1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Những thay đổi theo chiều dọc của hàm lượng dinh dưỡng sữa mẹ trong 6 tháng đầu tiên của thời kỳ cho con bú

10 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Thay Đổi Theo Chiều Dọc Của Hàm Lượng Dinh Dưỡng Sữa Mẹ Trong 6 Tháng Đầu Tiên Của Thời Kỳ Cho Con Bú
Trường học Trường Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y học Dinh dưỡng
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 98,7 KB
File đính kèm hàm lượng dinh dưỡng trong sữa mẹ.rar (95 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG THAY ĐỔI THEO CHIỀU DỌC CỦA HÀM LƯỢNG DINH DƯỠNG SỮA MẸ TRONG 6 THÁNG ĐẦU TIÊN CỦA THỜI KỲ CHO CON BÚ Sữa mẹ được coi là nguồn dinh dưỡng tối ưu trong 6 tháng đầu đời của trẻ Vì sữa là nguồn din.

Trang 1

NHỮNG THAY ĐỔI THEO CHIỀU DỌC CỦA HÀM LƯỢNG DINH DƯỠNG SỮA MẸ TRONG 6 THÁNG ĐẦU TIÊN CỦA THỜI KỲ CHO

CON BÚ

Sữa mẹ được coi là nguồn dinh dưỡng tối ưu trong 6 tháng đầu đời của trẻ Vì sữa

là nguồn dinh dưỡng duy nhất trong sáu tháng đầu đời của trẻ sơ sinh nên việc hiểu

rõ thành phần của sữa vẫn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng được quan tâm Hơn nữa, một số nghiên cứu đã xác định thành phần sữa mẹ của các bà mẹ đang cho con bú ở các nước châu Phi Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá những thay đổi theo chiều dọc của hàm lượng chất dinh dưỡng trong sữa mẹ trong 6 tháng

đầu tiên của thời kỳ cho con bú Một nghiên cứu mô tả theo chiều dọc với các biện

pháp lặp đi lặp lại đã được nghiên cứu áp dụng Thành phần dinh dưỡng sữa mẹ được đánh giá ở các bà mẹ đang cho con bú vào ngày thứ 1 và thứ 5tháng tiết sữa Năng lượng sữa, lactoza, protein, lipid, vitamin A, canxi, magie, kẽm và sắt được đánh giá ở hai thời điểm cho con bú (tháng thứ nhất và tháng thứ năm) Tổng cộng có 104 mẫu sữa mẹ trưởng thành đã được thu thập và phân tích về năng lượng và các chất dinh dưỡng được chọn ở hai giai đoạn cho con bú Sự khác biệt đáng kể về hàm lượng dinh dưỡng trung bình của protein (giá trị p = 0,029), vitamin A (giá trị p = 0,004) và sắt (giá trị p = 0,015) đã được quan sát giữa tháng đầu tiên và tháng thứ năm của thời kỳ cho con bú Hàm lượng dinh dưỡng trung bình đối với protein có xu hướng giảm trong khi xu hướng tăng đối với cả vitamin

A (retinol) và sắt trong khoảng thời gian từ tháng thứ 1 đến tháng thứ 5 của thời kỳ cho

con bú Hàm lượng chất dinh dưỡng trong sữa mẹ thay đổi theo chiều dọc trong

sáu tháng đầu tiên của thời kỳ cho con bú Các nghiên cứu điều tra nguyên nhân của sự khác biệt là rất quan trọng trong việc cải thiện chất lượng sữa mẹ và cuối cùng là sự tăng trưởng và phát triển của trẻ

1 Giới thiệu

Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời, tiếp tục cho con bú đến 2 năm tuổi hoặc lâu hơn cùng với việc cho ăn bổ sung hợp lý, được công nhận là tiêu chuẩn quy chuẩn cho việc nuôi dưỡng trẻ sơ sinh1 2 Khuyến nghị này được hỗ trợ bởi nhiều bằng chứng cho thấy sữa mẹ đặc biệt phù hợp với trẻ sơ sinh do các thành phần dinh dưỡng và hoạt tính sinh học khác cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển tối ưu của trẻ.1 Sữa mẹ được coi là thức ăn lý tưởng cho trẻ sơ sinh vì

nó cung cấp tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ sơ sinh để tồn tại và phát triển tối ưu.3 Bằng chứng đáng kể đã chỉ ra rằng sữa mẹ chứa các chất dinh dưỡng

và các thành phần có hoạt tính sinh học giúp tăng cường sức khỏe đường tiêu hóa,

hệ miễn dịch, phát triển thể chất và nhận thức của trẻ sơ sinh.4 5 6 7 Các nghiên

