KIẾN THỨC VỀ THỰC PHẨM VÀ HÀNH VI ĂN KIÊNG CỦA HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Nghiên cứu này đã điều tra mức độ mà năng lực hiểu biết về thực phẩm của học sinh ban ngày ở trường trung học phổ.
Trang 1KIẾN THỨC VỀ THỰC PHẨM VÀ HÀNH VI ĂN KIÊNG CỦA HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Nghiên cứu này đã điều tra mức độ mà năng lực hiểu biết về thực phẩm của họcsinh ban ngày ở trường trung học phổ thông liên quan đến hành vi ăn kiêng của họ
ở Winneba Nghiên cứu sử dụng thiết kế khảo sát mô tả theo phương pháp địnhlượng Sử dụng các chiến lược lấy mẫu ngẫu nhiên có chủ đích và phân tầng, cỡmẫu gồm 404 học sinh bán trú đã được chọn cho nghiên cứu Một bảng câu hỏi cócấu trúc đã được sử dụng để thu thập dữ liệu được phân tích bằng cả thống kê mô
tả (tần suất, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn) và suy luận (kiểm tra
t, ANOVA, Tương quan thời điểm Pearson) Nghiên cứu cho thấy rằng nhìn chung,mặc dù học sinh ban ngày có kỹ năng hiểu biết về thực phẩm tốt, nhưng chúng thểhiện những năng lực khác nhau trong cấu trúc hiểu biết về thực phẩm, người taphát hiện ra rằng khả năng ăn uống (ăn hoặc lượng) chiếm ưu thế, tiếp theo là kỹnăng lựa chọn và chuẩn bị thực phẩm, lập kế hoạch và quản lý thực phẩm Nghiêncứu tiếp tục xác định rằng nhìn chung có một mối quan hệ tích cực vừa phải và có
ý nghĩa thống kê (r=0,660, p<0,05, 2-tailed) giữa hiểu biết về thực phẩm và hành
vi ăn uống của học sinh Bên cạnh đó, người ta thấy rằng các sinh viên thể hiệnhành vi ăn uống không phù hợp như tỷ lệ bỏ bữa nhiều hơn, đặc biệt là bữa sáng,
ăn vặt quá mức, ít ăn trái cây và rau quả, rất ít ăn đủ ba bữa mỗi ngày Ngoài ra,người ta thấy rằng trong khi độ tuổi và hình thức/lớp học/trình độ của học sinh ảnhhưởng đến mức độ hiểu biết về thực phẩm của họ, thì giới tính và loại trường theohọc không ảnh hưởng đến mức độ hiểu biết về thực phẩm của họ Dựa trên nhữngkết quả này,
1 Giới thiệu
Trên toàn cầu, có sự đồng thuận rằng sự giàu có của mọi quốc gia phụ thuộc vàosức khỏe của công dân Thật vậy, các tài liệu hiện có chứng minh rằng việc tiêu thụthực phẩm tốt và chất lượng có ảnh hưởng tích cực đến việc có được sức khỏe tốt,duy trì và phòng ngừa các bệnh mãn tính Các1 và2 đã chứng thực những khẳngđịnh này khi họ lập luận rằng ngoài việc cung cấp cho cơ thể chúng ta năng lượng
và các chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình trao đổi chất và sức khỏe sinh lý củamột cá nhân, thực phẩm còn chứa các chất dinh dưỡng thiết yếu để duy trì hoạtđộng của cơ thể chúng ta cũng như sự tăng trưởng và phát triển chung của một cánhân Có thể suy ra từ những quan điểm này rằng không thể nhấn mạnh quá mứclợi ích của việc tiêu thụ thực phẩm tốt đối với một cá nhân và quốc gia nóichung Do đó, tiêu thụ thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nên là ưu tiên hàng đầu củamỗi cá nhân
Trang 2Bất chấp những mối nguy hiểm liên quan đến hành vi ăn uống thiếu khoa học như
sự xuất hiện của bệnh tiểu đường loại 2 thừa cân và béo phì, bệnh tim mạch và gan,v.v., có dấu hiệu cho thấy những bệnh này đang phổ biến trên toàn thế giới Tổchức Y tế Thế giới (WHO)3 vào năm 2013 báo cáo rằng 2,7 triệu người chết do ăn
ít rau quả trong khi 2,6 triệu người chết do thừa cân hoặc béo phì Dựa theo4 , Cácbệnh không lây nhiễm bắt nguồn từ hành vi ăn uống thiếu chất đã góp phần gây ra37% tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân ở Nam Phi Ở Ghana, mặc dù không có sốliệu thống kê về các biến số này, nhưng một nghiên cứu gần đây của5 đặt tỷ lệ thừa
