Sau khi thành đạo, Đức Thể Tôn đã vận dụng phương tiện để dẫn dắt chúng sanh đến với con đường giác ngộ theo từng cấp độ tùy thuận.Và truyền bá là đi thẳng vào phương pháp, những lời dậy của Dức Phật được gọi là Kinh, bởi hai lý do: Hợp lý và hợp cơ. Một chân lý dù cao siêu đến mấy, nếu không ứng dụng được vào cuộc đời, chơn lý ấy trở thành không nền tảng, chỉ lơ lửng trên không trung. Chơn lý không áp dụng được cho người sẽ là vô nghĩa. Lời phật dậy đúng chơn lý gọi là hợp lý. Song lời dậy ấy cũng phù hợp căn cơ, trình độ của con người thì họ mới ứng dụng được. Trong vô vàn những pháp môn ấy, bốn đề mục quán niệm là một trong những phương pháp tu tập được Thế Tôn thuyết giảng đầu tiên, vì phương pháp tu tập này là phần quan trọng then chốt trong giáo lý Tứ Diệu Đế. Đây là một trong những phương pháp quan trọng mà Đức Phật đã nhấn mạnh, được thể hiện rất rõ qua Kinh Trường Bộ, Kinh Trung Bộ và Kinh Tương Ưng Bộ1. Phương pháp quán chiếu này được nói rõ trong Kinh Đại Niệm Xứ thuộc Trường Bộ Kinh và Đức Phật từng nói rằng, pháp này có thể đưa đến Niết Bàn. Qua Nikāya, Đức Phật dạy chư Tỳkheo tại xứ Kuru ở Kammassadhamma rằng: An trú vào Tứ niệm xứ là con đường duy nhất đưa đến thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết Bàn. Bốn để mục quán niệm này quan trọng với tất cả những hành giả đang bước trên lộ trình tu tập giải thoát tâm linh như vậy nên giáo thọ sư đã chọn đề tài: Chứng minh Tứ niệm xứ là phương pháp hành trì duy nhất đưa đến thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết Bàn cho học viên nghiên cứu để làm bài thu hoạch giữa kỳ môn Kinh Trường Bộ.
Trang 1PHẦN I DẪN NHẬP 1
PHẦN II NỘI DUNG 2
I KHÁI QUÁT TỨ NIỆM XỨ 2
1.1 Định nghĩa Tứ Niệm Xứ 2
1.2 Nội dung Tứ Niệm Xứ 3
1.2.1 Quán thân trên thân 3
1.2.2 Quán thọ trên cảm thọ 4
1.2.3 Quán tâm trên tâm 5
1.2.4 Quán pháp trên pháp 6
1.3 Tầm quan trọng của Tứ Niệm Xứ 8
2 KHÁI QUÁT NIẾT BÀN 9
3 KHÁI QUÁT VỀ THIỀN 9
3.1 Định nghĩa thiền 10
3.2 5 loại thiền 11
3.3 5 Giai Đoạn Tịnh Quán Phát Triển 16 Tuệ Giải Thoát 12
II ĐỨC PHẬT DẠY TỨ NIỆM XỨ LÀ PHƯƠNG PHÁP HÀNH TRÌ DUY NHẤT ĐƯA ĐẾN THÀNH TỰU CHÁNH TRÍ, CHỨNG NGỘ NIẾT BÀN 13 2.1 Bát chánh đạo - con đường đi đến niết bàn 14
2.1 Mối liên hệ giữa Tứ Niệm Xứ và giáo lý Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế 14 2.2 Tứ Niệm Xứ là phương pháp hành trì duy nhất đưa đến thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết Bàn 15
III PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH TỨ NIỆM XỨ 16
3.1 Tu tập Quán thân trên thân 17
3.2 Tu tập Quán thọ trên thọ 19
3.3 Tu tập Quán tâm trên tâm 19
3.4 Tu tập Quán Pháp trên pháp 20
PHẦN III TỔNG KẾT 22
PHẦN IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 2PHẦN I DẪN NHẬP
Đạo Phật có mặt ở thế giới này đã trên hai mươi lăm thế kỷ, sự truyền bá này quả thật lâu dài Sở dĩ được như thế, do Phật giáo là chơn lý không lý thuyết nào bẻ gẫy được, người học và tu hành theo phật giáo được kết quả lợi ích thiết thực không nghi ngờ, phương pháp truyền bá của đạo Phật rất linh động Và bản thân con cũng trọng ơn vì đã hữu duyên hữu phước được biết và được học Phật học
