Phần 1 của giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Tập 2) trình bày những nội dung về: Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc - thành tựu và kinh nghiệm; Đảng lãnh đạo đưa cả nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1975 - 1985); Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng và sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước từ năm 1986 đến năm 1990;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1
GIÁO TRÌNH
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM TẬP II
ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỔNG QUÁT CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM
(Dùng cho đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội - bậc đại học)
Trang 2BAN BIÊN SOẠN
1 Đại tá, PGS, TS Đoàn Ngọc Hải Chủ biên, chương 7, 8
2 Đại tá, Th.S Đặng Văn Đức Chương 1, 6
3 Đại tá, Th.S Nguyễn Cao Khải Chương 4, 10
4 Đại tá, Th.S Nguyễn Quốc Khánh Chương 5, 12
5.Thượng tá, TS Nguyễn Hữu Luận Chương 9
6 Đại tá, TS Đặng Bá Minh Chương 3
7.Thượng tá, Cử nhân Thân Văn Ninh Chương 2, 11
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của học viên ở các học viện, nhà trường trong Quân đội, Tổng cục
Chính trị tổ chức xuất bản Giáo trình: “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,
Tập II”- Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa và bài học kinh nghiệm
tổng quát của cách mạng Việt Nam (Dùng cho đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội - bậc đại học), do tập thể giảng viên Khoa Lịch sử Đảng, Học viện
Chính trị quân sự biên soạn
Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã bám sát nội dung các văn kiện, nghị quyết, quá trình chỉ đạo tổ chức thực hiện, tổng kết về cách mạng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự chỉ đạo của thủ trưởng các cấp, có kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố có liên quan
Dù tập thể tác giả đã rất cố gắng, song khó tránh khỏi những khiếm khuyết Rất mong nhận được ý kiến đóng góp xây dựng của đông đảo bạn đọc,
để giáo trình tiếp tục bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện trong lần tái bản sau
TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ
Trang 4Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ở MIỀN BẮC - THÀNH TỰU VÀ KINH NGHIỆM
1 Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
1.1 Đặc điểm miền Bắc bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc tiến hành trong hoàn cảnh đất nước tạm thời bị chia làm hai miền, mỗi miền có chế độ chính trị, xã hội khác nhau Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7-5-1954) miền Bắc hoàn toàn giải phóng, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân về cơ bản đã hoàn thành, bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đế quốc Mỹ thay chân thực dân Pháp vào xâm lược miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng Tính chất xã hội miền Nam vẫn là thuộc địa nửa phong kiến, nhiệm vụ cách mạng cơ bản chưa thay đổi
Từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chiến tranh tàn phá nặng nề, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đồng thời miền Bắc còn phải thường xuyên đối phó với chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ Đây là đặc điểm lớn nhất của miền Bắc khi bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội trong tình hình thế giới có nhiều thuận lợi và cũng không ít những khó khăn, phức tạp Cách mạng thế giới ở thế chiến lược tiến công Ba dòng thác cách mạng thế giới phát triển mạnh mẽ đang tấn công vào dinh luỹ của chủ nghĩa đế quốc do đế quốc Mỹ đứng đầu
2.2 Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
Từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 9 năm 1960, trong quá trình lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Đảng ta đã tích lũy được những kinh nghiệm bước đầu, từng bước xác lập nội dung cơ bản về đường lối cách mạng
xã hội chủ nghĩa
Trên cơ sở đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9.1960)
đã phân tích những đặc điểm cơ bản của miền Bắc khi bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định đường lối chung cách mạng Việt Nam trong giai
Trang 5đoạn mới, đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là: “Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn, truyền thống đấu tranh anh dũng
và lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em do Liên Xô đứng đầu, để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm
no, hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới
Muốn đạt mục tiêu đó, phải sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản để thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa tư doanh; phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học tiên tiến”1
Đường lối đó bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
Về mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc: xây dựng đời sống
ấm no, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc, củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà; góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới
Con đường để đạt mục tiêu trên là: sử dụng chính quyền dân chủ nhân
dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản, để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới; phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lí, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng, văn hoá và kĩ thuật, để biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa, khoa học tiên tiến
1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ của Đảng Lao động Việt Nam, Văn kiện đại hội, Tập 1, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, xuất bản 9-1960, tr 179-180
Trang 6Về nhịp độ và bước đi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là:
tiến nhanh , tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội
Đại hội xác định cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vị trí quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà
Đại hội đã đề ra nhiệm vụ, phương hướng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Thực chất đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc do Đại hội lần thứ III của Đảng xác định là đường lối tiến hành cách mạng về quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, về xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, nhằm tạo ra một hình thái kinh tế - xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa Những tư tưởng cơ bản của đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc còn được Đảng ta tiếp tục bổ sung, phát triển trong những năm tiếp theo Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 19 (1-1971) nhấn mạnh: phải nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng (cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng kĩ thuật và cách mạng tư tưởng, văn hoá); khẳng định thời
kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là lâu dài phải trải qua nhiều bước quá độ nhỏ
mà miền Bắc đang ở bước đi ban đầu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội; kết hợp chặt chẽ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
2 Đảng chỉ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc từ 1954 đến 1975
1.2 Thời kì khôi phục, cải tạo kinh tế (1954-1957)
Từ tháng 7-1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Đảng quyết định đưa miền Bắc bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Trong ba năm đầu (1955 - 1957), Đảng chủ trương khôi phục kinh tế sau chiến tranh và hoàn thành những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Hội nghị Bộ chính trị tháng 9/1954 chỉ rõ: nhiệm vụ to lớn là hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế quốc dân, giảm bớt những khó khăn về đời sống cho nhân dân, phát triển kinh tế có kế hoạch và làm từng bước; mở rộng giao lưu kinh tế giữa thành thị và nông thôn Đến tháng 8 - 1955, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra kế hoạch 3 năm khôi
Trang 7phục và phát triển kinh tế-văn hoá (1955-1957) Phương châm chỉ đạo: khôi phục là chính, đồng thời phát triển trong phạm vi cần thiết và có thể được; trọng tâm là khôi phục nông nghiệp, dựa trên cơ sở khôi phục nông nghiệp mà khôi phục các ngành khác Phấn đấu sau 3 năm khôi phục đạt và vượt mức sản xuất trước chiến tranh (năm 1939) Trong nông nghiệp, trọng tâm là giải quyết lương thực Trong công nghiệp, chú trọng tiểu thủ công nghiệp, đồng thời tăng cường các xí nghiệp quốc doanh, xây dựng một số cơ sở mới về công nghiệp một cách vững chắc phục vụ sản xuất, dân sinh và quốc phòng Thực hiện chủ trương của Đảng trong sản xuất nông nghiệp, giai cấp nông dân phấn khởi phục hoá, khai hoang, làm thuỷ lợi, đẩy mạnh sản xuất tăng nhanh sản lượng lương thực Đến năm 1957, sản lượng lương thực ở miền Bắc vượt mức trước chiến tranh 2,4 triệu tấn Trong thời kì này, Đảng còn chỉ đạo xây dựng thí điểm 44 hợp tác xã và 8 vạn tổ đổi công
Về sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, miền Bắc vừa khôi phục xí nghiệp cũ vừa xây dựng thêm một số xí nghiệp mới Hầu hết các cơ sở công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp quan trọng đi vào hoạt động có hiệu quả, giai cấp công nhân phấn khởi làm chủ cơ sở sản xuất
Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được hình thành; giao thông vận tải được khôi phục và phát triển; văn hoá, giáo dục, y tế phát triển nhanh chóng
Đồng thời, Đảng chú ý bồi dưỡng, giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ
Hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở được xây dựng và củng cố Công tác xây dựng Đảng được chú trọng, Nhà nước dân chủ nhân dân được tăng cường làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản Khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận được củng cố Khuynh hướng tư tưởng tư sản và các tư tưởng văn hoá lạc hậu bị đánh bại, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn
xã hội
Về thực hiện nhiệm vụ cải cách ruộng đất, từ năm 1953 khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến giai đoạn quyết định, Đảng đã chủ trương phát động quần chúng triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất Trong hai năm 1954 -
1956, cải cách ruộng đất ở miền Bắc được tiếp tục tiến hành với 4 đợt (từ đợt 2 đến đợt 5) trên phạm vi 3.314 xã Qua 5 đợt cải cách ruộng đất, Hội nghị lần
Trang 8thứ 10 (từ ngày 25 - 8 đến 18 - 10 - 1956) và Hội nghị lần thứ 14 (11-1958) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ: thắng lợi của cải cách ruộng đất là thắng lợi to lớn và căn bản Toàn bộ giai cấp địa chủ, phong kiến, đối tượng của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân bị đánh đổ, 81 vạn ruộng đất, nhiều trâu bò, nông cụ chia cho hơn 2 triệu hộ nông dân Giai cấp nông dân được giải phóng, lên địa vị làm chủ, đánh dấu hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Bắc, tạo tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội thuận lợi để miền Bắc làm cách mạng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trong quá trình chỉ đạo cải cách ruộng đất đã mắc phải một số sai lầm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm cách mạng của nhân dân Đảng ta đã công khai nhận khuyết điểm trước đồng bào cả nước và kiên quyết sửa sai
2.2 Thời kì cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội (1958-1960)
Với thắng lợi của khôi phục, phát triển kinh tế (1954-1958), tháng
11-1958, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 14 bàn về kế hoạch 3 năm (1958-1960) cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh
tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, thành phần kinh tế tư bản tư doanh, người buôn bán nhỏ
Hội nghị xác định khâu chính trong cải tạo là cải tạo nông nghiệp, ra sức phát triển thành phần kinh tế quốc doanh Đồng thời với cải tạo và phát triển kinh tế phải tiến hành công tác giáo dục, văn hoá, tư tưởng, coi đó là một bộ phận quan trọng, khăng khít của nhiệm vụ cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội Quá trình cải tạo các thành phần kinh tế là quá trình xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức chủ yếu: sở hữu nhà nước (toàn dân)
và sở hữu tập thể, nhằm hình thành quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Tháng 4 - 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ
16 bàn về cải tạo nông nghiệp cá thể ở miền Bắc theo hướng hợp tác hoá xã hội chủ nghĩa, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, thủ công nghiệp và những người buôn bán nhỏ
Về cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương lần thứ 16 chỉ rõ: miền Bắc cần và có thể tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp trong điều kiện chưa cơ giới Cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp phải kết hợp chặt chẽ với vận động cải tiến kĩ thuật, tăng năng suất lao động Nguyên tắc chỉ đạo xây dựng hợp tác xã nông nghiệp là tự nguyện, cùng
Trang 9có lợi và quản lý dân chủ Phương châm tiến hành cải tạo là tích cực, vững chắc, qui hoạch về mọi mặt, sát với từng vùng Trong thời gian đầu phải đi từ thấp đến cao, qua ba bước: tổ đổi công, hợp tác xã bậc thấp, hợp tác xã bậc cao