cân và béo phì ở thanh thiếu niên từ 4% đến 7% Bằng chứng sẵn có cho thấy rằng
hành vi ăn uống không phù hợp là nguyên nhân chính gây tử vong và bệnh tật, và
do đó, là mối đe dọa đối với sức khỏe chung của cá nhân
Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu nguyên nhân của hành vi ăn uống kém và khôngphù hợp ở thanh thiếu niên Trong nghiên cứu của họ,6 7 xác định rằng mặc dùthanh thiếu niên và thanh niên nói chung quan tâm đến sức khỏe và dinh dưỡngcủa họ, nhưng việc thiếu hiểu biết đầy đủ về thực phẩm và thiếu kiến thức dinhdưỡng đúng cách là kết quả của các lựa chọn thực phẩm và hành vi ăn kiêng khôngthể chấp nhận được của họ Một nghiên cứu của8 giải thích rằng hiểu biết về thựcphẩm liên quan đến việc thu thập bối cảnh liên quan đến nhau, phụ thuộc vào kiến thức, kỹ năng và hành vi Học giả này coi hiểu biết về thực phẩm là sức mạnh hoặcsức mạnh tập thể mang lại cho một người kiến thức để xác định, lập kế hoạch vàquyết định ăn gì trong một khoảng thời gian cùng với sự thay đổi hành vi có thể ởcấp độ cá nhân, hộ gia đình hoặc cộng đồng.8 kết luận rằng hiểu biết về thực phẩm
có vai trò đối với tình trạng dinh dưỡng, an ninh lương thực và trọng lượng cơ thểcũng như các bệnh mãn tính Về mặt logic, hiểu biết về thực phẩm hiệu quả hayphù hợp phụ thuộc vào năng lực trí tuệ nhạy bén về dinh dưỡng, thực hành có chủ
ý các hoạt động ăn kiêng lành mạnh để nhận ra sức khỏe tốt của một cá nhân
Trong việc học của anh ấy,9 hiểu biết về thực phẩm được khái niệm hóa như là khảnăng của một cá nhân để biết, muốn, làm, cảm nhận và quan tâm bằng cách thực
tế, phê phán và có ý thức ở cấp độ cá nhân liên quan đến thực phẩm và các bữa ăncùng với những người khác trong cuộc sống hàng ngày Cũng thế,10 đã củng cốniềm tin cho tuyên bố này khi họ giải thích rằng hiểu biết về thực phẩm là tổng hợpcác kiến thức, kỹ năng và hành vi có liên quan với nhau cần thiết để lập kế hoạch,quản lý, lựa chọn, chuẩn bị và ăn thực phẩm để đáp ứng nhu cầu và xác định lượngthức ăn tiêu thụ Để đạt được điều này,11 cũng chứng minh kiến thức về thực phẩmkhi cô ấy quan sát thấy rằng kiến thức về thực phẩm liên quan đến một tập hợp các
kỹ năng và thuộc tính của một cá nhân, điều quan trọng trong việc chuẩn bị một
Trang 3bữa ăn lành mạnh, ngon miệng và giá cả phải chăng cho họ với các nguồn lực xungquanh họ trong khi12 kết luận rằng hiểu biết về thực phẩm là mối tương quan liênquan đến thực phẩm và tầm quan trọng của nó đối với cuộc sống con người và khảnăng phê phán thái độ của một người đối với cách thức thực phẩm được đưa đếnsản phẩm cuối cùng và định hướng câu chuyện về mặt hàng thực phẩm Đặt cạnhnhững lời giải thích này, có thể suy ra rằng các tác giả đã công nhận kiến thức vềthực phẩm có trước cả kiến thức về dinh dưỡng; nó cũng bao gồm lòng nhiệt thành
và động lực của một cá nhân trong việc áp dụng thông tin dinh dưỡng vào việc lựachọn thực phẩm Tuy nhiên, những khẳng định này thừa nhận rằng hiểu biết vềthực phẩm phù hợp là động lực và trụ cột cho sự tăng trưởng lành mạnh và phúclợi chung của một người, và rằng sự tăng trưởng và phát triển lành mạnh của một
cá nhân sẽ là một ảo ảnh nếu kiến thức về thực phẩm tốt và bền vững không đượcđảm bảo
Tin chắc rằng hiểu biết về thực phẩm tốt là không thể thiếu và là thuốc chữa báchbệnh cho các bệnh mãn tính liên quan đến dinh dưỡng ngày càng tăng và sự lâu dàicủa cuộc sống nói chung, đặc biệt là ở thanh thiếu niên, một số nỗ lực đã được thựchiện ở cả quốc tế và quốc gia để thúc đẩy hiểu biết về thực phẩm Thật vậy, cácnghiên cứu về hiểu biết về thực phẩm đã có cơ sở trong những năm gần đây doniềm tin rằng nó ảnh hưởng đến hành vi ăn kiêng và lối sống lành mạnh ở thanhthiếu niên Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tồn tại để xác nhận tuyên bố rằng hiểubiết về thực phẩm ảnh hưởng đến tiêu dùng trong chế độ ăn uống13 , 10 Ví dụ,13