Đứng về hành động, đạo Phật là con đường đưa người trở về cố hương giác ngộ - Niết Bàn Và thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết Bàn là mục đích tu hành của hành giả tu theo Phật giáo Với hoài bão đạt được mục đích ấy, chúng ta có bao nhiêu con đường, bao nhiêu phương pháp hành trì được vạch ra và luôn luôn trăn trở tìm cho mình một lộ trình, một phương pháp hành trì đúng đắn nhất
Phần lý thuyết của đạo Phật rất phong phú, nói chung là Tam tạng giáo điển, gồm Tạng Kinh, Tạng Luật và Tạng Luận
Mục đích của đạo Phật không phải là giúp cho con người đạt được cái hạnh phúc an lạc tạm bợ mà đó là chấm dứt khổ đau, thành tựu chánh trí, chứng ngộ niết bàn Nếu chỉ nhắm mục đích tu hành để được hạnh phúc an lạc thì có vô số pháp môn
tu Ngoại đạo cũng có cách tu thể đạt đến an lạc Nhưng đó không phải là mục tiêu
tu hành của đạo Phật, bởi đó vẫn chỉ là một hạnh phúc tạm bợ không hơn gì các hạnh phúc thế gian Còn khi hữu duyên phước mới được gội nhuần Chánh pháp nên bản thân con tự nhắc mình lỗ lực tiến tu Có thưởng thức được pháp vị rồi, chúng ta mới tùy duyên lợi ích kẻ sau
Đức Thế Tôn từng tuyên bố rằng: "Trước đây và hiện nay, ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ" Mà muốn chấm dứt khổ thì hành giả cần hiểu biết tường tận về
4 sự thật của Tứ thánh đế như đức Phật đã dạy: "Này chư tỳ kheo, từ xưa tới nay ta
và các ngươi không ra khỏi khổ bởi không hiểu rõ đầy đủ Tứ Thánh đế"
Sau khi thành đạo, Đức Thể Tôn đã vận dụng phương tiện để dẫn dắt chúng sanh đến với con đường giác ngộ theo từng cấp độ tùy thuận.Và truyền bá là đi thẳng vào phương pháp, những lời dậy của Dức Phật được gọi là Kinh, bởi hai lý do: Hợp
lý và hợp cơ Một chân lý dù cao siêu đến mấy, nếu không ứng dụng được vào cuộc đời, chơn lý ấy trở thành không nền tảng, chỉ lơ lửng trên không trung Chơn lý không
áp dụng được cho người sẽ là vô nghĩa Lời phật dậy đúng chơn lý gọi là hợp lý Song lời dậy ấy cũng phù hợp căn cơ, trình độ của con người thì họ mới ứng dụng được
Trong vô vàn những pháp môn ấy, bốn đề mục quán niệm là một trong những phương pháp tu tập được Thế Tôn thuyết giảng đầu tiên, vì phương pháp tu tập này
là phần quan trọng then chốt trong giáo lý Tứ Diệu Đế Đây là một trong những phương pháp quan trọng mà Đức Phật đã nhấn mạnh, được thể hiện rất rõ qua Kinh
Trang 3Trường Bộ, Kinh Trung Bộ và Kinh Tương Ưng Bộ1 Phương pháp quán chiếu này được nói rõ trong Kinh Đại Niệm Xứ thuộc Trường Bộ Kinh và Đức Phật từng nói rằng, pháp này có thể đưa đến Niết Bàn Qua Nikāya, Đức Phật dạy chư Tỳ-kheo tại
xứ Kuru ở Kammassa-dhamma rằng: "An trú vào Tứ niệm xứ là con đường duy nhất đưa đến thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết Bàn"
Bốn để mục quán niệm này quan trọng với tất cả những hành giả đang bước
trên lộ trình tu tập giải thoát tâm linh như vậy nên giáo thọ sư đã chọn đề tài: "Chứng
minh Tứ niệm xứ là phương pháp hành trì duy nhất đưa đến thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết Bàn" cho học viên nghiên cứu để làm bài thu hoạch giữa kỳ môn
Kinh Trường Bộ
Với sự hiểu biết thiển cận của một cư sỹ tại gia, còn vướng bận công việc và gia đình, trình độ kiến thức của con còn thấp, công phu tu tập quán niệm của con còn rất yếu kém bài viết của con sẽ có rất nhiều điều thiếu xót, nông cạn Con cầu mong giáo thọ sư và các Quý thầy cô, các anh chị bạn đồng học góp ý giúp con để con được hoàn thiện hơn trong những bài viết sau ạ
