Phần 2 của giáo trình Triết học Mác - Lênin (Tập 2: Chủ nghĩa duy vật lịch sử) tiếp tục trình bày những nội dung về: cách mạng xã hội; nhà nước; con người - cá nhân - xã hội; ý thức xã hội; khoa học và vai trò của nó trong đời sống xã hội; tiến bộ xã hội;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Chương 8
CÁCH MẠNG XÃ HỘI
1 Thực chất và vai trò của cách mạng xã hội
1.1 Khái niệm cách mạng xã hội
Cách mạng xã hội, theo nghĩa rộng, là sự biến đổi căn bản về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, là phương thức để chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội lỗi thời, lạc hậu sang một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, tiến
bộ hơn; theo nghĩa hẹp, cách mạng xã hội là việc lật đổ một chế độ chính trị - xã hội đã lỗi thời và thiết lập một chế độ chính trị - xã hội tiến bộ hơn
Cách mạng xã hội trước hết là sự biến đổi về chất trên toàn bộ các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, như về chính trị; kinh tế; văn hoá, tư tưởng Bước nhảy vọt căn bản về chất này vừa là kết quả vừa là biểu hiện cao nhất của cuộc đấu tranh giai cấp C.Mác viết: “Đấu tranh giữa giai cấp với giai cấp… khi đạt đến trình độ cao nhất của nó trở thành một cuộc cách mạng toàn diện”1 Đây
là đặc trưng cơ bản nhất của cách mạng xã hội để phân biệt cách mạng xã hội với các hiện tượng khác của đời sống xã hội
Cách mạng xã hội còn là phương thức để chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội lỗi thời lên một hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ hơn Khi các mâu thuẫn xã hội và đấu tranh giai cấp đạt đến đỉnh cao, thì cách mạng xã hội là phương thức tất yếu để xoá bỏ hình thái kinh tế - xã hội đã lỗi thời và xây dựng thành công hình thái kinh tế - xã hội mới
Trong cách mạng xã hội, dấu hiệu đầu tiên và chủ yếu là bước ngoặt chuyển giao chính quyền từ tay giai cấp lỗi thời, phản động sang tay giai cấp tiến bộ, cách mạng Bởi vì, “Vấn đề chính quyền nhất định là vấn đề chủ yếu nhất của mọi cuộc cách mạng Chính đó là vấn đề cơ bản, vấn đề quyết định tất cả mọi cái trong sự phát triển của cách mạng”2
Những đặc trưng cơ bản trên là các tiêu chí khách quan để phân biệt cách
mạng xã hội với các hiện tượng xã hội khác Cải cách xã hội là tổng thể những
hoạt động, tạo nên những biến đổi về chất của xã hội, nhưng chỉ là sự biến đổi
1 C Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr 258
1 V.I Lênin, Toàn tập, tập 34, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr 268
Trang 2mang tính chất riêng lẻ, bộ phận, trên từng lĩnh vực trong khuôn khổ của chế độ
xã hội hiện tồn Tiến hoá xã hội là hình thức phát triển xã hội, nhưng sự phát
triển này lại diễn ra một cách tuần tự, dần dần trong phạm vi của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định
Cách mạng xã hội, cải cách xã hội và tiến hoá xã hội là những hiện tượng xã hội khác nhau, nhưng có liên quan mật thiết với nhau, tạo tiền đề điều kiện cho nhau phát triển Trong xem xét và cải tạo xã hội cần giải quyết đúng mối quan hệ biện chứng giữa cách mạng xã hội, cải cách xã hội và tiến hoá xã hội, khắc phục tư tưởng tả khuynh hoặc hữu khuynh trong giải quyết vấn đề này
Ngoài ra, cần phân biệt cách mạng xã hội với đảo chính Đảo chính là thủ
đoạn tranh giành quyền lực nhà nước của một cá nhân hay một nhóm người và không phải là phong trào cách mạng của quần chúng Trong lịch sử, đa số các cuộc đảo chính là do các lực lượng phản động (có thể có sự can thiệp của nước ngoài) tiến hành nhằm giải quyết mâu thuẫn nội bộ trong giai cấp thống trị Chỉ
có những cuộc đảo chính nào hoà nhập được với phong trào cách mạng của quần chúng mới có ý nghĩa cách mạng
1.2 Nguyên nhân và vai trò của cách mạng xã hội
Cách mạng xã hội do nhiều nguyên nhân đưa đến Nguyên nhân sâu xa
của cách mạng xã hội được bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất phát triển với quan hệ sản xuất đã lỗi thời, lạc hậu Và khi đó “Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ sản xuất ấy trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng
xã hội”1 Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất được biểu hiện về mặt chính trị - xã hội thành mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị, phản động với giai cấp và các lực lượng cách mạng Như vậy, nguyên nhân trực tiếp của cách mạng xã hội là mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập, không thể dung hoà
Trong lịch sử, có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của cách mạng xã hội Các nhà thần học cho rằng, cách mạng xã hội sẽ tạo ra tai hoạ và nhiều bất
công xã hội Đối lập với quan điểm trên, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định,
cách mạng xã hội có vai trò là động lực của tiến bộ xã hội Đây là phương tiện
quan trọng nhất để giải quyết các mâu thuẫn đối kháng trong lòng xã hội Cách
1 C Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.15
Trang 3mạng xã hội là phương thức để xoá bỏ quan hệ sản xuất lạc hậu và các giai cấp phản động C.Mác khẳng định, các cuộc cách mạng xã hội là đều là “đầu tàu của lịch sử”1 Cách mạng xã hội mở ra địa bàn thuận lợi cho sự phát triển của lực lượng sản xuất và tạo dựng một hình thái kinh tế - xã hội mới, tiến bộ hơn
Cách mạng xã hội tiến hành cải biến toàn diện xã hội cũ, xây dựng xã hội mới trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra các điều kiện để giai cấp và quần
chúng cách mạng tự cải tạo mình và có sự trưởng thành toàn diện về mọi mặt
Động lực cách mạng là các giai cấp, các lực lượng xã hội do lợi ích khách quan gắn bó mật thiết, tạo ra sức mạnh hiện thực để thúc đẩy cách mạng đến thắng lợi Lực lượng cách mạng là các giai cấp, các lực lượng xã hội bị áp
bức có nguyện vọng và khả năng đánh đổ giai cấp thống trị phản động Lực lượng cách mạng vận động, biến đổi tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau của mỗi cuộc cách mạng và trong các giai đoạn khác nhau của mỗi cuộc cách mạng Khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang lên, giai cấp tư sản
là giai cấp tiến bộ, lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản để lật đổ chế độ phong kiến Khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trở nên lỗi thời, lạc hậu thì giai cấp
tư sản trở thành phản động, phản cách mạng Ngày nay, giai cấp vô sản là giai cấp tiến bộ và cách mạng nhất, có vai trò lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm xoá bỏ hình thái kinh tế - xã hội cũ, xây dựng thành công hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Trong lực lượng cách mạng có giai cấp lãnh đạo cách mạng, đây là giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất mới mà cuộc cách mạng đó có nhiệm vụ phải xây dựng
1.4 Các kiểu cách mạng xã hội trong lịch sử và đặc thù của cách mạng
vô sản
Kiểu cách mạng xã hội là phạm trù dùng để chỉ các cuộc cách mạng xã
hội có chung nhiệm vụ Lịch sử loài người đã trải qua bốn kiểu cách mạng xã
1 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.119
Trang 4hội Một là, kiểu cách mạng xã hội chuyển từ chế độ cộng sản nguyên thuỷ lên chế độ chiếm hữu nô lệ; hai là, kiểu cách mạng xã hội chuyển từ chế độ chiếm hữu nô lệ lên chế độ phong kiến; ba là, kiểu cách mạng xã hội chuyển từ chế độ phong kiến lên chế độ tư bản chủ nghĩa (cách mạng tư sản); bốn là, kiểu cách mạng xã hội chuyển từ chế độ tư bản chủ nghĩa lên chế độ xã hội chủ nghĩa (cách mạng vô sản)
Trong mỗi kiểu cách mạng lại có các loại hình khác nhau Đó là toàn bộ những hình thức, phương thức tồn tại của kiểu cách mạng xã hội trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể Ví dụ, kiểu cách mạng tư sản có hai loại hình cơ bản, cách mạng dân chủ tư sản kiểu cũ và cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới Đặc trưng và vai trò của cách mạng xã hội ngày càng tăng cùng với sự phát triển của lịch sử Trước cách mạng tư sản, nhân tố chính trị - giai cấp chưa được thể hiện
rõ trong các cuộc cách mạng Đến cách mạng tư sản và cách mạng xã hội chủ nghĩa nhân tố chính trị - giai cấp mới được thể hiện rõ nét và trở thành nhân tố chủ đạo của cách mạng xã hội
Cách mạng vô sản là cuộc cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo, nhằm
xoá bỏ hình thái kinh tế - xã hội bóc lột, xây dựng thành công hình thái kinh tế -
xã hội cộng sản chủ nghĩa Cách mạng vô sản là cuộc cách mạng triệt để nhất từ trước đến nay, nó xóa bỏ mọi hình thức bóc lột và xây dựng một xã hội mới không còn áp bức, bóc lột, bất công Các cuộc cách mạng trước kia chỉ là sự thay thế chế độ chiếm hữu tư nhân này, hình thức áp bức bóc lột này, bằng chế
độ chiếm hữu tư nhân và hình thức áp bức bóc lột khác Cách mạng vô sản không chỉ đoạn tuyệt với sở hữu cổ truyền mà còn đoạn tuyệt với những tư tưởng cổ truyền Cách mạng vô sản không chỉ giải phóng giai cấp vô sản, quần chúng nhân dân lao động khỏi áp bức bóc lột giai cấp mà còn giải phóng toàn nhân loại khỏi mọi ách áp bức vật chất, tinh thần
Trong cách mạng vô sản, giành chính quyền mới chỉ là bước đầu, nó phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài để tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công xã hội mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đây là một nhiệm vụ trọng đại, phức tạp và lâu dài của cuộc cách mạng vô sản và nó khác với các cuộc cách mạng xã hội trước, khi giành được được chính quyền thì mục tiêu cơ bản về cơ bản đã hoàn thành Cách mạng vô sản không dừng lại ở vấn đề giành chính quyền, nhiệm vụ của nó là thủ tiêu chế độ tư hữu, xoá bỏ giai cấp và xây dựng thành công xã hội xã hội cộng sản chủ nghĩa Cách mạng vô sản là
Trang 5cuộc cách mạng mang tính nhân dân thực sự và giải quyết vấn đề lợi ích của
tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân lao động
Thực tiễn lịch sử cho thấy, chỉ có cách mạng vô sản mới giải quyết triệt
để vấn đề lợi ích của quần chúng nhân dân lao động, còn các cuộc cách mạng xã hội trước chỉ đi giải quyết lợi ích của thiểu số giai cấp thống trị bóc lột Do giải quyết vấn đề lợi ích của tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân lao động, nó đã phát huy cao độ vai trò của quần chúng cách mạng trong sự nghiệp sáng tạo xã hội mới
Cách mạng vô sản là cuộc cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo, thông qua đội tiền phong của nó là đảng cộng sản; đồng thời nó đòi hỏi phải phát huy sức mạnh sáng tạo to lớn của quần chúng cách mạng để cải tạo triệt để xã hội cũ
và xây dựng thành công xã hội mới trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Những đặc điểm cơ bản của cách mạng vô sản không chỉ là những dấu hiệu để phân biệt cách mạng vô sản với các cuộc cách mạng xã hội khác trong lịch sử,
mà còn là yêu cầu khách quan đảm bảo cho sự thắng lợi của các cuộc cách mạng
vô sản
2 Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của cách mạng xã hội
Điều kiện khách quan của cách mạng xã hội là tổng hợp các yếu tố, các mâu thuẫn khách quan và sự vận động của các yếu tố, các mâu thuẫn đó đưa tới tình thế cách mạng Sự vận động của các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội tất yếu
sẽ làm các mâu thuẫn kinh tế - xã hội ngày càng phát triển Nhưng cách mạng xã hội chỉ có thể nổ ra khi các mâu thuẫn trên đây đã phát triển đến đỉnh cao, làm cho xã hội lâm vào một cuộc “khủng hoảng kinh tế và chính trị”1 toàn diện và đưa tới sự xuất hiện của tình thế cách mạng
Tình thế cách mạng là tổng hợp những điều kiện chính trị - xã hội do mâu thuẫn giai cấp phát triển đến độ gay gắt, nhờ đó cách mạng có thể nổ ra và giành được thắng lợi Nội dung và hình thức biểu hiện của tình thế cách mạng ở mỗi kiểu cách mạng có sự khác nhau Song cơ sở hiện thực của tình thế cách mạng
là, hình thái kinh tế - xã hội hiện tại đã lỗi thời lạc hậu; nhà nước của giai cấp thống trị đã thối nát và không còn đủ sức làm tròn chức năng vai trò của mình, trở thành vật cản của tiến bộ xã hội Tổng kết kinh nghiệm các cuộc cách mạng trong lịch sử, V.I.Lênin chỉ rõ: "Muốn có cách mạng thì riêng việc quần chúng
bị áp bức nhận thức không thể sống như trước nữa cũng chưa đủ còn phải
1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr 269
Trang 6những kẻ bóc lột cũng không thể sống và thống trị như trước được nữa"1 Do những nguyên nhân nêu trên mà " tính tích cực của quần chúng được nâng lên
rõ rệt ”2
Như vậy, theo hình thái điển hình, tình thế cách mạng có các đặc trưng cơ bản là, khủng hoảng chính trị đạt tới cực điểm và ngay cả tầng lớp trên cũng không thể sống như trước được nữa; nỗi cùng khổ và quẫn bách của các giai cấp
