Quản lý nhà nư ớc của chính quyền cấp xã vùng đồng bào dân t ộc thiểu số – từ thực tiễn tỉnh Gia Lai Gia Lai n ằm ở phía Bắc Tây Nguyên, có địa hình r ộng lớn, giao thông đi lại khó khăn
Trang 1Quản lý nhà nư ớc của chính quyền cấp xã vùng đồng bào dân t ộc thiểu số –
từ thực tiễn tỉnh Gia Lai
Gia Lai n ằm ở phía Bắc Tây Nguyên, có địa hình r ộng lớn, giao thông đi lại khó khăn, tỷ lệ dân cư là ngư ời dân tộc thiểu số chiếm khá cao, có m ột
số đơn vị lại tiếp giáp với biên giới Cam-pu-chia và khu v ực Nam Lào Chính vì vậy, hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền cơ s ở trên địa bàn tỉnh vừa có những đặc điểm chung của cấp xã nhưng cũng mang nh ững đặc trưng riêng nhất định
Làng Đê KJêng (xã Ayun, huy ện Mang Yang, tỉnh Gia Lai) Ảnh:
vietnamplus.vn
Đặc trưng của chính quyền cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Gia Lai hiện nay
Gia Lai n ằm ở phía Bắc Tây Nguyên, là đ ịa bàn có 90 km đư ờng biên giới tiếp giáp v ới Cam-pu-chia, với tổng diện tích 15.536 km2, dân s ố hơn 1,5 triệu người, gồm 35 dân tộc anh em, riêng đồng bào dân t ộc thiểu số
(DTTS) chiếm 46,2% (ch ủ yếu là ngư ời Jrai và Bahnar)1 Toàn tỉnh gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 14 huyện với 220 đơn v ị hành chính cấp xã, 1.576
Trang 2thôn, làng, tổ dân phố2 Đặc điểm của địa bàn tỉnh có địa hình rộng lớn, giao thông đi lại khó khăn, tỷ lệ dân cư là người DTTS chiếm khá cao, có một số đơn vị lại tiếp giáp v ới biên gi ới Cam-pu-chia và khu vực Nam Lào Chính vì vậy, hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) c ủa chính quy ền cơ sở (CQCS) trên địa bàn tỉnh vừa có những đặc điểm chung của cấp xã nhưng cũng mang những đặc trưng riêng nhất định, đó là:
Thứ nhất, hầu hết các đơn vị thôn, làng đ ều có cộng đồng các DTTS sinh
sống, sản xuất và canh tác lâu đ ời, họ có sự gắn bó chặt chẽ với nhau v ề nhiều phương diện, như: kinh t ế, văn hóa, xã h ội, huyết thống, phong tục, tập quán… do vậy, cộng đồng dân cư có tính t ự quản trên nhi ều phương diện của đời sống xã h ội tại cơ sở, các thi ết chế xã hội truyền thống đư ợc phát huy cao trong quá trình qu ản lý xã h ội
Thứ hai, phân b ố địa giới hành chính c ấp xã trên đ ịa bàn tương đối rộng
lớn Điều kiện đi lại, giao thông, phương tiện trao đ ổi thông tin, c ập nhật chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp lu ật của Nhà nư ớc còn hạn chế Do đó, vi ệc tiếp cận dân cư, t ổ chức thực hiện các nhi ệm vụ
QLNN hay tuyên tuy ền, vận động và các công vi ệc khác có liên quan tr ực tiếp đến người dân rất khó khăn
Thứ ba, dân cư phân b ố thưa thớt, trình đ ộ dân trí còn thấp, am hiểu pháp
luật chưa cao Bên c ạnh đó, nạn di dân tự do diễn ra một thời gian cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc tổ chức hiệu quả các công việc CQCS
Thứ tư, văn hóa, truyền thống, tập tục và những quy định cố kết trong cộng
đồng dân cư cũng đang là tr ở ngại trong tổ chức các công việc của CQCS, như: thực hiện thủ tục hành chính, quản lý tư pháp – hộ tịch, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia… nhằm bảo đảm tốt mối quan hệ giữa Nhà nước và Nhân dân hay thực hiện pháp luật trong các lĩnh vực đối với dân
cư vùng đồng bào DTTS còn là vấn đề nan giải Nhiều chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp lu ật của Đảng chưa đư ợc người dân nắm bắt kịp thời
Thứ năm, ở chính quyền cấp xã vùng DTTS, vi ệc tạo nguồn, bố trí, sắp xếp
công việc hay đi ều động, luân chuy ển cán b ộ, công chức (CBCC) cấp xã thường rất khó khăn Tỷ lệ CBCC là người địa phương ngày càng chiếm tỷ
lệ cao trong cơ cấu đội ngũ nhân sự Điều này đem lại sự thuận lợi lớn trong việc tổ chức, tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân đ ịa
Trang 3phương Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu về tính chuyên nghiệp, chuẩn về các mặt trình độ và các kỹ năng bổ trợ thì họ vẫn chưa đáp ứng đư ợc
