1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo trình Triết học Mác - Lênin (Tập 2: Chủ nghĩa duy vật lịch sử): Phần 1

98 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ nghĩa duy vật lịch sử và vai trò của nó trong đời sống xã hội
Tác giả Tổng Cục Chính Trị
Người hướng dẫn Đại tá, PGS, TS Nguyễn Văn Tài, Đại tá, TS Nguyễn Hùng Oanh, Đại tá, TS Nguyễn Khắc Điều, Đại tá, TS Vũ Quang Tạo, Đại tá, TS Đào Huy Hiệp, Thượng tá, PGS, TS Nguyễn Bá Dương, Thượng tá, TS Nguyễn Văn Thanh
Trường học Học viện Chính trị Quân sự
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 1 của giáo trình Triết học Mác - Lênin (Tập 2: Chủ nghĩa duy vật lịch sử) trình bày những nội dung về: chủ nghĩa duy vật lịch sử và vai trò của nó trong đời sống xã hội; xã hội và tự nhiên; sản xuất vật chất - biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ

GIÁO TRÌNH TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

Tập 2

CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

(Dùng cho đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội, bậc đại học)

Hà Nội - 2006

Trang 2

BAN BIÊN SOẠN

Đại tá, PGS, TS Nguyễn Văn Tài (chủ biên) - Chương 1, 3, 5, 10

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Nhằm đáp ứng yêu cầu giảng dạy, nghiên cứu và học tập trong các Nhà

trường quân đội, Tổng cục Chính trị chỉ đạo biên soạn giáo trình “Triết học

Mác - Lênin, Tập 2: Chủ nghĩa duy vật lịch sử” (Dùng cho đào tạo cán bộ

chính trị cấp phân đội, bậc đại học) Giáo trình do tập thể tác giả Khoa Triết

học, Học viện Chính trị quân sự biên soạn, Đại tá, PGS, TS Nguyễn Văn Tài làm chủ biên

Kết cấu giáo trình gồm 13 chương, bao quát những vấn đề cơ bản, hệ thống về chủ nghĩa duy vật lịch sử Giáo trình đã được Ban biên soạn đầu tư, phát triển mới cả về nội dung, hình thức trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những giáo trình hiện hành và tính đến những phát triển mới của khoa học triết học cũng như những yêu cầu mới từ đối tượng và bậc học

TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ

Trang 4

Chương 1 CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

1 Cuộc cách mạng trong triết học về xã hội

1.1 Những tư tưởng triết học xã hội trước Mác

Quan niệm duy vật lịch sử là một phát minh vĩ đại của C.Mác, là kết quả tất yếu trong sự phát triển tư tưởng triết học nhân loại Đây là sự kế thừa những thành tựu trong lịch sử tư tưởng nhân loại, đồng thời là kết quả sự phản ánh yêu cầu của thực tiễn xã hội

Từ thời cổ đại các nhà triết học đã muốn làm sáng tỏ bản chất đời sống

xã hội và có những mầm mống, những yếu tố của quan niệm về lịch sử Trong lịch sử triết học Phương Đông, các nhà triết học đã đặt vấn đề rất sớm tìm hiểu

về con người và xã hội Triết học Ấn Độ cổ, trung đại đi tìm nỗi khổ của con người trong đời sống tâm linh, tìm cách giải thoát con người bằng siêu thoát cá nhân Triết học Trung Quốc cổ, trung đại đi tìm nguyên nhân biến động, rối loạn

xã hội trong bản tính con người Theo tư tưởng triết học Nho Gia, bản tính con người có thiện, có ác

Các nhà triết học Phương Tây thời cổ đại như Hêracrít (485- 425 TCN); Platôn (472-347 TCN); Xôcơrát (469- 425 TCN); Đêmôcơrit (460-370 TCN), Arixtốt (384-322 TCN)… bước đầu đã thể hiện phương pháp lịch sử trong nghiên cứu xã hội Đặc biệt là về ý tưởng xây dựng một thể chế chính trị - xã hội trong đó việc quản lý nhà nước phải do các nhà triết học và khoa học đảm trách

Một số nhà triết học thời Trung cổ đã giải thích lịch sử theo quan niệm thần học như Ôguytxtanh (354- 430), Phôma Acvinxki Theo họ, lịch sử xã hội

là sự thể hiện của “mệnh trời”; cuộc sống của xã hội loài người là một tấm bi kịch của cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác

Đến thời kì Phục Hưng, trong tư tưởng của một số nhà triết học đã có những yếu tố triết học lịch sử Điều đó được thể hiện trong quan điểm của các nhà triết học cùng với các nhà nghiên cứu văn hoá lịch sử khác Họ tìm cách thoát khỏi quan điểm thần học, cố gắng xem xét lịch sử xã hội một cách tổng quan nền văn hoá lịch sử, đi sâu vào khía cạnh tinh thần của cá nhân con người

Trang 5

Hécđơ (1744 - 1803) coi sự phát triển xã hội là tiếp tục lịch sử tự nhiên Xã hội

là một chỉnh thể, quy luật xã hội cũng mang tính chất tự nhiên và bản tính con người gắn với xã hội Rútxô (1712 - 1778) chứng minh rằng sở hữu tư nhân là nguyên nhân của bất bình đẳng, của đối kháng xã hội và của sự xuất hiện nhà nước Ông coi sự vận động xã hội diễn ra theo một trật tự tự nhiên, trong dó mọi người đều có quyền bình đẳng Đặc biệt, ông có tư tưởng về biện chứng giữa tiến bộ và thoái bộ, giữa bình đẳng và bất bình đẳng trong tiến trình lịch sử, về một xã hội lý tưởng với một nền dân chủ trực tiếp và một nhà nước tất cả quyền lực thuộc về nhân dân…Xanh xi mông (1760 - 1825) đã bảo vệ quan điểm về sự phát triển có quy luật của lịch sử; về tác dụng của chế độ tư hữu và giai cấp trong sự phát triển xã hội; về mục đích giải phóng giai cấp công nhân; về tư tưởng nền sản xuất có kế hoạch là cơ sở của chế độ xã hội tương lai

Trong triết học cổ điển Đức đã có những yếu tố biện chứng về lịch sử Tiêu biểu là tư tưởng triết học của Hêghen (1770 - 1831) Theo Hêghen, toàn bộ lịch sử là sự tự phát triển của “lý tính trong lịch sử” nhằm mục đích nhận thức

“tinh thần thế giới” Biện chứng của lịch sử xã hội là sự chuyển hoá lẫn nhau của cái ngẫu nhiên và cái tất nhiên Sự vận động của lịch sử là quá trình được cấu thành từ hành động của những cá nhân theo đuổi những mục đích và lợi ích riêng Quá trình tự nhận thức “tinh thần thế giới” trải qua những giai đoạn phát triển ứng với trình độ của ý thức về tự do Hêghen còn đi gần đến quan niệm duy vật lịch sử về bản chất của lao động, về ý nghĩa của lao động đối với sự hình thành con người và xã hội

Phoiơbắc phủ nhận quan niệm cho rằng, Thượng đế sáng tạo ra con người Ông cho rằng, môi trường hoàn cảnh có tác động to lớn đến ý thức con người nhưng không nhận thấy bản chất xã hội của con người và vai trò hoạt động thực tiễn trong nhận thức, cải tạo thế giới của con người Triết học duy vật nhân bản của Phoiơbắc là không triệt để, duy vật về tự nhiên nhưng duy tâm về

xã hội Trong tư tưởng triết học của Phoiơbắc con người được xem xét một cách trừu tượng, phi lịch sử, tách rời khỏi các quan hệ xã hội

Như vậy, lịch sử tư tưởng triết học trước Mác đã có những tư tưởng triết học xã hội có giá trị, làm tiền đề, điều kiện để triết học mácxít kế thừa, phát triển quan niệm duy vật lịch sử Tuy nhiên, do hạn chế lịch sử và các nguyên nhân khác nhau, các nhà triết học trước Mác đã giải thích lịch sử trên lập trường duy tâm, định mệnh Họ đi tìm nguyên nhân của sự phát triển lịch sử ở tư tưởng; coi

Trang 6

cá nhân, anh hùng quyết định sự phát triển lịch sử Từ đó, họ quy tính tích cực của con người vào hoạt động tinh thần và tìm biện pháp cải tạo xã hội ở lĩnh vực tinh thần

Khuyết điểm chung của các nhà triết học duy vật trước Mác là phương pháp tư duy siêu hình trong xem xét bản chất con người và xã hội

Họ quy bản chất con người vào bản tính tự nhiên, tộc loại của các cá nhân riêng biệt Phương pháp tư duy siêu hình đã dẫn đến tuyệt đối hoá vai trò của hoàn cảnh địa lý trong sự phát triển xã hội hoặc áp dụng quy luật tự nhiên, sinh học một cách máy móc vào đời sống xã hội Đặc biệt, trong xem xét bản chất con người và xã hội, các nhà triết học trước Mác đã thiếu tính thực tiễn, không xuất phát từ thực tiễn, không hiểu vai trò hoạt động thực tiễn có tính cách mạng của con người

1.2 Sự sáng tạo của C.Mác và Ph.Ăngghen về chủ nghĩa duy vật lịch sử

C.Mác và Ph.Ăngghen đã xuất phát từ thực tiễn xã hội, trực tiếp là thực tiễn đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân để sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử Hoạt động thực tiễn của C.Mác và Ph.Ăngghen là một điều kiện quan trọng trong sự hình thành các quan điểm duy vật lịch sử của hai ông Tuy nhiên, bước chuyển lập trường từ duy tâm sang duy vật, từ dân chủ cách mạng sang cộng sản chủ nghĩa của C.Mác và Ph.Ăngghen có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành các quan điểm duy vật lịch sử

Con đường nghiên cứu của C.Mác là từ nghiên cứu kiến trúc thượng tầng xã hội dẫn đến tất yếu tìm nguyên nhân trong đời sống vật chất của xã hội Trong khi đó, Ph.Ăngghen lại xuất phát từ nghiên cứu cơ sở kinh tế, đi đến phê phán chế độ tư hữu, tìm hiểu về kiến trúc thượng tầng của xã hội Điểm gặp nhau của hai ông là cùng bắt đầu từ sự phát hiện ra vai trò lịch sử của giai cấp vô sản

Tiền đề nghiên cứu triết học của C.Mác và Ph.Ăngghen là xuất phát từ con người hiện thực, sống, hoạt động thực tiễn Đây là điểm khác căn bản của hai ông trong nghiên cứu về lịch sử so với quan điểm triết học duy tâm, siêu hình

Lôgic lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen là đưa thực tiễn vào triết học,

có quan niệm đúng đắn về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với đời sống xã hội Từ đó giải đáp được những bí ẩn, bế tắc của mọi lý luận triết học cũ Đặc biệt, hai ông lý giải một cách khoa học trên lập trường duy vật biện chứng mối

Trang 7

quan hệ giữa vật chất và ý thức; mối quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội; luận giải được vai trò của sản xuất vật chất và chỉ ra những quy luật vận động phát triển của xã hội loài người, thực chất nó là những quy luật phản ánh hoạt động thực tiễn của con người trong lịch sử