Trang 2

cứu đã cung cấp thêm bằng chứng mới cho thấy rằng sữa mẹ có thể có vai trò lập trình các bệnh chuyển hóa muộn, đặc biệt là bảo vệ chống béo phì và tiểu đường loại 28 Nuôi con bằng sữa mẹ cũng đã được chứng minh là mang lại nhiều lợi ích

về sức khỏe cho người mẹ Những lợi ích này bao gồm; người mẹ nhanh chóng trở lại cân nặng trước khi mang thai, trì hoãn khả năng sinh sản và giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 27 9 Do đó, các bà mẹ được khuyến khích cho con bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và sau đó cho trẻ ăn bổ sung phù hợp và tiếp tục cho trẻ bú đến hai tuổi và hơn thế nữa.10 Vì sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng duy nhất trong sáu tháng đầu đời của trẻ sơ sinh nên việc hiểu rõ thành phần của sữa

mẹ vẫn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng được quan tâm Các nghiên cứu đã ghi nhận rằng sữa mẹ có thể thay đổi dựa trên nhiều yếu tố1 11 Đáng chú ý, một số nghiên cứu đã xác định thành phần sữa mẹ của các bà mẹ đang cho con bú ở các nước châu Phi Do đó, mục đích của nghiên cứu này là xác định những thay đổi theo chiều dọc của hàm lượng chất dinh dưỡng trong sữa mẹ ở phụ nữ đang cho con bú (0-6 tháng) ở Nyeri, County, Kenya

2 Vật liệu và phương pháp

2.1 Thiết kế nghiên cứu và người tham gia

Nghiên cứu này là một nghiên cứu theo chiều dọc được thực hiện ở những phụ nữ đang cho con bú (0-6 tháng) ở Hạt Nyeri, Kenya Những phụ nữ tham gia đã cung cấp các mẫu sữa mẹ của họ vào tháng đầu tiên và tháng thứ năm sau khi sinh Tổng cộng, 104 mẫu sữa trưởng thành được thu thập từ các bà mẹ đang cho con bú tại mỗi thời điểm trong hai thời điểm

2.2 Tiêu chí bao gồm và loại trừ

Nghiên cứu chỉ bao gồm những bà mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu, trên 18 tuổi và sinh đủ tháng (tuổi thai ≥ 37 tuần) Nghiên cứu đã loại trừ những bà mẹ đang cho con bú mắc bất kỳ bệnh mãn tính nào

2.3 Lấy Mẫu Sữa Mẹ

Các mẫu sữa mẹ được lấy vào buổi sáng (từ 08:00-10:30) Các mẫu được bảo quản

ở -20°C bằng tủ đông di động để cho phép vận chuyển đến phòng thí nghiệm Khi

ở trong phòng thí nghiệm, các mẫu được bảo quản ở -80°C cho đến khi thực hiện phân tích hàm lượng dinh dưỡng cuối cùng Các mẫu sữa được thu thập vào lọ nhựa sạch 100 mL Các lọ được bọc bằng giấy nhôm để bảo vệ sữa khỏi ánh sáng Để cho phép các mẫu có thể so sánh được, các bà mẹ được yêu cầu vắt sữa từ

Trang 3

vú và sữa sau được lấy bằng tay Quá trình này được lặp lại một lần nữa trong khoảng thời gian hai tuần để giảm các biến thể hàng ngày

2.4 Phân Tích Mẫu Sữa Mẹ

2.4.1 Xác định Hàm lượng Lactose

Phân tích và định lượng đường sữa mẹ được thực hiện bằng công nghệ sắc ký Sắc

ký lỏng cao áp (HPLC) (Shimadzu LC-20A) được trang bị máy dò chỉ số khúc xạ (Shimadzu RID-10A) đã được sử dụng Pha động bao gồm acetonitril: nước (75:25) với tốc độ dòng 0,8 ml/phút trên cột NH2P có kích thước (250mm x 4,6

mm x 5ul) Định lượng được thực hiện bằng dung dịch chuẩn của lactose ở khoảng nồng độ 0,5-1% g/100ml