bị áp bức trở nên nặng nề hơn mức bình thường; tính tích cực của quần chúng được nâng cao rõ rệt Các đặc trưng trên quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành một hoàn cảnh hiện thực để cách mạng xã hội có thể nổ ra và giành được thắng lợi Tình thế cách mạng là một trạng thái đặc biệt, đúng như V.I.Lênin khẳng định: “Không thể có cách mạng nếu không có tình thế cách mạng”3
Tình thế cách mạng vận động, biến đổi tuỳ thuộc điều kiện hoàn cảnh lịch
sử cụ thể Sự vận động, biến đổi của tình thế cách mạng sẽ làm xuất hiện thời cơ cách mạng Thời cơ cách mạng là thời điểm thuận lợi nhất trong tình thế cách mạng, là sự hội tụ của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đã phát triển đến độ chín muồi bảo đảm cho cách mạng nổ ra và giành thắng lợi Thời cơ cách mạng thường xuất hiện trong thời gian ngắn, thậm chí là rất ngắn Nó có thể do sự chín muồi của các nhân tố bên trong tạo ra hoặc do hoàn cảnh thuận lợi từ bên ngoài đưa lại
Để cách mạng xã hội nổ ra, ngoài sự chín muồi của điều kiện khách quan, còn phải có sự chín muồi của cả nhân tố chủ quan V.I.Lênin khẳng định:
“Không phải tình thế cách mạng nào cũng làm nổ ra cách mạng, mà chỉ có trong trường hợp cùng với tất cả những thay đổi khách quan nói trên, lại còn có thêm thay đổi chủ quan”4 Nhân tố chủ quan của cách mạng xã hội là toàn bộ trình độ nhận thức, ý chí, và năng lực tổ chức thực tiễn của các giai cấp và lực lượng cách mạng Sự phát triển nhân tố chủ quan của cách mạng xã hội có quan hệ biện chứng với điều kiện khách quan Sự chín muồi nhân tố chủ quan của cách mạng xã hội được biểu hiện ở trình độ giác ngộ, tính tích cực chính trị, ý chí quyết tâm, tinh thần sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của giai cấp và quần chúng cách mạng Sự trưởng thành về chính trị, tư tưởng và tổ chức của giai cấp lãnh đạo cách mạng là yếu tố quyết định trực tiếp để cách mạng xã hội
có thể nổ ra và đi tới thành công
1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr 269
2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 4, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr 86-87
3 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr 268
4 V.I Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr 269
Trang 7V.I Lênin chỉ rõ: "Một là đa số công nhân (hay dù sao cũng là đa số công nhân giác ngộ, có suy nghĩ, tích cực về mặt chính trị) hoàn toàn hiểu được rằng cách mạng là cần thiết và sẵn sàng hy sinh vì cách mạng; hai là cuộc khủng hoảng lôi cuốn cho đến cả những quần chúng lạc hậu nhất vào trong sinh hoạt chính trị ( ) làm yếu chính phủ và tạo điều kiện cho những người cách mạng có thể lật đổ chính phủ một cách nhanh chóng"1 và khẳng định: “… cùng với tất cả những thay đổi khách quan nói trên, lại còn có thêm một thay đổi chủ quan, tức
là giai cấp cách mạng có khả năng phát động những hành động cách mạng có tính chất quần chúng, khá mạnh mẽ để đập tan (hoặc lật đổ) chính phủ cũ…”2
Thông qua nhân tố chủ quan, bằng hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của mình các lực lượng cách mạng thúc đẩy tình thế cách mạng phát triển nhanh chóng hơn Nếu nhận thức đúng đắn tình thế cách mạng, các lực lượng cách mạng sẽ có khả năng xác lập đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, từ
đó tuyên truyền vận động, tổ chức quần chúng tham gia ngày càng đông đảo vào phong trào cách mạng Kết quả các hoạt động này vừa là một tác nhân vô cùng quan trọng thúc đẩy tình thế cách mạng phát triển; vừa giúp các lực lượng cách mạng tôi luyện ý chí đấu tranh, lớn mạnh không ngừng về lực lượng, tổ chức và phương pháp, nghệ thuật đấu tranh cách mạng Giải quyết được những nhiệm vụ ấy chính là biểu hiện rõ nhất của vai trò nhân tố chủ quan trong việc tạo thời cơ, nắm bắt thời cơ, giành thắng lợi quyết định trong cách mạng xã hội
Trái lại, nếu các lực lượng cách mạng, nhất là giai cấp lãnh đạo cách mạng không phát huy được vai trò của nhân tố chủ quan; không đánh giá đúng
sự biến đổi của điều kiện khách quan và không nhạy bén, chủ động trong phát hiện thời cơ và tận dụng thời cơ thì dù điều kiện khách quan có chín muồi, cách mạng xã hội cũng không thể nổ ra và giành được thắng lợi Thực tiễn lịch sử cho thấy, việc phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng quân Đồng minh năm 1945 là thời cơ
vô cùng thuận lợi của toàn bộ phong trào cách mạng ở Đông - Nam Á, nhưng chỉ ở Việt Nam cách mạng vô sản mới thành công Thành công đó là do đường lối đúng đắn, phương pháp cách mạng sáng tạo và nghệ thuật nắm bắt thời cơ tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh
Vai trò ngày càng tăng của nhân tố chủ quan là một vấn đề mang tính quy luật trong cách mạng xã hội Vai trò tăng lên của nhân tố chủ quan xuất
1V.I Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr 86 - 87
2 V.I Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr 269
Trang 8phát chính từ nhiệm vụ ngày càng tăng của cách mạng xã hội Ở cách mạng
tư sản, vai trò tổ chức, lãnh đạo của giai cấp tư sản chủ yếu dừng lại ở giai đoạn giành chính quyền, nhưng với cách mạng vô sản giành chính quyền mới chỉ là bước đầu Nên đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò của các đảng cộng sản và ý chí, nghị lực, khả năng sáng tạo to lớn của toàn thể quần chúng nhân dân lao động
Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan có quan hệ biện chứng với nhau và bất cứ cuộc cách mạng xã hội nào cũng đều phụ thuộc vào cả hai nhân
tố này Trong mối quan hệ này, yếu tố suy đến cùng quyết định để cách mạng xã hội nổ ra và giành được thằng lợi là điều kiện khách quan, nhưng khi điều kiện khách quan đã phát triển đến độ chín muồi thì sự thành bại của sự nghiệp cách mạng lại hoàn toàn phụ thuộc vào vai trò của nhân tố chủ quan V.I Lênin cho rằng: “Thật là sai lầm nếu nghĩ rằng các giai cấp cách mạng bao giờ cũng có đủ lực lượng để thực hiện cách mạng, khi cách mạng đó đã hoàn toàn chín muồi do điều kiện của sự phát triển kinh tế - xã hội Cuộc cách mạng có thể đã chín muồi, nhưng những con người cách mạng sáng tạo ra cuộc cách mạng đó lại có thể chưa đủ sức để thực hiện nó”1
Để giành thắng lợi cho cuộc cách mạng vô sản, những người cộng sản cần xem xét toàn diện cả điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, tránh khuynh hướng tuyệt đối hoá, hoặc tách rời hai yếu tố trên Kiên quyết chống mọi biểu hiện của tư tưởng “tả khuynh” nôn nóng, chủ quan duy ý chí, phát động quần chúng làm cách mạng khi điều kiện khách quan chưa chín muồi, tình thế cách mạng chưa xuất hiện Đồng thời, thường xuyên đấu tranh, khắc phục tư tưởng “hữu khuynh”, thụ động, trông chờ sự phát triển tự phát của tình thế và thời cơ cách mạng, không phát huy hoặc phát huy không đầy đủ vai trò của nhân tố chủ quan
1 V.I Lênin, Toàn tập, tập 11, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr 459
Trang 9đó là lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của quần chúng Hình thức của bạo lực cách mạng được thể hiện phong phú đa dạng, tuỳ thuộc hoàn cảnh lịch
sử và so sánh lực lượng giữa lực lượng cách mạng và lực lượng phản cách mạng Bạo lực cách mạng có các hình thức phổ biến là đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang và sự kết hợp giữa hai hình thức đó Đương nhiên, không phải hình thức đấu tranh chính trị nào của quần chúng cũng là bạo lực cách mạng Nó chỉ thực sự là bạo lực cách mạng khi cuộc đấu tranh chính trị đó trực tiếp chống lại bạo lực phản cách mạng và hướng tới nhiệm vụ giành, giữ, sử dụng chính quyền nhà nước
Mục đích sử dụng bạo lực cách mạng là ngăn chặn hoặc đập tan bạo lực phản cách mạng của giai cấp thống trị và các lực lượng phản động để giành, giữ
và sử dụng chính quyền nhà nước
Trong lịch sử, có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của bạo lực Có quan điểm tuyệt đối hoá mặt “phá huỷ” của bạo lực, coi đó là “tội ác”, là vô nhân đạo Đặc biệt, có quan điểm còn coi bạo lực là “vạn năng”, là nguyên nhân sản sinh ra xã hội mới Đối lập với các quan điểm trên, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, bạo lực cách mạng là điều kiện cần thiết cho các cuộc cách mạng xã hội, là công cụ và phương tiện để các giai cấp cách mạng lật đổ các thể chế chính trị lỗi thời, xây dựng chế độ xã hội tiến bộ Ph.Ăngghen chỉ rõ: "theo Mác, bạo lực còn là bà đỡ của một xã hội cũ đang thai nghén trong lòng một xã hội mới, bạo lực là công cụ mà sự vận động xã hội dùng để tự mở đường cho mình
và đập tan những hình thức chính trị cứng đờ và chết"1 Như vậy, theo tư tưởng của các nhà kinh điển mácxít, bạo lực cách mạng không chỉ góp phần đập tan những chướng ngại cuối cùng, những chướng ngại dù yếu tới mấy cũng không bao giờ tự đổ để đưa tới sự ra đời của xã hội mới Mà nó còn là điều kiện tất yếu
để củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng
Chủ nghĩa Mác - Lênin không bao giờ coi bạo lực là mục đích, là chìa khoá vạn năng và phương tiện duy nhất của cách mạng xã hội Hình thức của bạo lực ra sao và sử dụng bạo lực khi nào, ở đâu, đến mức nào là tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, vào so sánh giữa lực lượng cách mạng và lực lượng phản cách mạng, mà trước hết phụ thuộc vào mức độ chống đối của kẻ thù
1 C Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.259
Trang 10Trên cơ sở nghiên cứu toàn diện, sâu sắc vấn đề bạo lực cách mạng, đồng thời tổng kết kinh nghiệm các cuộc cách mạng xã hội trong lịch sử, các nhà kinh
điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định cách mạng bạo lực là một quy luật phổ biến của mọi cuộc cách mạng Cách mạng bạo lực là phương thức tất yếu
để tiến hành cách mạng xã hội, trong đó giai cấp cách mạng sử dụng bạo lực
cách mạng để giành, giữ chính quyền nhà nước
Tính tất yếu và phổ biến của cách mạng bạo lực được xuất phát trước hết
từ vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội là vấn đề chính quyền nhà nước Việc giành, giữ chính quyền luôn là cơ sở, nền tảng chi phối các nhiệm vụ khác của cách mạng Thời điểm giành được chính quyền hoặc để mất đi chính quyền đánh dấu sự thành công hay thất bại của một cuộc cách mạng xã hội Nhưng bao giờ “quyền lực nhà nước tức là bạo lực xã hội tập trung và có tổ chức”1 cũng là công cụ bảo vệ có hiệu quả nhất quyền lợi của giai cấp thống trị Cho nên, giai cấp thống trị sử dụng nhà nước để đàn áp phong trào cách mạng
và thường xuyên cố gắng cao nhất để bảo vệ sự tồn tại của nhà nước ấy; đồng thời, tìm mọi cách để giành lại khi nó mất đi Giai cấp cách mạng cũng không thể thực hiện được nhiệm vụ cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới nếu không giành và giữ được chính quyền nhà nước
Việc sử dụng cách mạng bạo lực không phải được bắt nguồn từ ý muốn chủ quan của các giai cấp cách mạng mà từ chính bản chất và sự chống phá của
kẻ thù, đặc biệt là trong các cuộc cách mạng vô sản V.I.Lênin khẳng định: “Nhà nước tư sản bị thay thế bởi nhà nước vô sản (chuyên chính vô sản) không thể bằng con đường tiêu vong được mà chỉ có thể theo quy luật chung, bằng một cuộc cách mạng bạo lực thôi ”2
Trong khi khẳng định tính phổ biến của cách mạng bạo lực, các nhà kinh
điển mácxit cũng không phủ nhận khả năng cách mạng xã hội có thể giành thắng lợi bằng phương pháp hoà bình Phương pháp hoà bình là hình thức đấu
tranh giành, giữ chính quyền nhà nước mà không diễn ra đấu tranh vũ trang, đổ máu Đây là phương pháp rất quí và hiếm, phù hợp với bản chất, nguyện vọng của các giai cấp cách mạng, nhất là giai cấp vô sản Để cách mạng có thể giành thắng lợi bằng phương pháp hoà bình, điều kiện tiên quyết là các lực lượng cách mạng đã chiếm ưu thế áp đảo trong so sánh lực lượng và khả năng chống cự
1 C Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.1043
2 V.I Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva,1976, tr 27
Trang 11của giai cấp thống trị là vô cùng yếu ớt Như vậy, phương pháp hoà bình chỉ có hiệu quả khi dựa chắc vào bạo lực cách mạng, có sự hậu thuẫn của lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang cách mạng đã lớn mạnh Cho nên về thực chất, phương pháp hoà bình chỉ là hình thức biểu hiện khác của cách mạng bạo lực và vẫn nằm trong phạm trù cách mạng bạo lực
Con đường giành thắng lợi bằng phương pháp hoà bình của chủ nghĩa Mác - Lênin hoàn toàn đối lập với quan điểm “quá độ hoà bình” của các trào lưu
cơ hội chủ nghĩa Các trào lưu này chủ trương lấy đấu tranh nghị trường là hình thức đấu tranh chủ yếu và duy nhất Họ mơ tưởng lợi dụng chế độ dân chủ tư sản để “giành lấy đa số trong nghị viện”, từ đó biến nhà nước tư sản thành công