PHẦN II NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT TỨ NIỆM XỨ
1.1 Định nghĩa Tứ Niệm Xứ
Tứ Niệm Xứ trong tiếng Pali là Cattaro Satipatthana Cattaro: Bốn; Sati: Niệm, tức sự nhớ, biết, không bỏ quên đối tượng; Patthana: Xứ, tức nơi trú, nơi ngụ Patthana là hình thức rút ngắn của Upatthana nghĩa là để tâm mình gần lại (với đối tượng) Đây là một trong những phương pháp tu Thiền của Phật Giáo
Giáo lý Phật giáo khẳng định rằng: Muốn thấu triệt một sự vật hiện tượng nào, nhất thiết phải dùng phương pháp quán niệm Không có quán niệm thì không thể đánh giá được sự vật chân thật, khách quan được Quán là dùng trí tuệ để tư duy, soi rọi và phân tích đối tượng, để thấu triệt được bản chất sự vật Niệm được hiểu một cách đơn giản là nhớ nghĩ đến đối tượng để thực hiện một quá trình quán sát, tư duy
Ở giai đoạn sơ khởi thì niệm là tiền đề cho quán Nếu không có niệm thì quán không thể xảy ra Niệm còn có nghĩa là ký ức lưu giữ đối tượng sau khi quán Nếu đối tượng cho ta một kết quả tích cực, lợi ích cho việc tu tập dẫn đến giác ngộ, thì ta dùng niệm
để nhớ nghĩ mà hành trì Theo kinh Đại Niệm Xứ đức Phật định nghĩa Tứ Niệm Xứ
như sau: "Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm,
tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời."2 Như vậy, đây là một pháp môn tu tập quân bình về chỉ và quán Gồm có: 1 Quán niệm về thân 2 Quán
1 Tứ Niệm Xứ và Thiền Tông http://www.daophatngaynay.com/vn/phap-mon/thien-dinh/nguyen-thuy/10815- Thien-Tu-Niem-Xu.html
2 Trường Bộ Kinh, số 22 Kinh Ðại Niệm xứ
Trang 4niệm về thọ 3 Quán niệm về tâm 4 Quán niệm về pháp
1.2 Nội dung Tứ Niệm Xứ
Trong Kinh Đại Niệm Xứ của Trường Bộ Kinh (Kinh số 22), Đức Phật đã tuyên
bố rằng, “Nầy các Tỳ kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tự chánh trí, chứng ngộ Niết bàn, đó là Tứ Niệm Xứ”
Bốn Niệm Xứ đó là gì? Bốn nơi để chánh niệm về, để quan sát về:
- Niệm Thân = chánh niệm về Thân hay Quán Thân trên thân
- Niệm Thọ = chánh niệm về cảm thọ hay Quán Thọ trên các cảm thọ
- Niệm Tâm = chánh niệm về Tâm hay Quán Tâm trên tâm
- Niệm Pháp = chánh niệm về Pháp hay Quán Pháp trên các pháp
Cần phải biết Chánh niệm là gì? Thí dụ: BIẾT (tâm, tâm sở, sắc pháp) đang xảy
ra trong thân và tâm
Bốn đối tượng để tâm chơn chánh nghĩ nhớ (chánh niệm) ở đây muốn nói đến là: Niệm Thân: 14 đối tượng về niệm thân, Niệm Thọ: 6 đối tượng về niệm thọ, Niệm Tâm: 16 đối tượng về niệm tâm, Niệm Pháp: 5 đối tượng niệm pháp
1.2.1 Quán thân trên thân
Quán niệm về thân tức là thực hành phép quán niệm về mọi cử chỉ hành động của thân Qua phép quán này, hành giả thực hành nếp sống oai nghi, ý thức được về
sự bình yên, thanh thản trong cuộc sống hiện tại, cũng như những mặt trái của thân này Từ sự quán chiếu đó hành giả liên hệ với bản thân mình không chấp vướng loại
bỏ tham dục, an trú chánh niệm, hướng đến chánh trí
Có tất cả 6 chủ đề, nhưng phân tích ra làm 16 đề mục để quan sát:
- Niệm hơi thở vô thở ra
đúng như thế ấy
- Chánh niệm tất cả oai nghi phụ: bước tới, bước lui, co tay, duỗi tay…
- Quán 32 thể trược:
Tóc long móng da rang Đàm mở máu mũ mật
Óc tủy thịt xương gân Gan tim tỳ phổi cật Phẩn nước tiểu ruột già Đầu nước miếng, nước mắt Vật thực, nhớt, ruột non
Trang 5Mồ hôi, mũi, lá lách”
- Quan sát Tứ đại về tướng đặc biệt của mỗi loại