Những luận điểm xuất phát của quan niệm duy vật lịch sử được C.Mác tóm tắt trong tác phẩm “Lời tựa góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” Nguyên lý đầu tiên của chủ nghĩa duy vật lịch sử là sản xuất vật chất, đây là cơ

sở, nền tảng của sự tồn tại và phát triển đời sống xã hội Tiền đề mọi lịch sử xã hội là con người hiện thực, con người thực tiễn, trước hết là thực tiễn lao động sản xuất Sản xuất vật chất là phương thức cơ bản biểu hiện bản chất con người

và lối sống xã hội Phép biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

là chìa khoá để nhận thức quy luật xã hội cùng với phép biện chứng quan hệ vật chất và quan hệ tư tưởng, từ đó thấy sự phát triển xã hội là một quá trình lịch sử

- tự nhiên Biện chứng giữa tính thứ nhất của tồn tại xã hội và tính thứ hai của ý thức xã hội cho thấy, xã hội là hình thái vận động khách quan - chủ quan của vật chất Thừa nhận tính quy luật của sự phát triển xã hội, vai trò chủ thể của quần chúng nhân dân trong việc sáng tạo ra mọi quá trình lịch sử là những luận điểm quan trọng nhất phản ánh bản chất của chủ nghĩa duy vật lịch sử Như vậy, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử triết học nhân loại

2 Bản chất của chủ nghĩa duy vật lịch sử

Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống triết học duy vật biện chứng về xã hội, một bộ phận hợp thành triết học Mác, làm cho triết học Mác sâu sắc, hoàn

bị và triệt để Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu xã hội với tính cách là một chỉnh thể Xã hội là một bộ phận đặc biệt của tự nhiên, lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng

Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu đời sống xã hội với tính cách là

một chỉnh thể, vạch ra những quy luật, những động lực chung nhất của sự vận động, phát triển xã hội

Đời sống xã hội với tính cách một chỉnh thể là khách thể nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật lịch sử Xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất, là nấc thang phát triển cao nhất của các hệ thống sống, là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người với người Xã hội tồn tại dưới những hình thái kinh tế

Trang 8

- xã hội cụ thể, hoặc những xã hội riêng biệt, cụ thể gắn liền với mỗi dân tộc, mỗi thời đại nhất định)

Con người là sự phát triển cao nhất của tự nhiên, là chủ thể của lịch sử,

và bằng hoạt động của mình con người làm ra lịch sử, tạo ra xã hội Xã hội là một chỉnh thể bao gồm sự tồn tại của con người cá nhân và các tập hợp người;

sự tồn tại của các phương thức, cách thức quan hệ giữa người với người Sự hình thành phát triển của con người và xã hội là hai mặt của một quá trình thống nhất Điều đó đưa lại hệ quả tất yếu là có thể nhận thức được quy luật xã hội và bản chất đời sống xã hội, nhận thức được bản chất con người

Chủ nghĩa duy vật lịch sử vạch ra những quy luật, những động lực chung nhất của sự vận động, phát triển xã hội Hệ thống quy luật xã hội tồn tại ở các cấp độ khác nhau Các quy luật chi phối toàn bộ đời sống xã hội như quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; quy luật

về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng; về sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một tiến trình lịch sử - tự nhiên; về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong tiến trình lịch sử…Các quy luật chi phối xã hội có giai cấp như quy luật đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp; quy luật cách mạng xã hội là hình thức chuyển biến về chất của các hình thái kinh tế - xã hội…Các quy luật chi phối một hình thái kinh tế - xã hội như quy luật về tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; quy luật về đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; quy luật về vai trò tăng lên của quần chúng nhân dân trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa…

Hệ thống động lực phát triển xã hội được xem xét ở các phương diện tiếp cận khác nhau Tiếp cận từ phương diện giải quyết những mâu thuẫn biện chứng của xã hội như mâu thuẫn giữa lực lương sản xuất với quan hệ sản xuất; mâu thuẫn giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng của xã hội; mâu thuẫn giữa các giai cấp cơ bản trong xã hội có đối kháng giai cấp…Tiếp cận từ những lực lượng xã hội cơ bản thì động lực của sự phát triển xã hội là các chủ thể mà hoạt động của họ thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội, như quần chúng nhân dân; những cá nhân, anh hùng, lãnh tụ; các giai cấp cách mạng và lực lượng tiến bộ Tiếp cận từ những nhân tố thúc đẩy sự phát triển, như sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật…Tiếp cận từ những nhân tố thúc đẩy tính tích cực nhận thức và hoạt động của con người thì

Trang 9

động lực của lịch sử là lợi ích, dân chủ, trí tuệ, sự phát triển tự do và toàn diện của cá nhân…

Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng triết học, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ ra những quy luật, những động lực phát triển xã hội Đây là một phát minh vĩ đại của C.Mác, đem lại một cuộc cách mạng trong triết học

về xã hội

3 Đặc điểm quy luật xã hội

3.1 Đặc trưng của quy luật xã hội

Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chỉ ra những quy luật của sự vận động, phát triển xã hội Là một bộ phận đặc thù của giới tự nhiên, sự phát triển của xã hội vừa tuân theo quy luật tự nhiên, vừa tuân theo quy luật xã hội Giữa quy luật

xã hội và quy luật tự nhiên có sự khác nhau Quy luật tự nhiên được hình thành thông qua vô số tính tự phát, mù quáng của những tác động trong tự nhiên Quy luật tự nhiên tồn tại trước khi xuất hiện xã hội loài người và tác động cả những nơi không có con người và xã hội Còn quy luật xã hội được hình thành trên cơ

sở hoạt động xã hội mang tính tự giác, có ý thức của con người Quy luật xã hội chỉ được hình thành khi xuất hiện xã hội loài người và chỉ tồn tại phát huy tác dụng ở đâu có con người là chủ thể hoạt động Không có hoạt động của con

người thì không có xã hội và không có quy luật xã hội Quy luật xã hội là quy

luật hoạt động của con người theo đuổi mục đích của mình Ph.Ăngghen khẳng

định: “Trong tự nhiên (chừng nào chúng ta không xét ảnh hưởng ngược trở lại của con người đối với tự nhiên) chỉ có những nhân tố vô ý thức và mù quáng tác động lẫn nhau, và chính trong sự tác động lẫn nhau ấy mà quy luật chung biểu hiện ra…Trái lại, trong lịch sử xã hội, nhân tố hoạt động hoàn toàn chỉ là chỉ là con người có ý thức, hành động có suy nghĩ hay có nhiệt tình và theo đuổi những mục đích nhất định thì không có gì xảy ra mà lại không có ý định tự giác, không có mục đích mong muốn”1

Quy luật xã hội là những mối liên hệ bản chất, khách quan, tất yếu, phổ

biến giữa các hiện tượng và các quá trình xã hội Quy luật xã hội mang đầy đủ

những đặc trưng cơ bản của quy luật nói chung, đó là tính khách quan; tính xu hướng; tính tất yếu và tính phổ biến…nhưng được biểu hiện cụ thể trong đời sống xã hội và gắn với vai trò của con người

1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.435

Trang 10

Tính khách quan của quy luật xã hội được biểu hiện thông qua hoạt động

của con người nhưng không lệ thuộc vào ý thức, ý chí của bất kỳ một cá nhân, một lực lượng xã hội nào Quy luật xã hội không tồn tại bên ngoài con người,

mà được thực hiện trong những điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định, trong quan hệ con người với tự nhiên; con người với con người Những quan hệ đó là khách quan đối với mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi thế hệ, mỗi con người khi họ theo đuổi mục đích của bản thân mình và không lệ thuộc vào ý chí, động cơ tư tưởng của bất cứ chủ thể nào Ph.Ăngghen chỉ rõ, con người sáng tạo ra lịch sử trong những hoàn cảnh nhất định mà con người phải thích ứng và trên cơ sở những quan hệ thực tế đang tồn tại Còn V.I.Lênin cho rằng, con người đứng trước thế giới và bị những điều kiện khách quan của thế giới quy định hoạt động của mình

Quy luật xã hội mang tính xu hướng Theo tư tưởng của Ph.Ăngghen,

quá trình vận động, phát triển của đời sống xã hội chịu sự tác động phức tạp của nhiều ý muốn, mục đích khác nhau của con người và các lực lượng xã hội, thậm chí là chồng chéo lên nhau, trái ngược nhau Song tổng hợp những lực tác động lẫn nhau đó, tạo thành xu hướng vận động chung của lịch sử, trong đó lực hoạt động của số đông người chiếm ưu thế Quy luật xã hội chỉ phản ánh mục đích hoạt động của khối đông người, phù hợp xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử, những xu hướng này là khách quan và không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của một ai và của một lực lượng xã hội nào

Quy luật xã hội mang tính tất yếu, bởi vì nó phản ánh những mối liên hệ

bản chất của đời sống xã hội, do vậy nó là cái nhất thiết phải xảy ra Cái tất yếu phải thông qua cái ngẫu nhiên là hình thức tồn tại Cơ sở của tính tất yếu trong quy luật xã hội là những mối quan hệ xã hội mà trước hết là quan hệ sản xuất vật chất, đây là quan hệ được hình thành một cách tất yếu, để thoả mãn nhu cầu sống của con người, nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội

Quy luật xã hội mang tính phổ biến, bởi vì nó phản ánh cái nhất thiết

phải xảy ra trong nhóm loại, tức là cái phổ biến, cái lặp lại giữa các hiện tượng, quá trình xã hội Tính phổ biến của quy luật xã hội có nhiều cấp độ khác nhau

do quan hệ của con người trong xã hội có nhiều cấp độ khác nhau Loại quan hệ

xã hội tồn tại phổ biến cho mọi hình thái kinh tế - xã hội như quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội… Loại quan hệ xã hội chỉ tồn tại trong một số hình thái kinh tế-xã hội như quan hệ giai cấp, quan hệ

Trang 11

dân tộc… Loại quan hệ xã hội chỉ dành riêng cho một hình thái kinh tế - xã hội như quan hệ giữa giai cấp chủ nô và nô lệ; giữa địa chủ và nông dân; giữa tư sản

và vô sản… Loại quan hệ xã hội chỉ dành riêng cho từng lĩnh vực cụ thể như quan hệ trong các lĩnh vực riêng biệt về kinh tế, chính trị, đạo đức, pháp quyền… Tính tất yếu và tính phổ biến của quy luật xã hội tuỳ thuộc vào mức độ quan trọng và phổ biến của các mối quan hệ xã hội mà các quy luật thể hiện

3.2 Đặc điểm riêng của quy luật xã hội

Quy luật xã hội tồn tại và tác động trong những điều kiện lịch sử - xã hội

nhất định Khi những điều kiện tồn tại tất yếu của xã hội mất đi thì quy luật

không còn tồn tại nữa Chẳng hạn quy luật đấu tranh giai cấp chỉ tồn tại trong điều kiện các xã hội dựa trên cơ sở chế độ tư hữu, phản ánh những mối quan hệ

cơ bản trong xã hội có đối kháng giai cấp Tuy nhiên, chế độ tư hữu của từng hình thái kinh tế - xã hội riêng biệt lại có những biểu hiện cụ thể khác nhau, phản ánh những quan hệ sản xuất và quan hệ giai cấp khác nhau, trên cơ sở những trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất khác nhau Khi

xã hội không còn chế độ tư hữu, không còn giai cấp thì quy luật đó không còn tồn tại Như vậy, ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, các điều kiện lịch sử không lặp lại nguyên xi, nên quy luật xã hội thường có những hình thức biểu hiện khác nhau, thậm chí bị biến dạng