để cho nông dân làm quen với lối làm ăn tập thể và phù hợp với trình độ quản
lý của cán bộ
Đối với ngư nghiệp, ngày 16-6-1960, Bộ chính trị đã ra chỉ thị về thành
lập hợp tác xã nghề cá ở vùng biển Bộ Chính trị chỉ rõ: xây dựng hợp tác xã nghề cá phải bao gồm cả cải tạo quan hệ sản xuất và phát triển sản xuất, lấy phát triển sản xuất để đẩy mạnh phong trào hợp tác xã
Chủ trương cải tạo về nông nghiệp đúng đắn của Đảng đã lôi cuốn đông đảo nông dân xin gia nhập hợp tác xã Các nông trường quốc doanh cũng được
tổ chức lại và quản lí thống nhất của Bộ Nông trường Phong trào làm thuỷ lợi, phân bón, cải tiến kĩ thuật canh tác phát triển mạnh
Đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, Đảng quyết định cải tạo
bằng phương pháp hoà bình Điểm mấu chốt về kinh tế trong cải tạo bằng phương pháp hoà bình là chính sách chuộc lại tư liệu sản xuất mà tư sản nắm, không tịch thu, đồng thời sắp xếp việc làm cho các nhà tư bản và giai cấp tư sản Bước đi của cải tạo cũng từ thấp đến cao Điều kiện chủ chốt phải tăng cường kinh tế quốc doanh, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, củng cố liên minh công - nông và giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa cho nhân dân Thực hiện chủ trương của Đảng, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trong công, thương nghiệp tư bản tư doanh nhanh chóng giành thắng lợi
Đối với thủ công nghiệp, Đảng chủ trương đưa thợ thủ công đi theo con đường hợp tác hoá, cải tiến kĩ thuật, tận dụng khả năng của thủ công nghiệp phục vụ nông nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu Trong những năm 1959-1960, việc tập thể hoá tiểu thủ công nghiệp đã cơ bản hoàn thành
Đối với những người buôn bán nhỏ, Đảng chủ trương giáo dục, giúp đỡ
làm cho họ tự nguyện và tham gia cải tạo xã hội chủ nghĩa, tích cực tổ chức họ lại dưới hình thức hợp tác xã, đồng thời chuyển dần một số sang sản xuất Đồng thời với cải tạo xã hội chủ nghĩa, Đảng chỉ đạo phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và thương nghiệp xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục, y tế được
Trang 10Đảng, Nhà nước quan tâm xây dựng Hệ thống y tế hình thành cơ bản trên khắp các địa phương miền Bắc
Trong 3 năm (1958-1960), công tác xây dựng Đảng được đẩy lên một bước, chuẩn bị tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng
Việc xây dựng Nhà nước và các đoàn thể quần chúng được xúc tiến mạnh
mẽ Ngày 29-4-1958, Quốc hội thông qua Luật tổ chức chính quyền địa phương, bãi bỏ cấp trung gian là khu, liên khu để các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Tháng 12-1959, Quốc hội thông qua Hiến pháp mới Các tổ chức quần chúng trong Mặt trận dân tộc thống nhất đều được củng cố và hoạt động tích cực Quân đội nhân dân Việt Nam được đặc biệt quan tâm xây dựng, từng bước tiến lên chính qui, hiện đại
2.3 Đảng thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)
Đồng thời với xác định đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Đại hội lần thứ III của Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)
Mục tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất là: Thực hiện một bước công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng bước đầu cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, đồng thời hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội
Nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch là: Ra sức phát triển công nghiệp và nông nghiệp, thực hiện một bước ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp toàn diện, phát triển công nghiệp nhẹ, phát triển giao thông vận tải, tăng cường thương nghiệp quốc doanh và thương nghiệp hợp tác xã, chuẩn bị cơ sở tiến lên xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp và nông nghiệp xã hội chủ nghĩa;
Hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh, tăng cường kinh tế quốc doanh, tăng cường mối quan hệ giữa sở hữu toàn dân
và sở hữu tập thể, mở rộng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân;
Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân, đẩy mạnh đào tạo bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ xây dựng kinh tế và công nhân lành nghề, nâng cao
Trang 11trình độ quản lý kinh tế, xúc tiến công tác khoa học và kỹ thuật, thăm dò tài nguyên và tiến hành điều tra cơ bản phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá xã hội chủ nghĩa
Đồng thời với phát triển kinh tế, ra sức củng cố quốc phòng, giữ vững trật
tự an ninh, bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất phấn đấu đạt được một số chỉ tiêu chủ yếu là: Giá trị tổng sản phẩm công nghiệp và thủ công nghiệp tăng 148% so với năm 1960, bình quân hàng năm tăng khoảng 20% Giá tri tổng sản lượng lương thực dự tính tăng 10% Về xây dựng cơ bản, Nhà nước đầu tư 48% ngân sách Thu nhập thực tế bình quân đầu người tăng khoảng 30% so với năm 1960
Sau Đại hội, Đảng đã chỉ đạo cụ thể để thực hiện đường lối chung về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965)
Mùa xuân năm 1961, Bộ Chính trị mở đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn trong toàn Đảng, toàn dân nhằm khắc phục những tư tưởng trở ngại, tạo nên khí thế cách mạng mới, nâng cao ý thức làm chủ và tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa; xây dựng quan điểm phục vụ sản xuất; quan điểm cần, kiệm xây dựng nước nhà; quan điểm tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội Từ đây phong trào thi đua yêu nước phát triển mạnh mẽ
Ngày 26-1-1961, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước bảo đảm hoàn thành toàn diện và vượt mức
kế hoạch nhà nước năm 1961 và Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất Thực hiện chủ trương của Đảng, phong trào thi đua đã phát triển sâu rộng và ngày càng thiết thực Đáng kể nhất là các phong trào thi đua “Sóng Duyên Hải” trong công nghiệp, “Gió Đại Phong” trong nông nghiệp, thi đua đuổi kịp và vượt Thành Công trong thủ công nghiệp, thi đua giành cờ “Ba nhất” trong quân đội, thi đua giành “Hai tốt” trong ngành giáo dục Qua phong trào thi đua, những tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa, những chiến sĩ thi đua xuất hiện ngày càng nhiều
Ngày 9 - 2 - 1963, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc Ngày 24-7-1963, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về cuộc vận động “Nâng cao ý thức trách nhiệm tăng cường quản lý kinh tế tài chính,
Trang 12cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu” gọi tắt là cuộc vận động