2.4.2 Xác định Hàm lượng Protein

Protein được xác định bằng phương pháp Kjeldahl Trong sữa mẹ, khoảng 20-25% nitơ là nitơ phi protein (NPN) Vì lý do này, tổng nitơ protein thu được bằng cách trừ NPN khỏi tổng nitơ1 12 Các hợp chất nitơ phi protein bao gồm creatinine, urê, axit uric và nucleotide1 Trong phân tích, dung dịch axit Trichloroacetic (TCA) được sử dụng để kết tủa protein và loại bỏ nitơ phi protein Nitơ protein tổng số được chuyển đổi thành protein tổng số (đúng) theo hệ số 6,3813

2.4.3 Xác định hàm lượng lipid

Phần lipid được chiết xuất và xác định từ sữa mẹ theo khuyến nghị của Hiệp hội các nhà hóa học phân tích chính thức quốc tế (AOAC) Phương pháp chính thức 989.0514 với những sửa đổi nhỏ

2.4.4 Xác định hàm lượng năng lượng

Tổng năng lượng trong sữa mẹ được tính từ thành phần gần đúng của các chất dinh dưỡng đa lượng (carbohydrate, protein và chất béo) thông qua việc áp dụng các yếu tố chuyển đổi năng lượng Nghiên cứu đã thông qua hệ số chuyển đổi năng lượng do FAO công bố của Liên hợp quốc đối với sữa và các sản phẩm từ sữa Các yếu tố là; 3,87, 4,27 và 8,79 đối với carbohydrate, protein và chất béo tương ứng13 Các chất dinh dưỡng đa lượng (carbohydrate, protein và chất béo) được đo bằng gam trên 100 mL sữa

Trang 4

2.4.5 Xác định hàm lượng Retinol

Retinol được phân tích bằng HPLC bằng cách sửa đổi phương pháp của Zahar và Smith15 Máy sắc ký lỏng sê-ri Shimadzu 20 A được trang bị cột pha đảo ngược ODS bằng thép không gỉ (250 mm x 4,6 mm x 5 ul) được sử dụng để định lượng α retinol như các phép đo vitamin A Pha động là 95:5 metanol: nước, để tách ở tốc

độ dòng chảy 1 ml/phút và thể tích tiêm là 20ul Retinol được theo dõi ở bước sóng

325 nm trên máy dò UV-VIS (Shimadzu SPD 20 A) Các tiêu chuẩn bên ngoài được so sánh với chiết xuất mẫu để xác định nồng độ vitamin

2.4.6 Xác định hàm lượng khoáng chất

Việc xác định khoáng chất được thực hiện bằng phương pháp tro hóa khô và quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS), theo AOAC16 Trong nghiên cứu này, các khoáng chất được xác định là canxi, magiê, kẽm và sắt Các thùng chứa khoáng không chứa axit đã được rửa bằng axit được sử dụng để lưu trữ các mẫu Để xác định canxi, lantan clorua được sử dụng làm chất giải phóng Chuẩn bị các dung dịch chuẩn phù hợp, chuẩn bị các đường cong hiệu chuẩn và đo độ hấp thụ của chúng Nồng độ của các khoáng chất trong các mẫu được xác định bằng cách đọc

độ hấp thụ dựa trên các đường chuẩn được chuẩn bị từ các dung dịch gốc tiêu chuẩn của từng khoáng chất Các bước sóng phát hiện khoáng sản là; 422,7 nm, 285,2 nm, 248,3 nm và 213,9 nm đối với canxi, magiê, sắt và kẽm tương ứng

2.5 Phân tích thống kê

Phân tích thống kê được thực hiện bằng Gói thống kê cho khoa học xã hội (SPSS) phiên bản 24 cho windows Dữ liệu được trình bày dưới dạng phương tiện ± SD (độ lệch chuẩn) Thử nghiệm tính quy tắc được thực hiện bằng thử nghiệm Shapiro-Wilk Trường hợp dữ liệu được phân phối bình thường Kiểm tra t của sinh viên được sử dụng để kiểm tra sự khác biệt trung bình dựa trên giai đoạn cho con

bú Đối với dữ liệu sai lệch, bài kiểm tra Thứ hạng có chữ ký Wilcoxon đã được sử dụng Tần suất và tỷ lệ phần trăm được sử dụng cho các biến phân loại để mô tả dân số nghiên cứu Giá trị p nhỏ hơn 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê

2.6 cân nhắc đạo đức

Nghiên cứu đã nhận được sự chấp thuận về mặt đạo đức từ Ủy ban Đánh giá Đạo đức của Đại học Kenyatta (KUERC) Hơn nữa, nghiên cứu đã được phê duyệt bởi Hội đồng Khoa học, Công nghệ và Đổi mới Quốc gia Kenya (NACOSTI) Tất cả

Trang 5

những người tham gia cung cấp sự đồng ý bằng văn bản của họ để tham gia vào nghiên cứu

3 Kết quả

3.1 Đặc điểm của những người tham gia nghiên cứu

Tuổi trung bình của những người tham gia là 28,83 (± 6,47 SD) tuổi Đa số (76,0%) bà mẹ sinh ngã âm đạo và hầu hết (90,4%) bà mẹ sinh nhiều con Phần lớn các bà mẹ cho biết họ đã bắt đầu cho con bú trong vòng 1 giờ sau khi sinh Đáng chú ý, hơn một nửa (55,8%) số người tham gia có con trai Tất cả trẻ sơ sinh được

bú mẹ hoàn toàn Bảng 1 trình bày các đặc điểm của những người tham gia

Bảng 1 Đặc điểm đối tượng tham gia nghiên cứu

3.2 Thành phần dinh dưỡng sữa mẹ của các bà mẹ đang cho con bú

Khi cần thiết, trọng lượng riêng của sữa mẹ là 1,031 g/mL được sử dụng để chuyển đổi đơn vị12 Hồ sơ dinh dưỡng và năng lượng sữa của bà mẹ đang cho con bú được trình bày chi tiết trong Bảng 2 Các giá trị trung bình ở hai giai đoạn cho con

bú cũng được trình bày Xu hướng giảm đối với năng lượng và tất cả các chất dinh dưỡng khác đã được quan sát ngoại trừ vitamin A và sắt có xu hướng tăng Nghiên cứu tiếp tục quan sát thấy rằng nồng độ sữa trung bình ở hai giai đoạn cho con bú đối với protein, vitamin A và sắt là khác nhau đáng kể (giá trị p <0,05) Nồng độ trung bình của năng lượng và các chất dinh dưỡng được chọn khác không khác biệt đáng kể ở tháng đầu tiên và tháng thứ năm sau khi sinh giữa các bà mẹ

Bảng 2 Năng lượng và thành phần dinh dưỡng của sữa dành cho phụ

nữ đang cho con bú

Trang 6

Hình 1 dưới đây trình bày xu hướng sử dụng sữa mẹ của phụ nữ đang cho con bú

từ tháng thứ 1 đến tháng thứ 5 sau khi sinh

Hình 1 Phụ nữ đang cho con bú xu hướng sữa mẹ từ tháng thứ 1 đến tháng thứ 5 sau sinh

4 Thảo luận

4.1 Thành phần dinh dưỡng đa lượng và năng lượng

Sữa mẹ có nồng độ lactose cao hơn bất kỳ loại sữa nào khác phản ánh nhu cầu dinh dưỡng cao hơn cho con người17 Theo báo cáo của các nghiên cứu trước đây,

Trang 7

nghiên cứu này đã xác nhận rằng hàm lượng các chất dinh dưỡng đa lượng trong sữa mẹ có sự khác biệt lớn18 ,19 Theo Ballard et al.1 hàm lượng đường sữa trong sữa mẹ trưởng thành được ước tính nằm trong khoảng từ 6,7 đến 7,8 g/dL trong năm đầu tiên cho con bú

Nồng độ lactoza trung bình mà nghiên cứu này quan sát được (tháng thứ nhất - 6,9 g/dL và tháng thứ năm - 7,1 g/dL) phù hợp với phạm vi ước tính Kết quả của nghiên cứu này cũng tương đương với kết quả của các nghiên cứu khác Một nghiên cứu được thực hiện giữa các bà mẹ Hàn Quốc và một nghiên cứu khác được thực hiện giữa các bà mẹ Trung Quốc đã báo cáo nồng độ đường sữa trung bình là 7,1 g/dL18 ,20 Nồng độ của đường sữa mẹ được cho là ít thay đổi nhất và đã được báo cáo là thay đổi từ 6,3-8,1 g/100mL21 Phù hợp với nghiên cứu hiện tại, nồng