- Quan sát tử thi bị quăng trong nghĩa địa
Tử thi bị bỏ ở nghĩa địa 1,2,3 ngày = trướng tưởng
Tử thi bỏ ở nghĩa địa bị quạ, diều, chó rừng…cắn xé, ăn thịt = thanh ứ tưởng
Tử thi chỉ còn một bộ xương dính thịt và máu, còn gân rang rịt = Hoại tưởng
Tử thi chỉ còn xương dính, máu thịt rã rời = Huyết đồ tưởng Chỉ còn bộ xương khô, không còn máu và thịt nữa = nồng lãng tưởng
Chỉ còn bộ xương rời rã, rãi rác mọi nơi = Hám tưởng Chỉ còn bộ xương màu trắng = tán tưởng
Chỉ còn một đống xương = cốt tưởng Chỉ còn là bột xương trắng = thiêu tưởng
1.2.2 Quán thọ trên cảm thọ
Thọ là nói tắt của cảm thọ, có hai loại thân thọ và tâm thọ Khi nhận lấy một vật gì, hay chấp nhân một điều gỉ thì gọi là thọ Thọ hoạt động trong ba trạng thái: Lạc thọ là tâm lý sung sướng; Khổ thọ là trạng thái tâm lý khổ não, buồn chán; Bất khổ bất lạc thọ là tâm lý trung dung, không thiên lệch về phía lạc cũng như về phía khổ Cảm thọ là cơ sở không thể thiếu được trong việc hình thành tâm thức con người Do vậy, quán niệm về cảm thọ chính là khảo sát tâm lý con người Nhờ có quán sát và liễu tri được bản chất của chúng nên tuy sống trong lạc thọ nhưng không
hệ lụy, sống trong khổ thọ nhưng không khổ đau, không vướng mắc, an trú chánh niệm, hướng đến chánh trí
Có tất cả 9 loại thọ
Phân loại: đối tượng thọ chia làm 6
- Thọ lạc liên hệ với ngũ dục (thuộc thế gian = thế gian lạc)
- Thọ khổ liên hệ với ngũ dục (thuộc thế gian = thế gian lạc)
- Thọ xả liên hệ với ngũ dục (thuộc thế gian = thế gian lạc)
Ba loại thọ nầy liên hệ với ngũ dục (thuộc thế gian)
Trang 6- Thọ lạc không liên hệ với ngũ dục (không thuộc thế gian = như trạng thái thiền)
- Thọ khổ không liên hệ với ngũ dục (không thuộc thế gian = như trạng thái thiền)
- Thọ xả không liên hệ với ngũ dục (không thuộc thế gian = như trạng thái thiền)
Ba loại thọ sau, KHÔNG liên hệ ngũ dục, không thuộc thế gian (là cảm thọ hay khổ trong khi hành trì thiền định)
Nguyên nhân sanh Thọ
Tất cả cảm thọ, đặt nền tảng trên xúc (phassa), sanh ra bởi xúc, cội rễ bởi
xúc, bị duyên bởi xúc.Chỉ như 2 que củi cọ xát vào nhâu, hơi ấm sanh, sự nóng sanh.Khi 2 cây que rời ra, không còn sự ấm, sự nóng nữa.Cũng giống như vậy, những cảm thọ nầy sanh ra bởi xúc, cội rễ bởi xúc, bị duyên sanh bởi xúc
Thái độ quan sát Thọ
Phật dạy rằng: ‘như một quán trọ’ nơi đó, mọi người ở mọi thành phần có thể đến và đi Cũng giống như vậy, trong thân nầy có nhiều loại cảm thọ khác nhau sanh khởi và biến mất.Đối với một người có thiền tập sâu sắc, vị ấy sẽ không để tâm dính mắc với những cảm giác lạc thọ sinh ra trong thân và tâm Mà phải quán rằng: “Đây là khổ, bản chất hư vọng, chắc chắn sẽ tan hoại, phải quán sát sự hoại diệt của chúng nhiều lần như vậy” Do thấy, do biết như vậy hành giả được giải thoát khỏi lòng tham muốn lạc thọ hay hỉ thọ Nếu không còn cảm thọ, vị ấy không còn ái, nibbana
1.2.3 Quán tâm trên tâm
Không thể định nghĩa được tâm như thế nào, chúng ta không thể nói tâm là cái này là cái kia, vv như nói đến một vật cụ thể Tuy vậy chúng ta vẫn thường nghe nói đến tâm qua các khái niệm tâm thiện, tâm ác, tâm ích kỷ, tâm tham, tâm sân v.v
đó đều là những biểu hiện của tâm Quán tâm trên tâm là quán đến các trạng thái của tâm tham, tâm sân, tâm si, tâm hôn trầm, tâm tùy miên, tâm định tịnh, tâm giải thoát… trong quá trình quán tâm ấy, hành giả thấy rõ sự hiện hữu, sanh diệt của tâm