cụ xây dựng chủ nghĩa xã hội Họ không nhận thức đúng vai trò to lớn của bạo lực cách mạng, các hình thức đấu tranh của quần chúng cách mạng cho nên chủ trương điều hoà giai cấp, từ bỏ cách mạng bạo lực và chuyên chính vô sản, từ
bỏ những tư tưởng nền tảng của chủ nghĩa Mác
3.2 Vấn đề cách mạng xã hội trong thời đại ngày nay
Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, nên cách mạng xã hội trong thời đại ngày nay chỉ
có thể là cách mạng xã hội chủ nghĩa
Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự thoái trào tạm thời của phong trào cách mạng làm cho không ít người hoài nghi về vai trò của cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay Song, thực tiễn đã khẳng định, dù cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại có phát triển tới đâu cũng không thể thay thế được cách mạng xã hội Bởi cách mạng khoa học và công nghệ chỉ có thể cải biến trong một lĩnh vực của đời sống xã hội, thậm chí trong xã hội tư bản các thành tựu của nó còn dẫn đến những hậu quả to lớn cho nhân loại, như tạo ra các loại vũ khí huỷ diệt; làm cạn kiệt tài nguyên; ô nhiễm môi trường sinh thái, v.v Chỉ có cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, “một cuộc cách mạng mà tất cả các cuộc cách mạng từ trước đến nay không thể nào so sánh được”1 mới đem lại khả năng nhảy vọt về chất trong toàn bộ đời sống xã hội
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định tính tất yếu của cách mạng xã hội xuất phát từ chính nhu cầu của nền sản xuất xã hội, từ nhu cầu giải quyết mâu
1 C Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr 696
Trang 12thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong xã hội tư bản hiện nay, nhờ lợi dụng được những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất của nó đã được xã hội hoá cao độ Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa mặc dù có những điều chỉnh, nhưng bản chất vẫn là chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa
Do vậy, có thể khẳng định, xung đột giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong lòng chế độ tư bản không những không mất đi, mà còn gay gắt hơn Tính chất gay gắt của mâu thuẫn cơ bản này biểu hiện không chỉ ở các nước tư bản phát triển, mà còn ở các nước mới đi vào con đường tư bản chủ nghĩa; không chỉ biểu hiện trong lĩnh vực sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần trong từng nước tư bản chủ nghĩa, mà đã biến thành các mâu thuẫn thời đại, thành những vấn đề toàn cầu Đảng ta khẳng định: “ Chủ nghĩa tư bản hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường, song không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có, đặc biệt là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất…”1 Bởi vậy, việc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa để lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, lật đổ “một thế giới không thể chấp nhận được”2, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn là một tất yếu của lịch sử
Mâu thuẫn gay gắt giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong lòng chế độ tư bản hiện đại và vấn đề gia tăng mạnh mẽ sự bần cùng hoá của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động đã làm cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục diễn ra Nhưng tình thế cách mạng không chỉ là quá trình phát triển tự phát mà nó còn là kết quả của những hoạt động tự giác của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động; không chỉ phụ thuộc vào so sánh lực lượng cách mạng với lực lượng phản cách mạng, mà còn phụ thuộc vào bối cảnh chung của tình hình quốc tế
Hiện nay, sau sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu làm cho so sánh lực lượng tạm thời nghiêng về phía các lực lượng phản cách mạng Với những thủ đoạn xảo quyệt, đúc kết từ quá trình chống phá các phong trào cách mạng và những điều chỉnh để thích nghi tồn tại, giai cấp tư sản đã làm cho giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển "ít nhiều có ảo
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001, tr 65
2 Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.80
Trang 13tưởng về những cải thiện mà họ được dự phần "1 Những tác động trên phần nào
đã ảnh hưởng tới phong trào công nhân, phong trào cách mạng hiện nay Mặc dù cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể chưa nổ ra trong thời gian tới đây ở các nước
tư bản phát triển, nhưng tính tất yếu và tiềm năng của nó vẫn được tăng cường
Hiện nay, “trên thế giới, hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn”2 Nhưng chủ nghĩa đế quốc vẫn hiện nguyên hình là một thế lực phản động, hiếu chiến và sẵn sàng sử dụng bạo lực phản cách mạng để đàn áp các phong trào cách mạng Chiến lược “diễn biến hoà bình” nhằm chống lại các quốc gia
có chủ quyền mà trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa vẫn là chiến lược được thực hiện dựa trên sức mạnh của bạo lực phản cách mạng và để chống lại bạo lực phản cách mạng đó tất yếu phải có bạo lực cách mạng Do vậy, quan điểm cách mạng bạo lực của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn giữ nguyên giá trị trong điều kiện hiện nay Sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô; đồng thời các cuộc chiến tranh phi nghĩa bằng vũ khí công nghệ cao thời gian gần đây do chủ nghĩa đế quốc mà đứng đầu là đế quốc Mỹ tiến hành là bài học cảnh tỉnh những
ai còn mơ hồ, mất cảnh giác đối với bạo lực phản cách mạng, coi nhẹ hoặc phủ nhận bạo lực cách mạng trong tình hình mới
Là một đảng mácxít chân chính, Đảng ta luôn trung thành và vận dụng sáng tạo quan điểm cách mạng bạo lực của chủ nghĩa Mác -Lênin vào hoàn cảnh của Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Ngày nay, “nước ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp, không thể coi thường bất cứ thách thức nào”3 Bởi vậy, những bài học quí báu trong sự nghiệp đổi mới hơn 20 năm qua cần tiếp tục được phát huy trong sự nghiệp đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang cần nhận thức sâu sắc bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có lý luận về cách mạng xã hội Nhận thức sâu sắc đặc điểm của cách mạng vô sản và củng cố niềm tin tất thắng vào
sự nghiệp cách mạng của đất nước Không ngừng nâng cao cảnh giác cách
1 Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 108
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2006, tr 73
3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2006, tr 22
Trang 14mạng, kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác trước những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Thực chất và vai trò của cách mạng xã hội ? Vận dụng xem xét vai trò của cách mạng xã hội trong thời đại ngày nay ?
2 Phân tích nguyên nhân và tính chất của cách mạng xã hội? Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề trong xem xét tính tất yếu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời đại ngày nay ?
3 Nêu và phân tích các đặc trưng cơ bản của tình thế cách mạng ? Vận dụng xem xét tình thế của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời đại ngày nay ?
4 Phân tích mới quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong cách mạng xã hội Vận dụng phê phán các quan điểm sai lầm về vấn đề này hiện nay ?
Trang 15Chương 9 NHÀ NƯỚC
Nhà nước là vấn đề thực sự phức tạp bởi nó đụng chạm trực tiếp đến lợi ích sống còn của các giai cấp Quyền lực nhà nước còn là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong lĩnh vực chính trị và chính quyền luôn là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, chính quyền nhà nước cũng là vấn đề rất mấu chốt, rất cơ bản mà giai cấp vô sản cùng nhân dân lao động phải nhận thức sâu sắc và giải quyết chính xác trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng khỏi mọi ách áp bức, bóc lột giai cấp; cải tạo xã hội cũ và xây dựng thành công xã hội mới
1 Nguồn gốc và bản chất của nhà nước
1.1 Nguồn gốc của nhà nước
Trong lịch sử đã xuất hiện nhiều quan điểm giải thích sai lầm về sự ra đời của nhà nước Trên lập trường duy tâm khách quan, Hêghen cho rằng, nhà nước
là do sự tha hoá của "ý niệm tuyệt" đối sinh ra Thời kỳ cận đại xuất hiện những quan điểm điển hình của Hốpxơ (1588-1679), Lốccơ (1632-1704), Rútxô (1712-1778) Các nhà triết học cận đại đã đề cập đến nhà nước như là sản phẩm của khế ước xã hội, nhà nước được xem như là một sự thoả thuận và ý chí chung của nhân dân, nhưng những quan điểm của họ vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm về vấn đề nhà nước Chủ nghĩa Tômát mới quan niệm, nhà nước có nguồn gốc thiêng liêng từ chúa, do vậy nhà nước có thần tính; sự ra đời của nhà nước nhằm bảo vệ quyền lợi cho mọi thành viên trong xã hội và do vậy nhà nước không có tính giai cấp
Lý luận khoa học về nhà nước chỉ có thể có được trên cơ sở quan niệm duy vật biện chứng về sự phát triển xã hội Chỉ đến khi chủ nghĩa Mác - Lênin
ra đời vấn đề nguồn gốc, bản chất của nhà nước mới được xem xét và luận giải một cách khoa học trên cơ sở các quan hệ kinh tế, quan hệ giai cấp của xã hội
Quan điểm mácxít cho rằng, nhà nước ra đời là một tất yếu khách quan ở một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội Sự ra đời, tồn tại của nhà nước xét đến cùng là do sự phát triển của lực lượng sản xuất đưa tới sự ra đời của chế độ tư hữu và trực tiếp là do mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà Nhà nước là một phạm trù lịch sử, nó chỉ ra đời và tồn tại trong một giai đoạn nhất
Trang 16định của sự phát triển lịch sử xã hội và nhà nước sẽ mất đi khi những cơ sở tồn tại của nó không còn nữa
Lịch sử cho thấy, xã hội cộng sản nguyên thuỷ dựa trên chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất, mọi người sống bình đẳng, trong xã hội chưa có giai cấp và chưa có nhà nước Phù hợp với tình trạng kinh tế hết sức thấp kém lúc này là chế độ thị tộc, bộ lạc nguyên thuỷ Đứng đầu các thị tộc, bộ lạc này là những tộc trưởng và hội đồng tộc trưởng do nhân dân bầu ra Những thủ lĩnh này không có đặc quyền, đặc lợi cá nhân và họ thực hiện vai trò là người đứng đầu các thị tộc,
bộ lạc trong điều hành các công việc chung dựa vào sức mạnh của tập quán, của
dư luận xã hội và trên cơ sở đạo đức, uy tín cá nhân của họ đối với xã hội Quyền hành và chức năng của các cơ quan đứng đầu thị tộc, bộ lạc hoàn toàn không mang tính chất chính trị Bởi vậy, các cơ quan dân cử này hoàn toàn khác biệt về bản chất so với tổ chức nhà nước Mặc dù trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ nhà nước chưa ra đời, nhưng xã hội vẫn tồn tại trong vòng ổn định và trật
tự Đánh giá về thể chế tổ chức xã hội trong thời kỳ này, Ph Ăngghen viết: “Với tất cả tính ngây thơ và giản dị, chế độ thị tộc đó quả là một tổ chức tốt đẹp biết bao! Không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quí tộc, vua chúa, tổng đốc, trưởng quan và quan toà, không có nhà tù, không có những vụ xử án, - thế
mà mọi việc đều trôi chảy"1
Sự phát triển của lực lượng sản xuất đưa tới sự ra đời của chế độ tư hữu
và đối kháng giai cấp trong xã hội Từ đó, quan hệ người áp bức bóc lột người thay thế quan hệ bình đẳng, hợp tác tương trợ Mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị bóc lột với giai cấp bị bóc lột ngày càng sâu sắc, cuộc đấu tranh giữa các giai cấp đó ngày càng quyết liệt không thể điều hoà được Để bảo vệ lợi ích ích kỷ của giai cấp mình, đàn áp sự phản kháng của giai cấp bị trị và bắt họ phải tuân theo những trật tự do mình đặt ra, giai cấp thống trị đã lập ra bộ máy bạo lực trấn áp - bộ máy đó chính là nhà nước Vì vậy, nhà nước xuất hiện từ mâu thuẫn giai cấp đối kháng vốn có của mỗi xã hội và ở đâu có mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà thì ở đó nhà nước xuất hiện V.I.Lênin khẳng định: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được Bất
cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai
1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 147
Trang 17cấp không thể điều hoà được thì nhà nước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hoà được"1
Nhà nước quyết không phải là cái được sinh ra từ bên ngoài áp đặt vào
xã hội và cũng không phải do ý muốn chủ quan của một cá nhân hay một giai cấp nào quy định Sự ra đời và tồn tại của nó là một tất yếu khách quan "từ nhu cầu phải kìm chế những sự đối lập giai cấp"2, làm cho cuộc đấu tranh giữa