độ nồng độ lactose trong nghiên cứu này không khác biệt đáng kể trong hai giai đoạn cho con bú (tháng thứ 1- 6,94 g/100mL, tháng thứ 5- 7,08 g/100mL) được nghiên cứu tập trung

Protein sữa cung cấp hỗ trợ dinh dưỡng, miễn dịch và nội tiết tố cho trẻ đang lớn Hàm lượng protein của sữa trưởng thành quan sát được trong nghiên cứu này (tháng thứ nhất-1,0 g/dL và tháng thứ năm-0,9 g/dL) tương đương với hàm lượng của các bà mẹ Trung Quốc (0,9 g/100mL) và các bà mẹ Úc (1,0 g/100mL)20 ,22 Tuy nhiên, kết quả từ một nghiên cứu được thực hiện giữa các bà

mẹ Hàn Quốc cho thấy mức protein cao hơn (1,4 g/100mL) so với nghiên cứu này18 Sự khác biệt có thể là do không bao gồm các chất nitơ phi protein trong nghiên cứu hiện tại chiếm khoảng 25% tổng lượng nitơ Những chất nitơ phi protein này bao gồm urê, axit uric, axit amin, creatine, creatinine và nucleotide1 Nghiên cứu này cũng quan sát thấy sự khác biệt đáng kể về mức độ protein ở tháng thứ 1 và thứ 5 của thời kỳ cho con bú Điều này biểu thị rằng giai đoạn tiết sữa là một yếu tố dự báo hàm lượng protein trong sữa mẹ Các nghiên cứu khác cũng quan sát thấy sự giảm tương tự về hàm lượng protein khi quá trình tiết sữa diễn ra23 ,24

Hàm lượng chất béo trung bình trong sữa mẹ của những người tham gia nghiên cứu hiện tại (3,9 g/100ml trong tháng thứ nhất và 3,5 g/100ml trong tháng thứ 5 sau khi sinh) tương đương với kết quả của các nghiên cứu khác được thực hiện ở New Zealand (3,8 g/ 100mL), Trung Quốc (3,4 g/100mL), Nhật Bản (3,6 g/100mL), Ba Lan (3,5 g/100mL), Hàn Quốc (3,0 g/100mL) Pháp (3,5 g/100mL) và Hoa Kỳ (3,2 g/100mL) )18 ,20 ,25 ,26 ,27 ,28 ,29 Một số khác biệt tối thiểu giữa các phát hiện có thể liên quan đến sự khác biệt vốn có về phương pháp lấy sữa, thời gian lấy, thói quen ăn kiêng và điều kiện bảo quản Người ta báo cáo rằng chất béo là chất dinh dưỡng đa

Trang 8

lượng biến đổi nhất trong sữa mẹ Các yếu tố như thời điểm lấy sữa (sáng hay tối)

và loại sữa (sữa đầu hay sữa cuối), tần suất cho con bú và chế độ ăn của bà mẹ có thể gây ra sự thay đổi như vậy30 ,31

Hàm lượng năng lượng của sữa quan sát được trong nghiên cứu này là 66,4 kcal/100mL trong tháng đầu tiên và 63,2kcal/100mL trong tháng thứ năm sau khi sinh Hàm lượng năng lượng được báo cáo trong nghiên cứu hiện tại phù hợp với các giá trị được báo cáo bởi Bzikowska et al.26 người đã báo cáo giá trị năng lượng

là 65,9 kcal/100mL vào tháng đầu tiên và 61,2 kcal/100mL vào tháng thứ năm sau khi sinh Zielinska và cộng sự.32 đã báo cáo giá trị năng lượng là 69,5 kcal/100mL