đã phát hiện ra mối liên hệ tích cực giữa hiểu biết về thực phẩm và tiêu dùng trongchế độ ăn uống Có thể hiểu rằng cuộc chiến chống lại tốc độ leo thang của cácbệnh liên quan đến chế độ ăn uống sẽ bị thất bại hoặc dự kiến sẽ bị thu hẹp lại khimọi người, đặc biệt là thanh thiếu niên, có biểu hiện hiểu biết về thực phẩm kém vàkhông phù hợp Trong quan sát của họ,7 kết luận rằng kiến thức về thực phẩm củathanh thiếu niên đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành chế độ ăn uốngcủa họ Tương tự, các nghiên cứu khác như của14 , 15 ủng hộ những phát hiện của cácnghiên cứu trước đó rằng hiểu biết về thực phẩm ảnh hưởng đến việc tiêu thụ chế
độ ăn uống của học sinh vị thành niên Kết quả của những nghiên cứu này cho thấyrằng hiểu biết về thực phẩm tốt giúp tăng cường tiêu thụ tốt trong chế độ ăn uốngtrong khi hiểu biết về thực phẩm kém sẽ kìm hãm việc tiêu thụ chế độ ăn uống củahọc sinh vị thành niên Tuy nhiên,16 đã thu thập bằng chứng thực nghiệm rằng việchiểu biết về thực phẩm không dự đoán được lựa chọn thực phẩm tốt Những kếtquả này không chỉ không thuyết phục mà còn không có bằng chứng thực nghiệm
Trang 4để hỗ trợ cho tuyên bố này hay cách khác ở Winneba Sự khan hiếm trong nghiêncứu này bắt buộc phải có nghiên cứu này.
Các khía cạnh của hiểu biết về thực phẩm luôn trong tình trạng thay đổi liên tụckhi các học giả và nhà nghiên cứu tranh luận về các thành phần thực sự của nó Ví
dụ, trong khi10 tiết lộ mười một (11) thành phần kiến thức về thực phẩm đã đượcrút gọn thành bốn cấu trúc chính là: Lập kế hoạch và quản lý, lựa chọn, chuẩn bị và
ăn uống,17 phân loại hiểu biết về thực phẩm theo ba cấu trúc chính là: kiến thức vềthực phẩm và dinh dưỡng, kỹ năng và năng lực thực phẩm Tuy nhiên, nghiên cứunày liên kết và cộng hưởng với các khía cạnh được đề xuất bởi các học giảnày10 , 17 nhóm theo ba thành phần chính Chúng bao gồm lập kế hoạch và quản lýthực phẩm, kỹ năng và chuẩn bị thực phẩm và sức chứa/ăn thực phẩm Những yếu
tố này đã được xem xét trong nghiên cứu này vì chúng liên quan tốt đến bối cảnhcủa Ghana và kết quả sẽ có ý nghĩa đối với hành vi ăn kiêng được cải thiện
Như được xác định bởi10 , lập kế hoạch và quản lý thực phẩm đề cập đến khả năngcủa một người trong việc ưu tiên tiền bạc và thời gian cho thực phẩm, lập kế hoạch
ăn uống sao cho thực phẩm có thể được tiếp cận thường xuyên thông qua một sốnguồn bất kể những thay đổi về hoàn cảnh hoặc môi trường Kỹ năng và sự chuẩn
bị thực phẩm phác họa khả năng của một cá nhân trong việc tiếp cận thực phẩmthông qua nhiều nguồn và lợi thế của những nguồn thực phẩm này Nó cũng đề cậpđến khả năng đánh giá chất lượng thực phẩm Ngoài ra, nó cũng giải thích khảnăng của một cá nhân trong việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản về vệ sinh và xử lýthực phẩm an toàn Dựa theo17 , sức chứa/ăn uống là khả năng của một cá nhânhiểu và nhận ra rằng thực phẩm có tác động đến sức khỏe cá nhân Nó dựa trên thái
độ tích cực đối với việc nấu nướng và ăn uống lành mạnh và cuối cùng, thể hiện sự
tự nhận thức về nhu cầu cân bằng lượng thức ăn của cá nhân Mặc dù10 , 17 thànhphần được xác định của hiểu biết về thực phẩm, họ cho rằng việc lập kế hoạch vàquản lý thực phẩm, kỹ năng và cách chuẩn bị thực phẩm cũng như khả năngchứa/ăn thực phẩm là những thành phần có thể che giấu được chứ không phải làcác loại vì các cá nhân có thể có cả ba mức độ khác nhau Do đó, mức độ hiểu biết