"những giai cấp có quyền lợi kinh tế mâu thuẫn nhau đó, không thể đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội và giữ cho sự xung đột đó nằm trong "vòng trật tự"3 của giai cấp thống trị Trật tự đó là hoàn toàn cần thiết để duy trì chế độ kinh tế, trong đó giai cấp này áp bức bóc lột giai cấp khác Đương nhiên, giai cấp lập ra và sử dụng bộ máy nhà nước là giai cấp có thế lực nhất, giai cấp nắm trong tay sức mạnh kinh tế và nhờ có nhà nước giai cấp này cũng trở thành giai cấp thống trị xã hội về mặt chính trị
Như vậy, nhà nước ra đời từ những nguồn gốc kinh tế - xã hội và gắn liền với các cuộc cuộc đấu tranh giai cấp trong lịch sử Từ nguồn gốc khách quan
của sự xuất hiện nhà nước, có thể quan niệm, nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị dùng để bảo vệ lợi ích trước hết của giai cấp thống trị
và để quản lý xã hội
Nghiên cứu nguồn gốc của sự xuất hiện nhà nước là cơ sở lý luận khoa học để tiếp cận một cách đúng đắn vấn đề bản chất của nhà nước và đấu tranh chống lại các quan điểm duy tâm, phản động xung quanh vấn đề này
1.2 Bản chất của nhà nước
Bản chất của nhà nước được xác định bởi nhà nước đó do giai cấp nào tổ chức ra, hệ thống thiết chế đó nằm trong tay ai và nó phục vụ trước hết cho lợi ích của giai cấp nào Từ trước đến nay, các nhà tư tưởng của giai cấp thống trị bóc lột luôn tìm mọi cách che đậy và xuyên tạc bản chất vốn có của nhà nước Những học thuyết về nhà nước trước đây đều phủ nhận bản chất giai cấp của nhà nước và thường tuyên truyền tính chất thần bí, tôn giáo và duy tâm về bản chất của nhà nước V.I.Lênin đã từng đấu tranh không khoan nhượng bác bỏ quan điểm xuyên tạc bản chất nhà nước của các phần tử cơ hội trong Quốc tế II, mà đại biểu là E.Becxtanh và C.Cauxky khi họ cho nhà nước chỉ là một cơ quan điều hoà mâu
1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr 9
2 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 255
3 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 252 - 253
Trang 18thuẫn giai cấp, cùng những luận thuyết của các học giả tư sản khi họ tìm mọi cách biện hộ và phủ nhận bản chất giai cấp của nhà nước tư sản
Ngày nay, trước các biến động to lớn của tình hình thời cuộc, các học giả tư sản đang ra sức tuyên truyền cho tính chất "siêu giai cấp" của nhà nước
tư sản Họ cho rằng, hiện nay nhà nước tư sản đã có sự thay đổi về bản chất, rằng đây là "nhà nước phúc lợi chung", "nhà nước nhân dân tự do".v.v ; là tổ chức thực hiện ngày càng đầy đủ ý chí của nhân dân, thoả mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của xã hội và đảm bảo được phúc lợi cho tất cả mọi người Những quan điểm đó không những không phản ánh đúng đắn bản chất vốn có, đích thực của nhà nước tư sản; mà ngược lại, còn che đậy và xuyên tạc bản chất đích thực của nhà nước, họ làm cho vấn đề nhà nước vốn đã phức tạp càng trở nên phức tạp hơn
Đi từ cơ sở kinh tế và giai cấp của nhà nước, các nhà kinh điển mácxít
khẳng định, bản chất của nhà nước là công cụ quyền lực chính trị của giai cấp thống trị về kinh tế dùng để thống trị, áp bức các giai cấp khác trong xã hội
Ph.Ăngghen chỉ rõ: "Nhà nước chẳng qua chỉ là bộ máy trấn áp của một giai cấp này đối với một giai cấp khác, điều đó, trong chế độ cộng hoà dân chủ cũng hoàn toàn giống như trong chế độ quân chủ vậy"1
Với tư cách là một bộ máy trấn áp của một giai cấp này đối với một giai cấp khác, nhà nước của giai cấp thống trị bóc lột không phải là kẻ công bằng bảo vệ lợi ích cho tất cả các giai cấp, mà nó là một bộ máy quyền lực chính trị đặc biệt và được tổ chức chặt chẽ tác động vào mọi mặt của đời sống xã hội Tổ chức này do giai cấp thống trị thiết lập ra nhằm hợp pháp hoá và củng cố sự áp bức của nó đối với quần chúng nhân dân lao động Trong hệ thống tổ chức thiết chế xã hội, nhà nước là bộ phận quan trọng nhất của kiến trúc thượng tầng Tất
cả những hoạt động chính trị, văn hoá, xã hội do nhà nước tiến hành, xét cho cùng đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị Ph.Ăngghen khẳng định:
“Nhà nước, nói chung chỉ là sự phản ánh, dưới hình thức tập trung của những nhu cầu kinh tế của giai cấp thống trị trong sản xuất"1 Bởi vậy, nhà nước là công cụ sắc bén nhất của sự thống trị và áp bức giai cấp
Nhà nước do giai cấp có thế lực nhất, giai cấp thống trị về kinh tế tổ chức
ra, vì vậy nhà nước nào trong lịch sử cũng có bản chất giai cấp sâu sắc Thực tế
1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 22, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 290 - 291
Trang 19lịch sử đưa lại nhiều bằng chứng nói lên rằng, dù được che dấu dưới hình thức tinh vi như thế nào, dù có được khúc xạ qua những lăng kính phức tạp ra sao, nhà nước vẫn là công cụ bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Và bản chất đích thực của nó, là "một cơ quan thống trị giai cấp, là một cơ quan áp bức của một giai cấp này đối với một giai cấp khác"2 Tuy nhiên, bất cứ một nhà nước nào cũng sẽ không thể tồn tại được, nếu chỉ phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị
mà không tính đến lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội Ngoài việc duy trì
sự thống trị của giai cấp thống trị, nhà nước còn là tổ chức duy nhất đứng ra quản lý những hoạt động chung của xã hội và đảm bảo cho xã hội ổn định, phát triển Nhưng việc nhà nước đảm bảo những lợi ích nhất định của các giai tầng khác trong xã hội, trong chừng mực những lợi ích đó không đối lập gay gắt với lợi ích của giai cấp thống trị, cũng chính là để đảm bảo và duy trì địa vị, lợi ích của giai cấp thống trị trên thực tế
Bản chất của nhà nước được biểu hiện ra ở hệ thống quyền lực chính trị, luật pháp, nhưng trực tiếp và rõ nét nhất là ở các đặc trưng, chức năng của nhà nước
Như vậy, nhà nước bao giờ cũng là công cụ chuyên chính của một giai cấp, là nhà nước của một giai cấp Không thể có cái gọi là nhà nước "phúc lợi chung", nhà nước "siêu giai cấp", đứng trên các giai cấp hoặc của nhiều giai cấp như quan điểm của các học giả tư sản đưa ra Tuy nhiên, cũng có trường hợp nhà nước giữ một mức độ độc lập nào đó đối với cả hai giai cấp có lợi ích đối kháng nhau, khi cuộc đấu tranh giữa các giai cấp đó ở vào thế cân bằng nhất định Hoặc nhà nước cũng có thể là sản phẩm của sự thoả hiệp về quyền lợi tạm thời giữa một số giai cấp để chống lại một giai cấp khác Nhưng những trường hợp trên là có tính ngoại lệ và tạm thời Sự phát triển của điều kiện kinh tế - xã hội nói chung và cuộc đấu tranh giai cấp nói riêng sẽ phá vỡ thế cân bằng giữa các giai cấp đối địch nhau Khi đó quyền lực nhà nước sẽ được tập trung vào một giai cấp
Nghiên cứu bản chất của nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở lý luận khoa học để đấu tranh phê phán các quan điểm sai lầm, phản động về vấn đề này; bảo vệ và phát triển học thuyết mácxít về nhà nước trong tình hình mới Đây còn là cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa
1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 442
2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr.10
Trang 20học để xây dựng và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta hiện nay
2 Đặc trưng và chức năng của nhà nước
2.1 Đặc trưng của nhà nước
Theo Ph.Ăngghen, bất cứ nhà nước nào trong lịch sử cũng có ba đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, nhà nước quản lý dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định và
là đại biểu cao nhất của chủ quyền quốc gia Đặc trưng trên chỉ rõ sự khác biệt
của nhà nước với các tổ chức điều hành công việc trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ Khác với các tổ chức trong thị tộc và bộ lạc, nhà nước phân chia dân cư không theo huyết thống mà theo lãnh thổ quốc gia Quyền lực của nhà nước trực tiếp tác động đến dân cư trong lãnh thổ quốc gia đó, bất kể người dân thuộc quan hệ huyết thống nào và không phân biệt sự khác nhau về chính kiến, giới tính Bởi vậy, nói tới nhà nước là nói tới tổ chức quyền lực có chủ quyền mang nội dung chính trị - pháp lý, là đại biểu cao nhất của chủ quyền quốc gia Quyền lực nhà nước có hiệu lực trên toàn bộ đất nước, đối với tất cả dân cư và tổ chức
xã hội Nhà nước còn là tổ chức duy nhất đại diện cho quốc gia trong các quan
hệ đối ngoại và quốc tế
Thứ hai, nhà nước có bộ máy quyền lực công cộng đặc biệt và quản lý xã hội bằng pháp luật Khác với các cơ quan điều hành công việc chung trong xã
hội thị tộc và bộ lạc trước đây, nhà nước có đặc trưng quan trọng nhất là sự thiết lập một hệ thống các cơ quan quyền lực chuyên nghiệp Bộ phận quan trọng nhất của nó là những cơ quan hành chính thực hiện chức năng cai trị Nhà nước
có các đội vũ trang đặc biệt, như quân đội nhà nghề, cảnh sát vũ trang, các cơ quan cưỡng bức và những cơ sở vật chất tương ứng như nhà tù, trại tập trung, trại giam để cưỡng chế và bắt buộc những người bị trị phải phục tùng Các nhà kinh điển mácxít nhấn mạnh, phải tìm những đặc trưng cơ bản của nhà nước trong những cơ quan quyền lực trấn áp của nó V.I.Lênin chỉ rõ: "quân đội thường trực và cảnh sát là những công cụ vũ lực chủ yếu của quyền lực nhà nước"1 Trong hệ thống tổ chức quyền lực nhà nước, ngoài binh sĩ, sĩ quan và các nhân viên thuộc các lực lượng vũ trang, nhà nước còn bao gồm một bộ máy đông đảo các quan chức và viên chức thường là được trả lương cao để chuyên
1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr.12
Trang 21làm công việc hành chính cai trị Nhà nước ban hành pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật Giai cấp thống trị bóc lột lại dùng các thiết chế bạo lực để pháp luật của mình được thực thi trong thực tế Do vậy, mặc dù các cơ quan quyền lực nhà nước đều từ xã hội mà ra, nhưng về bản chất nó là quyền lực chính trị thực hiện sự thống trị giai cấp chứ không phải quyền lực xã hội Và xu hướng vận động tất yếu của các nhà nước thống trị bóc lột trong lịch sử là ngày càng thoát ly xã hội, đối lập với nhân dân
Thứ ba, nhà nước đặt ra hệ thống thuế khoá để nuôi bộ máy của nó Nhà
nước đặt ra chế độ thuế khoá và thực hiện việc thu thuế dưới hình thức bắt buộc,
có tính chất cưỡng bức để nuôi sống bộ máy cai trị Nhà nước không thể tồn tại nếu không dựa vào thuế khoá, quốc trái và các hình thức bóc lột khác Gánh nặng thuế khoá và nhiều đóng góp khác đè nặng lên vai các giai cấp bị áp bức bóc lột Một mặt, thuế khoá bảo đảm cho mọi chi phí của bộ máy nhà nước; mặt khác, nó nuôi béo bọn quan lại và làm giàu cho giai cấp thống trị V.I.Lênin coi
bộ máy nhà nước của giai cấp thống trị bóc lột là cái biếu ký sinh sống trên cơ thể xã hội Còn Ph.Ăngghen chỉ ra rằng: “Nắm được quyền lực công cộng và quyền thu thuế, bọn quan lại với tư cách là những cơ quan xã hội được đặt lên trên xã hội”1 Do vậy, về cơ bản, mọi nhà nước đều sống được là nhờ vào sự chu
cấp của nhân dân
2.2 Chức năng của nhà nước
Bản chất giai cấp và vai trò xã hội của nhà nước được thể hiện trực tiếp ở
chức năng, nhiệm vụ của nó Chức năng của nhà nước là phương diện hoạt động chủ yếu của cả bộ máy nhà nước và mỗi cơ quan nhà nước đều phải tham gia thực hiện ở những mức độ khác nhau Sự tồn tại thực tế của các nhà nước
trong lịch sử cho thấy, bất cứ nhà nước nào cũng có các chức năng cơ bản của
nó, các chức năng đó chi phối, quy định đến các nhiệm vụ cụ thể của nhà nước
Tiếp cận nhà nước từ các góc độ khác nhau, người ta có thể phân chia chức năng của nhà nước thành những loại khác nhau Tất cả các chức năng khác nhau đó đều là cái vốn có của nhà nước Xem xét phạm vi tác động của quyền lực nhà nước ở tầm vĩ mô, nhà nước với tư cách là đại biểu cao nhất của chủ quyền quốc gia nó có chức năng đối nội và chức năng đối ngoại Tiếp cận nhà
1 C.Mác và Ph.Ăngghen,Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 254
Trang 22nước từ góc độ tính chất của quyền lực chính trị, nhà nước có chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội
Chức năng thống trị chính trị của giai cấp nói lên rằng, bất kỳ nhà nước
nào cũng là công cụ chuyên chính của một giai cấp và nó sẵn sàng sử dụng mọi công cụ, mọi biện pháp có thể có để bảo vệ sự thống trị của giai cấp đó Đây là chức năng tạo thành bản chất chủ yếu của nhà nước, bởi vì quyền lực nhà nước xét về thực chất là quyền lực của giai cấp thống trị và đó cũng là lực lượng có thế lực nhất trong xã hội, cũng như trong tổ chức nhà nước Trên thực tế, các nhà nước thực hiện chức năng thống trị chính trị của giai cấp nhằm duy trì trật
tự kinh tế, chính trị, xã hội hiện có là để củng cố, bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp thống trị
Chức năng xã hội của nhà nước là do yêu cầu khách quan đòi hỏi phải
giải quyết những nhiệm vụ chung của xã hội Nó là sự kế thừa nhiệm vụ của các