Trong xã hội, mọi hoạt động của con người đều do lợi ích chi phối Lợi

ích là động lực của mọi hoạt động con người Do vậy, lợi ích là một yếu tố quan

trọng trong cơ chế hoạt động của quy luật xã hội Hoạt động của mỗi người

nhằm theo đuổi những mục đích riêng, do bị chi phối bởi những lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập nhau Nhưng quy luật xã hội là quy luật hoạt động của số đông con người trong thời gian dài, là kết quả bị chi phối bởi tổng hợp những lợi ích chung mà không lệ thuộc vào lợi ích của một cá nhân riêng lẻ nào cả Quy luật xã hội tồn tại và phát huy tác dụng thông qua hoạt động của con người theo đuổi lợi ích của mình nhưng vẫn mang tính khách quan

Đặc điểm nhận thức quy luật xã hội phải có phương pháp khái quát hoá

và trừu tượng hoá cao Bởi vì, nhận thức quy luật xã hội là nhận thức hoạt động

của số đông con người trong thời gian dài nên không thể dùng thực nghiệm, kiểm nghiệm trong phòng thí nghiệm được, càng không thể dùng những công thức để phân tích, chứng minh một cách đơn thuần được C.Mác chỉ ra rằng:

“Khi phân tích những hình thái kinh tế, người ta không thể dùng kính hiển vi

Trang 12

hay những chất phản ứng hoá học được Sức trừu tượng hoá phải thay thế cho cả hai cái đó”1

Để đạt được sự phát triển lâu bền của xã hội, con người vừa phải tuân theo quy luật xã hội, vừa phải tuân theo quy luật của tự nhiên Bởi vì con người tồn tại trong môi trường xã hội và môi trường tự nhiên Dân số - môi trường - sự phát triển xã hội là một thể thống nhất thường xuyên tác động lẫn nhau Nhận thức và vận dụng quy luật xã hội là một vấn đề rất khó khăn, phức tạp đòi hỏi con người không chỉ có năng lực nhận thức, mà còn phải có bản lĩnh khoa học và kinh nghiệm thực tiễn Mặt khác, con người trong hoạt động của mình cần tạo điều kiện cho hệ thống quy luật tự nhiên và quy luật xã hội phát huy tác dụng để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của cả hệ thống tự nhiên và

xã hội

4 Vai trò của chủ nghĩa duy vật lịch sử

4.1 Chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở thế giới quan và phương pháp

luận khoa học trực tiếp cho nhận thức và cải tạo xã hội

Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một phát minh vĩ đại của C.Mác, đem lại một cuộc cách mạng trong triết học về xã hội, làm cho triết học Mác trở nên triệt

để, hoàn bị, thống nhất hữu cơ giữa quan niệm duy vật biện chứng về tự nhiên

và quan niệm duy vật biện chứng về đời sống xã hội Chủ nghĩa duy vật lịch sử

là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho các khoa học xã hội phát triển Sự ra đời của nó đã đặt các khoa học xã hội trên một nền tảng khoa học vững chắc, đẩy lùi các quan điểm duy tâm, siêu hình trong nhận thức về lịch

sử - xã hội

Chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của giai cấp công nhân và các Đảng cộng sản trong xác định các vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng Trong điều kiện chủ nghĩa xã hội đang lâm vào khủng hoảng, phong trào công nhân đang đứng trước các khó khăn và thách thức mới hiện nay, chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở lý luận khoa học để các Đảng cộng sản phân tích, đánh giá một cách đúng đắn tình hình thời cuộc, xác định đúng các vấn đề chiến lược, sách lược của cách mạng trong tình hình mới

Đối với lĩnh vực quân sự vô sản, chủ nghĩa duy vật lịch sử có vai trò là

cơ sở thế giới quan và phương pháp luận trực tiếp cho khoa học quân sự, góp phần trực tiếp hình thành phát triển phương pháp nghiên cứu khoa học cho người cán bộ cách mạng và cán bộ quân đội, giúp họ nâng cao trình độ khoa

1 C.Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1993, tr.16

Trang 13

học, tư duy lý luận, lập trường giai cấp, bản chất cách mạng Đồng thời, là vũ khí tinh thần sắc bén cho người cán bộ cách mạng nói chung và người cán bộ quân đội nói riêng trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay

4.2 Chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong xem xét, giải quyết những vấn đề của thời đại và của cách mạng Việt Nam

Quan niệm duy vật lịch sử là cơ sở triết học xã hội để xem xét và giải

quyết những vấn đề của thời đại và của cách mạng Việt Nam Trong nhận thức

thời đại hiện nay, chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở khoa học để nhận thức chủ nghĩa tư bản hiện đại Đó là các vấn đề, như bản chất, mâu thuẫn, sự vận động,

xu hướng, sự diệt vong tất yếu, quá trình phủ định biện chứng của chủ nghĩa tư bản Đồng thời, là cơ sở khoa học cho việc nhận thức và khắc phục sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội thế giới hiện nay, như thành tựu, khuyết điểm, nguyên nhân khủng hoảng và con đường khắc phục khủng hoảng của chủ nghĩa

xã hội

Đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay, chủ nghĩa duy vật lịch

sử góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đó là những vấn đề, về quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa; về định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực phát triển; về nội dung và hình thức đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội; về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; về biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ; về biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; về vấn đề con người và phát huy nhân tố con người; về vấn đề văn hoá vừa

là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội v.v Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong những cơ sở lý luận khoa học để “ giải quyết các mối quan

hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa đổi mới với ổn định và phát triển; giữa độc lập

tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”1

4.3 Chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học trực tiếp đối với lý luận và thực tiễn quân sự

Trong thời đại ngày nay, chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở khoa học cho việc nhận diện bản chất các cuộc chiến tranh, kể cả các cuộc chiến tranh công

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

2006, tr.69

Trang 14

nghệ cao, chiến tranh cục bộ, chiến tranh khu vực, vấn đề khủng bố và chống khủng bố đang diễn ra trong bối cảnh quốc tế phức tạp hiện nay Mặt khác, nó còn là cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học trong nhận thức, giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động quân sự hiện nay, như mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong sức mạnh chiến đấu của quân đội trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao; vấn đề chuyển hoá so sánh lực lượng giữa ta và địch trong điều kiện mới

Đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở khoa học cho đổi mới tư duy về bảo

vệ Tổ quốc của Đảng ta; về xây dựng củng cố quốc phòng và xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội ta, để quân đội ta “thật sự

là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân”1 Chủ nghĩa duy vật lịch sử còn là cơ sở khoa học cho lý luận và thực tiễn về phát huy vai trò của nhân tố tinh thần trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho vấn đề xây dựng quân đội về chính trị và tiếp tục hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội trong thời kỳ mới

Tình hình quốc tế, trong nước đang có những biến đổi nhanh chóng, sâu sắc,

đã đặt ra những yêu cầu mới cần phải phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử để đáp ứng vai trò là thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng cho lý luận - thực tiễn của sự nghiệp đổi mới đất nước và xây dựng quân đội ta hiện nay

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Tại sao nói sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử là nội dung cơ bản của bước ngoặt cách mạng do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện trong triết học?

2 Phân tích làm rõ đối tượng nghiên cứu và vai trò của chủ nghĩa duy vật lịch sử đối với đời sống xã hội?

3 Phân tích đặc điểm của quy luật xã hội và ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề đối với hoạt động quân sự?

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

2006, tr.110

Trang 15

xã hội không thể không nghiên cứu mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên

1 Xã hội - bộ phận đặc thù của tự nhiên

Theo nghĩa rộng, tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan

và vận động, phát triển theo những quy luật vốn có của nó Theo nghĩa hẹp, tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan, nhưng không kể đến hình thái vận động xã hội Tự nhiên bao gồm toàn bộ những điều kiện thiên nhiên,

hoàn cảnh địa lý tồn tại độc lập và có tác động trực tiếp đến xã hội Con người tồn tại với tư cách là chủ thể nhận thức và biến đổi tự nhiên Nhưng cho dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, xã hội vẫn là một bộ phận đặc thù không tách rời của

Bác bỏ những quan điểm sai lầm trên, bằng tổng kết thực tiễn lịch sử C.Mác đã khẳng định: “Xã hội không phải gồm các cá nhân, mà xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân đối với nhau"1 Theo C.Mác, “Xã hội - cho dù nó có hình thức gì đi nữa - là cái gì? Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người"2 Bởi vậy, theo nghĩa rộng, xã

hội là bộ phận đặc thù của thế giới vật chất, nấc thang phát triển cao nhất của các hệ thống sống, là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa người với người

Còn theo nghĩa hẹp, xã hội được hiểu là một kiểu hệ thống xã hội cụ thể trong

lịch sử

1 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 46, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, tr.355

2 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 27, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, tr 657

Trang 16

Như vậy, xã hội là bộ phận đặc thù của thế giới vật chất được “tách ra” một cách hợp quy luật của tự nhiên; là hình thức tổ chức vật chất cao nhất trong quá trình tiến hoá liên tục, lâu dài và phức tạp của tự nhiên Xã hội không chỉ là

bộ phận đặc thù của tự nhiên, của vật chất, mà còn là hình thái vận động cao nhất của thế giới vật chất Hình thái vận động này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng

Sự hình thành con người và sự hình thành xã hội là hai mặt của một quá trình thống nhất, diễn ra trong tác động qua lại quy định lẫn nhau Lịch sử hình thành xã hội và lịch sử bản thân con người không tách rời nhau Và hơn thế, lịch

sử xã hội còn là sự tiếp tục của lịch sử tự nhiên Từ khi xuất hiện con người và

xã hội loài người đến nay, lịch sử của tự nhiên không chỉ phụ thuộc vào sự tác động bởi các yếu tố tự nhiên, mà nó ngày càng chịu sự chi phối mạnh mẽ của yếu tố xã hội Mặt khác, sự phát triển của lịch sử xã hội không thể tách rời các yếu tố tự nhiên, bởi chỉ có trong mối quan hệ với tự nhiên và quan hệ với nhau, con người mới làm ra lịch sử của mình Thực tế cho thấy, con người không chỉ

là chủ thể cải tạo, biến đổi tự nhiên mà nó còn là trung tâm của mọi sự biến động lịch sử xã hội Đề cập tới vấn đề này, Ph.Ăngghen khẳng định: "Có thể xem xét lịch sử dưới hai mặt, có thể chia lịch sử ra thành lịch sử tự nhiên và lịch

sử nhân loại Tuy nhiên, hai mặt đó không tách rời nhau Chừng nào loài người còn tồn tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau"1 Song, bản thân xã hội còn có một quá trình phát triển lịch sử của riêng nó, quá trình đó được thể hiện ở sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng của các hình thái kinh tế - xã hội, các chế độ xã hội trong suốt chiều dài của lịch sử Quá trình phát triển này chịu sự chi phối của các quy luật chung, cơ bản tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử của nhân loại