về thực phẩm của thanh thiếu niên là tổng ròng của các thành phần này
Do đó, điều quan trọng là các học viên phải kiên trì theo dõi hiểu biết về thựcphẩm, đặc biệt là ở thanh thiếu niên do lợi ích của nó và việc theo dõi có thể là xácđịnh bản chất, mối quan hệ với mức tiêu thụ thực phẩm và các yếu tố tác động đến
nó Các chuyên gia tin rằng việc cải thiện hiểu biết về thực phẩm ở thanh thiếuniên sẽ khiến họ cẩn thận hơn trong việc lựa chọn, chuẩn bị và tiêu thụ thực phẩm
và cuối cùng khiến họ được trang bị tốt hơn về chế độ ăn uống, đồng thời cải thiện
Trang 5kết quả sức khỏe liên quan đến chế độ ăn uống.18 Các tác giả khác cho rằng cáchọc viên cần ít dựa vào các quy tắc chính thức hơn trong việc nâng cao hiểu biết vềthực phẩm để đạt được các thực hành ăn kiêng mong muốn vì nhiều sinh viênkhông thực sự có thể áp dụng lý thuyết họ học trong lớp vào thực tế19 Để củng cốcho tuyên bố trên,19 đã xác định rằng mặc dù có kiến thức quan trọng về thựcphẩm, nhiều thanh thiếu niên cảm thấy khó khăn trong việc tuân theo các quy định
về ăn uống lành mạnh và thường tiêu thụ thực phẩm mà họ cho là không tốt chosức khỏe Các quan điểm trên ám chỉ rằng các chuyên gia không quyết đoán về cácchiến lược nâng cao hiểu biết về thực phẩm của thanh thiếu niên Do đó, nỗ lựcthúc đẩy hiểu biết về thực phẩm giữa những người có thể sử dụng các chiến lượckhác nhau dựa trên các nguyên tắc cá nhân
Các cuộc điều tra của các nhà nghiên cứu về mức độ hiểu biết về thực phẩm vàdinh dưỡng của thanh thiếu niên đã tạo ra những kết quả không nhất quán Ví
dụ,20 đã điều tra tình trạng hiểu biết về dinh dưỡng của học sinh vị thành niên ởQuận Kampala, Uganda và cho thấy mức độ hiểu biết về dinh dưỡng và thực phẩm
ở mức thấp và trung bình Trong nghiên cứu được thực hiện bởi21 về hiểu biết kiến thức về thực phẩm từ nhận thức của thanh niên Canada, người ta đã xác định rằngthanh niên Canada thiếu hiểu biết về thực phẩm cần thiết để đưa ra lựa chọn thựcphẩm lành mạnh Kết quả tiếp tục tiết lộ rằng tồn tại những nút thắt cổ chai đáng
kể liên quan đến việc tiếp thu và sử dụng kiến thức về thực phẩm, điều này dườngnhư ảnh hưởng đến lựa chọn thực phẩm, sức khỏe và hạnh phúc Các kết luận rút
ra từ những nghiên cứu này chỉ ra rằng một số mức độ hiểu biết về thực phẩm làđiều cần thiết cho sự lựa chọn thực phẩm lành mạnh và mong muốn Tuy nhiên,không có bằng chứng thực nghiệm nào tồn tại ở Khu đô thị Effutu để hỗ trợ chokết luận này Theo đó, các nghiên cứu được yêu cầu để xác định mức độ hiểu biết
về thực phẩm và mối quan hệ của nó với hành vi ăn kiêng ở Thành phố Effutu.Bên cạnh kiến thức về thực phẩm, các học giả đã nhận thấy rằng thói quen ănkiêng của thanh thiếu niên là rất quan trọng và có thể gây ra những hậu quả đáng
kể vì những thói quen này được mang đến tuổi trưởng thành và rất khó thayđổi.22 Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm tồn tại để xác nhận thực tếrằng thói quen ăn kiêng của thanh thiếu niên là một vấn đề đáng lo ngại khiVí dụ,
23 đã quan sát thấy rằng chế độ ăn uống của thanh thiếu niên thường là đồ ăn nhẹ,những loại khác thường chứa nhiều chất béo và đường và hầu hết là ít carbohydratechưa tinh chế, thực phẩm từ sữa, trái cây và rau quả Phù hợp với quan sát này,24 đãchỉ ra rằng thói quen ăn kiêng của thanh thiếu niên đặc biệt là ở các nước đang phát
Trang 6triển bao gồm chế độ ăn chủ yếu là tinh bột với ít hoặc không có sản phẩm độngvật và nhiều chất béo và đường thường không đủ so với hướng dẫn quốc gia.
