến những nghi lễ diễn
ra trong 3 ngày hội
Nghi lễ bắt đầu bằng bài đọc kinh, sau khi đọc bài kinh xin phép thì nhà sư và các
bô lão tiến hành thay áo cho Đức Thánh Bài vị của Thánh được khiêng cẩn thận, dọc lối
đi xuống là các bô lão đeo tràng hạt, cầm phướn, cuối cùng bài vị được đặt cẩn thận trong Chùa Trung
Lúc này mọi lễ vật chính được dâng và người dân hay khách thập phương có thể dâng lên các ban thờ nào là hoa quả, oản, xôi, bánh trái,… Nghi lễ là một diễn xướng có tính chất tôn giáo, kết hợp với các nhạc cụ trong một không gian trang trọng linh thiêng
2.1.3 Lễ tế và Lễ rước
Ngày 7 tháng 3 được xem là ngày lễ chính của lễ hội, được gọi là đại tế lúc này các thôn trong làng sẽ yết kiến chùa Thầy, đi đầu đám rước là các sư vải cầm phướn, cụ công đi hộ lệ và sau cùng là cờ ngũ phương, chấp kích, chiêng, trống Kiệu của các làng
sẽ tụ họp đông đủ trước sân chùa để làm lễ cúng bắt đầu từ chùa Thầy ra gò Thiêng Buổi
lễ rước kiệu của các thôn thuộc xã Sài Sơn, đây là phần lễ được người dân coi là quan trọng và cốt yếu nhất Vì vậy, rước kiệu cũng trở nên sang trọng và cầu kì hơn, phụ trách
Trang 11kiêng kiệu phải là những chàng trai khỏe mạnh nghiêm chỉnh trong thôn làng
Các thôn rước lễ vào quán để nhà sư để sư trụ trì trong coi và làm lễ Thánh Lúc này áo vàng của Thánh sẽ được thay bằng áo cà sa nhà phật Người dân gọi màn thay áo này là “Đi Thần về Phật” để tái hiện lại quá trình tu luyện của Đức Thánh Từ ban đầu là
tu tiên sau đó mới đắc đạo thành Phật
Đám rước đi đến địa phận làng nào thì làng đó sẽ làm lễ để đó kiệu thánh để chúc mừng và cầu mong được Thánh che chở, ban phước cho nhân dân trong làng
2.2.Phần Hội
Phần hội được diễn ra song song với những phần nghi thức Những trò chơi dân gian được tổ chức ở bãi cỏ rộng trước chùa.
2.2.1 Hội múa rối
Và sẽ vô cùng thiếu sót khi đến với hội Chùa Thầy mà không xem hội múa rối Vì Thiền Sư Từ Đạo Hạnh là người đã truyền bá, dạy người dân nơi đây Trong ngày hội nhà Thủy Đình được trang hoàng rực rỡ với những tấm vải in hình trang trí long, lân, quy, phượng Các tiết mục múa rối nước tái hiện lại những hình ảnh làng quê, sinh hoạt đời thường rất giản dị và thân thuộc của người dân như được thu nhỏ và sống động trên mặt nước
Các tiết mục múa rối được các nghệ nhân trình diễn vô cùng khéo léo với sự kết hợp nhịp nhàng giữa tiếng nhạc cùng với những lời hát khiến cho các con rối như được thổi hồn và tạo nên sức hút đối với người xem Phần múa rối nước có một sức hấp dẫn lạ lùng góp phần tạo nên một ngày hội náo nhiệt
2.2.2 Trò bịt mắt đập niêu
Bịt mắt đập niêu làmột trò chơi dân gian quen thuộc ở các lễ hội miền Bắc Cách chơi đơn giản chỉ cần người chơi bịt mắt lại và có thể đập được những chiếc niêu đang treo thì dành được chiến thắng Trong tiếng hò reo của mọi người cùng với tiếng hướng dẫn từ đồng đội tạo nên một khung cảnh náo nhiệt, gây tò mò và hứng thú cho du khách
và người dân Với sự nhiệt tình của người chơi, họ đã góp phần mang đến một không khí vui tươi và tạo nên những nét đặc trưng vùng miền mà không phải lễ hội nào cũng có được