3 đặc tánh của tâm là
- không thể thấy được
- mênh mang vô cùng tận
- thích nghi với mọi chiều hướng
- là một loại năng lực như điện vậy
Trang 7Tâm có đặc tánh thay đổi nhanh chóng, dễ dàng bị vấy bẩn bởi phiền não, nhưng người ta có thể uốn nắn nó theo ý mình nếu người ấy có định lực
Chức năng của tâm là biết đối tượng (so sánh sanna, vinnana và panna)
16 loại tâm của ta là
1 tâm tham
2 tâm không tham
3 + 4 tâm sân khác với tâm không sân 5+ 6 tâm si khác với tâm không si (là lòng tăm tối, mê mờ, thiếu trí tuệ
11 + 12 tâm bậc thấp (dục giới tâm), khác tâm bậc cao
13 + 14 tâm định khác với tâm không định 15+16 tâm thoát khỏi phiền não từng thời khác với tâm không thoát khỏi phiền não
Cách quán
1 có
2 không
3 chưa sanh nay sanh
4 đã sanh nay đoạn diệt
5 đã đoạn diệt không con sanh khởi nữa
1.2.4 Quán pháp trên pháp
Quán pháp trên các pháp chính là quán năm triền cái; quán năm thủ uẫn; sáu nội
xứ ngoại xứ, quán bảy giác chi; quán bốn sự thật Hành giả quán pháp trên các đối với tự thân, khi chúng sanh khởi hay cảm thọ nơi thân đều thấy các pháp này hiện rõ nơi thân Với tâm chánh niệm, tỉnh giác làm cho các pháp sung mãn đầy đủ đưa đến đoạn trừ các bất thiện pháp
Pháp là gì? pháp bao gồm tất cả đối tượng của tâm, bao gồm:
- các trần cảnh còn lưu lại trong tâm (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) đưa đến những suy tư, hồi tưởng, nghĩ ngợi
- 16 sắc pháp vi tế
- tâm, tâm sở
- niết bàn
-.khái niệm
Có bao nhiêu pháp cần quán?
1 Quán sát 5 triền cái
Trang 82 Quán sát 5 thủ uẩn
3 Quán sát 6 căn, 6 trần: tức là quán sát sắc, thinh, hương, vị,xúc, pháp
4 Quán sát 7 Giác chi: Niệm, Trạch pháp, Tinh tấn, Hỉ, Khinh an, Định, Xả
5 Quán sát Tứ Đế: Khổ - Tập – Diệt – Đạo
Cách quán từng pháp
Quán sát 5 triền cái
+ Tham: Có – không – chưa sanh nay sanh – đã sanh nay đoạn –
đã đoạn, tương lai không sanh khởi nữa
+ Sân: Có – không – chưa sanh nay sanh – đã sanh nay đoạn – đã đoạn, tương lai không sanh khởi nữa
+ Hôn trầm thụy miên: Có – không – chưa sanh nay sanh – đã sanh nay đoạn – đã đoạn, tương lai không sanh khởi nữa
+ Trạo hối: Có – không – chưa sanh nay sanh – đã sanh nay đoạn – đã đoạn, tương lai không sanh khởi nữa
+ Nghi: Có – không – chưa sanh nay sanh – đã sanh nay đoạn –
đã đoạn, tương lai không sanh khởi nữa
5 thủ uẩn
+ Sắc: đây là sắc, đây là sắc sanh, đây là sắc diệt + Thọ: đây là thọ, đây là thọ sanh, đây là thọ diệt
+ Tưởng + Hành:
7 giác chi: niệm giác chi, trạch pháp, tinh tấn, hỉ, khinh an, định, xả
Có – biết rõ Không – biết rõ Chưa sanh nay sanh – biết rõ
Đã sanh nay được tu tập viên thành – biết rõ
Tứ Đế: khổ - tập – diệt – đạo vị ấy quán
bi, khổ, ưu, não; khổ vì mong cầu không được; chấp 5 uẩn là khổ) + khổ tập: biết rõ
Trang 9+ khổ diệt: biết rõ + con đường đưa đến khổ diệt: biết rõ
o Khổ Tập: sự tham ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ nầy chỗ kia, như dục ái, hữu ái, phi hữu ái)
Tham ái cái gì?
sắc, thinh, hương…khả ái;
Ngũ dục thế gian: tài, sắc, danh, thực, thùy
o Khổ Diệt: Biết tâm đã diệt tận không còn luyến tiếc các tham ái ấy,
sự xả ly, sự khí xả, sự giải thoát, sự vô nhiễm đối với các tham ái
ấy
o Khổ Đạo:đoa là Bát Thánh Đạo (tri kiến về Tứ Đế) - Hành giả biết trong tâm mình có chánh kiến hay không?
