1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên

16 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Tác giả Nguyễn Hữu Quân
Trường học Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Khoa học môi trường
Thể loại Tiểu luận cuối khóa
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 200,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên.Xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên.Xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên.Xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên.Xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên.Xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên.Xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên.Xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên.Xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên.Xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIAO DỤC

TIỂU LUẬN CUỐI KHÓA Lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý khoa, phòng trường đại học

tổ chức tại Trường Đại học Sư phạm - Đọc học Thái Nguyên

XÂY DỰNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHO KHOA SINH HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

- ĐỌC HỌC THÁI NGUYÊN

Học viên thực hiện: Nguyễn Hữu Quân

Thái Nguyên, tháng 02/2019

Trang 2

1 LÝ DO CHỌN CHỦ ĐỀ

1.1 Tính khoa học của chủ đề tiểu luận

Nghiên cứu khoa học là một trong những vấn đề quan trọng đối với sự phát triển của trường đại học Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển sẽ tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao để cạnh tranh được với các nước khác trên thế giới, điều đó đem lại sự thịnh vượng cho quốc gia đó Đối với các trường đại học vấn đề nghiên cứu khoa học liên quan tới công bố các bài báo khoa học, các loại đề tài nghiên cứu khoa học) là một trong các tiêu chí quan trọng để xếp hạng các trường đại học Nghiên cứu khoa học phát triển góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Cụ thể để giảng dạy tốt hiển nhiên giảng viên phải có trình độ chuyên môn tốt luôn cập nhật được những kiến thức mới nhất Để làm được điều đó giảng viên bắt buộc phải làm nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế, không thể có chuyện là giảng viên không làm nghiên cứu gì thêm cứ yên tâm với những kiến thức cũ đã có mà có thể dạy tốt được Đối với sinh viên, kiến thức chuyên ngành là mênh mông, không thể với thời lượng ít ỏi trên lớp mà giảng viên có thể giảng dạy, truyền thụ hết kiến thức Để học tốt, sinh viên bắt buộc phải tự đọc, tự nghiên cứu, và cách tốt nhất để sinh viên có thể nâng cao được trình độ của mình đó là thông qua các bài tập lớn của môn học và đăng ký làm đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên hàng năm Bài tập lớn hay việc đăng ký làm đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên hàng năm về bản chất

là sinh viên đang tập làm các đề tài nghiên cứu khoa học (ở cấp độ phù hợp) có được sự hướng dẫn của giảng viên, thông qua các dạng đề tài này sinh viên sẽ được “học thêm” từ các giảng viên ngoài thời gian trên lớp để nâng cao trình độ chuyên sâu của mình về một lĩnh vực nào đó phụ thuộc vào chủ đề của đề tài Ngoài kiến thức chuyên môn, sinh viên cũng được rèn luyện các kỹ năng mềm khác trong quá trình làm đề tài nghiên cứu, như kỹ năng tự đọc tài liệu, kỹ năng làm việc nhóm, … Tóm lại nghiên cứu khoa học đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng dạy và học trong môi trường trường đại học

1.2 Theo chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước

Theo quy định của Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT ngày 31-12-2014 quy định chế

độ làm việc đối với giảng viên đã quy định về nghiên cứu khoa học: Giảng viên phải dành ít nhất 1/3 tổng quỹ thời gian làm việc trong năm học để làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học Mỗi năm, giảng viên phải hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được giao tương ứng với chức danh hoặc vị trí công việc đang đảm nhiệm Kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên được đánh giá thông qua các sản phẩm nghiên cứu khoa học cụ thể, tối thiểu là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở hoặc tương đương được nghiệm thu

từ đạt yêu cầu trở lên hoặc một bài báo được công bố trên tạp chí khoa học có phản biện hoặc một báo cáo khoa học tại hội thảo khoa học chuyên ngành Nghiên cứu khoa học được xem là nhiệm vụ bắt buộc và là tiêu chí đánh giá lao động của giảng viên