Theo C.Mác, mỗi giai đoạn phát triển đặc thù của lịch sử nhân loại, hay của mỗi hình thái kinh tế - xã hội, đều được đặc trưng bởi một tổng thể quan hệ sản xuất Tuy nhiên, quan hệ sản xuất chỉ là hình thức xã hội của một phương thức sản xuất nhất định, còn cái quyết định đến nội dung của phương thức sản xuất là lực lượng sản xuất Và lực lượng sản xuất lại chính là biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

là biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên, là thước đo năng lực thực tiễn của con người trong quá trình cải biến tự nhiên Như vậy, trong hoạt động sản xuất vật

1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 25

Trang 17

chất của con người tất yếu hình thành hai mối quan hệ, đó là quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất Cả hai mối quan hệ trên đều tồn tại khách quan và do đó, xã hội với tư cách là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người với người cũng được hình thành một cách tất yếu khách quan

Với tư cách vừa là bộ phận đặc thù của tự nhiên, vừa là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người với người, quá tình tồn tại, vận động và phát triển của xã hội vừa chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên; vừa phải tuân theo những quy luật chỉ vốn có đối với xã hội Trước hết là hai quy luật cơ bản tác động trong toàn bộ tiến trình vận động, phát triển của lịch sử nhân loại, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của

xã hội

2 Mối quan hệ biện chứng giữa xã hội và tự nhiên

2.1 Sự thống nhất biện chứng giữa xã hội và tự nhiên

Thế giới vật chất tồn tại vô cùng đa dạng và phức tạp, trong đó có ba yếu

tố cơ bản cùng tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất và có tác động biện chứng với nhau; đó là: giới tự nhiên, con người và xã hội loài người Cả ba yếu tố cơ bản trên đều là những dạng thức, đặc tính, các mối quan hệ khác nhau của thế giới vật chất đang vận động, trong đó tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan; xã hội là một kết cấu vật chất đặc thù, đồng thời là sản phẩm của sự tác động qua lại lẫn nhau giữa người với người; còn con người chỉ là một thực thể vật chất đặc biệt có ý thức, là chủ thể có khả năng cải tạo tự nhiên và biến đổi xã hội thông qua hoạt động thực tiễn của mình, bởi vậy các yếu tố trên có mối quan hệ vật chất thống nhất với nhau

Thế giới vật chất luôn vận động, biến đổi không ngừng, nhưng sự vận động của nó được diễn ra với các hình thức cụ thể trong trạng thái ổn định tương đối, vì vậy đây là sự vận động có quy luật và tuân theo quy luật Tất cả các quá trình diễn ra trong tự nhiên, trong xã hội và con người đều phải chịu sự chi phối, tác động của những quy luật chung, phổ biến nhất định Sự hoạt động của các quy luật đó đã nối liền các yếu tố trong thế giới thành một chỉnh thể thống nhất, không ngừng vận động, phát triển, tác động qua lại với nhau, là nguyên nhân và kết quả của nhau Hơn nữa, xét về nguồn gốc, hệ thống tự nhiên và xã hội được hình thành trong quá trình tiến hoá lâu dài của thế giới vật chất, sự thống nhất

Trang 18

của hệ thống đó được xây dựng trên cơ sở cấu trúc liên hoàn chặt chẽ của sinh quyển và được đảm bảo bởi cơ chế hoạt động của chu trình sinh học Nghĩa là,

tự nhiên và xã hội không tồn tại tách rời nhau, mà thường xuyên tác động qua lại với nhau trong một hệ thống thống nhất Sự vận động, phát triển của các yếu tố trong hệ thống đó chịu sự chi phối của các quy luật khách quan trên cơ sở tính thống nhất vật chất của thế giới

Sự thống nhất giữa xã hội và tự nhiên là sự thống nhất động, sự thống nhất

đó được thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn của con người, mà trước hết là hoạt động sản xuất vật chất Bằng hoạt động sản xuất vật chất, xã hội đã tham gia vào chu trình trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin với tự nhiên Trong sản xuất vật chất, thì phương thức sản xuất, trước hết là lực lượng sản xuất, là yếu tố cơ bản quyết định trình độ phát triển của xã hội Nhưng lực lượng sản xuất không phải

là yếu tố đối lập với tự nhiên, mà là biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với

tự nhiên Do đó, trình độ phát triển của xã hội và mối quan hệ giữa con người với

tự nhiên luôn có sự phụ thuộc, chế ước lẫn nhau Nói cách khác, các mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với tự nhiên luôn có sự thống nhất biện chứng, phụ thuộc và tác động lẫn nhau

Thông qua hoạt động thực tiễn, trước hết là hoạt động sản xuất vật chất, vai trò của con người và xã hội ngày càng tăng lên đối với sự biến đổi và phát triển của tự nhiên Và cũng chính thông qua quá trình sản xuất vật chất con người đã tách mình ra khỏi tự nhiên Tuy nhiên, để duy trì sự thống nhất giữa xã hội và tự nhiên, đòi hỏi tất yếu con người phải biết điều khiển một cách có ý thức mối quan

hệ giữa mình với tự nhiên Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của hệ thống

tự nhiên và xã hội, con người vừa phải nhận thức được mình là một bộ phận không tách rời của giới tự nhiên; vừa phải nhận thức, vận dụng chính xác các quy luật của tự nhiên và xã hội trong hoạt động thực tiễn Ph.Ăngghen chỉ rõ: "Chúng

ta không hoàn toàn thống trị được tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài tự nhiên, mà trái lại, bản thân chúng

ta, với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên, chúng

ta nằm trong lòng giới tự nhiên, và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác"1

1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.655

Trang 19

Như vậy, xã hội và tự nhiên cùng tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, có tác động qua lại biện chứng với nhau Mối quan hệ biện chứng giữa

xã hội và tự nhiên phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trước hết và quan trọng nhất là phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội; phụ thuộc vào nhận thức, vận dụng các quy luật khách quan trong hoạt động thực tiễn của con người

2.2 Vai trò của tự nhiên đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội

Cùng tồn tại trong một hệ thống thống nhất, thường xuyên tác động qua lại với nhau, tự nhiên luôn có vai trò quan trọng không thể thiếu đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Tự nhiên, mà trước hết là môi trường địa lý là điều kiện đầu tiên, thường xuyên và tất yếu của quá trình sản xuất ra mọi của cải vật chất; đồng thời nó là yếu tố cơ bản trong những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội Môi trường địa lý, một bộ phận của tự nhiên mà con người sống trong đó, bao gồm: đất, nước, không khí, lớp thổ nhưỡng, giới động vật và thực vật v.v Những yếu

tố địa lý đó được con người thu hút vào quá trình sản xuất xã hội tạo ra của cải vật chất và những điều kiện cần thiết cho đời sống xã hội Do vậy, môi trường địa lý luôn có vai trò là nền tảng tự nhiên của đời sống xã hội

Tự nhiên là môi trường sống của con người và xã hội loài người, vai trò này của nó không có gì thay thế được và cũng không bao giờ mất đi Chỉ có tự nhiên mới cung cấp được cho con người những thứ cần thiết nhất cho sự sống

và các điều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất vật chất, như tài nguyên, đất đai, khoáng sản.v.v Ph.Ăngghen khẳng định: “Công nhân không thể sáng tạo ra cái gì nếu không có giới tự nhiên, nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài Đó

là vật liệu, trong đó lao động của anh ta được thực hiện, trong đó hoạt động lao động của anh ta triển khai, từ đó và nhờ đó, lao động của anh ta sản xuất sản phẩm"1 Ngày nay, với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại con người đã cải biến mạnh mẽ giới tự nhiên, tạo ra được nhiều sản phẩm mới và vật liệu mới không có sẵn trong tự nhiên để thoả mãn các nhu cầu tồn tại, phát triển xã hội Nhưng xét đến cùng, thành phần tạo nên các sản phẩm và vật liệu mới đó cũng đều có từ tự nhiên

Các yếu tố của tự nhiên không chỉ tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất ra của cải vật chất, nó còn tác động tới quá trình phát triển kinh tế nói chung và phân công lao động xã hội; tác động cả đến các quan hệ giao lưu kinh

1 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.130

Trang 20

tế, văn hoá trong nước và quốc tế của các quốc gia, dân tộc v.v Sự tác động của

tự nhiên đến xã hội là hiện tượng có tính lịch sử, càng trở về quá khứ xa xưa thì ảnh hưởng của tự nhiên, của môi trường địa lý đến xã hội càng lớn Khi xã hội càng phát triển, năng lực chinh phục, cải tạo tự nhiên của con người tăng lên thì con người và xã hội càng ít bị phụ thuộc vào sức mạnh tự phát của tự nhiên Tác động của tự nhiên đến xã hội theo hai chiều hướng cơ bản, hoặc là tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và đời sống xã hội; hoặc là gây ra các khó khăn, trở lực cho sự tồn tại, phát triển xã hội Nhưng yếu tố tự nhiên chỉ tác động, ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội chứ không thể quyết định sự phát triển của xã hội

Theo Ph.Ăngghen, lịch sử phát triển của xã hội về căn bản khác với lịch

sử phát triển của tự nhiên, trong tự nhiên chỉ có những nhân tố vô thức và mù quáng tác động lẫn nhau; còn trong lịch sử xã hội, nhân tố hoạt động hoàn toàn

là những con người có ý thức, hoạt động của họ luôn có mục đích và ý định tự giác Vì vậy, quá trình vận động, phát triển của xã hội một mặt chịu sự tác động của các quy luật tự nhiên; nhưng mặt khác, luôn chịu ảnh hưởng quyết định bởi các quy luật nội tại của nó

Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên và môi trường địa lý đến sự tồn tại, phát triển của xã hội là rất to lớn, song sẽ là sai lầm nếu đi tuyệt đối hoá vai trò của môi trường địa lý Sai lầm đó sẽ đi đến thuyết "Quyết định luận địa lý", cho điều kiện địa lý quyết định đến sự tồn tại, phát triển của xã hội Trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa thuyết "Quyết định luận địa lý" đã bị lợi dụng và phát triển thành thuyết “Địa lý chính trị" hết sức phản động.Thuyết này đã sử dụng nhân tố địa lý để biện hộ cho chính sách xâm lược, hiếu chiến của các nước đế quốc Họ cho rằng, việc đi xâm lược các nước khác là cần thiết để mở rộng "không gian sinh tồn" cho phù hợp với vị trí địa lý của nó Rồi cho hoàn cảnh địa lý quyết định, nên các dân tộc "văn minh" thống trị các dân tộc "mông muội" là đương nhiên và nó trở thành cơ sở lý luận cho sự phân biệt về dân tộc, về chủng tộc