- Có chánh tư duyhay không? (tư duy không tham dục, không sân,
tư duy về bất hại)
1.3 Tầm quan trọng của Tứ Niệm Xứ
(1) Tịnh hóa (‘tâm’) các chúng sanh : Có nghĩa là tham sân si là những cấu
uế của tâm làm ô nhiễm các chúng sanh; nhờ tu tập Tứ Niệm Xứ khiến tâm của chúng sanh sẽ tịnh hóa (2) Vượt qua Sầu muộn (3) Thắng phục Bi ai (4) Đoạn tận Khổ đau (5) Chấm dứt Ưu phiền (6) Đạt đến Chánh đạo, (7) Chứng đắc Niết Bàn
Như vậy Tu tập Tứ Niệm Xứ có công năng: 1 Chấm dứt khổ - ưu: Tâm ưu phiền chấm dứt bằng tu chánh niệm 2 Thành tựu chánh trí, tức đạt được trí tuệ của bậc Thánh từ Dự Lưu quả đến A la Hán quả 3 Chứng ngộ Niết-bàn Khi có tuệ, đoạn 10 kiết sử Trong Tương Ưng Bộ Kinh, đức Thế Tôn ca ngợi pháp tu Bốn Niệm
Xứ sẽ diệt tận gốc tham – sân – si Thế Tôn tuyên bố: “Như Lai sống hỉ lạc với tâm
giải thoát nhờ tu tập, hộ trì các căn, đưa đến sung mãn 4 Niệm Xứ, đưa đến Thất Giác chi được sung mãn.”
Qua những trình bày về bốn pháp quán trên chúng ta thấy được sức mạnh của thiền là chiến thắng được nhàm chán, khoái lạc, giải thoát mọi tham lam sân hận thấy
rõ chúng là khổ, vô thường và vô ngã, chứng và trú vào một trong bốn thánh quả
Chính vì thế đức Phật đã khẳng định về Tứ Niệm Xứ :"Này các Tỷ kheo, đây là con
đường độc nhất, đưa đến sự thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bị, diệt trừ khổ
ưu, thành tựu Chánh lý, chứng ngộ Niết-bản, Đó là Bốn Niệm xứ" Như vậy, Tứ Niệm
Xứ là bốn phép quán tu tập của hành giả nương vào thân, thọ, tâm và pháp để có được chánh niệm, loại trừ các phiền não, tham ưu ở đời tiến đến một đời sống phạm hạnh cao quý của một bậc thánh
Chính vì Tứ Niệm Xứ là pháp môn quan trọng như vậy nên chúng ta sẽ dễ
Trang 10dàng bắt gặp pháp môn này trong kinh do Đức Phật nói, đặc biệt là trong hệ thống kinh tạng Nikaya Như : Kinh Niệm Xứ trong kinh Trung Bộ: Đức Phật tuyên bố Tứ Niệm Xứ là con đường thẳng, tắt để chứng thực Niết Bàn; Kinh Tâm Hoang Vu trong Kinh Tương Ưng : Đức Phật giảng về 5 tâm hoang vu và 5 tâm triền phược cùng cách đoạn trừ bằng sự tu tập 4 thần túc với nỗ lực tinh cần …
2 KHÁI QUÁT NIẾT BÀN
Niết Bàn, tiếng phạn là nirvāṇa Nirvāti trong tiếng Phạn có nghĩa "thổi tắt",
"dập tắt" (một ngọn lửa), cho nên thuật ngữ nirvāṇa trong Đạo Phật được dịch nghĩa
là Khổ diệt, Diệt, Diệt tận, Diệt độ, Tịch diệt, Bất sinh, Viên tịch, và vì khổ diệt được hiểu là mục đích tối cao trong đạo Phật nên nirvāṇa cũng được dịch ý là Giải thoát Niết Bàn là một khái niệm trong Phật giáo và Ấn Độ giáo, đây là mục đích cuối cùng
mà hành giả tu tập cần đạt tới Niết bàn trong Phật giáo không phải là một cõi cực lạc
có giới hạn không gian thời gian, mà là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, yên tĩnh, sáng suốt, không vọng động, diệt ái dục, xoá bỏ vô minh, chấm dứt mọi khổ đau, phiền não Như vậy, Niết Bàn có thể được hiểu là: Tình trạng ngọn lửa tham lam, sân hận, ngu si trong tâm đã bị dập tắt, tâm trở nên trong sáng, mát mẻ, thanh lương, tịch tịnh, tĩnh lặng Niết bàn là thái độ tâm hết sạch phiền não, rõ biết tất cả pháp là
vô ngã, vô thường, và bất toại nguyện Có người hỏi Phật: Sau khi chết, người giác ngộ sẽ đi về đâu? Phật sai người ấy lượm củi khô, nhóm lửa Càng nhiều củi, lửa càng cháy mạnh, khi không bỏ thêm củi nữa thì đám lửa lụi tàn dần Đức Phật có dạy
về Niết Bàn trong Ngũ bộ kinh, có tới 32 từ có nghĩa tương đương với Niết bàn như:
