Tiểu luận môn triết học MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1 Lý do chọn đề tài 1 2 Mục đích nghiên cứu 1 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1 4 Phương pháp nghiên cứu 2 5 Tổng quan về đề tài nghiên cứu 2 6 Đóng góp của.
Trang 1TI ỂU LU Ậ N M
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Tổng quan về đề tài nghiên cứu 2
6 Đóng góp của đề tài 2
7 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN CHỨNG GIỮA NGUYÊN NHÂN-KẾT QUẢ 4
1.1 Khái niệm nguyên nhân -kết quả 4
1.2 Tính chất của mối quan hệ nhân quả 4
1.3 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả 5
1.4 Ý nghĩa phương pháp luận 7
CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG QUAN HỆ NGUYÊN NHÂN KẾT QUẢ VÀO HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 9
2.1 Thực trạng trong học tập của viên hiện nay 9
2.1.1 Về mặt tích cực 9
2.1.2 Về mặt tiêu cực : 10
2.2.1 Nguyên nhân khách quan: 11
2.2.2 Nguyên nhân chủ quan: 12
2.3 Liên hệ đối với bản thân 13
2.4 Các giải pháp giúp nâng cao chất lượng học tập của sinh viên hiện nay 16
KẾT LUẬN 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong sự vận động của hiện thực, mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ được lặp
đi lặp lại nhiều nhất, phổ biến nhất Do đó có thể nói, mối liên hệ nhân quả là mộttrong những mối liên hệ tự nhiên đầu tiên được phản ánh vào trong đầu óc của conngười Chúng ta nói rằng, phạm trù là kết quả của những quá trình phản ánh nhữngmối liên hệ được lặp đi lặp lại của đời sống, và trong trường hợp này, phạm trùnguyên nhân và kết quả là những phạm trù chứng minh cho quan niệm đó Mốiliên hệ nguyên nhân và kết quả, hay gọi tắt là mối liên hệ nhân - quả là mối liên hệvốn có của thế giới vật chất Nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của conngười Chính những tác động của các sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất, nóđược phản ánh ở trong nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đã làm cho thế giới vậnđộng, sự tác động đó nếu đặt trong mối quan hệ với kết quả thì đó là nguyên nhân
Vì vậy, bất kỳ một sự vận động nào ở trong thế giới vật chất suy cho cùngđều là những mối liên hệ nhân quả, xét ở những phạm vi khác nhau, những thờiđiểm khác nhau và những hình thức khác nhau Nói một cách khác, nếu như vậnđộng là thuộc tính của thế giới vật chất, là phương thức tồn tại của vật chất thì vậnđộng luôn luôn là sự tác động, hoặc là sự tác động giữa những bộ phận khác nhau
ở trong cùng một một sự vật hiện tượng, hoặc là sự tác động lẫn nhau giữa các sựvật hiện tượng
Vì vậy qua thời gian tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu , em đã quyết định chọn
đề tài : “Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân kết quả rong quá trình học tập của sinh viên hiện nay” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Đối tượng mà bài viết tập trung xoay quay nghiên cứu về các lí luận về mốiquan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, từ các lí luận đó ứng dụng vào thực tiễn họctập của sinh viên hiên nay để làm rõ mối quan hệ của nguyên nhân kết quả tronghọc tập
Trang 43 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ biện chứng nguyên nhân kết quả vàcuộc sống học tập của sinh viên hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Trong lý luận của Mac-Lenin và biện chứng nguyênnhân kết quả
4 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luân sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến là: phương pháplôgíc và lịch sử; so sánh, đối chiếu; phân tích và tổng hợp; điều tra xã hội học;phương pháp đánh giá và phân tích tài liệu
5 Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Một số nghiên cứu sinh Việt Nam đã bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩtâm lí học ở Việt Nam trước đây chẳng hạn:
+ Phạm Thị Đức “Vai trò của triết học trong việc hình thành động cơ nhậnthức trong hoạt động học tập ở sinh viên hiện nay” (1988)
+ Trần Thị Thìn “Mối quan hệ nguyên nhân kết quả trong việc hình thànhtâm lý của sinh viên Sư phạm” (2004)
+ Dương Thị Kim Oanh “Động cơ chọ tập của sinh viên các ngành khoa họckỹ thuật” (2009)
Ngoài ra một số tác giả đã đề cập tới vấn đề quan hệ nhân quả trong học tậptrong các tài liệu, các sách, các báo cáo và các bài báo khoa học, như các tác giả
Hồ Ngọc Đại, Đặng Xuân Hoài, Lê Ngọc Lan, Đào Thị Oanh, Nguyễn Hồi Loanvv…
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài đã nghiên cứu phân tích và đã đưa ra được các mặt tích cực cũng nhưtiêu cực trong cuộc sống, học tập của sinh viên hiện nay Từ đó đã làm nổi bậtđược lên nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan đối với vấn đề học tậpcủa sinh viên Từ các hạn chế nguyên nhân đó, bài tiểu luận đã đưa ra các giảipháp giúp nâng cao chất lượng học tập của sinh viên hiện nay Từ đó bài tiểu luận
Trang 5cũng là một nguồn tài liệu để sinh viên có thể đọc và học tập để rút ra được nhữnghạn chế và yếu kém của mình, phát triển bản thân mình tốt hơn.