Trang 3

Đối với trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, đã có Quyết định về việc ban hành quy định chế độ làm việc đối với giảng viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, trong đó mỗi giảng viên phải thực hiện 90 giờ nghiên cứu khoa học (quy đổi) hàng năm Để hoàn thành được số lượng giờ theo quy định, giảng viên phải tham gia thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, viết và công bố các kết quả nghiên cứu tại các hội thảo cấp cơ sở, cấp quốc gia, quốc tế và tại các tạp chí khoa học chuyên ngành, tham gia hưướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học, viết giáo trình, sách tham khảo chuyên khảo

1.3 Thực tiễn nghiên cứu khoa học tại Khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm -Đại học Thái Nguyên

Vấn đề nghiên cứu khoa học tại Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên luôn luôn được coi trọng Khoa xác định việc nghiên cứu khoa học là vấn đề sống còn để phát triển Khoa Để thu hút được sinh viên Khoa phải nâng cao được chất lượng giảng dạy, để làm được điều đó giảng viên phải có khả năng cung cấp những kiến thức mới nhất cho sinh viên đồng thời phải có khả năng hướng dẫn sinh viên làm nghiên cứu khoa học Như vậy vấn đề cốt lõi là giảng viên phải có trình độ, với một ngành thực nghiệm, giảng viên không thể nào làm tốt được các công tác trên nếu không nghiên cứu khoa học để cập nhật kiến thức liên tục Để thúc đẩy giảng viên làm nghiên cứu khoa học, Khoa đã thông qua các biện pháp sau:

Kiểm tra tổ chức đánh giá chặt chẽ các buổi sinh hoạt chuyên môn học thuật ở các

Bộ môn, mỗi giảng viên hàng năm phải có ít nhất hai buổi báo cáo sinh hoạt chuyên môn học thuật trước các thành viên của bộ môn, có lãnh đạo Khoa tham dự Điều này thúc đẩy giảng viên phải tự nghiên cứu để có kiến thức mới báo cáo trước Bộ môn;

Hàng năm Khoa tổ chức các hội thảo cấp Khoa và cấp Trường, thậm chí liên trường với các trường đại học trong nước và quốc tế (tùy vào kế hoạch năm học từng năm), và yêu cầu các các giảng viên phải có bài gửi cho các hội thảo (có chế tài xếp loại, kỷ luật) Điều này tạo động lực cho các giảng viên làm nghiên cứu khoa học gửi bài cho hội thảo;

Có chế tài khuyến khích, bắt buộc cụ thể đối với từng Bộ môn, giảng viên trong việc tìm, hướng dẫn sinh viên làm đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên cấp Khoa, cấp Trường Điều này bắt buộc các giảng viên phải chủ động tìm, khuyến khích động viên các sinh viên làm đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên

Với mỗi bài báo có chất lượng (trong nước có uy tín hay thuộc danh mục ISI, Scopus), giảng viên là tác giả đều nhận được mức thưởng tương xứng theo quy chế chi tiêu nội bộ của Trường

Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, công tác nghiên cứu khoa học luôn được nhà trường đánh giá là hoàn thành xuất sắc, năm học nào cũng

có các giảng viên, sinh viên được nhận giấy khen của Hiệu trưởng vì thành tích nghiên

Trang 4

cứu khoa học, các giảng viên cũng đã và đang chủ trì các đề tài Quỹ Nafosted, cấp Bộ, cấp Đại học, cấp cơ sở, , tuy nhiên thành tích và giải pháp như vậy là vẫn chưa đủ trong thời đại mới hiện nay, ngoài ra vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế trong công tác nghiên cứu khoa học tại Khoa

Do đó, là một giảng viên, phụ trách hoạt động khoa học của Trường, tôi chọn chủ đề

“Xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên” làm đề tài tiểu luận thu hoạch