tổ chức điều hành công việc chung trong lịch sử và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội, mà xét đến cùng là do tính tất yếu kinh tế quyết định Thực tế cho thấy, bất kỳ nhà nước nào cũng phải thực hiện việc quản lý những hoạt động chung, lo giải quyết những nhiệm vụ chung của toàn xã hội Trong giới hạn nhất định, để thực hiện được lợi ích của mình, nhà nước vẫn buộc phải thoả mãn bằng cách này hay cách khác những lợi ích phổ biến của toàn xã hội
Cả hai chức năng này đều bắt nguồn từ lý do ra đời và tồn tại của nhà nước và có quan hệ qua lại không thể tách rời trong mọi hoạt động của nhà nước Trong đó chức năng thống trị chính trị của giai cấp luôn giữ vị trí chi phối phương hướng, mức độ thực hiện chức năng xã hội của nhà nước Việc thực hiện chức năng xã hội theo quan điểm và giới hạn của giai cấp cầm quyền là cơ
sở và điều kiện để nhà nước thực hiện chức năng thống trị chính trị của giai cấp Nghĩa là, trong quá trình thực hiện các lợi ích riêng của mình, giai cấp thống trị nào cũng buộc phải nhân danh xã hội để quản lý và điều hành các công việc chung Khi nhà nước giải quyết có hiệu quả những vấn đề chung của xã hội sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi để duy trì xã hội trong vòng trật tự theo quan điểm và lợi ích của giai cấp cầm quyền Ph.Ăngghen chỉ rõ: "Ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị, và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó"1
1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr 252
Trang 23Ngày nay, mối quan hệ giữa các chức năng của nhà nước ngày càng trở nên mật thiết trong xã hội hiện đại Nhưng sẽ là mơ hồ ảo tưởng, thậm trí sai lầm trong hoạt động thực tiễn cách mạng nếu không thấy được tính chính trị, tính giai cấp trong các chủ trương, chính sách và sự tác động, can thiệp của nhà nước vào các lĩnh vực của đời sống xã hội Ngược lại, nếu đem quy tất cả các chức năng đa dạng, phong phú của nhà nước vào chức năng thống trị chính trị của giai cấp cũng là sai lầm phiến diện trong xem xét chức năng của các nhà nước hiện nay Bởi vậy, nghiên cứu chức năng của nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở lý luận khoa học để đấu tranh phê phán các quan điểm sai lầm về vấn đề này
3 Các kiểu và hình thức nhà nước
3.1 Kiểu nhà nước
Kiểu nhà nước là khái niệm dùng để chỉ bộ máy thống trị đó thuộc về giai cấp nào, tồn tại trên cơ sở kinh tế và tương ứng với hình thái kinh tế- xã hội nào trong lịch sử Kiểu nhà nước được quy định bởi bản chất giai cấp của nó và
tính chất, trình độ phát triển của sản xuất, của kinh tế trong các hình thái kinh tế
- xã hội nhất định Tương ứng với các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau là các kiểu nhà nước khác nhau
Trong lịch sử, tương ứng với ba hình thái kinh tế - xã hội có đối kháng giai cấp có ba kiểu nhà nước khác nhau:
Nhà nước chủ nô gắn liền với hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ Đây là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử, là công cụ của giai cấp chủ nô dùng
để áp bức thống trị giai cấp nô lệ
Nhà nước phong kiến gắn liền với hình thái kinh tế - xã hội phong kiến
Ở phương Đông, nhà nước phong kiến xuất hiện từ rất sớm với các giai đoạn phong kiến phân quyền và phong kiến tập quyền Còn ở phương Tây, nhà nước phong kiến gắn liền với tình trạng cát cứ của các lãnh chúa phong kiến
Nhà nước tư sản gắn liền với giai đoạn phát triển cao của lực lượng sản xuất và hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa Đây là công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản nhằm bảo vệ địa vị và lợi ích của nó Nhưng từ trước tới nay, các học giả tư sản luôn tìm mọi cách che dấu bản chất của nhà nước đó, song dù
có biện hộ dưới hình thức nào đi nữa thì nhà nước tư sản vẫn là một tên tư bản tập thể lý tưởng, là công cụ bạo lực của giai cấp tư sản dùng để áp bức và nô dịch quần chúng nhân dân lao động
Trang 24Ngoài ba kiểu nhà nước trên, trong lịch sử đã xuất hiện kiểu nhà nước gắn liền với hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa, đó là nhà nước kiểu mới - nhà nước xã hội chủ nghĩa Chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa
ở từng giai đoạn có sự khác nhau, nhưng xét về bản chất nó là tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dùng để cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công xã hội mới
3.2 Hình thức nhà nước
Mỗi kiểu nhà nước trong lịch sử lại có thể tồn tại dưới nhiều hình thức
khác nhau Hình thức nhà nước là khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức và phương thức thực hiện quyền lực nhà nước Nói cách khác, đó là hình thức cầm
quyền và thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị Nhà nước tồn tại dưới hình thức nào là tuỳ thuộc vào những điều kiện kinh tế - chính trị của xã hội, tuỳ thuộc vào so sánh lực lượng của các giai cấp trong xã hội Ngoài ra, truyền thống lịch sử, văn hoá và đặc điểm của mỗi dân tộc cũng có ảnh hưởng đến hình thức nhà nước
Các hình thức phổ biến của sự tồn tại các kiểu nhà nước trong lịch sử, gồm có: hình thức chính thể và hình thức cấu trúc
Ngay từ thời cổ đại, ở các nhà nước chiếm hữu nô lệ phát triển như Hy Lạp và La Mã cổ đại đã được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau Trong thời kỳ đó "…người ta đã phân biệt chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà, chính thể quí tộc và chính thể dân chủ…Mặc dù có sự khác nhau như thế, nhưng nhà nước, trong thời đại chế độ nô lệ, dù là quân chủ hay cộng hoà quí tộc hay cộng hoà dân chủ, đều là nhà nước chủ nô"1 Thời trung cổ, nhà nước phong kiến cũng được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức quân chủ tập quyền và quân chủ phân quyền; quân chủ chuyên chế và quân chủ hạn chế Trong chế độ phong kiến phân quyền, quyền lực nhà nước bị phân chia thành các quyền lực độc lập, phân tán Trong nhà nước phong kiến tập quyền, quyền lực nhà nước được tập trung vào nhà vua Trong nhà nước chuyên chế phong kiến, hoàng đế có uy quyền tuyệt đối, ý chí của nhà vua là tối thượng, là pháp luật
Dù tồn tại dưới bất kỳ hình thức nào, nhà nước chủ nô và nhà nước phong kiến cũng chỉ là tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp chủ nô và địa chủ, phong kiến Các nhà nước này đứng ra bảo vệ đặc quyền, đặc lợi cho giai cấp
1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr 86
Trang 25thống trị bóc lột Cách mạng tư sản đã lật đổ nhà nước phong kiến và đưa tới sự
ra đời của nhà nước tư sản
Nhà nước tư sản được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, như cộng hoà đại nghị; cộng hoà tổng thống Ở một số nước tư bản hiện nay, nhà nước được tổ chức dưới hình thức quân chủ lập hiến Trong hình thức này, nhà vua là người đứng đầu quốc gia trên danh nghĩa mà không có thực quyền, nghị viện là
cơ quan lập pháp và nội các nhà nước là cơ quan nắm mọi quyền hành Hiện nay, chính thể cộng hoà đại nghị được coi là hình thức hoàn bị nhất của nền chuyên chính tư sản
Sự khác nhau về hình thức của các nhà nước tư sản, không phải là đưa tới
sự thay đổi về bản chất của nó Ngược lại, dù cho tồn tại dưới hình thức nào, nhà nước tư sản vẫn là công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản V.I.Lênin viết:
“Những hình thức của các nhà nước tư sản thì hết sức khác nhau, nhưng thực chất chỉ là một: chung quy lại thì tất cả những nhà nước ấy, vô luận thế nào, cũng tất nhiên phải là nền chuyên chính tư sản"1 Từ trước đến nay, các cơ quan tuyên truyền tư sản luôn tìm mọi cách làm cho người ta tin rằng, nhà nước tư sản là sự phát triển hoàn bị nhất và đây là mẫu hình nhà nước lý tưởng đảm bảo
tự do, dân chủ cho nhân dân Nhưng dù có biện hộ thế nào thì bản chất của nhà nước tư sản vẫn là nền chuyên chính tư sản như V.I.Lênin đã khẳng định Nhà nước tư sản tuyên bố quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi công dân, nhưng quyền công dân được pháp luật tư sản quy định trên thực tế chỉ là quyền bình đẳng tư sản và xét đến cùng là để bảo đảm cho lợi ích của giai cấp tư sản
Do vậy, V.I.Lênin viết: “Pháp luật bảo vệ mọi người như nhau; nó bảo vệ tài sản của những người có của chống lại sự xâm phạm của cái khối lớn những người không có của, không có cái gì cả ngoài hai cánh tay, và dần dần bị bần cùng hoá, bị phá sản và biến thành vô sản"2 Giai cấp tư sản luôn tán dương cho
chế độ dân chủ tư sản, họ cho rằng đây là nền dân chủ không hạn chế, song bản chất chủ yếu của dân chủ tư sản là sự chuyên chính không hạn chế, là dân chủ của thiểu số giai cấp tư sản chống lại tuyệt đại đa số nhân dân Bản chất đích thực của dân chủ tư sản được V.I.Lênin chỉ ra rằng: “Cứ mấy năm lại một lần quyết định xem người nào trong giai cấp thống trị sẽ chà đạp và đè nét nhân dân trong nghị viện, đó là thực chất của chế độ đại nghị tư sản"3
1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr 44
2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr 90
3 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr 56
Trang 26V.I.Lênin còn khẳng định, trong các nhà nước tư sản dân chủ nhất, quần chúng bị áp bức luôn vấp phải cái mâu thuẫn hiển nhiên giữa quyền bình đẳng hình thức do chế độ dân chủ của bọn tư sản ban bố với hàng nghìn sự hạn chế và mánh khoé dối trá thực sự, đang biến những người vô sản thành nô lệ làm thuê Thực tế lịch sử cho thấy, trong những trường hợp nhất định, giai cấp tư sản sẵn sàng thu hẹp quyền tự do, dân chủ của nhân dân khi lợi ích giai cấp của nó trực tiếp bị đụng chạm Và cũng sẵn sàng từ bỏ cái vỏ dân chủ, bình đẳng để lộ nguyên hình một nền chuyên chính công khai dưới hình thức độc tài chuyên chế, là một hình thức biểu hiện của chuyên chính tư sản
Xu thế phát triển tất yếu của lịch sử là sự thay thế nhà nước tư sản bằng nhà nước xã hội chủ nghĩa và tất yếu dẫn tới sự thay thế dân chủ tư sản bằng nền dân chủ cao hơn về chất, đó là dân chủ vô sản Nhưng dân chủ vô sản không phải là sự phủ định sạch trơn các giá trị dân chủ mà loài người đã đạt được, mà
nó chỉ có thể phát triển khi biết kế thừa toàn bộ các giá trị dân chủ do nhân loại sáng tạo ra, kể cả các giá trị dân chủ đã đạt được trong chủ nghĩa tư bản
Hình thức cấu trúc của nhà nước chủ yếu là nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang Nhà nước đơn nhất là nhà nước có lãnh thổ toàn vẹn thống nhất,
có hệ thống cơ quan nhà nước thống nhất từ trung ương tới địa phương Nhà nước liên bang là nhà nước có nhiều thành viên hợp lại Trong nhà nước liên bang có hai hệ thống cơ quan nhà nước, hai hệ thống pháp luật của chung liên bang và của từng thành viên
Hình thức nhà nước mang tính độc lập tương đối và rất phong phú, đa dạng Ngoài các hình thức nhà nước phổ biến như đã đề cập trên, trong lịch sử còn tồn tại nhà nước liên minh Có thể có liên minh lâu dài hoặc liên minh tạm thời để giải quyết những nhiệm vụ trong những thời kỳ quá độ, chuyển tiếp Trong quá trình vận động của nó, nhà nước liên minh thường phát triển thành nhà nước liên bang hoặc tự tan rã
Kiểu nhà nước và hình thức nhà nước có quan hệ thống nhất biện chứng với nhau Tìm hiểu các kiểu và hình thức nhà nước trong lịch sử cho phép nhận thức sâu sắc hơn bản chất giai cấp của nhà nước Kiểu nhà nước quyết định hình thức nhà nước Và ngược lại, hình thức nhà nước là biểu hiện cụ thể bản chất giai cấp của kiểu nhà nước
4 Nhà nước vô sản
Trang 274.1 Sự ra đời, tồn tại, phát triển của nhà nước vô sản là tất yếu, khách quan
C.Mác khẳng định: “Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản"1 Những tiền đề kinh tế, chính trị, tư tưởng dẫn đến sự bùng nổ cách mạng
xã hội chủ nghĩa, cũng chính là tiền đề đưa tới sự xuất hiện của nhà nước vô sản Nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng và thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đưa tới sự xuất hiện tất yếu của nhà nước vô sản trong lịch sử
Sự ra đơì và tồn tại của nhà nước vô sản là quy luật phổ biến của mọi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa V.I.Lênin chỉ rõ: “Các giai cấp bị bóc lột cần đến quyền thống trị chính trị để thủ tiêu hoàn toàn mọi sự bóc lột, nghĩa là để bảo vệ lợi ích của đa số nhân dân"2 Vì vậy, một trong những mục tiêu đầu tiên,
cơ bản của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là phải lật đổ và xoá bỏ nhà nước của giai cấp thống trị bóc lột thiết lập ra nhà nước kiểu mới- nhà nước vô sản