“Ba xây, ba chống” với mục đích tăng cường và quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kĩ thuật, đẩy mạnh sản xuất, tăng năng suất lao động Ngoài hai cuộc vận động này, còn có cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên phát triển kinh tế miền núi
Tháng 7-1961, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 5 bàn về đẩy mạnh phát triển nông nghiệp Hội nghị chỉ ra vấn đề mấu chốt phải xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới ở nông thôn, nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, bảo đảm các yêu cầu chủ yếu về cung cấp lương thực, thực phẩm, cung cấp nguyên vật liệu cho công nghiệp và một số sản phẩm xuất khẩu để đổi lấy máy móc thiết bị, làm cho nông thôn trở thành thị trường tiêu thụ rộng lớn của công nghiệp Phấn đấu sau 5 năm đưa mức sống của xã viên lên ngang mức sống của trung nông lớp trên, thay đổi bộ mặt nông thôn; làm cho nông nghiệp trở thành cơ sở vững chắc để phát triển công nghiệp, đưa nông nghiệp tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội Phương châm phát triển nông nghiệp là: phát triển toàn diện, lấy lương thực làm trọng tâm; thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu; củng cố và phát triển các hợp tác xã nông nghiệp và nông trường quốc doanh là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp
Về công nghiệp, sau một thời gian phục hồi, cải tạo, xây dựng và phát triển, căn cứ vào thực tế tình hình và yêu cầu phát triển của công nghiệp, tháng 6-1962 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 7 bàn về xây dựng và phát triển công nghiệp Hội nghị chủ trương trong thời kỳ đầu của
“…phấn đấu thực hiện một sự chuyển biến căn bản trong nền kinh tế quốc dân, tiến hành trang bị cơ khí và nửa cơ khí một cách phổ biến, xoá bỏ tình trạng thủ công lạc hậu lâu đời và tình trạng mất cân đối nghiêm trọng hiện nay trong các ngành sản xuất, bảo đảm cho nông nghiệp, công nghiệp và các
Nhiệm vụ xây dựng và phát triển công nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất là: phấn đấu xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh,
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,2002, tr.355
Trang 13tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội Phương châm phát triển là: vừa
đi ngay vào kĩ thuật hiện đại, vừa đi tuần tự từ sản xuất thủ công lên nửa cơ khí
và đại cơ khí; kết hợp xây dựng xí nghiệp qui mô lớn với xí nghiệp qui mô vừa
và nhỏ; kết hợp kĩ thuật hiện đại với kĩ thuật thô sơ; kết hợp xây dựng những
xí nghiệp mới với việc tận dụng những xí nghiệp cũ; kết hợp phát triển công nghiệp địa phương với phát triển công nghiệp trung ương
Tháng 4-1963, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 8 bàn về kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân 5 năm (1961-1965) Hội nghị đưa
ra phương hướng nhiệm vụ, những chỉ tiêu và biện pháp chủ yếu của kế hoạch
5 năm lần thứ nhất; làm sâu sắc thêm đường lối, bước đi, tốc độ của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; phát triển một số vấn đề về phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội như: quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, quan hệ giữa xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng; phương hướng tích luỹ, đầu tư, xây dựng cơ bản…theo tinh thần tự lực cánh sinh, cần kiệm xây dựng đất nước, khắc phục những non yếu trong nền kinh tế
Trong quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ở miền Bắc, cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam chống “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc
Mĩ diễn ra rất quyết liệt Trước nguy cơ sụp đổ của nguỵ quân, nguỵ quyền, đế quốc Mĩ một mặt đẩy mạnh chiến tranh xâm lược miền Nam, mặt khác tăng cường phá hoại ra miền Bắc Trước tình hình mới, ngày 27-3-1964, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt Tại Hội nghị này, Hồ Chủ tịch kêu gọi mỗi người “Làm việc bằng hai để đền đáp cho đồng bào miền Nam ruột thịt”
Thực hiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, ngày 18-4-1964, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị phát động phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai” đưa phong trào thi đua yêu nước xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện cho miền Nam lên một bước mới Thực hiện Chỉ thị của Ban
Bí thư, phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai” đã nhanh chóng lan rộng khắp miền Bắc, nhiều điển hình tiên tiến trong sản xuất và công tác xuất hiện Phong trào thi đua đã góp phần thúc đẩy hoàn thành thắng lợi kế hoạch nhà nước năm 1964 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
Trang 14Tháng 12-1964, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ
10 chuyên bàn về thương nghiệp và giá cả Căn cứ vào đường lối chung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Hội nghị nhấn mạnh: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc phải tiến hành toàn diện trên tất cả các mặt không được xem nhẹ mặt nào Thương nghiệp, giá cả phải góp phần xây dựng các mối quan hệ lớn và giải quyết những mâu thuẫn trên con đường tiến lên để xây dựng, củng
cố quan hệ sản xuất mới, phục vụ xây dựng kinh tế kết hợp củng cố quốc phòng; phải nhận rõ sự phát triển kinh tế hàng hoá ở miền Bắc trong cả thời kỳ quá độ là khách quan; phải dựa vào thị trường trong nước là chính, trước mắt
và chủ yếu là thị trường nông thôn; phải mở rộng giao lưu hàng hoá trong nước
và với nước ngoài; phải tiếp tục tăng cường lực lượng thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán; phải coi trọng cả hai mặt giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá; kết hợp chặt chẽ thị trường thống nhất toàn miền Bắc
Thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, miền Bắc đã giành được những thắng lợi to lớn đưa miền Bắc thực sự trở thành căn cứ địa của cách mạng cả nước và hậu phương lớn của cách mạng miền Nam Thắng lợi đó chứng minh đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc của Đảng là đúng đắn, củng
cố thêm niềm tin, xây dựng ý chí quyết tâm cho quân dân cả nước vào thực hiện nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới
2.4 Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội từ 1965 đến 1975
a Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng chuyển hướng xây dựng kinh tế ở miền Bắc, đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968)
Đến năm 1965, miền Bắc đã có hơn 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội,
kế hoạch 5 năm lần thứ nhất sắp hoàn thành thì đế quốc Mỹ chuyển sang