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI KHOA SINH HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

2.1 Khoa học và nghiên cứu khoa học

Khoa học là hệ thống tri thức về thế giới khách quan có chức năng khám phá bản chất các hiện tượng của thế giới khách quan: Giải thích nguồn gốc phát sinh, phát hiện ra các qui luật vận động và phát triển của các hiện tượng ấy, bao gồm:

+ Hệ thống hoá các tri thức đã khám phá được tạo thành các lý thuyết, học thuyết khoa học

+ Nghiên cứu ứng dụng những thành quả sáng tạo khoa học để cải tạo thực tiễn Nghiên cứu khoa học là sự tìm hiểu khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật hoặc hiện tượng, phát hiện được quy luật vận động của chúng, đồng thời vận dụng những quy luật ấy để sáng tạo các giải pháp cải tạo thế giới khách quan Nghiên cứu khoa học trong Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội

Các thước đo đánh giá năng suất NCKH:

• Tính mới mẻ, Tính thông tin, Tính khách quan

• Tính tin cậy , Tính rủi ro , Tính kế thừa,

• Tính cá nhân, Tính kinh phí

Nghiên cứu khoa học mang hai nội dung cơ bản sau:

• Phát hiện quy luật vận động của thế giới khách quan (tự nhiên, xã hội, con người)

• Sáng tạo các giải pháp nhằm biến đổi trạng thái của sự vật hoặc hiện tượng, cải tạo thế giới, tức tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người

Nhân lực khoa học:

Nhân lực khoa học là đội ngũ những người tham gia trực tiếp vào quá trình nghiên cứu sáng tạo khoa học

Trang 5

Nhân lực khoa học là tiềm năng của mọi tiềm năng, là nhân tố quan trọng nhất tạo

ra mọi thành công không những cho khoa học, mà còn cho tất cả các lĩnh vực hoạt động khác của nhân loại

Nhân lực khoa học bao gồm: các nhà khoa học, các nhân viên kỹ thuật và dịch vụ khoa học, đội ngũ này hỗ trợ nhau trong tìm tòi, sáng tạo ra mọi giá trị khoa học Nhân lực khoa học quan trọng nhất là các nhà khoa học Các nhà khoa học là những người có trình

độ từ đại học trở lên trực tiếp tham gia vào quá trình nghiên cứu khoa học

Phương pháp nghiên cứu khoa học:

Là cách thức, con đường thu thập, xử lý thông tin nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu Hoạt động có đối tượng, trong đó chủ thể nghiên cứu dùng các cách thức, thủ thuật nhằm khám phá, tác động đến đối tượng phục vụ cho mục đích nghiên cứu

• Nhóm Các PPNC Lý Thuyết Là nhóm các PP thu thập thông tin khoa học trên cơ

sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao tác tư duy logic để rút ra các kết luận cần thiết, bao gồm: Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết, Phương pháp mô hình hóa, Phương pháp giả thuyết, Phương pháp lịch sử

• Nhóm các PPNC Thực Tiễn là nhóm các PP trực tiếp tác động vào đối tượng có trong thực tiễn để làm bộc lộ bản chất và quy luật vận động của các đối tượng ấy, bao gồm: Phương pháp quan sát khoa học, Phương pháp điều tra, Phương pháp thực nghiệm khoa học, Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm, Phương pháp chuyên gia,

Các loại đề tài khoa học :

Đề tài khoa học là một vấn đề khoa học có chứa một nội dung thông tin chưa biết, cần phải nghiên cứu làm sáng tỏ Có thể nói đơn giản đề tài khoa học là một câu hỏi, một vấn đề của khoa học cần phải giải đáp và khi giải đáp được thì làm cho khoa học tiến thêm một bước

Đề tài thuộc loại hình nghiên cứu cơ bản: là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là

tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức mới, những giá trị mới cho nhân loại Nghiên cứu cơ bản đi sâu khám phá bản chất và quy luật vận động và phát triển của thế giới ở cả hai phía vi mô và vĩ mô