Do tính tất yếu, cũng như đặc điểm của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ, giai cấp vô sản và nhân dân lao động phải sử dụng nhà nước để trấn áp sự kháng cự của giai cấp thống trị bóc lột và các thế lực thù địch phá hoại sự nghiệp cách mạng Mặt khác, nhà nước vô sản còn là công cụ tất yếu để xây dựng và quản lý kinh tế - xã hội, xây dựng thành công xã hội mới- xã hội chủ nghĩa
Bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản đã đem lại những hình thức chính trị phong phú, đa dạng Thực tế lịch sử cho thấy, nhà nước vô sản
đã được tồn tại dưới nhiều hình thức, như công xã; chính quyền xô viết; cộng hoà dân chủ nhân dân Song, dù tồn tại dưới hình thức nào, về bản chất, nhà nước vô sản vẫn là công cụ chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản
Nhà nước vô sản là nhà nước kiểu mới và có sự khác biệt về chất so với
các kiểu nhà nước trong lịch sử Đây là nhà nước của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo Nhà nước vô sản có sự thống nhất hữu cơ
giữa tính chất giai cấp và tính chất nhân dân Là chính quyền của nhân dân, do nhân dân lập nên, nhà nước vô sản bảo vệ lợi ích cho tuyệt đại đa số nhân dân lao động và kiên quyết đập tan mọi mưu đồ đi ngược lại ý chí, lợi ích của nhân
1 C Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập,tập 28, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 662
2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr.56
Trang 28dân Nhà nước vô sản xét về thực chất là chế độ dân chủ vô sản, đây là chế độ dân chủ cao nhất, rộng rãi, triệt để nhất trong lịch sử; là tổ chức để nhân dân lao động thông qua đó thực hiện quyền làm chủ của mình trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Quá trình củng cố tăng cường quyền lực nhà nước cũng chính là quá trình phát triển, mở rộng dân chủ Chủ nghĩa xã hội không thể tồn tại và phát triển được nếu thiếu dân chủ, thiếu sự thực hiện một cách đầy đủ và không ngừng mở rộng dân chủ V.I.Lênin chỉ rõ, phải: "Phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát triển ấy, đem thí nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn, v.v "1 Phát triển dân chủ đến cùng được V.I.Lênin coi
là một trong những nhiệm vụ cấu thành của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là một vấn đề có tính quy luật trong sự tồn tại, phát triển của nhà nước vô sản
Nhà nước vô sản được xây dựng trên nền tảng khối liên minh giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức Thực hiện liên minh trên là yêu cầu khách quan của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, nó đảm bảo sự thống nhất những lực lượng chính trị - xã hội cơ bản của cách mạng; tạo ra nền tảng vững chắc cho nhà nước vô sản và đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình Đảng của giai cấp công nhân thực hiện vai trò lãnh đạo đối với toàn xã hội thông qua chính quyền nhà nước Việc đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với nhà nước vô sản là nguyên tắc sống còn của chuyên chính vô sản Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản quyết định tính chất giai cấp công nhân của bộ máy nhà nước; là điều kiện quyết định
để đảm bảo thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, đảm bảo cho nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân
Nhà nước vô sản là nhà nước kiểu mới, có sự kết hợp giữa hai chức năng trấn áp và tổ chức xây dựng, trong đó chức năng tổ chức xây dựng là chủ yếu
Nhà nước vô sản sử dụng chức năng bạo lực trấn áp không phải bắt nguồn từ bản chất của nó, mà do tính tất yếu phải khắc phục sự chống đối của kẻ thù V.I.Lênin nhấn mạnh: "Chúng ta không muốn dùng bạo lực đối với con người"2, nhưng buộc phải dùng bạo lực bởi vì " các giai cấp phản động thường là kẻ đầu tiên dùng bạo lực và nội chiến" và "nếu không có bạo lực thì không thể bẻ gãy
sự kháng cự của bọn bóc lột đó"3 Những điều kiện kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ đòi hỏi phải không ngừng tăng cường, củng cố chức năng trấn áp cho
1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr 97
2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr 159
3 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr 134
Trang 29nhà nước vô sản để đập tan các âm mưu chống phá và hành động xâm lược của
kẻ thù, bảo vệ vững chắc sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Tổ chức xây dựng thành công xã hội mới - xã hội chủ nghĩa là chức năng
cơ bản, chủ yếu nhất của nhà nước vô sản Với chức năng trên, nhà nước vô sản
có các nhiệm vụ cụ thể, như xây dựng, phát triển kinh tế; văn hoá; giáo dục v.v , tạo lập những tiền đề kinh tế - xã hội để xây dựng thành công xã hội cộng sản chủ nghĩa Cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công xã hội mới là sự nghiệp vĩ đại, khó khăn, lâu dài Đây là nội dung chủ yếu và mục đích cuối cùng của cách mạng vô sản Nó không thể được giải quyết bằng một hành động dũng cảm nhất thời nào đó, mà đòi hỏi nhà nước vô sản phải có đầy đủ năng lực tổ chức và quản lý việc xây dựng xã hội mới trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội
Chức năng trấn áp và tổ chức xây dựng của nhà nước vô sản thống nhất hữu cơ với nhau, thể hiện bản chất và sứ mệnh lịch sử của nhà nước kiểu mới Bản chất của nhà nước vô sản không phải được biểu hiện ra chủ yếu là bạo lực,
mà là tổ chức xây dựng Song, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, để bảo vệ vững chắc được thành quả của sự nghiệp cách mạng và đập tan các âm mưu bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; giữ vững ổn định chính trị và tạo điều kiện thực hiện thắng lợi chức năng tổ chức xây dựng xã hội mới, giai cấp vô sản vẫn phải không ngừng tăng cường chức năng bạo lực trấn áp cho nhà nước vô sản
Nhà nước vô sản có sự thống nhất hữu cơ giữa tính dân tộc và tính quốc
tế Tính chất dân tộc của nhà nước vô sản được thể hiện ở chỗ, nó là đại diện
chân chính duy nhất cho lợi ích và chủ quyền của dân tộc, thực hiện triệt để nhất quyền độc lập, tự do của dân tộc Có được tính dân tộc đó là vì, nhà nước vô sản hoạt động theo đường lối chính trị của giai cấp vô sản, đây là giai cấp có lợi ích thống nhất với lợi ích của dân tộc Tính chất dân tộc của nhà nước vô sản cũng chính là một hình thức chính trị làm cho giai cấp vô sản mỗi nước tự mình trở thành dân tộc, trở thành giai cấp lãnh đạo dân tộc Tính chất dân tộc chân chính của nhà nước vô sản ở mỗi nước hoàn toàn thống nhất với tính chất quốc tế vô sản Bởi lẽ, lợi ích chân chính của dân tộc mà nhà nước vô sản là người đại biểu, hoàn toàn nhất trí với lợi ích quốc tế của giai cấp vô sản Giai cấp vô sản ở mỗi nước không chỉ thực hiện cách mạng ở nước mình, mà còn có nghĩa vụ quốc tế cao cả là góp phần vào sự nghiệp giải phóng tất cả những người lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, khả năng đó càng to lớn khi giai cấp vô sản
đã giành được chính quyền
Trang 30Trong khi khẳng định sự thống nhất giữa tính dân tộc và tính quốc tế của nhà nước vô sản, chủ nghĩa Mác - Lênin không xoá nhoà đi sự khác biệt nhất định giữa các dân tộc Tình hình phức tạp hiện nay đòi hỏi giai cấp vô sản ở mỗi nước bên cạnh việc chống áp bức, nô dịch dân tộc còn phải chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và việc từ bỏ các nghĩa vụ quốc tế cao cả Nhà nước vô sản phải luôn quan tâm giải quyết những vấn đề dân tộc đặt ra trong sự nghiệp cách mạng ở mỗi nước và có chính sách dân tộc đúng đắn
Nhà nước vô sản là nhà nước tự tiêu vong Đây là một kiểu nhà nước
đặc biệt, theo V.I.Lênin nhà nước vô sản là nhà nước không còn nguyên nghĩa,
là nhà nước "nửa nhà nước", nhà nước tự tiêu vong Sau khi những cơ sở kinh tế
- xã hội của sự xuất hiện và tồn tại nhà nước mất đi, nhà nước vô sản cũng tự tiêu vong đi
Sự tiêu vong của nhà nước vô sản là một quá trình lâu dài, trải qua các giai đoạn khác nhau và gắn với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Tự tiêu vong của nhà nước vô sản là tự mất dần đi, chứ không phải bằng con đường thủ tiêu hoặc xoá bỏ như quan điểm của chủ nghĩa cơ hội đưa ra Quá trình tiêu vong của nhà nước vô sản được bắt đầu ngay khi giai cấp vô sản xác lập ra chính quyền nhà nước và kết thúc khi chủ nghĩa cộng sản được thiết lập một cách hoàn toàn Nghĩa là, để đi đến tiêu vong hoàn toàn, nhà nước vô sản phải hoàn thành được nhiệm vụ lịch sử vĩ đại của nó là xây dựng thành công hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa; xoá bỏ triệt để các cơ sở phục hồi xã hội có giai cấp; tạo lập đầy đủ các điều kiện để các chức năng của nhà nước trở nên thừa
Vì vậy, quá trình tự tiêu vong của nhà nước vô sản cũng đồng thời là quá trình tăng cường, hoàn thiện không ngừng nhà nước Theo V.I.Lênin, nhà nước
vô sản ngày càng hoàn thiện, chế độ dân chủ ngày càng trở nên hoàn bị bao nhiêu thì nó càng nhanh chóng tự tiêu vong bấy nhiêu Và đó chính là biện chứng quá trình tồn tại, phát triển của nhà nước vô sản
Những đặc điểm bản chất trên của nhà nước vô sản cho thấy, đây là nhà nước kiểu mới, là tổ chức quyền lực chính trị có bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân sâu sắc Thực tế sự tồn tại, phát triển của nhà nước vô sản trong lịch
sử đã khẳng định tính ưu việt vốn có và những thành tựu to lớn mà nó đã đạt được Nhưng nó cũng không phủ nhận những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình tồn tại thực tế của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Bởi vậy, không ngừng đổi mới
Trang 31kiện toàn, phát huy vai trò của nhà nước vô sản hiện nay là nhiệm vụ, yêu cầu quan trọng của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước
4.2 Một số vấn đề phương pháp luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, là nhà nước của dân, do dân, vì dân, được xây dựng trên nền tảng xã hội là khối liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đây là nhà nước kiểu mới, công cụ chuyên chính cách mạng của giai cấp công nhân và có bản chất giai cấp công nhân sâu sắc Khác với các nhà nước của giai cấp thống trị bóc lột, Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có được cơ sở khách quan cho sự thống nhất hữu cơ giữa bản chất giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc
Đảng ta xem nhà nước xã hội chủ nghĩa là cột trụ của hệ thống chính trị, cho nên xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay là một nhiệm vụ bức thiết, để đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, đảm bảo cho nhà nước thực sự là "công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân,
do dân, vì dân"1
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là
xây dựng một nhà nước đề cao pháp luật, trong đó mọi chủ thể (kể cả nhà nước)
đều phải tuân thủ và phục tùng một cách nghiêm chỉnh pháp luật
Phải thực hiện tốt vấn đề có tính nguyên tắc là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước
Tiếp tục “Xây dựng cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực
Học thuyết mácxít về nhà nước là cơ sở lý luận khoa học để vận dụng vào xem xét, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Đồng thời, nó cũng là cơ sở lý luận để đấu tranh phê phán, đập tan các quan điểm sai lầm, phản động của các thế lực thù địch đang ra sức xuyên tạc bản chất,
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001, tr.48
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2006, tr.126
Trang 32vai trò của Nhà nước ta trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa Nghiên cứu
lý lụân về nhà nước còn có ý nghĩa to lớn đối với lực lượng vũ trang Trước hết,
nó là cơ sở lý luận khoa học để khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Quân đội ta, đó chính là bản chất giai cấp của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Lý luận mácxít về nhà nước còn là cơ sở để đấu tranh đập tan luận điệu
"phi chính trị hoá quân đội", mà thực chất là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản với quân đội Quân đội ta là công cụ bạo lực chủ yếu của nhà nước, bởi vậy trong xây dựng quân đội hiện nay đòi hỏi trước hết phải tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, xây dựng Quân đội ta vững mạnh về chính trị Để nâng cao sức mạnh chiến đấu và chất lượng tổng hợp của quân đội hiện nay, cần phải tiếp tục quán triệt quan điểm của Đảng ta về xây dựng quân đội nhân dân, theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại"1 để Quân đội ta hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ do Đảng và nhà nước giao cho
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Phân tích nguồn gốc và bản chất của nhà nước? Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề trong tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta hiện nay?