“chiến tranh cục bộ” và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc Bom đạn của
đế quốc Mĩ đe doạ trực tiếp những thành quả của chủ nghĩa xã hội được xây dựng hơn 10 năm qua Trước tình hình mới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng liên tiếp họp Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 11 (3-1965) và lần thứ 12 (12- 1965) xác định quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ Đối với miền Bắc, phương hướng nhiệm vụ chung là: “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” Nhiệm vụ cụ thể là:
Xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững chắc của cách mạng miền Nam, đồng thời bảo đảm đời sống cho nhân dân, đáp ứng nhu cầu hậu cần tại chỗ
Trang 15Đánh thắng chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ
Tăng cường chi viện cho miền Nam, tích cực giúp đỡ cách mạng Lào và cách mạng campuchia
Miền Bắc vẫn tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội song phải chuyển hướng xây dựng kinh tế phù hợp với tình hình cả nước có chiến tranh Sự chuyển hướng đó thể hiện trên các mặt sau:
Về kinh tế, chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế phù hợp với tình hình miền Bắc có chiến tranh phá hoại, bảo đảm được yêu cầu chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, tăng cường chi viện cho miền Nam, song vẫn bảo đảm được phương hướng lâu dài của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Về quốc phòng, tăng cường về mọi mặt; phát động phong trào toàn dân phòng tránh, toàn dân chống chiến tranh phá hoại của địch Tranh thủ sự giúp
đỡ về vũ khí và phương tiện chiến tranh của các nước anh em
Về tư tưởng và tổ chức, làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận rõ âm mưu của địch, chuyển mọi hoạt động từ thời bình sang thời chiến
Giao thông vận tải phải tăng cường lực lượng cán bộ, phương tiện và vật chất Trên các tuyến đường giao thông thực hiện khẩu hiệu “địch phá, ta cứ đi”, “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”
Chủ trương của Đảng được quán triệt trong toàn Đảng, toàn dân Phong trào thi đua thi đua: Mỗi người làm việc bằng hai, ra sức xây dựng và bảo vệ miền Bắc, tích cực chi viện cho cách mạng miền Nam của Hồ Chủ tịch, trở thành phong trào cách mạng tự giác trong các ngành, các đoàn thể thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện cho miền Nam
Trong nông nghiệp có phong trào thi đua “tay cày tay súng” phấn đấu đạt
3 mục tiêu (5 tấn thóc, 2 con lợn, 1 lao động trên 1 héc ta gieo trồng), nhiều điển hình sản xuất, thâm canh giỏi xuất hiện Trong công nghiệp, phong trào thi đua “tay búa tay súng” đã giữ vững sản xuất, một số ngành có phát triển Các lĩnh vực thương nghiệp, tài chính, giao thông vận tải, văn hoá, giáo dục, y
tế vẫn duy trì hoạt động và đạt hiệu quả cao Các đoàn thể nhân dân thi đua sôi nổi, khẩn trương với lòng nhiệt tình cách mạng và tinh thần quyết thắng cao Hàng vạn thanh niên với tinh thần “Ba sẵn sàng” được điều động vào chiến
Trang 16đấu và phục vụ chiến đấu Phụ nữ đảm bảo xây dựng hậu phương với tinh thần
“Ba đảm đang” Phụ lão có phong trào “Ba hăng hái”…
Trong 4 năm (từ 5-8-1964 đến 1-11-1968), quân và dân miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chi viện mọi mặt cho miền Nam với tinh thần
“Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” Miền Bắc còn đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ vào miền Bắc, bắn rơi 3.234 máy bay, diệt và bắt sống hàng nghìn giặc lái Mỹ Bắn chìm và bắn cháy 143 tàu chiến Bị thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam-Bắc, đế quốc
Mĩ buộc phải tuyên bố ném bom hạn chế miền Bắc kể từ ngày 31-3-1968 và ngừng hoàn toàn ném bom trên miền Bắc từ ngày 1-11-1968
b Đảng lãnh đạo xây dựng miền Bắc, chi viện cho miền Nam, đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ từ năm 1969 đến năm 1973
Bị thất bại nặng nề trong chiến tranh cục bộ, từ ngày 1-11-1968, đế quốc
Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện ném bom phá hoại miền Bắc
từ Vĩ tuyến 20 trở ra Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung lần thứ 19 của Đảng (1-1971) đã xác định: khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc là nhằm bảo đảm cho miền Bắc làm tròn nhiệm vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam, đối với cách mạng Lào và cách mạng campuchia Hội nghị đề ra đường lối phát triển kinh tế trong bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là: Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, xây dựng kinh tế trung ương, đồng thời phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế với quốc phòng
Phương hướng, nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế trong những năm trước mắt (1971-1973) là: tập trung sức đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, khôi phục và phát triển công nghiệp nhẹ; khôi phục và phát triển những ngành công nghiệp nặng chủ chốt phục vụ thiết thực cho nông nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng; khôi phục và phát triển giao thông vận tải phục vụ kịp thời cho chiến đấu, sản xuất, xây dựng và đời sống
Sau Hội nghị lần thứ 19, đầu năm 1972 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 20 bàn về cải tiến quản lý kinh tế nhằm từng bước xây dựng hệ thống quản lý kinh tế phù hợp với điều kiện cụ thể của miền Bắc Hội
Trang 17nghị chỉ ra nhiệm vụ cải tiến công tác quản lý ở tất cả các khâu như: kế hoạch, hạch toán kinh tế, khoa học kỹ thuật, tổ chức bộ máy quản lý…
Giữa lúc nhân dân ta đang dồn sức khôi phục kinh tế và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vĩnh biệt chúng ta tại Hà Nội Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, học tập và làm theo Di chúc của Bác, biến đau thương thành hành động cách mạng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã tập trung sức khôi phục và phát triển kinh tế, chi viện cho miền Nam Chủ trương khôi phục kinh tế được biến thành hành động cách mạng rộng lớn của quần chúng
và đã đạt được những kết quả rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, giáo dục, văn hoá, y tế, quốc phòng an ninh
Trong khi nhân dân miền Bắc tranh thủ điều kiện có hoà bình khôi phục
và phát triển kinh tế đạt được những thành tựu mới, tăng cường tiềm lực cho cuộc chống Mỹ cứu nước, nhân dân miền Nam cũng giành được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trong Xuân - Hè 1970 và năm 1971 Đặc biệt là cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đã làm cho chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ đứng trước nguy cơ phá sản