• Tri thức sáng tạo từ nghiên cứu cơ bản là tri thức nền tảng cho mọi quá trình nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo

• Kết quả của nghiên cứu cơ bản luôn là những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật, những định luật, định lý… Cuối cùng, trên cơ sở những nghiên cứu này, người nghiên cứu đưa ra những phát hiện, phát kiến, phát minh, xây dựng nên những cơ sở lý thuyết có một giá trị tổng quát cho nhiều lĩnh vực hoạt động

Trang 6

• Nghiên cứu cơ bản được phân thành hai loại: Nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hướng

Đề tài thuộc loại hình nghiên cứu ứng dụng: là loại hình nghiên cứu có mục tiêu

là tìm cách vận động những tri thức cơ bản để tạo ra những quy trình công nghệ mới trong sản xuất, những nguyên lý mới trong quản lý kinh tế xã hội

• Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thể là một giải pháp về công nghệ có tính mới về nguyên lý, vật liệu mới, sản phẩm mới, giải pháp hữu ích, sáng chế

• Đây là một loại hình nghiên cứu phù hợp với quy luật phát triển của khoa học hiện đại, nó làm rút ngắn thời gian từ khi phát minh đến khi ứng dụng

• Chính nghiên cứu ứng dụng đã làm cho khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển cả khoa học lẫn sản xuất

Phân loại NCKH dựa theo trình độ đào tạo

• Khóa luận (Đại học)

• Luận văn (Cao học)

• Luận án (Tiến sĩ)

Dựa theo cấp quản lý

• Cấp cơ sở, cấp đại học

• Cấp tỉnh

• Cấp bộ

• Cấp nhà nước

2.2 Quy trình nghiên cứu khoa học

Quy trình nghiên cứu khoa học bao gồm các bước sau:

Đặt vấn đề nghiên cứu

• Vấn đề khoa học cũng được gọi là vấn đề nghiên cứu hoặc câu hỏi nghiên cứu, là câu hỏi được đặt ra khi người nghiên cứu đứng trước mâu thuẫn giữa tính hạn chế của tri thức khoa học hiện có với yêu cầu phát triển tri thức đó ở trình độ cao hơn

• Vấn đề nghiên cứu cần được trình bày dưới dạng một câu nghi vấn, là sự kiện hay hiện tượng mới chưa từng ai biêt, một mâu thuẫn hay vướng mắc cản trở bước tiến của khoa học hay thực tiễn Bằng kiến thức cũ không thể giải quyết được, đòi hỏi các nhà khoa học phải nghiên cứu giải quyết

• Vấn đề nếu được giải quyết sẽ cho một thông tin mới có giá trị cho khoa học hay làm khai thông các hoạt động của thực tiễn

Xây dựng giả thuyết nghiên cứu

• Là kết luận (mô hình) giả định, một dự đoán về bản chất đối tượng nghiên cứu Giải thuyết có thể điều chỉnh, bổ xung hoặc bị bác bỏ

• Giả thuyết (Luận đề) / luận điểm/luận cứ/luận chứng

Trang 7

• Có 3 hình thức suy luận để đưa ra giả thuyết: diễn dịch, quy nạp, loại suy

• GT được đưa ra dưới dạng một phán đoán

Tìm hiểu tổng quan tình hình nghiên cứu

• Tìm hiểu vấn đề mình sắp nghiên cứu hiện nay đã có ai nghiên cứu chưa?

• Nếu đã có nghiên cứu rồi thì kết quả ra sao? những vấn đề gì còn chưa giải quyết được?