Bỏ bữa, đặc biệt là bữa sáng, được coi là bữa ăn quan trọng nhất trong ngày25 , 26 ,tiết lộ rằng 47,7% và 25,2% học sinh vị thành niên bỏ bữa sáng và bữa trưa Mốiquan tâm này được hỗ trợ bởi27 người phát hiện ra rằng 52% học sinh bỏ bữasáng Tương tự,28 tiết lộ rằng sáu mươi mốt phần trăm (61%) học sinh vị thành niên
bỏ bữa trong ngày Các bữa ăn đôi khi bị bỏ qua bao gồm bữa sáng (59%), bữa trưa(34%) và bữa tối (10%) Ở Ghana,29 trong nghiên cứu của họ về kiến thức củathanh thiếu niên về các bệnh mãn tính liên quan đến chế độ ăn uống và thực hành
ăn kiêng đã phát hiện ra rằng, 41,8% thanh thiếu niên tham gia nghiên cứu đã bỏbữa sáng Các nghiên cứu về số bữa ăn của thanh thiếu niên đã thu hút sự chú ýcủa các chuyên gia dinh dưỡng và các nhà nghiên cứu khác Trong một nghiên cứu
về thói quen ăn uống của thanh thiếu niên ở Koforidua, Ghana,30 phát hiện 53%thanh thiếu niên ăn ba lần một ngày
Trong một nghiên cứu tương tự,31 trong nghiên cứu về kiến thức dinh dưỡng, môhình bữa ăn và tình trạng dinh dưỡng của những người sử dụng nước tăng lực tạiĐại học Ghana, cho thấy phần lớn những người được hỏi (72%) ăn ba lần mộtngày và một số ít ăn bốn lần một ngày Những học giả này31 đã phát hiện ra trongnghiên cứu của họ rằng 87% số người được hỏi ăn ba lần trở lên trong mộtngày Lần nữa,32 , 33 đã phát hiện ra trong nghiên cứu của họ rằng 83% và 84% sốngười được hỏi ăn ba lần một ngày tương ứng Dựa theo34 , ăn ba bữa một ngàycung cấp cho cơ thể năng lượng và chất dinh dưỡng thiết yếu, đồng thời giúp conngười tập trung và ít cáu kỉnh hơn Các học giả như35tin rằng việc chia đều các bữa
ăn trong ngày giúp tiêu hóa và hấp thu hiệu quả, đồng thời duy trì lượng đườngtrong máu ổn định Thường xuyên bỏ bữa đã được báo cáo là có liên quan đến tìnhtrạng dinh dưỡng kém hơn và nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tiểu đường và một sốbệnh ung thư Mặc dù các tài liệu hiện có đã thảo luận rất nhiều về thói quen ănkiêng của thanh thiếu niên ở những nơi khác, nhưng có vẻ như chưa có nhiều điềuđược thực hiện ở Winneba Sự thiếu hụt kiến thức này cần phải được giải quyết bởi
vì trước những lời kêu gọi thúc đẩy thực hành chế độ ăn uống lành mạnh ở thanhthiếu niên, cần có các nghiên cứu trong các môi trường cụ thể để khám phá thóiquen ăn uống thực sự của thanh thiếu niên liên quan đến mức độ hiểu biết về thựcphẩm của họ Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết về mối tươngquan tích cực đáng kể giữa thành phần hiểu biết về thực phẩm (kỹ năng nấu ăn, kỹnăng ăn uống,36 , 37 , 15 Có lẽ, mức độ hiểu biết về thực phẩm của thanh thiếu niên làmột yếu tố quyết định quan trọng đối với hành vi ăn kiêng Vì vậy, tiêu thụ chế độ
Trang 7ăn uống lành mạnh có thể được tăng lên một cách gián tiếp bằng cách áp dụng vàthúc đẩy hiểu biết về thực phẩm.