2 Phân tích các đặc trưng cơ bản của nhà nước? Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề?
3 Trình bày chức năng của nhà nước, quan hệ giữa chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội của nhà nước? Vận dụng phê phán các quan điểm sai lầm về vấn đề này?
4 Phân tích đặc điểm cơ bản của nhà nước vô sản? Vận dụng xem xét vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay?
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2006, tr.110
Trang 33Chương 10 CON NGƯỜI - CÁ NHÂN - XÃ HỘI
Con người là đối tượng nghiên cứu của mọi trào lưu triết học trong lịch
sử Các học thuyết triết học từ thời cổ đại cho đến nay đã lý giải bằng nhiều cách khác nhau những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất về con người Triết học Mác - Lênin là triết học xuất phát từ con người và vì con người Thực chất chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và triết học Mác - Lênin nói riêng là học thuyết giải phóng con người, vì sự phát triển toàn diện của con người
1 Nguồn gốc và bản chất con người
1.1 Khái niệm con người
Trong lịch sử, triết học trước Mác đã có nhiều quan niệm khác nhau về con người Triết học phương Đông cổ, trung đại đã có các quan điểm khác nhau
về nguồn gốc con người Theo quan điểm duy tâm, tôn giáo, con người do thần thánh, do lực lượng siêu nhiên tạo ra; cuộc sống con người do trời, thần sắp đặt,
an bài Ngược lại, theo quan niệm duy vật mộc mạc, con người do Thái Cực, Ngũ Hành hoặc do nước, khí… tạo thành Đây là quan niệm mộc mạc, ngây thơ, chưa có cơ sở khoa học vững chắc
Vấn đề bản chất con người, trong triết học phương Đông đã được giải thích theo các khuynh hướng khác nhau Đáng chú ý là quan điểm “Thiên nhân hợp nhất”, tức là trời và người hoà hợp với nhau Thuyết “con người là một tiểu
vũ trụ” tức con người là một bộ phận của tự nhiên, mang các tính chất của tự nhiên và chịu sự chi phối của tự nhiên Những quan điểm trên có đóng góp cho
tư tưởng triết học về nguồn gốc, bản chất con người Mặc dù vậy, do hạn chế về điều kiện lịch sử và trình độ khoa học các quan điểm đó chưa lý giải được một cách đầy đủ và sâu sắc những vấn đề trên
Trong triết học phương Tây cổ đại, chủ nghĩa duy vật đã giải thích nguồn gốc, bản chất con người theo quan điểm duy vật chất phác, mộc mạc Theo quan
Trang 34điểm của các nhà triết học tự nhiên, con người là một bộ phận cấu thành của tồn tại, của thế giới, là một bản nguyên vật chất xác định Phái nguyên tử luận, tiêu biểu là Đêmôcrít cho rằng mọi sinh vật đều cấu tạo từ nguyên tử Linh hồn con người cũng là vật chất, được cấu tạo từ nguyên tử Chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại đã coi con người có hai phần thể xác và linh hồn, trong đó linh hồn là bất tử Aritxtốt cho rằng, con người là một động vật chính trị, qua đó ông đã đặt vấn đề nghiên cứu cả mặt tự nhiên và mặt xã hội của con người từ rất sớm
Trong triết học thời kỳ trung cổ, quan niệm con người bị chi phối bởi quan điểm duy tâm của tôn giáo Theo giáo lý Kitô, con người do Chúa sáng tạo
ra, con người có phần thể xác và linh hồn Khi thể xác mất đi, linh hồn vẫn tồn tại Thể xác và linh hồn đối lập nhau như cái thấp hèn và cái cao thượng Chúa
là lực lượng siêu tự nhiên, định đoạt mọi số phận của con người, ban phước hoặc trừng phạt con người
Trong triết học Tây Âu thời kỳ Phục Hưng - Cận đại, quan niệm về con người có bước phát triển đáng kể, phản ánh những vấn đề do khoa học và thực tiễn đặt ra Các nhà triết học duy vật, dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo về vấn đề nguồn gốc, bản chất con người Theo quan điểm duy vật, con người là một thực thể vật chất, ý thức từ vật chất sinh ra, là thuộc tính của vật chất Chủ nghĩa duy vật nghiên cứu bản tính tự nhiên của con người Chủ nghĩa duy tâm đi sâu bản chất tinh thần của con người
Trong triết học cổ điển Đức quan niệm con người đã phát triển mạnh mẽ
ở cả hai khuynh hướng duy tâm và duy vật Hêghen tuyệt đối hoá con người lý tính, cho rằng ý niệm tuyệt đối tha hoá thành tự nhiên, xã hội và con người Ý niệm tuyệt đối là thực thể tinh thần sinh ra vũ trụ và con người L.Phoiơbắc đã phê phán quan điểm duy tâm, tôn giáo về nguồn gốc, bản chất con người Chủ nghiã duy vật nhân bản của Phoiơbắc trong lúc phê phán chủ nghĩa duy tâm, đã khẳng định ý thức là sản phẩm của bộ óc, tinh thần là sản phẩm của vật chất và tuyệt đối hoá con người tự nhiên, sinh vật, không thấy được bản chất xã hội - lịch sử của con người; không thấy vai trò hoạt động thực tiễn của con người
Như vậy, tất cả các quan điểm trước Mác về con người chưa thoát khỏi tính chất duy vật siêu hình hoặc duy tâm thần bí Tuy nhiên, lịch sử triết học đã
để lại những tư tưởng quý giá về nguồn gốc, bản chất con người, làm cơ sở, tiền
Trang 35đề, điều kiện cho triết học Mác kế thừa, phát triển đưa ra quan điểm khoa học về con người
Trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử xã hội và về con người, triết học Mác - Lênin đã đem lại một quan niệm thực sự khoa học về con
người Theo quan điểm chung nhất, con người là thực thể sinh học xã hội Con
người là một sinh vật có tính xã hội, vừa là sản phẩm cao nhất trong quá trình tiến hoá của tự nhiên và lịch sử xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo mọi thành tựu văn hoá trên trái đất
Triết học Mác chỉ rõ hai mặt, hai yếu tố cơ bản có quan hệ thống nhất biện chứng không tách rời nhau cấu thành con người là mặt sinh học và mặt xã hội Con người có mặt tự nhiên, vật chất, nhục thể, sinh vật, tộc loại Đồng thời, con người có mặt xã hội, tinh thần, ngôn ngữ, ý thức, tư duy, lao động, giao tiếp, đạo đức…Triết học Mác - Lênin khẳng định con người là chủ thể hoạt động thực tiễn Bằng hoạt động thực tiễn, con người sáng tạo ra mọi của cải vật chất, tinh thần, đồng thời sáng tạo ra cả bộ óc và tư duy của mình
1.2 Quan điểm triết học Mác - Lênin về nguồn gốc và bản chất của con người Triết học Mác - Lênin xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng về lịch
sử xã hội, đã tiếp cận sự hình thành, phát triển con người trong lịch sử sản xuất vật chất Từ đó, khẳng định lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình
thành, phát triển của con người Chính trong lao động, thông qua lao động mà con người biến đổi điều kiện tự nhiên bên ngoài; đồng thời làm biến đổi bản chất tự nhiên, cải tạo bản năng sinh học của con người và hình thành, phát triển
những phẩm chất xã hội của mình
Con người khác con vật ở chỗ, con vật sống dựa hoàn toàn vào tặng phẩm của tự nhiên, còn con người phải bằng lao động sản xuất để cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra của cải vật chất, thoả mãn nhu cầu ngày càng phát triển của mình Lịch sử sản xuất vật chất cũng là lịch sử con người cải tạo tự nhiên phù hợp với nhu cầu tồn tại và phát triển của mình C.Mác chỉ rõ, nhờ sản xuất mà giới tự nhiên biểu hiện ra là tác phẩm của con người, làm cho tự nhiên “có tính người”,
tự nhiên được “nhân loại hoá” Lịch sử phát triển của tự nhiên gắn bó hữu cơ với lịch sử phát triển của xã hội loài người Chính vì vậy, con người đứng trước một
tự nhiên có tính lịch sử và một lịch sử có tính tự nhiên
Trang 36Triết học Mác - Lênin khẳng định, thông qua lịch sử sản xuất vật chất và nhờ lao động mà một loài sinh vật mới ra đời, đó là Homo sapiens - con người
có lý tính và mang bản chất xã hội Lao động đã biến đổi bản chất tự nhiên của
tổ tiên loài người Khoa học đã chứng minh rằng, con người là một tổ chức sinh vật có trình độ phát triển cao nhất trên hành tinh, từ một loài sinh vật có xương sống phát triển lên; là một nấc thang cao nhất trong lịch sử tiến hoá của các giống loài qua hàng trăm triệu năm Lao động đã cải tạo bản năng sinh học của con người, bắt bản năng phục tùng lý trí, phát triển bản năng con người thành một trạng thái mới về chất C.Mác khẳng định: “trong con người, ý thức thay thế bản năng hoặc bản năng con người là bản năng đã được ý thức”1 Lao động là điều kiện chủ yếu quyết định sự hình thành phát triển phẩm chất xã hội của con người Trong lao động tất yếu hình thành quan hệ xã hội, thông qua hoạt động giao tiếp hình thành ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm, ý chí và cả phương pháp tư duy của con người…Chính vì vậy, Ph.Ăngghen khẳng định: “trên ý nghĩa nào
đó, chúng ta phải nói: lao động sáng tạo ra bản thân con người” 2
Nhờ lao động mà con người vừa tách khỏi tự nhiên, vừa hoà nhập với tự
nhiên trở thành một thực thể sáng tạo Hoạt động lịch sử đầu tiên mang ý nghĩa sáng tạo chân chính của con người là chế tạo ra công cụ lao động và con người bắt đầu lịch sử của mình từ đó Nhờ công cụ lao động - tư liệu của mọi tư liệu, sức mạnh vật chất đầu tiên mà con người tách khỏi tự nhiên, tách khỏi loài vật với tư cách là một chủ thể hoạt động thực tiễn xã hội Đồng thời, bằng hoạt động cải tạo tự nhiên, con người hoà nhập với tự nhiên, biến “tự nhiên thứ nhất” thành “tự nhiên thứ hai”, “tự nhiên thứ ba”…, sáng tạo ra của cải, tri thức và các giá trị tinh thần Như vậy sáng tạo là thuộc tính tối cao của con người Bản chất con người là sáng tạo ngay từ đầu với đầy đủ ý nghĩa của nó
Triết học Mác - Lênin tiếp cận con người trong tính toàn vẹn và khẳng
định con người là một chỉnh thể tồn tại, phát triển trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội Đây là một chỉnh thể phức tạp, năng động, luôn luôn vận
động, phát triển
Về mặt sinh học, con người tồn tại ở cấp độ cơ thể, biểu hiện trong các
hiện tượng sinh lý, di truyền, thần kinh, điện - hoá và các quá trình khác của cơ thể Về mặt này, con người phục tùng các quy luật của tự nhiên, sinh học Về
1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.44
2 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.641
Trang 37mặt xã hội, con người tồn tại ở cấp độ nhân cách, biểu hiện trong những quá trình ý thức, tính cách, tính khí…là chủ thể các quan hệ xã hội, lao động, giao tiếp, tinh thần…Về mặt này, con người phục tùng các quy luật xã hội