• Tìm hiểu vấn đề chưa giải quyết được đó sẽ ảnh hưởng như thế nào khi áp dụng những nghiên cứu này trong thực tế

• Nếu là các đề tài, dự án trong nước thì nên phân ra làm hai: tìm hiểu tình hình nghiên cứu trong nước và tìm hiểu tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Xây dựng luận chứng

• Dựa vào các kết quả nghiên cứu trong nước hoặc trên thế giới (nếu đã có) và giả thuyết nghiên cứu đã xây dựng được ở phần trước, cùng với cơ sở khoa học hiện có (cả

cơ sở lý thuyết và thực nghiệm), xây dựng nên luận chứng cho vấn đề nghiên cứu của mình

• Luận chứng tức là những chứng cứ về mặt khoa học và thực nghiệm thuyết phục hơn so với giả thuyết nghiên cứu

Tìm luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tiễn

• Trong phần này ta cần đi sâu hơn vào việc đảm bảo rằng hướng nghiên cứu của ta

là khả thi bằng việc tìm cơ sở khoa học cho hướng nghiên cứu của mình

• Cơ sở khoa học ở đây bao gồm cả cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn Cơ sở lý thuyết đảm bảo rằng với nền tảng lý thuyết hiện có vấn đề mà mình muốn nghiên cứu có khả năng thực hiện được

• Cơ sở thực tiễn đảm bảo rằng hướng nghiên cứu của mình là khả thi trong thực tiễn

Thiết kế thuật toán (design algorithm)

• Thu thập tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

• Đọc tất cả tài liệu liên quan, đặc biệt các tài liệu về các nghiên cứu cùng chủ đề trước đó và các tài liệu về cơ sở khoa học liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu

• Thiết kế thuật toán giải quyết vấn đề cần nghiên cứu, thuật toán được thiết kế có thể là cải tiến các thuật toán đã có từ các nghiên cứu trước hoặc là thuật toán mới dựa trên cơ sở khoa học đã có

Đánh giá các ngoại lệ

• Từ thuật toán vừa thiết kế, kiểm tra dựa trên cả cơ sở lý thuyết và cơ sở thực nghiệm để tìm ra những vấn đề có thể phát sinh của thuật toán khi được áp dụng trong thực tế

• Đánh giá những vấn đề nếu có đó sẽ ảnh hưởng như thế nào

Trang 8

• Nếu có thể thì tìm ra phương án giải quyết các vấn đề đó, đánh giá chi phí phải bỏ

ra khi áp dụng phương án giải quyết đó

Cài đặt bản mẫu thuật toán

• Thực hiện việc mô phỏng thuật toán sẽ được cài đặt như thế nào trong thực tế

• Ví dụ đối với ngành CNTT thì ta phải chọn loại ngôn ngữ lập trình cụ thể để viết cài đặt ở mức cơ bản cho thuật toán ta vừa thiết kế

• Việc cài đặt này phải mô phỏng được kết quả khi thuật toán đó thực sự được cài đặt đầy đủ để triển khai trong thực tế Mục tiêu là dựa trên kết quả này để đánh giá ưu nhược điểm của thuật toán vừa được thiết kế

Chuẩn bị dữ liệu thử nghiệm

• Dựa vào prototype ta vừa làm ta đi chuẩn bị dữ liệu để thực hiện chạy thử nghiệm trên prototype này

• Các dữ liệu này phải đáp ứng được yêu cầu là “bao phủ tốt nhất” tất cả các loại dữ liệu có thể có trong thực tế

• Ví dụ với ngành CNTT thì dữ liệu thử nghiệm có thể tùy thuộc vào thuật toán ta thiết kế để làm gì

• Nếu là thuật toán về mã hóa thì dữ liệu thử nghiệm có thể là tất cả các loại định dạng file như docx; mp3; jpg; … Với dung lượng lớn bé khác nhau

Lựa chọn tiêu chuẩn đánh giá

• Sau khi có dữ liệu thử nghiệm, ta đi lựa chọn tiêu chuẩn đánh giá trong quá trình thực hiện thử nghiệm