Để cứu vãn nguy cơ thất bại, từ tháng 4-1972 đế quốc Mĩ đánh phá trở lại miền Bắc Cuối năm 1972, đế quốc Mĩ đã huy động một lực lượng lớn không quân chiến lược tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng, các khu dân cư lớn với mức
độ tàn phá, huỷ diệt nhằm ngăn chặn và cắt đứt sự chi viện của miền Bắc đối với mền Nam, phá hoại tiềm lực kinh tế, quân sự, uy hiếp tinh thần quyết thắng
Mĩ của nhân dân ta Trước tình hình đó, ngày 1- 6 - 1972 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trương chuyển hướng mọi mặt ở miền Bắc, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong mọi tình huống, đẩy mạnh sản xuất và chiến đấu phù hợp với thời chiến
Thực hiện chủ trương của Đảng, nhân dân miền Bắc đã nhanh chóng chuyển mọi hoạt động sang thời chiến; mở rộng thêm lực lượng phòng không
và các lực lượng vũ trang nhân dân, đánh bại chiến tranh phá hoại của địch, bảo đảm yêu cầu tuyển quân và lao động phục vụ chiến trường, bảo đảm hậu cần tại chỗ; tăng cường công tác tư tưởng, xây dựng quyết tâm trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược
Trang 18Vượt lên khó khăn, đau thương và sự ác liệt chưa từng có của những cuộc ném bom, phong toả, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai (từ 6-4-1972 đến 15-1-1973) miền Bắc đã giành thắng lợi to lớn, đặc biệt là trận “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm
1972 trên bầu trời Hà Nội, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari (27-1-1973) rút hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta Nhân dân ta đã thực hiện được quyết tâm
“đánh cho Mỹ cút”, để tiến lên “đánh cho nguỵ nhào”
c Đảng lãnh đạo khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, ra sức chi viện cho miền Nam (1973-1975)
Sau Hiệp định Pari, nhân dân miền Bắc được sống trong hoà bình, phấn khởi, tin tưởng, tự hào, lại tiếp tục hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục
và phát triển kinh tế, văn hoá làm tròn nhiệm vụ hậu phương lớn của mình Thực tiễn đòi hỏi Đảng ta phải có đường lối thích hợp, vừa kiên quyết đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, vừa tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên
Tháng 6-1973, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp, quyết định 3 năm khôi phục và phát triển kinh tế (1973-1975) nằm trong quá trình thực hiện bước đi ban đầu của thời kỳ công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa
ở miền Bắc Tiếp theo Hội nghị Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 21 (7-1973) và Hội nghị lần thứ 22 (12-1973) xác định nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong giai đoạn cách mạng mới là : nâng cao cảnh giác sẵn sàng đánh bại âm mưu của đế quốc
Mỹ và tay sai, ra sức làm tròn nhiệm vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam, làm tròn nhiệm vụ quốc tế với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia Hội nghị thông qua kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc trong 2 năm 1973-1974 nhằm đạt 3 yêu cầu chính:
Một là, động viên và tổ chức mọi lực lượng lao động xã hội vào sản xuất,
xây dựng khí thế sôi nổi đẩy mạnh sản xuất, đưa sản xuất lên bằng hoặc cao hơn mức đã đạt được năm 1965 Phấn đấu đến năm 1975 thu nhập quốc dân đủ cho quỹ tiêu dùng xã hội, bảo đảm tốt yêu cầu chi viện cho miền Nam
Hai là, củng cố một bước quan hệ sản xuất trong cả hai khu vực quốc
doanh và tập thể
Trang 19Ba là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác quản lý nhà nước,
chấn chỉnh công tác quản lý kinh tế từ Trung ương đến cơ sở
Thực hiện chủ trương của Đảng, nhân dân miền Bắc hăng hái lao động sản xuất, ổn định tình hình kinh tế - xã hội Sau 2 năm (1973-1974), miền Bắc
đã cơ bản khôi phục xong các cơ sở kinh tế Trong nông nghiệp, các công trình thuỷ nông được khôi phục xong Giao thông vận tải đã sửa chữa, khôi phục và
mở rộng nhiều tuyến đường, năng lực vận tải và khối lượng hàng hoá vận chuyển tăng lên rõ rệt Trong công nghiệp, toàn bộ các nhà máy được phục hồi Văn hoá, giáo dục, y tế đều được khôi phục và phát triển tốt
Để đáp ứng ngày càng đầy đủ yêu cầu chi viện cho các chiến trường, từ tháng 3-1973 đến đầu năm 1975 chương trình mở rộng và hoàn thiện hệ thống đường chiến lược Đông và Tây Trường Sơn được xúc tiến mạnh Với tinh thần
“Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, chưa bao giờ sức người, sức của từ hậu phương lớn đổ ra tiền tuyến nhiều như thế Thế và lực của cách mạng miền Nam đã áp đảo địch Trên cơ sở đó, tháng 1-1975 Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong 2 năm 1975-1976, đồng thời dự kiến khi thời cơ xuất hiện có thể giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975
Trong những năm 1973 - 1975, nhân dân miền Bắc đã đạt được những thắng lợi cực kỳ to lớn trong khôi phục và phát triển kinh tế và chi viện cho miền Nam, đồng thời là nhân tố quyết định sự nghiệp giải phóng miền Nam vào mùa Xuân năm 1975
3 Thành tựu và kinh nghiệm trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954 - 1975)
3.1 Thành tựu, khuyết điểm và nguyên nhân
a Thành tựu
Trải qua hơn 20 năm bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà thực sự chỉ có 8 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong hoà bình, nhưng miền Bắc đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào trên các mặt chủ yếu sau
Đã xoá bỏ được chế độ người bóc lột người, xác lập được chế độ sở hữu
xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức chủ yếu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa chiếm 99,7% tài sản cố định, giữ vị
Trang 20trí then chốt và vai trò quyết định trong nền kinh tế quốc dân Cơ sở vật chất,
kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng bước đầu theo phương hướng tiến lên sản xuất hiện đại và một nền kinh tế độc lập tự chủ Những cơ sở đầu tiên của công nghiệp nặng quan trọng đã được xây dựng Một số ngành công nghiệp nhẹ hình thành và phát triển Mạng lưới giao thông vận tải được mở rộng Trong nông nghiệp, cùng với phong trào hợp tác hoá, các công trình thuỷ lợi được xây dựng Nhiều thành tựu khoa học được ứng dụng vào sản xuất góp phần tăng năng suất lao động Một cơ cấu kinh tế mới phù hợp với bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đang từng bước hình thành Sự nghiệp giáo dục, văn hoá, y tế, phát triển mạnh