Các nhà nghiên cứu đã khám phá tác động của các biến số nhân khẩu học của sinhviên và cách chúng tác động đến kiến thức về thực phẩm của họ Do đó, các nghiêncứu đã tiết lộ rằng giới tính, tuổi tác, cấp lớp và loại trường theo học là những biến
số đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu trước đây trong việc xác định tácđộng của chúng đối với hiểu biết về thực phẩm Trong nghiên cứu của họ36 pháthiện ra rằng hiểu biết về thực phẩm bị ảnh hưởng đáng kể bởi giới tính, tuổi tác vàtrình độ học vấn Ví dụ, các tác giả này đã tiết lộ trong nghiên cứu của họ rằng phụ
nữ hiểu biết về thực phẩm nhiều hơn so với đồng nghiệp nam của họ Ngoài ra, nó
đã được tiết lộ rằng kiến thức về thực phẩm tăng lên khi tuổi ngày càngtăng Tương tự như vậy, nó đã được tiết lộ rằng hiểu biết về thực phẩm tăng lêncùng với sự gia tăng trình độ học vấn của một cá nhân Xuất phát từ những pháthiện của36 ,38 , cho thấy không có mối liên hệ nào giữa tuổi tác và các đặc điểmnhân khẩu học khác cũng như kiến thức về dinh dưỡng và thực phẩm của họ Dựatrên những kết quả mâu thuẫn này, nghiên cứu này đã điều tra ảnh hưởng của tuổitác, giới tính, cấp lớp, loại trường mà thanh thiếu niên theo học đối với kiến thức
về thực phẩm của họ
Như đã tiết lộ rằng hiểu biết về thực phẩm tốt cho phép thanh thiếu niên thực hiệncác thực hành ăn kiêng lành mạnh, điều này luôn dẫn đến hành vi ăn kiêng đượccải thiện Bằng chứng sẵn có cho thấy Ghana đang vật lộn với những thách thức vềkiến thức ăn uống của thanh thiếu niên, do đó, 52,2% bị còi cọc và 46,2% bị thiếucân39 , 40 , 41 Do đó, các nhà nghiên cứu36 , 42 than thở rằng có sự suy giảm hiểu biết vềthực phẩm và dinh dưỡng cũng như hành vi ăn kiêng, đặc biệt là ở thanh thiếu niêntrên toàn cầu Các học giả này đưa ra lý do cho xu hướng này là hành vi ăn kiêngkém là kết quả của việc hiểu biết về thực phẩm kém Do đó, điều thích hợp là mức
độ hiểu biết về thực phẩm ở thanh thiếu niên và mức độ mà nó thúc đẩy hành vi ănkiêng của họ liên tục được nghiên cứu Nghiên cứu này tập trung vào việc xác địnhmối quan hệ giữa hiểu biết về thực phẩm và hành vi ăn kiêng của học sinh TrườngTrung học Phổ thông Day ở Winneba
Các câu hỏi nghiên cứu sau đây đã hướng dẫn nghiên cứu:
1 Mức độ hiểu biết về thực phẩm của học sinh Trường Trung học Phổ thông Banngày ở Winneba là gì?
2 Các hành vi ăn kiêng của học sinh Trường Trung học Phổ thông Day ở Winneba
là gì?
Trang 83 Mối quan hệ giữa hiểu biết về thực phẩm và hành vi ăn kiêng của học sinhTrường Trung học Phổ thông Ban ngày ở Winneba là gì?
Nghiên cứu cũng đã thử nghiệm những giả thuyết sau:
H 01 : Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hiểu biết về thực phẩm của họcsinh trung học phổ thông nam và nữ ở Winneba
H O2: Tuổi tác sẽ không ảnh hưởng đáng kể về mặt thống kê đến mức độ hiểu biết
về thực phẩm của học sinh Trường Trung học Phổ thông Day ở Winneba
H O3 : Lớp/Cấp độ sẽ không ảnh hưởng đáng kể về mặt thống kê đến mức độ hiểubiết về thực phẩm của học sinh Trung học Phổ thông ban ngày ở Winneba
H O4 : Loại trường mà học sinh Trung học phổ thông theo học ban ngày sẽ khôngảnh hưởng đáng kể về mặt thống kê đến mức độ hiểu biết về thực phẩm ởWinneba
Người ta dự đoán rằng kết quả của nghiên cứu sẽ thông báo cho các bên liên quannhư Bộ Giáo dục và Dịch vụ Giáo dục Ghana thông qua Ban Giám đốc Giáo dụcThành phố Winneba về tình trạng hiểu biết về thực phẩm ở thanh thiếu niên vàmức độ ảnh hưởng của những thực hành đó đến hành vi ăn kiêng của thanh thiếuniên Nhận thức này sẽ khiến các bên liên quan này xác định và thiết kế các chiếnlược hiệu quả có thể được sử dụng để nâng cao kiến thức về thực phẩm phù hợpcủa học sinh nhằm đạt được kết quả ăn kiêng mong muốn Nhà nghiên cứu hyvọng rằng những phát hiện của nghiên cứu sẽ mang lại lợi ích cho sinh viên tronghành vi ăn kiêng của họ thông qua việc cải thiện thực hành ăn kiêng và hiểu biết vềthực phẩm
2 Phương pháp luận
Một thiết kế khảo sát mô tả bằng cách sử dụng phương pháp định lượng đã được sửdụng trong quá trình tiến hành nghiên cứu Thiết kế này tập trung vào và mô tả mộthiện tượng43 Cơ sở lý luận cho việc lựa chọn thiết kế khảo sát mô tả dựa trên niềm