Như vậy, tự nhiên luôn là tiền đề, điều kiện tất yếu của sự tồn tại và phát triển xã hội Tác động của tự nhiên vào đời sống xã hội theo các quy luật của tự nhiên, diễn ra một cách tự phát, "mù quáng" theo hai chiều thuận nghịch Bởi vậy, con người cải tạo tự nhiên phải trên cơ sở nắm vững các quy luật của tự nhiên

2.3 Sự tác động của xã hội vào tự nhiên

Trang 21

Là bộ phận đặc thù của tự nhiên, tồn tại và phát triển trong môi trường của tự nhiên, do vậy tác động của xã hội đến tự nhiên mang tính tất yếu khách quan Trong quan hệ biện chứng với tự nhiên, yếu tố xã hội luôn tác động, biến đổi tự nhiên nhanh chóng và mạnh mẽ Xã hội tác động đến tự nhiên thông qua hoạt động thực tiễn của con người, mà trước hết là hoạt động sản xuất vật chất Trong hoạt động sản xuất vật chất con người đã thu nhận tất cả các đối tượng của tự nhiên, sử dụng những công cụ, phương tiện thích hợp do mình sáng tạo ra tác động vào tự nhiên và cải biến chúng để phục vụ cho nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội

Trong sản xuất vật chất, thì lao động sản xuất là hành vi lịch sử đầu tiên

để phân biệt sự khác nhau về chất giữa con người và con vật; giữa xã hội loài người với thế giới loài vật Mặt khác, lao động sản xuất còn là yếu tố cơ bản, đầu tiên và quan trọng nhất tạo nên sự thống nhất hữu cơ giữa xã hội và tự nhiên Nó chính là cầu nối và dòng kênh cơ bản trong sự tác động qua lại giữa

xã hội và tự nhiên Ph.Ăngghen khẳng định: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa xã hội và tự nhiên"1 Vì vậy, hoạt động sản xuất vật chất của xã hội chính là phương thức trao đổi chất giữa xã hội và tự nhiên Quá trình trao đổi chất giữa

xã hội và tự nhiên được biểu hiện trước hết ở chỗ, tự nhiên cung cấp cho con người tất cả các nguồn vật chất vốn có của sinh quyển để con người sống và tiến hành các hoạt động lao động sản xuất

Mặt khác, con người và xã hội là đối tượng tiêu thụ mạnh mẽ nhất các nguồn vật chất của sinh quyển, vì thế nó tạo ra sự biến đổi nhanh chóng nhất của giới tự nhiên so với tất cả các thành phần khác của chu trình sinh học Yếu tố xã hội trong chu trình trao đổi chất của giới tự nhiên, có những đặc trưng riêng mà không thể có một hệ thống vật chất sống nào có được Nó vừa tích cực cải biến

tự nhiên một cách có ý thức, vừa là đối tượng tiêu thụ và có khả năng tái tạo ra một thiên nhiên thứ hai để đáp ứng nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và

xã hội

Tác động của xã hội vào tự nhiên phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là trình độ phát triển của nền sản xuất vật chất, mà trực tiếp nhất là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Bởi vì, lực lượng sản xuất quyết định trình độ phát

Trang 22

triển của xã hội và nó quy định nội dung của phương thức sản xuất Tác động của xã hội vào tự nhiên còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học và công nghệ Tuy nhiên, xã hội tác động vào tự nhiên và đối xử với giới tự nhiên ra sao còn tuỳ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội, vào quan

hệ sản xuất thống trị

Thực tế cho thấy, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ là sự phát triển năng lực chinh phục tự nhiên của con người và xã hội Các yếu tố trên có quan hệ thống nhất biện chứng không tách rời nhau, nhưng xét cho đến cùng sự tác động của xã hội vào tự nhiên luôn phụ thuộc một cách quyết định vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, vào bản chất của chế

độ xã hội và quan hệ sản xuất thống trị Vì vậy, phải có quan điểm toàn diện khi xem xét sự tác động của xã hội vào tự nhiên và phải gắn chặt quá trình cải tạo tự nhiên, với quá trình đấu tranh cải tạo các quan hệ kinh tế - xã hội cụ thể trong đời sống xã hội hiện thực

Sự tác động của tự nhiên vào xã hội mang tính chất tự phát, còn xã hội tác động vào tự nhiên thông qua hoạt động của con người, của các lực lượng xã hội

có ý thức Tác động của xã hội vào tự nhiên có thể diễn ra theo hai chiều hướng, nếu tác động theo đúng quy luật của tự nhiên sẽ làm cho tự nhiên ngày càng phong phú hơn và đảm bảo cho sự phát triển bền vững của cả hệ thống tự nhiên

- xã hội Ngược lại, nếu tác động không đúng quy luật sẽ làm cho tự nhiên ngày càng nghèo nàn, kiệt quệ, cân bằng sinh thái sẽ bị phá vỡ và trong trường hợp này tự nhiên sẽ trả thù con người

Như vậy, trong sự tác động qua lại giữa xã hội và tự nhiên, vai trò của yếu

tố xã hội ngày càng tăng lên Song, để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của

cả hệ thống tự nhiên - xã hội, con người phải biết điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa mình với tự nhiên Theo Ph.Ăngghen, sự điều khiển một cách

có ý thức ở đây không phải là bắt tự nhiên phải phục tùng con người một cách

vô điều kiện, như “một kẻ xâm lược” đi thống trị một dân tộc khác Mà vấn đề

là ở chỗ, con người và xã hội phải biết nắm vững các quy luật của tự nhiên, biết vận dụng sáng tạo các quy luật đó vào hoạt động thực tiễn, trong đó quan trọng hơn cả là vận dụng vào quá trình sản xuất vật chất của xã hội

1 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1993, tr 266

Trang 23

Tuy nhiên, việc nhận thức và vận dụng có hiệu quả những quy luật của giới tự nhiên, không thể tách khỏi việc nhận thức và vận dụng đúng đắn các quy luật xã hội Bởi đây chính là tiền đề, điều kiện để điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên Thực tế cho thấy, chỉ có nắm vững các quy luật của xã hội và vận dụng nó một cách triệt để con người mới xác định đúng đắn phương hướng, mục tiêu tác động vào giới tự nhiên và có ý thức tự giác trong việc lựa chọn cách thức, biện pháp cùng những công cụ, phương tiện thích hợp để thực hiện các mục tiêu xác định, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của

Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa xã hội và tự nhiên có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động quân sự Là loại hình đặc biệt của hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động quân sự luôn đặt ra vấn đề phải giải quyết mối quan

hệ với tự nhiên Tự nhiên của hoạt động quân sự, mà trước hết là điều kiện địa

lý có tác động, ảnh hưởng thường xuyên và trực tiếp đến các hoạt động quân sự: xây dựng các phương án tác chiến; đến sử dụng lực lượng, bố trí đội hình; sử dụng bố trí vũ khí và các phương tiện kỹ thuật, cả việc phát huy ưu thế của các loại vũ khí và phương tiện kỹ thuật trên chiến trường; ảnh hưởng đến việc hành trú quân trong tác chiến và các hoạt động chỉ huy, chỉ đạo cụ thể trong thực tiễn của hoạt động quân sự

Tuy nhiên, xét trong phạm vi toàn cục và không tính đến các trường hợp ngẫu nhiên xảy ra, thì các điều kiện tự nhiên chỉ có thể tác động, ảnh hưởng tới hoạt động quân sự theo hai chiều hướng cơ bản, hoặc là tạo các điều kiện thuận lợi; hoặc là gây ra các khó khăn, bất lợi cho hoạt động quân sự, chứ không phải

là yếu tố quyết định đến sự thành bại của hoạt động quân sự Vì vậy, trong hoạt động quân sự phải phân tích và nắm chính xác các điều kiện tự nhiên của hoạt động quân sự Trong chiến trường và chiến tranh tương lai, cho dù có sử dụng

vũ khí, phương tiện kỹ thuật công nghệ cao thì điều kiện tự nhiên vẫn có tác động, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quân sự của các bên tham chiến

Trang 24

Do đó, phải biết tận dụng những điều kiện thuận lợi của tự nhiên mang lại, tích cực khai thác và sử dụng để phục vụ cho hoạt động quân sự đạt được hiệu quả mong muốn Đồng thời, phải khắc phục các yếu tố bất lợi và dự kiến được những tình huống bất trắc do thiên nhiên tạo ra để có phương án chủ động đối phó Tuy nhiên trong hoạt động quân sự, cần phải tính toán kỹ đến những hậu quả mà nó có thể gây ra đối với hệ thống tự nhiên - xã hội, để xác định những biện pháp nhằm hạn chế thấp nhất những hậu quả có thể xảy ra

3 Dân số và môi trường trong sự phát triển xã hội

Dân số và môi trường là những yếu tố cơ bản của điều kiện sinh hoạt vật chất xã hội, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội Là những yếu

tố hợp thành của tồn tại xã hội, dân số và môi trường có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Dân số, môi trường và sự phát triển xã hội tồn tại trong mối quan hệ chế ước và quy định lẫn nhau không chỉ trong một hình thái kinh tế - xã hội, mà còn trong suốt tiến trình vận động, phát triển của lịch sử xã hội Ngày nay, vấn đề dân số và môi trường sinh thái không chỉ mang tính chất riêng của mỗi quốc gia, mà còn mang tính toàn cầu

3.1 Vấn đề môi trường sinh thái

Môi trường sinh thái là tổng hợp những điều kiện tự nhiên có liên quan đến sự sống của con người, đến sự tồn tại và phát triển của xã hội Thực chất, môi trường sinh thái chính là môi trường sinh sống, hoạt động của con người và

xã hội, là mối quan hệ và sự tác động qua lại lẫn nhau của các yếu tố trong hệ thống tự nhiên - con người và xã hội

Thực tế lịch sử cho thấy, hoạt động thực tiễn của con người ngày càng phát triển, tác động của con người vào giới tự nhiên ngày càng tăng lên và sự can thiệp đó có thể gây ra các hậu quả mà không phải bao giờ con người cũng

có thể lường hết được Khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển, phạm vi và nhịp điệu tác động của con người và xã hội đến tự nhiên còn ở mức độ hạn chế Nhưng phạm vi và nhịp điệu tác động đó ngày càng tăng lên và trở nên hết sức mạnh mẽ trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật Hơn nữa, sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật trong điều kiện chế độ chiếm hữu tư nhân về

tư liệu sản xuất đã đưa con người và xã hội vấp phải những vấn đề mới về môi trường sinh thái và làm cho các mâu thuẫn trong hệ thống tự nhiên - xã hội có

xu hướng phát triển ngày càng gay gắt hơn

Trang 25

Ngày nay, môi trường sinh thái đang đặt ra nhiều vấn đề căng thẳng, phức tạp và cấp bách đòi hỏi phải được nhận thức và giải quyết Sự phát triển mạnh

mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đã đem lại cho con người nhiều tri thức mới, cùng các công cụ và phương tiện mới để tác động và cải biến giới tự nhiên Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ đó, cùng với các nguyên nhân xã hội đã và đang đưa đến những vấn đề hết sức gay gắt về môi trường sinh thái