Công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã bước đầu kiến lập được một hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa với quan hệ sản xuất mới và những cơ sở vật chất kỹ thuật bước đầu của chủ nghĩa xã hội, với một Nhà nước chuyên chính vô sản được củng cố, cùng với hệ tư tưởng và nền văn hoá xã hội chủ nghĩa, đem lại những thay đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực Miền Bắc đã làm tròn nghĩa vụ của hậu phương đối với tiền tuyến Hàng triệu thanh niên miền Bắc đã hăng hái lên đường vào Nam chiến đấu cùng quân dân miền Nam Con em nhân dân miền Bắc thuộc nhiều thế hệ đã có mặt trên khắp chiến trường miền Nam hoạt động trên nhiều lĩnh vực: chiến đấu, phục vụ chiến đấu, vận tải, y tế, giáo dục, nghệ thuật, thông tin liên lạc… góp phần xây dựng hậu phương tại chỗ ở miền Nam trong các vùng giải phóng và giúp đỡ cách mạng Lào, cách mạng Campuchia
Miền Bắc không chỉ chi viện cho miền Nam nguồn nhân lực dồi dào, mà còn chi viện một khối lượng vật chất khổng lồ: hàng triệu tấn vũ khí, lương thực, phương tiện kỹ thuật khác, đáp ứng đầy đủ và kịp thời cho chiến trường miền Nam ở mọi thời điểm lịch sử
Sự lớn mạnh của miền Bắc xã hội chủ nghĩa còn là nguồn cổ vũ động viên tinh thần vô cùng to lớn đối với miền Nam trong cuộc đấu tranh trực tiếp chống đế quốc Mỹ và tay sai
Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã tạo ra một hậu phương tại chỗ vững chắc, củng cố và phát triển tiềm lực quốc phòng để tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chia lửa với miền Nam giành thắng lợi Đồng
Trang 21thời chứng tỏ sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa xã hội, quyết tâm và sức mạnh của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của nhân dân ta
Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đứng vững trong chiến tranh còn
là nhịp cầu nối liền các nước xã hội chủ nghĩa với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta; tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn có hiệu quả của các nước anh em bè bạn trên thế giới đối với cách mạng Việt Nam
Thành tựu của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc là thực tiễn sinh động, khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo và độc lập, tự chủ của Đảng ta trong việc tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền đất nước; vận dụng kết hợp hai quy luật : quy luật của chiến tranh cách mạng và quy luật cách mạng xã hội chủ nghĩa
b Khuyết điểm
Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đảng đề ra cơ bản là đúng Tuy nhiên, khi tổ chức thực hiện Đảng chưa kịp thời cụ thể hoá và vận dụng tốt vào các kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, vào phương hướng, nhiệm vụ và bước
đi của từng ngành, từng địa phương và cơ sở Quá trình lãnh đạo và chỉ đạo tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa chưa quán triệt đầy đủ đặc điểm miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, do đó nhận thức chưa đầy đủ những vấn đề
có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
Mặt khác, trong chỉ đạo chưa nắm vững và giải quyết đúng đắn mối quan
hệ giữa cải tạo quan hệ sản xuất và phát triển lực lượng sản xuất Phương hướng và chỉ đạo xây dựng hợp tác xã nông nghiệp chưa phù hợp, thậm chí đưa quy mô hợp tác xã lên quá cao, không tương xứng với lực lượng sản xuất, làm kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
Quan điểm, chủ trương công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa chưa được thấu suốt trong mọi ngành, mọi thành phần kinh tế, mới chỉ được coi là nhiệm vụ của Nhà nước, của thành phần kinh tế quốc doanh Quá trình đầu tư cho phát triển tràn lan, đề ra mục tiêu, quy mô lớn, chưa hướng vào phục vụ đắc lực cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
Trong giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế trung ương và kinh
tế địa phương, chưa chú ý phát triển đúng mức kinh tế địa phương
Trang 22Bộ máy quản lý và tổ chức thực hiện kém năng lực, pháp chế xã hội chủ nghĩa lỏng lẻo Trình độ quản lý kém, phương hướng sản xuất không rõ ràng,
kế hoạch sản xuất chưa cụ thể; việc tổ chức lao động và thực hiện phân công lao động chưa tốt; quản lý kinh tế theo lối quan liêu, hành chính, xem nhẹ năng suất, hiệu quả và chất lượng; tổ chức thủ công, phân tán, chia cắt; cách làm việc chưa sát thực tế, chưa sát quần chúng, còn hình thức giấy tờ
Trong lĩnh vực lưu thông, phân phối, tài chính, ngân hàng, giá cả, tiền lương có những nhận thức và thực hiện không đúng làm cản trở việc đẩy mạnh sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân
Nguyên nhân khuyết điểm
Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng xã hội mới, đời sống mới về mọi mặt ở miền Bắc là việc làm mới đối với Đảng và nhân dân miền Bắc Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội từ xã hội thuộc địa nửa phong kiến, nền kinh tế sản xuất nhỏ, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa phải vượt qua nhiều khó khăn, phải giải quyết nhiều vấn đề phức tạp nên rất khó tránh khỏi những khuyết điểm, vấp váp Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa hơn 20 năm nhưng thực chất thời gian cho hoà bình xây dựng chỉ có 8 năm, thời gian còn lại chủ yếu phải dồn sức, dồn lực để chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và thực hiện nhiệm vụ quốc tế
Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng
ta chưa kịp thời tổng kết kinh nghiệm để rút ra những bài học cần thiết và những nguyên tắc chỉ đạo cho mọi hoạt động cách mạng
Công tác điều tra, nghiên cứu tình hình, nắm vững thực tế đất nước làm
cơ sở chắc chắn cho việc định ra chủ trương, thiết lập qui hoạch, xác lập kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội chưa được chú ý Bộ máy quản lý và
tổ chức thực hiện tỏ ra kém cỏi, kém hiệu lực Mỗi bộ phận, mỗi tổ chức trong
hệ thống chuyên chính vô sản chưa thực hiện tốt chức năng của mình Pháp chế xã hội chủ nghĩa không được đề cao Mối quan hệ Đảng, Nhà nước và nhân dân chưa được phân định rõ ràng
Công tác xây dựng Đảng, công tác tư tưởng, công tác tổ chức, cán bộ chưa gắn liền xây dựng bộ máy với xây dựng chức trách, cải tiến lề lối làm
Trang 23việc và nâng cao chất lượng đảng viên Phương thức lãnh đạo và công tác của Đảng chậm cải tiến, công tác đoàn thể quần chúng chưa bám sát sản xuất và đời sống xây dựng chủ nghĩa xã hội …
3.2 Những kinh nghiệm của quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
Thứ nhất, đánh giá đúng hiện thực khách quan, xác định đúng nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng
Để đưa cách mạng đến thành công, điều có ý nghĩa quan trọng đối với Đảng cách mạng phải nhận định, đánh giá đúng hiện thực khách quan