"đáo bỉ ngạn" (bờ bên kia), "đích cao cả", "hoàn thành", "chân lý", "đăng minh", "an lạc", "giải thoát" Đặc biệt, trong Kinh Niết bàn, khái niệm này đã được đề cập bằng ngôn ngữ phủ định: "vô sinh", "khổ diệt", "vô minh diệt", "ái diệt", "vô uý", "vô tác",
"vô ám", "vô ngại", "vô xuất"
Tóm lược lại thì Niết Bàn có thể được hiểu là điểm đến, là mục tiêu của sự tu hành, chính là sự chấm dứt khổ đau như đức Phật đã nói với Ngài Anurada: "Lành thay, lành thay! Này Anuràdha Trước đây và hiện nay, này Anuràdha, Ta chỉ nói lên
sự khổ và sự diệt khổ."3
Niết bàn của A la hán có 3 loại: Chơn Không Niết Bàn; Vô Tướng Niết Bàn;
Vô Nguyện Niết Bàn
3 KHÁI QUÁT VỀ THIỀN
Con đường nào đi đến Niết Bàn? Trong tứ diệu đế Đức Phật giảng thì đạo đế
- chân đế thứ tư là con đường đưa đến Niết Bàn Ðó là bát chánh đạo, là tám yếu tố của con đường, tám yếu tố náy một chuỗi tiến trình gắn bó mật thiết với nhau Tám yếu tố này vẫn thường được quy lại thành ba nhóm, đó là trì giới, thiền định và tuệ giác
3 Kinh Tương Ưng 6 Xứ: http://budsas.net/uni/u-kinh-tuongungbo/tu4-44.htm
Trang 11Lộ trình đi đến con đường là tuệ giác, không thể không có thiền Bởi thiền chính là nơi chốn của sự tự khảo sát, là phòng thí nghiệm, là kính hiển vi, nơi mà bốn
sự thực mầu nhiệm có thể được khảo sát thật tỉ mỉ Qua sự khảo sát này, tuệ giác sẽ phát sinh Vậy thiền là gì?
3.1 Định nghĩa thiền
"Thiền" (禪), gọi đầy đủ là Thiền na (禪那, sa dhyāna, pi jhāna, ja zenna, en meditation), là thuật ngữ Hán-Việt được phiên âm từ dhyāna trong tiếng Phạn Dhyāna là danh từ phái sinh từ gốc động từ √dhyā (hoặc √dhyai) Bộ Sanskrit- English Dictionary của Monier-Williams ghi lại những nghĩa chính như sau: to think
of, imagine, contemplate, meditate on, call to mind, recollect.4 Trong kinh điển Phật giáo nguyên thủy, thiền dùng để chỉ những pháp thực hành nhằm rèn luyện tâm Có hai pháp thực hành thiền là Thiền định (samatha bhavana) và Thiền quán (vipassana bhavana)
Trong số các kinh nói về thiền trong tạng kinh điển Pāli như Kinh Quán Niệm Hơi Thở hay Nhập Tức Xuất Tức Niệm, Kinh Thân Hành Niệm, hay Kinh Niệm Xứ thì Kinh Đại Niệm Xứ là Kinh tiểu biểu và quan trọng bậc nhất Có thể nói rằng toàn
bộ hệ thống thiền phật giáo được cô đọng trong kinh này Những kinh khác đa phần chỉ là những sự diễn giảng rộng thêm dựa trên nền tảng của kinh Kinh Đại Niệm Xứ Theo trình tự và cấu trúc của Kinh Đại Niệm Xứ, thiền gồm có bốn thành phần chính yếu: thứ nhất là quán niệm thân (kāyānupassanā); thứ hai là quán cảm thọ (vedanānupassanā); thứ ba là quán niệm tâm (cittānupassanā); và thứ tư là quán niệm pháp (Dhammānupassanā)
Trong Thanh Tịnh Đạo Luận, ngài Buddhaghosa trình bày thiền dưới bốn mươi đề mục (kammaṭṭhāna):
- Định Mười Biến Xứ: đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, không gian,
và ánh sáng
- Định Bất Tịnh Quán: tướng phình trướng, tướng bầm xanh, thây chảy mủ, tướng nứt ra, tướng bị gặm khói, tướng rã rời, tướng phân tán rã rời, tướng máu chảy, tướng trùng ăn, và tướng bộ xương
- Mười Tùy Niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên, niệm chết, thân hành niệm, niệm hơi thở, và niệm an bình
- 4 Phạm Trú: từ, bi, hỷ, xả
- 4 Vô Sắc Xứ: không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, và phi tưởng phi phi tưởng xứ
- Tưởng về Bất Tịnh trong thức ăn và phân tích Bốn Đại