Vấn đề mất cân bằng sinh thái hiện nay không chỉ liên quan trực tiếp đến

sự sống của giới hữu sinh, mà còn đe doạ đến sự tồn tại, phát triển của cả con người và xã hội Đó là sự cạn kiệt dần các nguồn tài nguyên thiên nhiên cả tái tạo được và không thể tái tạo được Cùng các hiện tượng đang tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, như hiệu ứng nhà kính; sự tăng lên về nhiệt độ của toàn cầu; sa mạc hoá đất đai; mưa axít và ô nhiễm môi trường v.v Những hậu quả tiêu cực trên đang làm suy giảm môi trường sống của con người và gây ra những cuộc khủng hoảng sinh thái cục bộ ở nhiều nơi trên trái đất Hiện trạng trên có thể đưa tới nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu, đe doạ tới toàn bộ sự sống trên hành tinh, trong đó có con người và xã hội loài người

Hiện trạng của môi trường sinh thái hiện nay do nhiều nguyên nhân đưa lại Nguyên nhân trước hết là do hạn chế về tri thức khoa học, công nghệ; hạn chế về trình độ nhận thức và vận dụng quy luật Thực tế cho thấy, sự hạn chế về tri thức khoa học và công nghệ, đã đưa tới sự tác động vô ý thức của con người

và xã hội vào tự nhiên Trong một thời gian dài, con người chưa được chuẩn bị

và có được các tri thức cần thiết để hoàn thiện các trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ cho nền sản xuất xã hội; chưa tạo ra được những phương thức hoạt động mới đáp ứng cho yêu cầu phát triển bền vững của cả hệ thống tự nhiên - xã hội Mặt khác, cho đến nay con người vẫn chưa nắm bắt được một cách đầy đủ các quy luật của tự nhiên và chưa tích cực vận dụng những quy luật đã được nhận thức vào trong hoạt động thực tiễn, mà trước hết là hoạt động sản xuất vật chất của xã hội

Nguyên nhân trực tiếp đưa tới những vấn đề sinh thái hiện nay, là do sự phát triển nhanh chóng của nền sản xuất xã hội và sự ra tăng dân số quá lớn trên hành tinh đưa lại Nguyên nhân trên đã đưa tới các mâu thuẫn sinh thái, mà trước hết là sự mất cân bằng trong quá trình khai thác, sử dụng, tiêu thụ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và làm cho môi trường tự nhiên có xu hướng ngày

Trang 26

càng bị ô nhiễm nặng nề Song, nguyên nhân sâu xa và cơ bản nhất của hiện trạng môi trường sinh thái toàn cầu hiện nay, là thuộc về bản chất của chế độ xã hội và quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa Chủ nghĩa tư bản với quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân tư bản và các quy luật kinh tế đặc thù của nó, đã tận dụng một cách triệt để các thành tựu của khoa học kỹ thuật và công nghệ để bóc lột sức lao động của con người, bóc lột giới tự nhiên nhằm thu về lợi ích tối đa trước mắt, bất chấp những quy luật phát triển của giới tự nhiên Và chính nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã đưa tới những hậu quả tiêu cực, cùng nguy cơ của một cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu hiện nay

Vấn đề môi trường sinh thái hiện nay đã và đang trở thành vấn đề cấp bách toàn cầu Để giải quyết được những nguy cơ và hiểm hoạ đang đe doạ sự sống trên hành tinh hiện nay, đòi hỏi phải biết sử dụng tất cả các thành tựu của khoa học và phải có sự hợp tác của tất cả các quốc gia, các tổ chức quốc tế trên thế giới cùng tham ra giải quyết Cần có những giải pháp mang tính cấp bách để khắc phục những hậu quả tiêu cực do nền sản xuất xã hội mang lại cho tự nhiên, gây mất cân bằng sinh thái Tích cực thay đổi các phương thức hoạt động thực tiễn; khai thác, sử dụng các yếu tố của tự nhiên phải đi đôi với tăng cường dự trữ tái sinh, khai thác phải đi đôi với bảo vệ Đồng thời, phải tăng cường giáo dục, xây dựng ý thức sinh thái, đạo đức sinh thái cho con người Nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường sinh thái, kết hợp các mục tiêu phát triển kinh tế với phát triển sinh thái để đảm bảo sự phát triển bền vững của cả hệ thống tự nhiên -

xã hội

Song, từ nguyên nhân cơ bản và sâu xa nhất của hiện trạng môi trường sinh thái toàn cầu hiện nay, vấn đề có tính nguyên tắc và quan trọng hơn cả là phải xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa Thiết lập và xây dựng thành công hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, chính là tạo ra cơ sở kinh tế - xã hội để đi tới giải quyết triệt để mâu thuẫn gay gắt giữa con người với con người và giữa con người với tự nhiên Các nhà kinh điển mácxít khẳng định rằng, chủ nghĩa cộng sản chính là sự giải quyết hiện thực mâu thuẫn giữa con người với tự nhiên; giữa con người với con người Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới có khả năng hiện thực giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức, bóc lột và bất công; cũng chỉ có dưới chủ nghĩa cộng sản con người mới có đầy đủ các điều kiện và tri thức cần thiết để nắm bắt các quy luật của tự nhiên, cùng các

Trang 27

quy luật của xã hội; biết tự giác vận dụng các quy luật đó để xây dựng quan hệ thật sự bình đẳng giữa con người với con người và mối quan hệ thật sự hài hoà giữa con người với giới tự nhiên

Nước ta đã trải qua hàng trăm năm đô hộ của thực dân Pháp Trong suốt thời gian đô hộ đó, thực dân Pháp đã ra sức khai thác, vơ vét tài nguyên của đất nước ta Đặc biệt, trong ba mươi năm chiến tranh ác liệt chống các thế lực xâm lược (1945 - 1975), môi trường tự nhiên của đất nước bị tàn phá nghiêm trọng,

mà hiện nay những hậu quả sinh thái vẫn còn hết sức nặng nề Ngày nay, trong điều kiện xây dựng đất nước, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…, vấn đề môi trường, môi sinh ở nước ta còn có lúc chưa được coi trọng đúng mức và cũng đang đặt ra những vấn đề mang tính cấp bách đòi hỏi phải được nhận thức, giải quyết Những vấn đề sinh thái nổi lên ở nước ta hiện nay là, diện tích rừng đang

bị thu hẹp nghiêm trọng; môi trường nước đã và đang đứng trước nguy cơ bị nhiễm bẩn; không khí cũng bị ảnh hưởng và một số nơi có tình trạng ô nhiễm khá nặng nề Thực tế trên đang ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống xã hội ở nước ta, đưa tới nguy cơ mất cân bằng sinh thái

Vì vậy, phát triển kinh tế - xã hội đất nước phải luôn gắn kết với yêu cầu bảo vệ và cải thiện môi trường, coi môi trường là một tiêu chí quan trọng của sự phát triển Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với bảo vệ môi trường, môi sinh; nâng cao trách nhiệm của toàn xã hội trong bảo vệ và cải tạo môi trường Thực hiện nhất quán quan điểm phát triển của Đảng ta, phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, phải “rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường trong từng bước phát triển”1

Bảo vệ, cải thiện môi trường, môi sinh và đảm bảo sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên; chủ động phòng tránh những tác động xấu do thiên nhiên đưa lại và tiếp tục giải quyết những hậu quả của chiến tranh còn lại đối với môi trường hiện nay ở nước ta là trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành, của toàn xã hội trong đó có trách nhiệm của quân đội Bởi vậy, cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng ta về bảo vệ và cải thiện môi trường hiện nay cho cán bộ, chiến sĩ quân đội Tích cực chuẩn bị về mọi mặt để hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong phòng chống, khắc phục các hậu quả của thiên tai và đi

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006, tr.179

Trang 28

đầu trong giải quyết các hậu quả của chiến tranh còn lại đối với môi trường sống

ở nước ta là một trong những yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể đặt ra cho quân đội ta hiện nay Các đơn vị phải thường xuyên giáo dục nâng cao ý thức sinh thái và trách nhiệm của mỗi người trong hoạt động thực tiễn quân sự; quan tâm, nâng cao chất lượng môi trường sống, xây dựng môi trường cảnh quan sạch đẹp, đó

là yêu cầu và cơ sở để xây dựng các đơn vị vững mạnh toàn diện

3.2 Vấn đề dân số

Dân số là điều kiện thường xuyên, tất yếu đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Cùng với vấn đề sinh thái, vấn đề dân số hiện nay cũng trở nên cấp bách và mang tính toàn cầu

Dân số trước hết là số lượng người sinh sống trên một vùng lãnh thổ tại một thời điểm nhất định nào đó, như dân số một địa phương, một quốc gia, một châu lục hoặc rộng hơn là dân số thế giới Khái niệm dân số bao hàm nhiều mặt, như số lượng dân cư; chất lượng dân cư; sự phân bố dân cư; mật độ dân cư và sự gia tăng dân số v.v

Vai trò của dân số trong sự phát triển xã hội có tính hai mặt, dân số vừa tạo ra mọi của cải vật chất cho xã hội; vừa là đối tượng tiêu thụ mọi của cải của xã hội Vai trò của dân số đối với sự phát triển xã hội được thể hiện trước hết ở số lượng dân cư

và chất lượng dân cư Tuy nhiên, vấn đề này có tính lịch sử - cụ thể

Số lượng dân cư là số lượng người của dân số Số lượng dân cư phản ánh sức mạnh về lượng của dân số, theo đó, số lượng người càng đông thì sức mạnh của nó càng lớn Nhưng về thực chất, đây là sức mạnh thuộc về thể lực và được tính theo lao động của cơ bắp Sức mạnh của số lượng dân cư phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý, vào khả năng đoàn kết và liên kết giữa con người với nhau trong cộng đồng

Chất lượng dân cư là chất lượng người của dân số Chất lượng của dân cư được biểu hiện ở sức mạnh về trí lực và năng lực thực tiễn của con người, như lao động, trí tuệ, hoạt động thực tiễn có hàm lượng khoa học cao, có ý chí và khả năng sáng tạo v.v Sức mạnh của chất lượng dân cư phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng cuộc sống và các yếu tố khác, như giáo dục, truyền thống văn hoá, dân trí và trình độ phát triển của khoa học v.v

Là điều kiện thường xuyên, tất yếu của sự tồn tại và phát triển xã hội, số lượng dân cư có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nhân lực trong quá trình sản

Trang 29

xuất xã hội; đến việc tổ chức và phân công lao động xã hội Số lượng dân cư và mật độ dân cư hợp lý sẽ có điều kiện thuận lợi trong tổ chức, phân công lao động xã hội; có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Số lượng và mật độ dân cư không hợp lý sẽ có nhiều khó khăn trong

tổ chức phân công lao động xã hội và phát triển sản xuất

Từ cuối thế kỷ XVII, với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất,

sự ra đời của công nghệ cơ khí máy móc, vai trò sức mạnh về lượng của dân số giảm dần và từng bước được thay thế bằng sức mạnh về chất của dân số Đặc biệt ngày nay, khi cuộc cách mạng tin học đang diễn ra mạnh mẽ, công nghệ tin học đang dần dần thay thế công nghệ cơ khí máy móc thì lao động trí tuệ cũng đang từng bước thay thế dần cho lao động cơ bắp Bởi vậy, sức mạnh về chất của dân số ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền sản xuất xã hội