Một số vấn đề đang đặt ra đối với công tác qu ản lý của chính quyền cơ sở trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Một là, về công tác xây dựng và tuyên truy ền, phổ biến chủ trương, đư ờng
lối của Đảng, chính sách, pháp lu ật của Nhà nư ớc, nghị quyết của Hội đồng nhân dân còn thi ếu chủ động, việc xem xét những vấn đề quan trọng, nhất
là về kinh tế – xã hội, ngân sách nhà nư ớc, xây dựng cơ bản có lúc, có nơi còn mang tính hình th ức Công tác giám sát còn nhi ều hạn chế
Hai là, hoạt động cải cách hành chính c ủa Ủy ban nhân dân ở một số xã,
phường, thị trấn vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, có nơi còn gây phiền hà cho Nhân dân, m ột số nơi chưa th ật sự đổi mới phương thức làm việc,
không ít CBCC chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, còn là trở ngại lớn
để xây dựng CQCS vững mạnh
Ba là, công tác mặt trận và đoàn th ể chính trị – xã hội tại cơ s ở vẫn chưa
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, sự phối hợp giữa chính quyền với cấp ủy và các đoàn thể cùng cấp nhiều nơi thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ và toàn diện Việc xây dựng lực lượng nòng cốt là người có uy tín ở một số khu dân cư chưa đư ợc chú trọng, ch ất lư ợng hoạt động của đoàn thể, nhất là tổ chức Đoàn Thanh niên ở nhiều thôn, làng, tổ dân phố chưa phát huy được hiệu quả, hoạt động xây dựng phong trào và xây d ựng tổ chức đoàn thể trên một
số mặt còn yếu, công tác giám sát và ph ản biện xã hội, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân có nơi còn h ạn chế
Bốn là, về phẩm chất, năng l ực cần thiết để thực thi nhiệm vụ của đội ngũ
CBCC, người hoạt động không chuyên trách Hiện số CBCC cấp xã trong toàn tỉnh có 4.318 ngư ời, trong đó cán bộ cấp xã là 2.204 ngư ời, công chức cấp xã 2.114 ngư ời, số lượng ngư ời hoạt động không chuyên trách là 2.788 người và làm việc tại thôn, tổ dân phố là 18.744 người So với mặt bằng chung của cả nước, số cán bộ cấp xã có trình đ ộ học vấn tiểu học và trung học cơ sở chiếm tỷ lệ còn cao (chiếm 33,11%), kho ảng gần 50% công ch ức cấp xã chưa biết sử dụng tiếng đồng bào DTTS3 Đội ngũ CBCC cấp xã là người gần dân, hiểu dân, là cầu nối quan trọng của Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân đ ịa phương, tuy nhiên, còn bị hạn chế về ngôn ngữ bản địa, một số chưa am hi ểu phong tục tập quán, chưa th ạo địa hình… đã làm cản trở không nh ỏ đến chất lượng, hi ệu quả tổ chức vận động quần
Trang 4chúng nhân dân Ch ất lượng đội ngũ nh ững người hoạt động không chuyên trách ở thôn, làng, t ổ dân phố còn thấp, chưa thực hiện hết vai trò, trách nhiệm Công tác tạo ngu ồn cán bộ, nhất là tạo nguồn tại chỗ đối với cán bộ
là người DTTS ở nhiều nơi chưa đạt yêu cầu
Năm là, cơ sở vật chất, trang thiết bị từng bước được đầu tư, từ năm 2009 –
2020, tỉnh đã đầu tư m ới và sửa chữa 65 tr ụ sở làm việc của xã, phư ờng, thị trấn với nguồn kinh phí lên t ới 176.834 triệu đồng Giai đo ạn 2016 –
2020 đã xây dựng kiên cố hóa cho 22 trụ sở xã, phường, thị trấn với kinh phí 149.374 tri ệu đồng4 Mặc dù đư ợc quan tâm đúng mức song trên th ực tế
cơ sở vật chất còn thiếu, làm ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng công việc
Sáu là, về dân trí và m ức độ tham gia của người dân đối với các công vi ệc
của chính quyền Với địa hình r ộng (nhất là tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS) dân cư r ải rác, không tập trung, hệ thống phương tiện, thông tin chưa đáp ứng đã ảnh hư ởng không nh ỏ đến việc tiếp nhận, nắm bắt chủ trương, đư ờng lối của Đảng, chính sách, pháp lu ật của Nhà nước Một số nơi trình độ dân trí còn thấp, do đó, vai trò tham gia giám sát, phản biện của Nhân dân địa phương đối với CQCS chưa cao