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận, cũng như các phần phụ lục khác, kếtcấu đề tài gồm 2 chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về biện chứng giữa nguyên nhân -kết quả
Chương II: Ứng dụng quan hệ nguyên nhân kết quả vào học tập của sinhviên hiện nay
Do kiến thức và kinh nghiệm chưa nhiều, lại bị hạn chế về thời gian nên bàitiểu luận không tránh khỏi những khiếm khuyết Với tinh thần thực sự muốn hiểubiết thêm về đề tài “Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân kết quảrong quá trình học tập của sinh viên hiện nay” và muốn có nhiều kiến thức thực tế,
em rất mong nhận được sự quan tâm, trao đổi và góp ý của các thầy cô giáo và cácbạn để hoàn thiện hơn nữa bài tiểu luận cũng như kiến thức của mình
Em xin chân thành cảm ơn !
8.
Trang 6CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN CHỨNG GIỮA NGUYÊN
NHÂN-KẾT QUẢ 1.1 Khái niệm nguyên nhân -kết quả
Phạm trù nguyên nhân và kết quả phản ánh mối quan hệ sản sinh ra nhaugiữa các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan
Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự
vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó
Kết quả là những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong
một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra
Chẳng hạn, không phải nguồn điện là nguyên nhân làm bóng đèn phát sáng
mà chỉ là tương tác của dòng điện với dây dẫn (trong trường hợp này, với dây tóccủa bóng đèn) mới thực sự là nguyên nhân làm cho bóng đèn là phát sáng Cuộcđấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là nguyên nhân đưa đến kết quả làcuộc cách mạng vô sản nổ ra
1.2 Tính chất của mối quan hệ nhân quả
Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính khách
quan, tính phổ biến, tính tất yếu.
Tính khách quan thể hiện ở chỗ: mối liên hệ nhân quả là cái vốn có của bản
thân sự vật, không phụ thuộc vào ý thức của con người Dù con người biết haykhông biết, thì các sự vật vẫn tác động lẫn nhau và sự tác động đó tất yếu gây nênbiến đổi nhất định Con người chỉ phản ánh vào trong đầu óc mình những tác động
và những biến đổi, tức là mối liên hệ nhân quả của hiện thực, chứ không sáng tạo
ra mối liên hệ nhân quả của hiện thực từ trong đầu mình Quan điểm duy tâmkhông thừa nhận mối liên hệ nhân quả tồn tại khách quan trong bản thân sự vật Họcho rằng, mối liên hệ nhân quả là do Thượng đế sinh ra hoặc do cảm giác conngười quy định
Tính phổ biến thể hiện ở chỗ: mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và trong
xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra Không có hiện tượng nào không có
Trang 7nguyên nhân, chỉ có điều là nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi.Không nên đồng nhất vấn đề nhận thức của con người về mối liên hệ nhân quả vớivấn đề tồn tại của mối liên hệ đó trong hiện thực.