ở tháng đầu tiên cho con bú Một nghiên cứu khác của Czosnykowska-Łukacka et

al.33 đã báo cáo mức năng lượng trung bình là 65,8 kcal/100mL ở những bà mẹ có con từ 1-12 tháng tuổi, điều này đồng ý với nghiên cứu này Trái ngược với những nghiên cứu này, năng lượng trung bình tương đối thấp hơn (56,7kcal/100mL) được quan sát bởi Abranches et al.34 trong nghiên cứu của họ Sự khác biệt có thể được giải thích là do sự thay đổi trong thành phần dinh dưỡng đa lượng của sữa Những người tham gia nghiên cứu đó có hàm lượng chất béo sữa thấp Hàm lượng chất béo trong sữa là yếu tố đóng góp chính vào hàm lượng năng lượng tổng thể của sữa35 ,36 Đáng chú ý là không có sự khác biệt đáng kể về năng lượng trung bình ở tháng thứ nhất và tháng thứ năm sau khi sinh Điều này cho thấy hàm lượng năng lượng của sữa mẹ từ 1-5 tháng sau khi sinh có thể không thay đổi tùy theo giai đoạn tiết sữa

4.2 Thành phần vi chất dinh dưỡng

Nồng độ trung bình của vitamin A quan sát được trong nghiên cứu hiện tại lần lượt

là 22,5 μg/100mL và 31,6 μg/100mL ở tháng đầu tiên và tháng thứ năm Có một sự khác biệt đáng kể về phương tiện ở hai giai đoạn cho con bú Điều này cho thấy giai đoạn tiết sữa là yếu tố quan trọng quyết định hàm lượng vitamin A trong sữa

mẹ Nồng độ trung bình từ nghiên cứu hiện tại thấp hơn hoặc cao hơn một chút so với nồng độ được báo cáo trong các nghiên cứu khác Một nghiên cứu được thực hiện giữa các bà mẹ ở Hàn Quốc đã báo cáo mức độ retinol trong sữa mẹ là 36,4 μg/100mL vào tháng thứ năm cho con bú, điều này phù hợp với nghiên cứu này37 Hai nghiên cứu khác ghi nhận nồng độ cao hơn một chút là 59,8 μg/100mL

và 57,1 μg/100mL38 ,39 Mức cao hơn đáng kể (81,5 μg/100mL) so với nghiên cứu này đã được báo cáo ở các bà mẹ Thổ Nhĩ Kỳ đang cho con bú40 Mặt khác, một nghiên cứu được thực hiện bởi Hailu et al.41 đã báo cáo giá trị trung bình thấp hơn

là 12,9 μg/100mL Sự khác biệt có thể là do sự khác biệt về khẩu phần ăn và tình

Trang 9

trạng dinh dưỡng giữa các quần thể hoặc do các yếu tố phương pháp, chẳng hạn như thời gian lấy sữa, giai đoạn tiết sữa và điều kiện bảo quản mẫu

Trung bình canxi trong sữa của các bà mẹ lần lượt là 28,6 mg/100mL và 27,4 mg/100mL ở tháng thứ nhất và tháng thứ năm Những phương tiện này có thể so sánh với phương tiện được báo cáo bởi các nghiên cứu khác từ các quần thể khác nhau Ví dụ, Butts et al.25 đã báo cáo mức trung bình là 27,5 mg/100mL, 29,1 mg/100mL và 30,9 mg/100mL ở ba nhóm dân tộc khác nhau của New Zealand Một nghiên cứu khác của Vítolo, et al.42 báo cáo nồng độ canxi trung bình

là 28,0 mg/100mL Hơn nữa, Kim et al.37 đã báo cáo nồng độ canxi trong sữa mẹ là 29,8 mg/100mL ở tháng đầu tiên cho con bú và 27,1 mg/100mL ở tháng thứ 5 cho con bú

Trung bình magie trong sữa mẹ của các bà mẹ đang cho con bú là 1,9 mg/100mL

và 1,5 mg/100mL ở hai giai đoạn cho con bú Các nghiên cứu khác đã báo cáo các giá trị tương đối giống nhau hoặc hơi khác nhau Mông và cộng sự.25 trong nghiên cứu của họ đã báo cáo giá trị trung bình là 3,08 mg/100mL, Mastroeni et al.43 báo cáo nồng độ trung bình là 2,9 mg/100mL trong khi Daniels et al.38 đã báo cáo mức trung bình là 3,0 mg/100mL trong sữa trưởng thành của các bà mẹ tham gia Ngoài

ra, một nghiên cứu được thực hiện giữa các bà mẹ Hàn Quốc đã ghi nhận nồng độ lần lượt là 2,9 mg/100mL và 3,0 mg/100mL ở tháng thứ nhất và tháng thứ năm.37 Sự khác biệt có thể là do phương pháp phân tích được sử dụng hoặc các yếu tố của người mẹ ảnh hưởng đến thành phần sữa Trong nghiên cứu hiện tại, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về phương tiện quan sát được trong nghiên cứu này dựa trên giai đoạn cho con bú của người mẹ