• Tiêu chuẩn đánh giá thường là từ kết quả tối thiểu mà bất kỳ một nghiên cứu nào cũng cần phải đạt được cho đến mức kỳ vọng

• Tiêu chuẩn đánh giá thường được xây dựng dựa trên yêu cầu thực tế

• Ví dụ vấn đề mã hóa: tiêu chuẩn đánh giá có thể là tốc độ mã hóa/giải mã một file

ở định dạng nào đó có dung lượng là bao nhiêu Ngoài ra tiêu chuẩn còn đi kèm với tham

số an toàn của hệ mã hóa là bao nhiêu

• Có thể có nhiều tiêu chuẩn đánh giá phụ thuộc vào từng ngữ cảnh, ví dụ như tiêu chuẩn với computer khác với smart phone khác,…

Lựa chọn các công cụ phân tích số liệu

• Với nhiều thử nghiệm ta có thể có kết quả chạy thử nghiệm rất là phức tạp, khi ấy

để cho ra được kết quả cuối cùng như ta mong muốn để có thể so sánh được với tiêu chuẩn đánh giá ta cần phải có một công cụ để giúp phân tích số liệu

• Trong các ngành CNTT thì thường ít phải dùng các công cụ này, nhưng các ngành như vật lý, hóa học,… Thì cần nhiều

Chạy kết quả thử nghiệm

Trang 9

• Thực hiện chạy kết quả thử nghiệm với input là dữ liệu thử nghiệm đã được chuẩn

bị ở bước trước

• Nhận Output, nếu cần thì dùng công cụ phân tích số liệu để phân tích ra output cuối cùng

• Với ngành CNTT thì quá trình chạy có thể nhanh chậm tùy lĩnh vực nghiên cứu Cần lưu ý các tác động ngoại cảnh ảnh hưởng đến kết quả trong quá trình chạy thử nghiệm

Biểu diễn trình bày kết quả thử nghiệm

• Tùy từng nghiên cứu ta sẽ biểu diễn kết quả nghiên cứu bằng đồ thị, bảng biểu, đồ họa,

• Ví dụ với nghiên cứu hệ mã hóa mới thì kết quả thường được biểu diễn dưới dạng bảng Với xử lý ảnh thì lại thường được biểu diễn dưới dạng đồ thị, …

Phân tích, đánh giá, thảo luận quả thử nghiệm

• Dựa trên kết quả chạy thử nghiệm đưa ra các phân tích đánh giá tổng quan về kết quả

• Thảo luận về kết quả nổi trội cũng như kết quả kém của nghiên cứu

Thảo luận về phương án khắc phục kết quả kém nếu có cũng như chi phí phải bỏ ra

để khắc phục

So sánh với các kết quả đã có

• Trong nghiên cứu việc so sánh kết quả mới của mình với kết quả tốt nhất hiện có

là điều bắt buộc

• Cần phân tích, thảo luận, so sánh kỹ kết quả mới với kết quả tốt nhất hiện có, đâu

là điểm mạnh, điểm yếu của mình so với các kết quả hiện có

• Chỉ rõ những ngữ cảnh nào kết quả của mình là tốt nhất Đặc biệt những ngữ cảnh

mà kết quả của mình là tốt nhất hiện nay

• Ví dụ nếu kết quả của mình là hệ mã hóa có tốc độ giải mã tốt nhất hiện nay nhưng có độ an toàn kém và tốc độ mã hóa chậm Thì nên chỉ rõ kết quả của mình phù hợp với lightweight-based applications

Kết luận

• Bước cuối cùng cần phải đưa ra kết luận tóm tắt lại toàn bộ kết quả nghiên cứu của mình

• Đưa ra các vấn đề chưa giải quyết được trong nghiên cứu của mình và hướng nghiên cứu tiếp theo nếu có

2.3 Đặc điểm tình hình Khoa Sinh học

Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, được thành lập năm 1966 cùng với 6 khoa cơ bản khác là: Toán học, Vật lý, Hoá học, Ngữ văn, Lịch sử