Con người tồn tại và phát triển trong tính toàn vẹn thống nhất của hai quá trình sinh học và xã hội Sự hình thành phát triển con người thông qua một quá trình thống nhất giữa cơ chế di truyền và hoạt động xã hội Cơ chế di truyền quyết định quá trình tiến hoá sinh học của con người, tạo nên cơ sở sinh học cho
sự tiến hoá xã hội Quá trình gia nhập hoạt động xã hội, gia nhập vào bối cảnh văn hoá lịch sử của quần thể xã hội đã quyết định sự hình thành phát triển những phẩm chất xã hội của con người Đây là một quá trình thống nhất và phức tạp Trong đó, cơ chế di truyền không chỉ quyết định về mặt sinh học là chủ yếu mà còn gắn liền với sự hình thành phát triển bản năng xã hội của con người Ngược lại, quá trình tập nhiễm trong cuộc sống xã hội không chỉ quyết định mặt xã hội của con người mà còn cải biến mặt sinh học, làm cho cái sinh học thích nghi với hoạt động xã hội Chính vì vậy, Ph.Ăngghen khẳng định, giới tự nhiên đạt đến trình độ tự nhận thức được mình đó là con người Như vậy, bản chất con người
là sự thống nhất biện chứng giữa thuộc tính tự nhiên và thuộc tính xã hội
Triết học Mác- Lênin tiếp cận con người trong hệ thống con người- môi
trường cư trú, từ trái đất đến vũ trụ và khẳng định con người được hình thành,
phát triển trong môi trường tự nhiên - xã hội Môi trường là điều kiện cần thiết
cho sự tồn tại và phát triển của con người Đó là toàn bộ hoàn cảnh tự nhiên và
xã hội được thu hút vào quá trình đời sống con người Trước hết, con người tồn tại trong hệ thống tương tác của tất cả các lực lượng tự nhiên Con người là một
bộ phận của tự nhiên, giao tiếp với tự nhiên và phụ thuộc vào tự nhiên Con người thuộc về giới tự nhiên, nằm trong giới tự nhiên, sống trên hành tinh và phụ thuộc vào các quá trình cơ, lý, hoá, sinh học của hành tinh Con người phụ thuộc vào các hiện tượng tự nhiên mà trong đó nhiều hiện tượng ở trình độ khoa học hiện nay chưa giải thích được Con người giao tiếp và phụ thuộc vào tự nhiên ở cả cấp độ chức năng - cơ thể và cấp độ cảm xúc- tinh thần Khoa học tự nhiên đã phát hiện sự tương tác giữa “nhịp điệu vũ trụ” với “nhịp điệu sinh học” Điều đó nói lên con người phụ thuộc vào môi trường và mang thuộc tính
xã hội - hành tinh - vũ trụ
Con người trực tiếp tồn tại trong môi trường xã hội, thông qua xã hội mà thích nghi với tự nhiên Bởi vì, xã hội là một bộ phận của giới tự nhiên, một kết
Trang 38cấu vật chất đặc thù của giới tự nhiên Toàn bộ quần thể xã hội hoạt động trong giới tự nhiên, chỉ có thể tồn tại và phát triển trong mối quan hệ hài hoà với tự nhiên C.Mác khẳng định: “Chừng nào loài người còn tồn tại thì lịch sử của họ
và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau”1
Con người là một thực thể vừa mang thuộc tính cá nhân vừa mang thuộc tính xã hội Con người vừa là một chỉnh thể đơn nhất, vừa mang những phẩm
chất của hệ thống các quan hệ xã hội Đó là một hệ thống năng động, phát triển thống nhất giữa cái chung, cái đặc thù và cái riêng Trước hết, con người là một nhân cách mang đặc trưng chung, đại biểu cho nhân loại, tộc loại Thuộc tính chung nhất và cao nhất của con người là sáng tạo Con người mang những phẩm chất đặc thù đại biểu cho một xã hội lịch sử - cụ thể, đại biểu cho một dân tộc, giai cấp, tập đoàn xã hội, tập thể, nhóm xã hội, gia đình…Những phẩm chất xã hội của con người mang dấu ấn của một thời đại lịch sử và những quan hệ xã hội
cụ thể Những phẩm chất riêng có của mỗi người là cái đơn nhất, cái đặc thù của
cá nhân tạo nên kinh nghiệm, tính đơn nhất về tâm lý xã hội của mỗi người Cái riêng của con người do đặc điểm di truyền, do điều kiện sống riêng của mỗi người quy định Nhờ những phẩm chất riêng mà phân biệt được giữa cá nhân này và cá nhân khác về trí tuệ, tình cảm, ý chí, động cơ hành động, tính cách
Chính vì vậy, C.Mác chỉ rõ, con người là một thực thể xã hội mang tính cá nhân
Con người là một thực thể có sự thống nhất giữa tính nhân loại và tính giai cấp Trước hết, con người mang tính nhân loại Đây là thuộc tính vốn có
hình thành trong suốt chiều sâu lịch sử của cuộc sống cộng đồng phổ biến rộng lớn nhất Tính nhân loại thể hiện trong thuộc tính chung nhất, cao nhất của con người là sáng tạo và trong những giá trị văn hoá chung mà nhân loại đạt được Tính nhân loại còn được thể hiện trong những quy tắc chuẩn mực của cuộc sống chung được hình thành như những đạo lý Tính nhân loại thể hiện trong những giá trị chung mà con người quan tâm như nhân văn, nhân đạo, dân chủ, công bằng xã hội, hoà bình, bảo vệ môi trường sinh thái… Cơ sở của tính nhân loại là
từ bản chất xã hội của con người, do yêu cầu khách quan của cuộc sống cộng
đồng mà con người phải cố kết, nương tựa vào nhau để tồn tại và phát triển
Tuy nhiên, trong xã hội có giai cấp, con người bao giờ cũng mang tính giai cấp Mỗi người là một thành viên của một giai cấp nhất định, mang địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp đó Địa vị kinh tế - xã hội có tính khách quan, do
1 C.Mác và Ph.Ănghen, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 25
Trang 39toàn bộ điều kiện sinh hoạt vật chất quy định, mặc dù mỗi thành viên giai cấp có thể ý thức được hoặc không ý thức được địa vị của mình
Tính giai cấp và tính nhân loại trong con người vừa đồng nhất vừa khác biệt Bởi vì, con người tồn tại thông qua những cá nhân hiện thực với tư cách là các chủ thể hành động xã hội Tính nhân loại tồn tại vĩnh hằng Mặc dù trật tự kinh tế, chính trị, xã hội có thể bị thay đổi, nhưng con người luôn tồn tại và phát triển trong mối liên hệ tất yếu với người khác; khai thác sự phong phú của người khác để tồn tại và làm phong phú cho bản thân mình Mặt khác, trong xã hội còn chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, còn quan hệ đối kháng giai cấp thì con người còn mang tính giai cấp Các giai cấp và các hệ thống xã hội tương ứng vẫn là chủ thể chủ yếu của xã hội hiện thực Không bao giờ có một “lợi ích nhân loại thuần khiết”, mà nó phải được phản ánh trong nhận thức, trong hoạt động thực tiễn không tách rời lợi ích các giai cấp
Con người là một thực thể có sự thống nhất giữa tính tất yếu và tính tự
do Hoạt động của con người bị chi phối bởi tính tất yếu Tính tất yếu tồn tại
dưới hình thức các quy luật khách quan Mặc dù con người nhận thức được quy luật khách quan hay không thì lịch sử xã hội vẫn vận động, phát triển theo quy luật Hoạt động của con người biểu hiện ra như là tất yếu “mù quáng” Con người tự do là con người nhận thức sâu sắc quy luật và hoạt động tự giác Tự do
là tiền đề, điều kiện cho hoạt động sáng tạo của con người
Hoạt động của con người là sự thống nhất giữa tất yếu và tự do Hoạt động con người có ý thức là hoạt động tiếp cận dần, nắm bắt quy luật khách quan làm tiền đề cho sự sáng tạo Lịch sử xã hội loài người là lịch sử con người vươn lên giành lấy tự do ngày càng nhiều hơn Con người muốn tự do, trước hết phải được giải phóng về mặt xã hội, phải có chế độ kinh tế xã hội tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động con người vươn tới tự do Một xã hội bao gồm trong đó những con người phát triển tự do, toàn diện chính là mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản
Triết học Mác - Lênin nghiên cứu sự hình thành, phát triển con người trong quá trình lịch sử, khẳng định bên cạnh mặt chủ đạo của con người là sáng
tạo, còn có hiện tượng con người bị tha hoá Tha hoá là quá trình xã hội trong
đó hoạt động của con người và sản phẩm của nó biến thành một lực lượng độc lập thù địch và thống trị lại con người Nguồn gốc của tha hoá là do sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự xuất hiện chế độ tư hữu Triết học Mác -
Trang 40Lênin nghiên cứu những dấu hiệu đặc trưng của sự tha hoá từ các phương diện, sự tha hoá của điều kiện lao động; sự tha hoá của kết quả lao động; sự tha hoá của thiết chế chính trị xã hội; sự tha hoá của tư tưởng; sự tha hoá của tự nhiên… Khắc phục sự tha hoá là một quá trình lâu dài, gắn liền với xoá bỏ chế độ tư hữu Triết học Mác - Lênin chính là lý luận triết học về khắc phục sự tha hoá của con người, trước hết là lý luận giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột
Như vậy, trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, triết học Mác - Lênin tiếp cận con người trong tính chỉnh thể thống nhất của nó, đem lại một hình ảnh toàn vẹn, đúng đắn về con người, khôi phục lại địa vị vốn có của con người trong lịch sử Con người hình thành, phát triển thông qua một quá trình tiến hoá sinh học - xã hội Triết học Mác - Lênin nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, “ Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội”1 Triết học Mác - Lênin là học thuyết về giải phóng con người, vì hạnh phúc con người Đây là cơ sở để bác bỏ những luận điểm tư sản và sai lầm cho rằng, triết học Mác bỏ quên vấn đề con người; không xây dựng học thuyết về con người, chỉ xây dựng học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp
2 Cá nhân và xã hội
2.1 Khái niệm cá nhân và xã hội
Con người tồn tại thông qua những cá nhân Cá nhân là con người với những phẩm chất xã hội, một chỉnh thể trong sự thống nhất giữa đặc điểm riêng
và chức năng xã hội mà người đó đảm nhiệm Cá nhân chính là con người xã
hội, con người đã gia nhập vào hệ thống quan hệ xã hội, hình thành các phẩm chất như trí tuệ, tình cảm, ý chí…Cá nhân là những con người với tư cách là thành viên của một thể liên hiệp xã hội nhất định Cá nhân là đơn vị tồn tại cuối cùng của xã hội, là một chỉnh thể đơn nhất thống nhất giữa cái chung và cái riêng
Cá nhân hình thành, phát triển trong xã hội, không tách rời xã hội Xã hội
là hệ thống những mối quan hệ giữa người với người trong đó con người hình
thành và phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định Xã hội là hệ thống mối quan hệ giữa người với người, là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người với người
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội phải thông qua “cái xã hội” trực tiếp nhất, gần gũi nhất là tập thể Tập thể là cộng đồng của những nhóm cá nhân nhất định được