tin rằng nó cho phép các nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu liên quan đến ý kiến củanhững người tham gia về một chủ đề cụ thể và nó được sử dụng để điều tra sự tồntại của mối quan hệ giữa các biến.44 Tương tự, cách tiếp cận định lượng được xemxét dựa trên lý do liên quan đến phân tích thống kê và dựa vào bằng chứng số đểkiểm tra mối quan hệ giữa các biến45, từ đó chứng minh mục đích của nghiêncứu Đối tượng mục tiêu của nghiên cứu này bao gồm học sinh cả ngày từ mộttrường Trung học Phổ thông công lập và hai trường tư thục ở Winneba vì nhóm
Trang 9học sinh này tự chuẩn bị thức ăn cho mình không giống như học sinh nội trú đượccho ăn theo thực đơn chuẩn bị sẵn Ngoài ra, những phát hiện này sẽ có ý nghĩa đốivới thực hành và biện pháp khắc phục cần thiết được thực hiện để tạo ra hành vi ănuống tốt cho học sinh bán trú Hai trường tư thục lần lượt có 445 học sinh bán trú(215 & 230) trong khi tổng số 604 học sinh bán trú là học sinh của trườngcông Nói chung, 1049 học sinh bán trú ở các trường trung học phổ thông công lập
và tư thục bao gồm dân số của nghiên cứu Trong tất cả các, cỡ mẫu gồm 415 họcsinh Trung học phổ thông đại diện cho 39% dân số mục tiêu được lấy mẫu thôngqua kỹ thuật lấy mẫu nhiều giai đoạn trong đó các kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên đơngiản và phân tầng dựa trên tỷ lệ của chúng so với dân số mục tiêu Theo đề xuấtcủa46 , ít nhất 10% đến 30% dân số mục tiêu được coi là đại diện trong các cuộcđiều tra là đại diện trong các nghiên cứu định lượng
Bảng câu hỏi có cấu trúc về Kiến thức Thực phẩm (FL) được điều chỉnh từ47 vàBảng câu hỏi tần suất thực phẩm (FFQ) là những công cụ chính được sử dụng đểthu thập dữ liệu Việc lựa chọn công cụ thu thập dữ liệu này bị ảnh hưởng bởi cácyếu tố như bản chất của vấn đề và sự sẵn có về thời gian và tiền bạc48 cộng vớithực tế rằng nó có lẽ là công cụ nghiên cứu phổ biến nhất được hiểu tương đối rõ
và có ưu điểm là đơn giản, linh hoạt và chi phí thấp49 Bên cạnh đó, phương phápđịnh lượng được áp dụng cho nghiên cứu yêu cầu thu thập dữ liệu định lượng sẽgiúp xác định mối quan hệ giữa kiến thức về thực phẩm của học sinh và hành vi ănkiêng của họ Bảng câu hỏi được tạo thành từ ba phần Phần Một thu thập thông tinnhân khẩu học của người trả lời như giới tính, tuổi, lớp/cấp độ và loại trường học
đã theo học Phần Hai có các mục về hiểu biết về thực phẩm của thanh thiếuniên' Bảng câu hỏi yêu cầu thanh thiếu niên đánh giá các thực hành hiểu biết vềthực phẩm của họ được đo trên thang đo loại Likert 5 điểm sao cho 1=Không baogiờ, 2=Hiếm khi, 3=Thỉnh thoảng, 4=Thường xuyên và 5=Luôn luôn Phần Ba thuthập dữ liệu về tần suất thực phẩm yêu cầu thanh thiếu niên chỉ khoanh tròn mộtlựa chọn để phản ánh nhận thức về hành vi ăn kiêng của họ
Để kiểm tra độ tin cậy của công cụ, một bài kiểm tra trước đã được tiến hành vớicác học sinh ban ngày của trường trung học phổ thông Potsin TI Alhamadiya ởquận Gomoa East, những học sinh này có chung đặc điểm với những học sinh đó ởWinneba Theo cách tiếp cận này, bảng câu hỏi được gửi cho những người thamgia nghiên cứu thí điểm một lần và hệ số tương quan giữa các mục được tính toánbằng Cronbach alpha để xác định độ tin cậy Hệ số Cronbach alpha cho thành phầnkiến thức về thực phẩm là 0,78 đối với lập kế hoạch và quản lý thực phẩm, 0,77đối với kỹ năng lựa chọn và chuẩn bị thực phẩm, 0,76 đối với khả năng cung cấp
Trang 10thực phẩm (ăn hoặc tiêu thụ) cũng như 0,79 đối với kiến thức tổng thể về thựcphẩm Cấu trúc hành vi ăn kiêng mang lại hệ số Cronbach alpha là 0,81.43 lập luậnrằng hệ số Cronbach alpha ít nhất phải là 0,70 để biểu thị tính nhất quán bêntrong Dựa trên quan điểm này, có thể thấy rằng bảng câu hỏi là đáng tin cậy Xácthực khuôn mặt và nội dung cũng được kiểm tra khi công cụ được trao cho cácthành viên Khoa và Giáo sư về Thực phẩm và Dinh dưỡng Các đề xuất liên quanđến lỗi ngữ pháp, lỗi đánh máy và sự mơ hồ cũng như lời khuyên của chuyên giađều được đưa vào để định hình lại công cụ.