Thực tế cho thấy, sự gia tăng dân số luôn có tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội Sự gia tăng dân số quá nhanh, hoặc quá chậm so với sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội đều có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển xã hội Dân số gia tăng quá chậm như ở một số nước châu Âu hiện nay, sẽ dẫn đến thiếu hụt lao động xã hội, gây ra các khó khăn cho sản xuất và đời sống xã hội Ngược lại, nếu dân số tăng quá nhanh như ở một số nước chậm phát triển và đang phát triển hiện nay, ngoài những yếu tố thuận lợi nhất định,

nó đang tạo ra nhiều khó khăn và áp lực cho sự phát triển xã hội; đồng thời, còn tạo ra những khó khăn và áp lực cho sự cân bằng môi trường sinh thái

Sự gia tăng dân số hiện nay trên thế giới đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc, đây không chỉ là vấn đề khó khăn của các nước chậm phát triển, mà còn là vấn đề toàn cầu có liên quan đến tất cả các quốc gia, các dân tộc Bởi vậy, cần có sự nỗ lực chung của các quốc gia, của cả cộng đồng quốc tế cùng tham ra giải quyết

Vấn đề dân số một mặt phụ thuộc vào các quy luật của tự nhiên, liên quan đến môi trường tự nhiên; mặt khác, nó bị ảnh hưởng bởi các quy luật xã hội và sự tác động, chi phối trực tiếp của chế độ xã hội cùng các chính sách của nhà nước

Vì vậy, đối với mỗi quốc gia hiện nay, để giải quyết tối ưu vấn đề dân số, đòi hỏi phải xác định và giữ được tỷ lệ gia tăng dân số hợp lý trên cơ sở của nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với khả năng và điều kiện của môi trường tự nhiên Mặt khác, cần phải có chính sách phân bố hợp lý dân cư, đặc biệt là phải tăng cường được chất lượng dân cư, để đảm bảo sự cân bằng trong quá trình phát triển của cả hệ thống tự nhiên - xã hội

Trang 30

Nước ta là một nước có diện tích trung bình, nhưng thuộc diện các nước đông dân trên thế giới và có mật độ dân số vượt xa các nước trong khu vực Sự bùng nổ dân số của nước ta trong các năm vừa qua, đã tạo ra các áp lực lớn cho

sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước và có những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái hiện nay, tạo ra sức ép đối với nghề nghiệp, việc làm, giáo dục; làm cho đất canh tác và diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp v.v Đảng, Nhà nước ta đã có sự quan tâm sâu sắc đến chính sách dân số, công tác dân số và yêu cầu phải tạo ra chuyển biến nhanh trong việc thực hiện chiến lược dân số cả về quy mô, cơ cấu và sự phân bố dân cư trong cả nước

Phương hướng chung Đảng ta chỉ ra hiện nay là: “Giảm tốc độ tăng dân

số Tiếp tục duy trì kế hoạch giảm sinh và giữ mức sinh thay thế, đảm bảo quy

mô và cơ cấu dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số”1; đồng thời, phải “Xử

lý tốt mối quan hệ giữa tăng dân số, phát triển kinh tế và đô thị hoá với bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững”2 Để thực hiện được những phương hướng trên, công tác dân số phải được xã hội hoá và có kế hoạch với các biện pháp, mục tiêu cụ thể Tập trung nâng cao chất lượng dân cư và chất lượng của nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mọi cấp, mọi ngành phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của vấn đề dân số trong sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước Tích cực thực hiện và tuyên truyền chính sách dân số của đảng và nhà nước, đấu tranh khắc phục với những nhận thức không đúng và các quan niệm, tập quán lạc hậu về vấn đề này trong đời sống xã hội của nước ta hiện nay

Từ hiện trạng của tình hình dân số của nước ta hiện nay và vai trò của công tác dân số, cán bộ và chiến sĩ quân đội cần tích cực nâng cao nhận thức về vấn đề này Nắm vững quan điểm của Đảng và chính sách dân số của Nhà nước, gương mẫu trong quá trình thực hiện và làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân để thực hiện thắng lợi chiến lược dân số của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ mới

Trang 31

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Phân tích cơ sở triết học của sự thống nhất biện chứng giữa tự nhiên và

xã hội Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề ?

2 Vai trò của tự nhiên đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề?

3 Phân tích sự tác động của xã hội vào tự nhiên và ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề ?

4 Trình bày những vấn đề cấp bách về môi trường sinh thái hiện nay và phương hướng giải quyết Vận dụng xem xét vấn đề môi trường sinh thái ở nước

Trang 32

Chương 3

SẢN XUẤT VẬT CHẤT - BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT

Hệ thống quan điểm về sản xuất vật chất; biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là những nội dung cơ bản nhất của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội Học thuyết đó chỉ ra những quy luật cơ bản của sự vận động phát triển xã hội và phương pháp luận duy nhất khoa học để giải thích lịch sử Đây là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận chỉ đạo cho hoạt động nhận thức

và thực tiễn trong đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Việc nghiên cứu nắm vững, bảo vệ và vận dụng sáng tạo những nội dung này trong điều kiện rất phức tạp của cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay không chỉ là vấn đề cơ bản, quan trọng mà còn là một nhiệm vụ lý luận, chính trị cấp bách

1 Sản xuất vật chất

1.1 Khái niệm sản xuất vật chất

Để tồn tại và phát triển, con người và xã hội loài người phải tiến hành sản

xuất Đây là hoạt động đặc trưng riêng có của con người Sản xuất là hoạt động

không ngừng sáng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người Quá trình sản xuất diễn ra trong xã

hội loài người chính là sự sản xuất xã hội - sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực Sự sản xuất xã hội bao gồm ba phương diện không tách rời nhau là sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người

Cùng với sản xuất vật chất, con người tiến hành sản xuất tinh thần Sản xuất tinh thần là hoạt động sáng tạo ra các giá trị tinh thần nhằm thoả mãn nhu cầu của con người và xã hội Đồng thời, cùng với hai phương diện sản xuất cơ bản nói trên, xã hội còn phải sản xuất ra bản thân con người Sự sản xuất ra bản thân con người ở phạm vi cá nhân, gia đình là việc sinh đẻ và nuôi dạy con cái

để duy trì nòi giống Ở phạm vi xã hội là sự tăng trưởng dân số, phát triển con người với tính cách là thực thể sinh học - xã hội Ph.Ăngghen khẳng định: "Theo

quan điểm duy vật về lịch sử, nhân tố quyết định trong lịch sử xét đến cùng là sự

sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực Cả Mác và tôi chưa bao giờ

khẳng định gì hơn Nếu như có ai xuyên tạc câu đó khiến cho nó có nghĩa là chỉ

Trang 33

có nhân tố kinh tế là nhân tố duy nhất quyết định, thì họ đã biến câu đó thành một câu trống rỗng, vô nghĩa”1

Các phương diện của sự sản xuất xã hội có vị trí, vai trò khác nhau nhưng không tách rời nhau, không thể thiếu một phương diện nào Trong đó, sản xuất vật chất xét đến cùng quyết định toàn bộ sự vận động, phát triển của đời sống xã

hội Sản xuất vật chất là quá trình mà trong đó con người sử dụng công cụ lao

động tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, nhằm thoả mãn nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội

Thực chất của sản xuất vật chất là quá trình con người vừa tách khỏi giới

tự nhiên, vừa hoà nhập, thích ứng với giới tự nhiên nhằm sáng tạo ra của cải vật chất để thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mình

1.2 Vai trò của sản xuất vật chất

Sản xuất vật chất có vai trò là cơ sở, nền tảng của sự tồn tại và phát triển

xã hội loài người Trước hết, sản xuất vật chất là tiền đề trực tiếp tạo ra “tư liệu

sinh hoạt của con người” nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của con người nói chung cũng như từng cá thể người nói riêng Theo Ph.Ăngghen: "Cái sự thật hiển nhiên… là trước hết con người cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc, nghĩa là phải lao động, trước khi có thể đấu tranh để giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạt động chính trị, tôn giáo, triết học ".2

Sản xuất vật chất là tiền đề của mọi hoạt động lịch sử của con người Hoạt động sản xuất vật chất đã hình thành nên quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người, đó là cơ sở hình thành các quan hệ xã hội khác Nhờ sự sản xuất ra của cải vật chất để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ đời sống vật chất và đời sống tinh thần của xã hội với tất cả

sự phong phú, phức tạp của nó

Sản xuất vật chất đã tạo ra các điều kiện, phương tiện bảo đảm cho hoạt động tinh thần của con người và duy trì, phát triển phương thức sản xuất tinh thần của xã hội C.Mác chỉ rõ: "Việc sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt vật chất trực tiếp tạo ra một cơ sở từ đó mà người ta phát triển các thể chế nhà nước,

1 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr 641

2 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 166

Trang 34

các quan điểm pháp quyền, nghệ thuật và thậm chí cả những quan niệm tôn giáo của con người ta".1

Sản xuất vật chất là điều kiện chủ yếu sáng tạo ra bản thân con người Nhờ hoạt động sản xuất vật chất mà con người hình thành nên ngôn ngữ, nhận thức, tư duy, tình cảm, đạo đức sản xuất vật chất là điều kiện cơ bản quyết định nhất sự hình thành, phát triển phẩm chất xã hội của con người Ph.Ăngghen khẳng định rằng, trên một ý nghĩa cao nhất, lao động đã sáng tạo ra chính bản thân con người Như vậy, nhờ lao động sản xuất mà con người tách khỏi tự nhiên, hoà nhập với tự nhiên, cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần

Sản xuất vật chất là cơ sở, nền tảng của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người là một nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử Do đó, để giải thích mỗi hiện tượng của xã hội, phải xuất phát từ đời sống sản xuất, từ nền sản xuất vật chất của xã hội Xét đến cùng, không thể dùng tinh thần để giải thích đời sống tinh thần Sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, xét đến cùng phụ thuộc vào sự phát triển của nền sản xuất vật chất xã hội Phát triển kinh tế là cơ sở, nền tảng cho xây dựng quân đội Theo Ph.Ăngghen, không có

gì lại phụ thuộc vào tiền đề kinh tế hơn là chính ngay quân đội và hạm đội và khẳng định: “Toàn bộ việc tổ chức, phương thức tác chiến và do đó thắng lợi hay thất bại của quân đội đều phụ thuộc vào điều kiện vật chất, có nghĩa là điều kiện kinh tế”2

2 Biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

1, 2 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 500

3 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1993, tr.269

Trang 35

Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất với một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng Lực lượng sản xuất và quan

hệ sản xuất là các khái niệm chỉ hai mối quan hệ “song trùng” của nền sản xuất vật chất xã hội, đó là quan hệ giữa con người với tự nhiên và quan hệ giữa con người với người trong quá trình sản xuất vật chất

Lực lượng sản xuất là phương thức kết hợp giữa người lao động có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động nhất định với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động, tạo ra sức sản xuất và năng lực chinh phục tự nhiên của con người Lực lượng sản xuất chính là phương thức kết hợp giữa lao động sống với

lao động vật hóa Lực lượng sản xuất được xem xét trên cả hai mặt, đó là mặt kinh tế - kỹ thuật (công cụ lao động) và mặt kinh tế - xã hội (người lao động)