Nồng độ kẽm trong sữa mẹ có xu hướng giảm (tháng đầu tiên - 0,6 mg/100mL -1 và tháng thứ năm - 0,5 mg/100mL -1 ) Các xu hướng tương tự đã được quan sát thấy trong các nghiên cứu khác, trong đó ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê dựa trên các giai đoạn cho con bú.44 Một đánh giá có hệ thống của Yang et al.20 ủng hộ quan sát này và chỉ ra rằng nồng độ kẽm trong sữa mẹ giảm nhanh khi giai đoạn cho con bú tiến triển Hàm lượng kẽm tương đương, thấp hơn hoặc cao hơn một chút đã được quan sát thấy trong sữa mẹ trưởng thành của các bà mẹ đang cho con

bú từ Latvia (0,1 mg/100mL -1 ), Iran (0,1 mg/100mL), Indonesia (0,1 mg/100mL)

và Tehran (0,3 mg/ 100mL)3 38 ,45 ,46 Sự khác biệt có thể là do phương pháp phân tích được sử dụng, thời gian lấy mẫu (sáng-chiều-tối hoặc sữa trước-sữa sau), thói quen ăn uống và các yếu tố môi trường khác Đáng chú ý, kẽm rất cần thiết cho hoạt động bình thường của cơ thể, nếu thiếu kẽm có thể dẫn đến tình trạng chậm

Trang 10

phát triển và tăng trưởng ở trẻ em Tuy nhiên, khi dùng quá nhiều kim loại này có thể gây hại cho cơ thể47 ,48

Hàm lượng sắt trong sữa mẹ thường được đặc trưng là thấp Tuy nhiên, lượng sắt

do sữa mẹ cung cấp đủ để ngăn ngừa thiếu máu do thiếu sắt ít nhất trong 6 tháng đầu đời của trẻ Phân tích theo chiều dọc thành phần sữa trong nghiên cứu này cho thấy nồng độ sắt là 0,39 mg/L và 0,47 mg/L trong tháng đầu tiên và tháng thứ năm sau khi sinh Các nghiên cứu khác trước đây đã báo cáo các giá trị tương tự hoặc gần với nồng độ sắt trong sữa mẹ, dao động từ 0,2 đến 0,7 mg/L38 ,49 ,50 ,51 ,52 Sự khác biệt được báo cáo bởi các nghiên cứu này có thể là do sự khác biệt trong quy trình lấy mẫu, quy trình phân tích, sự khác biệt giữa các cá thể cũng như giai đoạn tiết sữa Hơn nữa, một sự khác biệt đã được tìm thấy trong nồng độ hàm lượng sắt trong sữa mẹ ở tháng đầu tiên và tháng thứ năm của thời kỳ cho con bú Một sự gia tăng đáng kể trong nồng độ đã được quan sát Tuy nhiên, phát hiện này không phù hợp với một nghiên cứu trước đó, trong đó nồng độ sắt trong sữa mẹ giảm đáng kể

trạng sắt của các bà mẹ tham gia nghiên cứu Một nghiên cứu gần đây đã báo cáo rằng tình trạng sắt của mẹ trong thời kỳ mang thai có thể ảnh hưởng đến lượng sắt trong thời kỳ cho con bú.53

5 Kết luận

Nghiên cứu này xác nhận rằng thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ có thể thay đổi

và thay đổi theo chiều dọc Do sự thay đổi về hàm lượng chất dinh dưỡng được quan sát thấy trong nghiên cứu này, việc thiết lập các yếu tố gây ra sự thay đổi của sữa mẹ trong thời kỳ cho con bú có thể giúp cải thiện chất lượng sữa mẹ cũng như

sự tăng trưởng và phát triển sau này của trẻ

Sự nhìn nhận

Các tác giả muốn cảm ơn các bà mẹ đã tham gia và tặng mẫu sữa của họ để nghiên cứu thành công

Ngày đăng: 30/12/2022, 21:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w