Tính tất yếu thể hiện ở chỗ: cùng một nguyên nhân nhất định, trong những
điều kiện giống nhau sẽ gây ra kết quả như nhau Tuy nhiên trong thực tế khôngthể có sự vật nào tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh hoàn toàn giống nhau
Do vậy tính tất yếu của mối liên hệ nhân quả trên thực tế phải được hiểu là: nguyênnhân tác động trong những điều kiện và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thìkết quả do chúng gây ra càng giống nhau bấy nhiêu
1.3 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
a Nguyên nhân nào kết quả nấy
Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau khi nguyên nhân đã xuất hiện Tuy
nhiên không phải hai hiện tượng nào nối tiếp nhau về mặt thời gian cũng là quan
hệ nhân quả Thí dụ, ngày kế tiếp đêm, mùa hè kế tiếp mùa xuân, sấm kế tiếpchớp, , nhưng không phải đêm là nguyên nhân của ngày, mùa xuân là nguyênnhân của mùa hè, chớp là nguyên nhân của sấm, Cái phân biệt quan hệ nhân quả
với quan hệ kế tiếp về mặt thời gian là ở chỗ nguyên nhân và kết quả có quan hệ
sản sinh ra nhau Nguyên nhân của ngày và đêm là do sự quay của trái đất quanh
trục Bắc – Nam của nó, nên ánh sáng mặt trời chỉ chiếu sáng được phần bề mặt tráiđất hướng về phía mặt trời Nguyên nhân của các mùa trong năm là do trái đất, khichuyển động trên quỹ đạo, trục của nó bao giờ cũng có độ nghiêng không đổi vàhướng về một phía, nên hai nửa cầu Bắc và Nam luân phiên chúc ngả về phía mặttrời, sinh ra các mùa Sấm và chớp đều do sự phóng điện giữa hai đám mây tíchđiện trái dấu sinh ra Nhưng vì vận tốc ánh sáng truyền trong không gian nhanhhơn vận tốc tiếng động, do vậy chúng ta thấy chớp trước khi nghe thấy tiếng sấm.Như vậy không phải chớp sinh ra sấm
Trang 8Nguyên nhân sinh ra kết quả rất phức tạp, bởi vì nó còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện và hoàn cảnh khác nhau Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân
sinh ra Thí dụ, nguyên nhân của mất mùa có thể do hạn hán, có thể do lũ lụt, cóthể do sâu bệnh, có thể do chăm bón không đúng kỹ thuật, Mặt khác, một nguyênnhân trong những điều kiện khác nhau cũng có thể sinh ra những kết quả khácnhau Thí dụ, chặt phá rừng có thể sẽ gây ra nhiều hậu quả như lũ lụt, hạn hán, thayđổi khí hậu của cả một vùng, tiêu diệt một số loài sinh vật,
Nếu nhiều nguyên nhân cùng tồn tại và tác động cùng chiều trong một sự vậtthì chúng sẽ gây ảnh hưởng cùng chiều đến sự hình thành kết quả, làm cho kết quảxuất hiện nhanh hơn Ngược lại nếu những nguyên nhân tác động đồng thời theocác hướng khác nhau, thì sẽ cản trở tác dụng của nhau, thậm chí triệt tiêu tác dụngcủa nhau Điều đó sẽ ngăn cản sự xuất hiện của kết quả Do vậy, trong hoạt độngthực tiễn cần phải phân tích vai trò của từng loại nguyên nhân, có thể chủ động tạo
ra điều kiện thuận lợi cho những nguyên nhân quy định sự xuất hiện của kết quả(mà con người mong muốn) phát huy tác dụng Các thành phần kinh tế vừa tácđộng hỗ trợ nhau, vừa mâu thuẫn nhau, thậm chí còn cản trở nhau phát triển Muốnphát huy được tác dụng của các thành phần kinh tế để phát triển sản xuất, làm chodân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thì phải tạo điều kiệncho các thành phần kinh tế đều có điều kiện phát triển, trong đó thành phần kinh tếnhà nước phải đủ sức giữ vai trò chủ đạo, hướng các thành phần kinh tế khác hoạtđộng theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phải tăng cường vai trò quản lý của Nhànước đối với nền kinh tế bằng luật pháp, chính sách thích hợp Nếu không nhưvậy, nền kinh tế sẽ trở nên hỗn loạn và năng lực sản xuất của các thành phần kinh
tế có thể triệt tiêu lẫn nhau Do vậy phải tìm hiểu kỹ vị trí, vai trò của từng nguyênnhân
Các nguyên nhân khác nhau có vai trò khác nhau trong việc sản sinh ra kếtquả
b Sự tác động của kết quả lên nguyên nhân của nó
Trang 9Kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng sau khi xuất hiện, kết quả lại có ảnhhưởng trở lại đối với nguyên nhân Sự ảnh hưởng đó có thể diễn ra theo hai hướng:thúc đẩy sự hoạt động của nguyên nhân (hướng tích cực), hoặc cản trở sự hoạtđộng của nguyên nhân (hướng tiêu cực) Thí dụ, trình độ dân trí thấp do kinh tếkém phát triển, ít đầu tư cho giáo dục Nhưng dân trí thấp lại là nhân tố cản trởviệc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, vì vậy lại kìm hãm sản xuấtphát triển Ngược lại, trình độ dân trí cao là kết quả của chính sách phát triển kinh
tế và giáo dục đúng đắn Đến lượt nó, dân trí cao lại tác động tích cực đến sự pháttriển kinh tế và giáo dục
c Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau
Điều này có nghĩa là một sự vật, hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này lànguyên nhân, nhưng trong mối quan hệ khác lại là kết quả và ngược lại Vì vậy,Ph.Ăngghen nhận xét rằng: Nguyên nhân và kết quả là những khái niệm chỉ có ýnghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệtnhất định Nhưng một khi chúng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ấy trong mốiliên hệ chung của nó với toàn bộ thế giới, thì những khái niệm ấy lại gắn với nhautrong một khái niệm về sự tác động qua lại một cách phổ biến, trong đó nguyênnhân và kết quả luôn luôn thay đổi vị trí cho nhau Chuỗi nhân quả là vô cùng,không có bắt đầu và không có kết thúc Một hiện tượng nào đấy được coi lànguyên nhân hay kết quả bao giờ cũng ở trong một quan hệ xác định cụ thể
1.4 Ý nghĩa phương pháp luận
Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan và tính phổ biến, nghĩa là không có
sự vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất lại không có nguyên nhân Nhiệm vụcủa nhận thức khoa học là phải tìm ra nguyên nhân của những hiện tượng trong tựnhiên, xã hội và tư duy để giải thích được những hiện tượng đó Muốn tìm nguyênnhân phải tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân các sự vật, hiện tượng tồn tạitrong thế giới vật chất chứ không được tưởng tượng ra từ trong đầu óc của conngười, tách rời thế giới hiện thực
Trang 10Vì nguyên nhân luôn có trước kết quả nên muốn tìm nguyên nhân của mộthiện tượng nào đấy cần tìm trong những sự kiện những mối liên hệ xảy ra trướckhi hiện tượng đó xuất hiện.