Trong bốn mươi đề mục thiền trên, mười biến xứ được tìm thấy trong tạng kinh thuộc tam tạng hệ Pāli Quán Bất Tịnh được tìm thấy trong Kinh Đại Niệm Xứ, Kinh Niệm Xứ, Kinh Quán Niệm Hơi Thở và Kinh Thân Hành Niệm Mười Tùy
4 https://vi.wikipedia.org/wiki/Thi%E1%BB%81n_trong_Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o
Trang 12Niệm được chép trong Kinh Tăng Chi (Tập I); trong Bốn Phạm Trú, Từ và Bi được nói đến trong Kinh Từ Bi (Metta Suttā), và trong phần Vô Ngại Giải Đạo (Patisambhidamagga) thuộc Kinh Tiểu Bộ (Khuddaka Nikàya); hỷ và xả được bàn đến trong phần Thất Giác Chi (Bojjhaṅga Pabba) thuộc Kinh Đại Niệm Xứ Bốn Vô Sắc được tìm thấy trong kinh Tăng Chi (tập IV); Tuởng về Bất Tịnh trong Thức Ăn cũng được tìm thấy trong kinh Tăng Chi (tập IV); và phần Phân Tích Bốn Đại được nói đến trong Đại Kinh Dấu Chân Voi (Mahāhatthipadopama Sutta)
3.2 5 loại thiền
Trong thực tế có rất nhiều pháp môn thiền khác nhau và cũng có nhiều cách phân loại thiền khác nhau Trong Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự, Hòa thượng Thanh Từ dịch là Nguồn Thiền, ngài Khuê Phong Tông Mật, một vị Tổ sư thiền thuộc tông Hoa Nghiêm đã phân ra 5 loại thiền
1 Thiền Ngoại Đạo: “Người chấp khác, ưa cõi trên, chán cõi dưới mà tu, là
thiền ngoại đạo”sở dĩ gọi thiền ngoại đạo là do hành giả có sự ưa thích, chan ghét,
mong ưa cõi trên, chán cõi dưới Do hướng tâm về một chỗ lâu ngày nên đạt định,
từ đó phát ra một số thần thông Nếu thường giữ được định, quả báo sẽ được tái sanh
ở các cõi trời Loại thiền này chỉ giúp cho hành giả đạt định chứ không phát tuệ, nên
dù trải qua nhiều kiếp tinh tấn tu hành, vẫn không thể nhập đạo Vì thế mà gọi là thiền ngoại đạo, là thiền ở bên ngoài đạo
2 Thiền Phàm Phu: “Người tin chắc nhân quả, cũng do ưa chán mà tu là thiền
phàm phu” Tin chắc nhân quả, là tin rằng bất kỳ một kết quả nào có được trong đời
cũng do một nguyên nhân tương ứng tạo ra Hành giả tự mình tu hành chứ không cần cầu hay nương tựa vào một đấng thiêng liêng nào Họ cũng mong cầu đạt được các quả vị tu chứng như Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền thuộc Tứ thiền
3 Thiền Đại Thừa: “Người ngộ ngã pháp đều không, hiển bày chân lý mà tu
là thiền Đại thừa” Hành giả tu theo loại thiền này đã phá trừ được sở tri chướng, đi
theo con đường của chư vị Bồ tát, tiến hành tiêu trừ cả phiền não chướng lẫn sở tri chướng, hầu chứng được ngã không lẫn pháp không Sau khi chứng được như thế, chân lý sẽ hiển bày Y cứ vào đó mà tu, là thiền Đại thừa Hành giả tu thiền đại thừa
có thể chứng như huyễn tam muội, được ý sanh thân, trong một niệm tùy theo tâm ý của chúng sanh có thể hóa hiện ra vô lượng thân, độ vô lượng chúng sanh trong vô lượng cõi Vì có khả năng rộng độ như thế, nên gọi là Đại thừa
4 Tổ sư thiền hay Thiền Đốn Ngộ là người đốn ngộ xưa nay tự tâm thanh tịnh Đốn ngộ nghĩa là tức thời nhận ra, không qua suy nghĩ luận bàn Nếu còn một chút phân vân, suy lường thì không phải là đốn ngộ Đốn ngộ tự tâm nghĩa là nhận ra tâm
mình xưa nay thường thanh tịnh, vì “Nhân pháp vô ngã, phiền não và sở tri thường
thanh tịnh không tánh” Vì không còn chỗ nương nào cao hơn, Phật tánh cũng chính
là nhân đưa đến quả vị Phật, là quả vị cao tột, nên gọi là Tối thượng thừa Hành giả nhận ra chân tâm bản tánh của mình vốn không thay đổi, không nhiễm ô, không phiền não, thường thanh tịnh Người tu thành Phật, lấy thân làm pháp nên gọi là pháp thân,