Trang 10

và Địa lý Địa điểm đầu tiên của Khoa đặt tại xã Vinh Quang, huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái (nay là xã Phú Lạc, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên) Từ năm 1970 cùng với toàn trường, Khoa chuyển địa điểm về Thành phố Thái Nguyên Ngay từ khi mới thành lập, cán bộ, giảng viên của Khoa đã bắt đầu triển khai công tác tuyển sinh và giảng dạy khóa

I, đồng thời còn phải xây dựng và ổn định nơi ăn chốn ở của cán bộ và sinh viên trong điều kiện chiến tranh chống Mỹ hết sức ác liệt Mặc dù vậy, tập thể cán bộ, giảng viên và sinh viên của Khoa đã kết hợp giảng dạy, học tập với lao động sản xuất; chủ động giải quyết các nhu cầu thiết yếu về ăn, ở, học tập và nghiên cứu khoa hoc; quyết tâm vượt mọi khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao phó Những năm đầu quy

mô của Khoa còn nhỏ, trung bình mỗi năm có 40 sinh viên nhập học Số cán bộ giảng viên và nhân viên chỉ có trên 20 người Phần lớn giảng viên thế hệ đầu tiên của Khoa là

từ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội chuyển đến Cùng với sự phát triển của Nhà trường, lực lượng giảng viên của Khoa được tăng cường

từ nhiều nguồn khác nhau: Giảng viên được đào tạo từ nước ngoài về, giảng viên từ các trường đại học trên cả nước chuyển đến, sinh viên xuất sắc của các trường đại học khác

và của Khoa được tiếp nhận

Hiện nay, ngành Sư phạm Sinh học của Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên có 4 chương trình đào tạo: Sư phạm Sinh học; Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp; Sư phạm Sinh- Địa; Sư phạm Sinh – Hóa Theo quyết định số 1506/QĐ-ĐHSP ngày 21/6/2012 của Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm về việc ban hành danh mục ngành đào tạo, chương trình Sư phạm Sinh học là một chương trình đào tạo của ngành Sư phạm Sinh học do Khoa Sinh học trực tiếp quản lý Đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên cơ hữu của Trường trực tiếp tham gia xây dựng chương trình, quản lý và giảng dạy chương trình Sư phạm Sinh học gồm 34 giảng viên, kỹ thuật viên và nhân viên văn phòng, gồm:

29 giảng viên, 4 viên chức gồm giáo viên trung học, kỹ thuật viên và cán bộ văn phòng Trong số các giảng viên của khoa có 1 Giáo sư; 7 Phó giáo sư; 14 tiến sĩ, 4 nghiên cứu sinh đang học tập tại Cộng hòa liên bang Đức, Pháp, Trung Quốc, Đài Loan; 2 nghiên cứu sinh đang học tập trong nước, 1 thạc sĩ Số giảng viên có học vị tiến sĩ, chức danh giáo sư và phó giáo sư là 22 người trong tổng số 29 giảng viên, chiếm 75,86%

2.4 Thuận lợi và khó khăn trong nghiên cứu khoa học của Khoa Sinh học

2.4.1 Đối với giảng viên

- Đề tài khoa học: Khoa hiện đã chủ trì 04 đề tài cấp nhà nước NAFOSTED và 15

đề tài cấp Bộ GD&ĐT, 14 đề tài cấp Đại học, hơn 30 đề tài cấp cơ sở

- Bài báo khoa học: nhiều giảng viên trong khoa đã tích cực, chủ động viết bài báo gửi các tạp chí chuyên ngành Trong nước và Quốc tế Trong đó, tính đến nay Khoa đã công bố được gần 60 công trình khoa học quốc tế trong đó có khoảng 22 bài báo thuộc

Ngày đăng: 31/12/2022, 04:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w