Các câu trả lời từ bảng câu hỏi đã được mã hóa và nhập vào Phiên bản 22 của Sảnphẩm Thống kê cho Giải pháp Dịch vụ (SPSS) Các số liệu thống kê mô tả như tầnsuất và tỷ lệ phần trăm được sử dụng để phân tích dữ liệu nhân khẩu học trong khicác công cụ thống kê trung bình và độ lệch chuẩn và suy luận như Tương quan thờiđiểm Pearson, kiểm tra t mẫu độc lập và phân tích phương sai một chiều giữa cácnhóm (ANOVA) được sử dụng để trả lời các câu hỏi nghiên cứu và các giả thuyếtđặt ra Cuối cùng, trong nghiên cứu này, các vấn đề đạo đức như ẩn danh, bảo mật
và sự đồng ý có hiểu biết đều được đảm bảo
3 Kết quả và thảo luận
Trong tổng số bốn trăm mười lăm (415) câu hỏi được quản lý, bốn trăm linh bốn(404) đã tham gia vào quá trình phân tích với tỷ lệ phản hồi là 97% Tỷ lệ phản hồinày đạt được là do một số người trả lời không điền vào bảng câu hỏi của họ trongkhi những bảng câu hỏi khác chứa rất nhiều thông tin còn thiếu Tuy nhiên, tỷ lệphản hồi này được coi là phù hợp dựa trên khuyến nghị của50 rằng tỷ lệ phản hồi70% là đủ trong một cuộc khảo sát Các đặc điểm nhân khẩu học của người trả lờiđược trình bày trong Bảng 1
Như đã chỉ ra trong Bảng 1, nhiều sinh viên nữ (n=243, 60,1%) tham gia vàonghiên cứu hơn so với sinh viên nam (n=161, 39,9%) Thông tin cho thấy thêmrằng số học sinh ở SHS 1 (n=185, 45,8%) nhiều hơn so với học sinh ở SHS 3(n=111, 27,5%), trong khi phần còn lại là học sinh ở SHS 2 (n=108, 26,7 %) Về
độ tuổi, kết quả cho thấy hơn một nửa số học sinh tham gia nghiên cứu ở độ tuổi16-19 (n=312, 77,2%) so với những học sinh từ 12-15 tuổi (n=52, 12,9%) cũngnhư những người từ 19 tuổi trở lên (n=40, 9,9%) Sự phân bổ học sinh dựa trên loạitrường theo học cho thấy học sinh trường công lập (n=203, 50,2%) nhiều hơn họcsinh trường tư thục (n=201, 49,8%) Sự phân bố nhân khẩu học của các sinh viênrất quan trọng đối với nghiên cứu vì họ tiết lộ rằng dữ liệu được thu thập từ cácsinh viên có nguồn gốc đa dạng, do đó làm cho dữ liệu trở nên phong phú và không
Trang 11có sai lệch Bên cạnh đó, các yếu tố nhân khẩu học như giới tính, trình độ, độ tuổi
và loại trường học của học sinh đã hỗ trợ xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu
tố này đến kiến thức về thực phẩm và hành vi ăn kiêng của học sinh để đưa ra câutrả lời cho các giả thuyết của nghiên cứu
3.1 Mức độ hiểu biết về thực phẩm của học sinh trung học phổ thông ban ngày ở Winneba là gì?
Câu hỏi nghiên cứu này đã điều tra mức độ hiểu biết về thực phẩm của học sinhban ngày tại các trường trung học phổ thông ở Winneba Trong nghiên cứu này,kiến thức về thực phẩm có thể thay đổi bao gồm ba cấu trúc chính là: kiến thức vềlập kế hoạch và quản lý thực phẩm, kỹ năng lựa chọn và chuẩn bị thực phẩm cũngnhư khả năng cung cấp thực phẩm (ăn hoặc tiêu thụ) Khi xác định mức độ hiểubiết về thực phẩm của học sinh, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn được tính toán
để xác định mức độ biết đọc biết viết, chẳng hạn như giá trị trung bình <2,50 chobiết mức độ biết đọc biết viết thấp, 2,50≥trung bình<3,50 cho biết mức độ biết đọcbiết viết trung bình và giá trị trung bình ≥3,50 cho biết mức độ biết đọc biết viếttốt Mức độ hiểu biết chung về thực phẩm được thể hiện trong Bảng 2
Bảng 1 Thông tin nhân khẩu học của sinh viên
Bảng 2: Thống kê mô tả về mức độ hiểu biết về thực phẩm