Người lao động là chủ thể sáng tạo, đồng thời là chủ thể tiêu dùng mọi của cải vật chất xã hội Đây là nguồn lực cơ bản, vô tận và đặc biệt của sản xuất

Công cụ lao động là những phương tiện mà con người sử dụng để tác động vào tự nhiên Đây chính là "khí quan" của bộ óc, là tri thức được vật thể hóa do con người sáng tạo ra và được con người sử dụng làm phương tiện vật chất của quá trình sản xuất Công cụ lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất, là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi kinh tế xã hội trong lịch sử; là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người và tiêu chuẩn để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau Trong lực lượng sản xuất, người lao động là nhân tố hàng đầu quyết định, còn công cụ lao động là thành tố

cơ bản quan trọng không thể thiếu

Lực lượng sản xuất là kết quả năng lực thực tiễn của con người, nhưng bản thân năng lực thực tiễn này bị quy định bởi những điều kiện khách quan mà trong đó con người sống và hoạt động Vì vậy, lực lượng sản xuất luôn có tính khách quan Tuy nhiên, quá trình phát triển lực lượng sản xuất là kết quả của sự thống nhất biện chứng giữa khách quan và chủ quan

Sự phát triển của lực lượng sản xuất là phát triển ở cả tính chất và trình

độ Tính chất của lực lượng sản xuất nói lên tính chất cá nhân hoặc tính chất

xã hội trong việc sử dụng tư liệu sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất là

sự phát triển của người lao động và công cụ lao động, được thể hiện ở trình

độ của công cụ lao động; trình độ tổ chức lao động xã hội; trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất; trình độ, kinh nghiệm kỹ năng của người lao động và

Trang 36

đặc biệt là trình độ phân công lao động xã hội Trong thực tế, tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là không tách rời nhau

Ngày nay, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Khoa học sản xuất ra của cải đặc biệt, hàng hoá đặc biệt Đó là những phát minh sáng chế, những bí mật công nghệ, trở thành nguyên nhân của mọi biến đổi trong lực lượng sản xuất Hiện nay, khoảng cách từ phát minh, sáng chế đến ứng dụng vào sản xuất đã được rút ngắn làm cho năng suất lao động, của cải xã hội tăng nhanh Khoa học kịp thời giải quyết những mâu thuẫn, những yêu cầu do sản xuất đặt ra; có khả năng phát triển “vượt trước” và thâm nhập vào tất cả các yếu

tố của sản xuất, trở thành mắt khâu bên trong của quá trình sản xuất Tri thức khoa học được kết tinh, “vật hoá” vào người lao động, người quản lý, công cụ lao động và đối tượng lao động Sự phát triển của khoa học đã kích thích sự phát triển năng lực làm chủ sản xuất của con người

Trong thời đại ngày nay, người lao động trở thành lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ; công cụ lao động được tin học hoá và tự động hoá Nền kinh tế của nhiều quốc gia phát triển đang trở thành nền kinh tế tri thức Đó là nền kinh

tế mà trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức của con người đóng vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, từ đó tạo ra của cải vật chất và nâng cao chất lượng cuộc sống con người Đặc trưng của kinh tế trí thức là công nghệ cao, công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất và trong đời sống xã hội

Lực lượng sản xuất hình thành và phát triển trong mối quan hệ biện

chứng với quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh

tế vật chất giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất Quan hệ

sản xuất là sự thống nhất giữa ba mặt cơ bản, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất; quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất; quan hệ về phân phối sản phẩm lao động

Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc chiếm hữu, sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội Đây là quan hệ quy định địa vị kinh tế - xã hội của các tập đoàn người trong sản xuất, từ đó quy định quan hệ quản lý và phân phối Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, cơ bản, trung tâm của quan hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định các quan hệ khác Bởi vì, lực lượng xã hội nào nắm phương tiện vật chất chủ yếu

Trang 37

của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản lý quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm

Quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc tổ chức sản xuất và phân công lao động Quan hệ này có vai trò quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất xã hội Ngày nay, khoa học

tổ chức quản lý sản xuất hiện đại có tầm quan trọng đặc biệt trong nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất

Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy

mô của cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng Quan hệ này có vai trò đặc biệt quan trọng, kích thích trực tiếp lợi ích con người; là" chất xúc tác" kinh

tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sản xuất, làm năng động hoá toàn bộ đời sống kinh

tế xã hội Ngược lại, nó có thể làm trì trệ, kìm hãm quá trình sản xuất

Các mặt trong quan hệ sản xuất có quan hệ hữu cơ, tác động qua lại, chi phối ảnh hưởng lẫn nhau Trong đó, quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định đến bản chất và tính chất của quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất hình thành một cách khách quan, là quan hệ đầu tiên, cơ bản và chủ yếu quyết định mọi quan hệ xã hội khác Nó không lệ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng chủ quan của con người và đòi hỏi phải thích ứng một cách khách quan với tính chất, trình độ của một lực lượng sản xuất nhất định Song, các lực lượng xã hội có vai trò rất quan trọng trong việc lựa chọn các kiểu, các hình thức của quan hệ sản xuất

2.2 Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển lịch sử xã hội Quy luật này phản ánh hoạt động thực tiễn sản xuất vật chất của con người, chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất và quy định sự vận động, phát triển của các phương thức sản xuất trong lịch sử

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của một phương thức sản xuất có tác động biện chứng với nhau, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất có tác động trở lại mạnh mẽ đối với lực

Trang 38

lượng sản xuất Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; ngược lại, nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

a Sự quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất

Sự vận động và phát triển của phương thức sản xuất bắt đầu từ sự biến

đổi của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất Lực lượng sản xuất là yếu tố năng động, cách mạng, thường xuyên biến đổi; còn quan hệ sản xuất là yếu tố

ổn định tương đối, ít biến đổi hơn so với lực lượng sản xuất Trong sự vận động

của mâu thuẫn biện chứng đó, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất

Cơ sở khách quan quy định sự vận động, phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất là do biện chứng giữa sản xuất và nhu cầu con người; do tính năng động và cách mạng của sự phát triển công cụ lao động; do vai trò của người lao động là chủ thể sáng tạo, là lực lượng sản xuất hàng đầu; do tính kế thừa khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất trong tiến trình lịch sử

Lực lượng sản xuất vận động, phát triển không ngừng (cả tính chất và trình độ) sẽ mâu thuẫn với tính “đứng im” tương đối của quan hệ sản xuất Quan

hệ sản xuất từ chỗ là “hình thức phù hợp”, “tạo địa bàn” phát triển của lực lượng sản xuất trở thành “xiềng xích” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Đòi hỏi tất yếu của nền sản xuất xã hội là phải xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đã phát triển Lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của một kiểu quan hệ sản xuất mới trong lịch sử, quyết định đến nội dung và tính chất của quan hệ sản xuất

b Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất

Do quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính độc lập tương đối nên tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất Vai trò của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất được thực hiện thông qua sự phù hợp biện chứng giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng

sản xuất là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản

xuất với lực lượng sản xuất là một trạng thái trong đó quan hệ sản xuất là “hình

Trang 39

thức phát triển” của lực lượng sản xuất và “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển

Sự phù hợp bao gồm sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất; sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất;

sự kết hợp đúng đắn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất Sự phù hợp bao gồm cả việc tạo điều kiện tối ưu cho việc sử dụng và kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất; tạo điều kiện hợp lý cho người lao động sáng tạo trong sản xuất và hưởng thụ thành quả vật chất, tinh thần của lao động

Quan hệ sản xuất “đi sau” hay “vượt trước” sự phát triển của lực lượng sản xuất đều là không phù hợp Sự phù hợp không có nghĩa là đồng nhất tuyệt đối mà chỉ là tương đối, trong đó chứa đựng cả sự khác biệt Sự phù hợp diễn ra trong sự vận động phát triển, là một quá trình thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn

và giải quyết mâu thuẫn

Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất quy định mục đích, xu hướng phát triển của nền sản xuất xã hội; hình thành hệ thống động lực thúc đẩy sản xuất phát triển; đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền sản xuất

Sự tác động của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo hai chiều hướng, đó là thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất thì nền sản xuất phát triển đúng hướng, quy mô sản xuất được mở rộng; những thành tựu khoa học công nghệ được áp dụng nhanh chóng; người lao động nhiệt tình hăng hái sản xuất, lợi ích của người lao động được đảm bảo và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp thì sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ diễn ra trong những giới hạn, với những điều kiện nhất định

Trạng thái vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất diễn ra là từ phù hợp đến không phù hợp, rồi đến sự phù hợp mới ở trình độ cao hơn Con người bằng năng lực nhận thức và thực tiễn, phát hiện và giải quyết mâu thuẫn, thiết lập sự phù hợp mới làm cho quá trình sản xuất phát triển đạt tới một nấc thang cao hơn

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại

Trang 40

Lịch sử xã hội loài người đã phát triển từ phương thức sản xuất cộng sản nguyên thuỷ qua phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ, phương thức sản xuất phong kiến, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và đang phát triển đến phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, do những điều kiện khách quan và chủ quan quy định, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có những đặc điểm tác động riêng Sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi tất yếu thiết lập chế

độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu Phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa dần dần loại trừ đối kháng xã hội Sự phù hợp không diễn ra “tự động”, đòi hỏi trình độ tự giác cao trong nhận thức và vận dụng quy luật Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội xã hội chủ nghĩa có thể

bị “biến dạng” dẫn đến sai lệch do nhận thức và vận dụng không đúng quy luật

2.3 Ý nghĩa trong đời sống xã hội và trong hoạt động quân sự

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng Trong thực tiễn, muốn phát triển kinh tế phải bắt đầu từ phát triển lực lượng sản xuất, trước hết là phát triển lực lượng lao động và công cụ lao động Muốn xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập một quan hệ sản xuất mới phải căn cứ từ tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, không phải là kết quả của mệnh lệnh hành chính, của mọi sắc lệnh từ trên ban xuống, mà từ tính tất yếu kinh tế, yêu cầu khách quan của quy luật kinh tế, chống tuỳ tiện, chủ quan, duy tâm, duy ý chí

Nhận thức đúng đắn quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng trong quán triệt, vận dụng quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước Trong quá trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến việc nhận thức và vận dụng đúng đắn, sáng tạo quy luật này Sự vận dụng đúng đắn đó đã đem lại hiệu quả

to lớn trong thực tiễn xây dựng và đổi mới đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu cơ bản vẫn còn không ít khuyết điểm, đó là chủ quan, duy ý chí trong nhận thức và vận dụng quy luật Chưa nhận thức đúng và đầy đủ về sự phù hợp,

sự thích ứng giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Chưa nhận thức đầy đủ đặc thù của quy luật dưới chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ quá độ và thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế Do vậy, Đảng Cộng sản Việt

Ngày đăng: 30/12/2022, 17:00

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w