Một kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra Những nguyên nhân này
có vai trò khác nhau đối với việc hình thành kết quả Vì vậy trong hoạt động thựctiễn chúng ta cần phân loại các nguyên nhân, tìm ra nguyên nhân cơ bản, nguyênnhân chủ yếu, nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân chủquan, nguyên nhân khách quan Đồng thời phải nắm được chiều hướng tác độngcủa các nguyên nhân, từ đó có biện pháp thích hợp tạo điều kiện cho nguyên nhân
có tác động tích cực đến hoạt động và hạn chế sự hoạt động của nguyên nhân cótác động tiêu cực
Một hiện tượng trong mối quan hệ này là kết quả, trong mối quan hệ khác lànguyên nhân nên để hiểu tác dụng của hiện tượng ấy cần xem xét nó trong nhữngquan hệ mà nó giữ vai trò là nguyên nhân cũng như trong những quan hệ mà nó làkết quả
Kết quả có tác động trở lại nguyên nhân Vì vậy trong hoạt động thực tiễnchúng ta cần phải khai thác, tận dụng các kết quả đã đạt được để tạo điều kiện thúcđẩy nguyên nhân phát huy tác dụng, nhằm đạt mục đích
Trang 11CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG QUAN HỆ NGUYÊN NHÂN KẾT QUẢ VÀO
HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 2.1 Thực trạng trong học tập của viên hiện nay
2.1.1 Về mặt tích cực
Giáo dục luôn là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội vì nó quyết địnhtương lai của mỗi người và của cả xã hội Thực trạng nhức nhối của nền giáo dụchiện nay là nguyên nhân làm trì trệ sự phát triển của Việt Nam
Có một thực tế đáng buồn là sau bao năm học phổ thông vất vả, nặng nhọc
để giành được một chiếc ghế lên giảng đường Đại học thì không ít sinh viên đã vộivàng tự mãn, xem Đại học chỉ là nơi xả hơi để tụ tập gặp gỡ, ăn chơi đua đòi cùngchúng bạn thay vì biết trân trọng thành quả của mình họ sẽ không ngừng học hỏi,nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân Tại sao lại như vậy? Một trong những
lý do là khả năng tiếp cận thông tin của sinh viên ta còn kém Khi còn học phổthông, đặc biệt là cấp III, các bạn học sinh đã phải mang trên vai gánh nặng tâm lý
từ gia đình, người thân là phải vào Đại học Nhưng bản thân những cô, cậu ấy chưahoặc không nhận thức được vào Đại học để làm gì? Và chuyên ngành mình chọn
có phù hợp với mục tiêu, sở thích, tính cách năng lực của bản thân hay không?Chính vì thế mà khi đã đậu vào Đại học rồi thì cũng đồng nghĩa với việc đã làmxong nghĩa vụ với bố mẹ và người thân chứ không phải đạt được ước mơ củachính bản thân thì làm gì có được sự trân trọng thành quả cố gắng học tập
Một lý do khác nữa là Sinh viên năm thứ nhất thường chịu ảnh hưởng nhiều
từ “sự hướng dẫn” của các anh chị đi trước Các bạn đang cực kỳ thỏa mãn vớichính mình, 12 năm đèn sách rồi, chọi bao nhiêu đối thủ mới nghiễm nhiên trởthành sinh viên Đại học, thỏa mãn mong ước của bố mẹ, thầy cô, bè bạn Càngnghĩ các bạn càng tự hào và hài lòng về bản thân mình lắm Rồi các bạn dần cảmthấy cái lý lẽ “nghỉ xả hơi” rất có tình, có lý Đúng quá! Theo quan điểm năm nhất
ăn chơi, năm hai thong thả, năm ba cố gắng, năm tư chuẩn bị ra trường thì các bạnchỉ mới ở giai đoạn I mà thôi vội gì “Thả phanh” ung dung suốt học kỳ để rồi đến