Ngoài ra, hi ện tư ợng các tôn giáo l ạ những năm gần đây xuất hiện trên địa bàn với những yếu tố tiềm ẩn gây bất ổn về đời sống chính trị – xã hội, đặc biệt là sự len lỏi của các đạo lạ vào vùng đồng bào DTTS, m ột số vùng biên giới tiếp giáp Cam-pu-chia nơi trình đ ộ dân trí còn th ấp, hạn chế về thông tin
Giải pháp nâng cao hi ệu lực, hiệu quả quản lý nhà nư ớc của chính quyền cấp xã trong vùng đ ồng bào dân t ộc thiểu số ở Gia Lai hiện nay
Do quản lý một địa bàn lãnh th ổ với đặc thù là c ấp xã vùng đ ồng bào
DTTS, nơi có truyền thống tự quản khá cao và chịu sự chế ước đặc điểm vùng miền, đặc điểm các t ộc người và tôn giáo Vì v ậy, để nâng cao ch ất lượng, hiệu quả hoạt động QLNN của chính quyền cấp xã, tỉnh Gia Lai cần tập trung vào những vấn đề sau:
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao trách nhi ệm và
thẩm quyền giám sát c ủa Hội đồng nhân dân Bên c ạnh đó, ti ếp tục nâng cao năng lực quản lý, điều hành và đổi mới phương thức làm việc của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
Trang 5Thứ hai, tiếp tục thực hiện chủ trương về sắp xếp lại các đơn vị hành chính
cấp xã và thôn, làng, t ổ dân phố kết hợp với tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ CBCC và những người hoạt động không chuyên trách nhằm hướng đến xây dựng bộ máy cấp xã gọn nhẹ, năng lực, đủ phẩm chất, năng lực và
uy tín hoàn thành t ốt vai trò là cầu nối tại cơ sở giữa Đảng, chính quy ền với quần chúng nhân dân
Thứ ba, thực hiện tốt quy ch ế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm ch ủ của
Nhân dân theo tinh th ần Đại hội XIII “dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát, dân thụ hưởng”, hư ớng tới dân ch ủ thực chất ở cơ sở Tiếp tục thực hiện các nhi ệm vụ đẩy mạnh cải cách hành chính, c ần xem cải cách thủ tục hành chính là khâu đột phá c ủa cải cách hành chính t ại CQCS
Thứ tư, xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã hư ớng đến bảo đảm đúng tiêu
chuẩn, có cơ c ấu, số lượng hợp lý Tổ chức tốt khâu rà soát lại tổng thể đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn về số lượng, chất lượng theo từng nhóm chức danh, g ắn với vị trí công vi ệc hiện tại của họ để xác định rõ những mặt hạn chế và yếu kém Cần dựa vào các tiêu chí nói trên đ ể đào tạo, bồi dưỡng nhằm chuẩn hóa sử dụng lâu dài, hay bổ sung, thay thế; chú trọng đến CBCC người DTTS địa phương, CBCC là nữ
Thứ năm, đầu tư cơ s ở vật chất, trang thiết bị làm việc Tăng cư ờng đầu tư
xây dựng, phát triển hạ tầng kỹ thuật, đẩy mạnh việc ứng dụng công ngh ệ thông tin phục vụ nền hành chính đ ối với CQCS Tiếp tục triển khai c ải cách thủ tục hành chính theo mô hìn h một cửa, một cửa liên thông B ồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ hành chính cho đội ngũ công chức thực hiện nhiệm vụ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Thứ sáu, tiếp tục xây dựng, củng cố để nâng cao năng lực lãnh đ ạo, sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng tại cơ sở, coi trọng xây dựng chi b ộ thôn, làng; đẩy mạnh công tác bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển đảng viên Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát c ủa các cấp ủy trong vi ệc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, pháp lu ật của Nhà nước Đổi mới phương thức tổ chức vận động quần chúng của các tổ chức đoàn thể tại địa phương Tăng cường công tác phối hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của CQCS
Chú Thích:
1 Chú trọng đổi mới và nâng cao ch ất lượng hoạt động của hệ thống chính
trị ở cơ sở https://tcnn.vn, ngày 27/8/2017
Trang 62 Giải quyết chính sách cho 2.117 đ ối tượng dôi dư sau sáp nh ập đơn vị
hành chính https://gialai.gov.vn, ngày 07/10/2021
3, 4 Báo cáo số 117-BC/TU ngày 24 /8 /2021 c ủa Tỉnh ủy Gia Lai v ề tổng
kết việc thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4 /2015 c ủa Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán b ộ, công chức, viên chức