Thực tế hơn 20 năm lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc của Đảng cho thấy, có đánh giá đúng hiện thực khách quan mới định ra đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn và mang lại thắng lợi cho cách mạng
Sau năm 1954, miền Bắc được giải phóng, Đảng sớm xác định phương hướng và quyết tâm đưa miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Đó là mục tiêu, phương hướng đúng đắn, sáng tạo phù hợp với thực tiễn miền Bắc khi đã cơ bản hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc phải trải qua nhiều kế hoạch kinh tế, xã hội khác nhau, song nguyên tắc chiến lược không thay đổi của Đảng là đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội
Quá trình lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, qua tìm tòi, khảo sát, tiếp cận với thực tiễn, Đảng đã hoạch định được đường lối cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc phù hợp với thực tiễn đất nước và con người Việt Nam thể hiện tập trung ở Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng Đảng còn thành công trong việc xác định các nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể cho từng thời
kỳ, từng kế hoạch cải tạo, xây dựng, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội
Do đó, Đảng đã huy động và phát huy tối đa sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tiến hành cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo nhân quyết quyết định đưa sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đến thắng lợi
Thực tiễn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc từ
1954-1975 cũng cho thấy, khi Đảng đánh giá không đúng hiện thực khách quan,
Trang 24không thấy rõ đặc điểm của miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh kế nông nghiệp lạc hậu đề ra chủ trương, mục tiêu quá cao, không thực tế thì không phát huy tối đa sức lao động của nhân dân, làm chậm tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, trên cơ sở xác định đúng nhiệm vụ, mục tiêu, chiến lược của cách mạng, đồng thời phải xác định và từng bước bổ sung, phát triển mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho phù hợp với từng thời kỳ cụ thể
Thứ hai, chỉ đạo chiến lược chính xác, kịp thời, phù hợp với từng thời kỳ lịch sử
Ngay từ Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (8-1955), Đảng đã xác định trong bất kỳ tình huống nào miền Bắc cũng đi lên chủ nghĩa
xã hội Thực hiện quyết tâm đó, Đại hội lần thứ III của Đảng đã vạch ra đường lối chung cho cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Đó là những vấn đề chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
Từ sau Đại hội lần thứ III của Đảng, đường lối, mục tiêu chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được Đảng tiếp tục bổ sung và phát triển
Để thực hiện đường lối, mục tiêu chiến lược, quá trình chỉ đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Đảng luôn bám sát thực tiễn phát triển của tình hình, chỉ đạo chiến lược kiên quyết, chính xác kịp thời phù hợp với từng thời
kỳ lịch sử, do đó cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã giành thắng lợi Năm 1954, miền Bắc được giải phóng Căn cứ vào điều kiện thực tế của miền Bắc, Đảng chủ trương trong 3 năm (1954 - 1957) phải tập trung khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh mà trọng tâm là khôi phục và phát triển nông nghiệp Bước chỉ đạo chiến lược này tạo cơ sở kinh tế - xã hội cho bước phát triển tiếp theo Do đó, nền kinh tế miền Bắc không những được phục hồi mà còn tạo điều kiện cho phát triển trong những năm tiếp theo
Tiếp theo đó, thành công nổi bật trong chỉ đạo chiến lược của Đảng là chuyển hướng xây dựng kinh tế, tiếp tục sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện cả nước có chiến tranh (1965-1973) Sự chỉ đạo đúng đắn, chính xác, kịp thời của Đảng đã đảm bảo cho miền Bắc vừa duy trì được sản xuất; vừa chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng; vừa giữ vững, ổn định đời sống và trật tự, an toàn xã hội Kết hợp mục tiêu chiến lược đúng đắn với chỉ đạo chiến lược sáng tạo, linh hoạt, Đảng đã phát huy được sức mạnh tổng hợp
Trang 25của lý tưởng độc lập thống nhất và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước và quốc tế xây dựng và bảo vệ miền Bắc, chi viện tích cực cho miền Nam và làm tròn nhiệm vụ quốc tế với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia
Trong từng lĩnh vực sản xuất, xây dựng và chiến đấu, Đảng cũng thành công lớn trong chỉ đạo chiến lược
Đối với nông nghiệp, Đảng xác định đây là lĩnh vực quan trọng cần được duy trì sản xuất ở mức độ thích hợp, tập trung cho phát triển trồng trọt, đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính, gắn trồng trọt với chăn nuôi; điều chỉnh các kế hoạch hiện đại hoá nông nghiệp, hướng nông nghiệp vào phục vụ cho yêu cầu chiến tranh và giữ vững đời sống nhân dân trong chiến tranh Đối với công nghiệp, đây là lĩnh vực có thể đáp ứng yêu cầu lớn cho quốc phòng, chiến tranh và đời sống nhân dân, đồng thời cũng là mặt trận mà kẻ thù tập trung chống phá Đảng chỉ đạo tạm dừng xây dựng những công trình lớn, phân tán, sơ tán những xí nghiệp, cơ sở sản xuất có thể làm được còn lại phải bảo vệ để duy trì sản xuất ổn định Một số các cơ sở công nghiệp quan trọng như: điện, than, cơ khí, giao thông vận tải phải đặc biệt chú ý giữ vững và đẩy mạnh sản xuất Tăng cường công nghiệp địa phương và công nghiệp nhẹ, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nhằm đảm bảo nhu cầu tại chỗ và đáp ứng yêu cầu đời sống của nhân dân
Tuy nhiên, về chỉ đạo chiến lược trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vẫn còn nhiều yếu kém trong xác định bước đi của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội Mặt khác, trong nhận thức chưa thấu hiểu đầy đủ phương châm “ tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” lên chủ nghĩa xã hội, do
đó có lúc đã đưa quan hệ sản xuất đi quá xa so với lực lượng sản xuất làm ảnh hưởng đến sự phát triển của lực lượng sản xuất và toàn bộ quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội
Những thành công và những khuyết điểm, yếu kém trong chỉ đạo chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc hơn 20 năm cho thấy: muốn chỉ đạo chiến lược đúng đắn phải nắm vững mục tiêu chiến lược và thực tiễn của đất nước ở mỗi giai đoạn, thời kỳ cách mạng cụ thể; phải chủ động, nhạy bén
và giải quyết kịp thời những vấn đề mới nảy sinh Đồng thời phải nêu cao nguyên tắc độc lập tự chủ, phòng và chống tư tưởng “tả” hoặc hữu khuynh
Trang 26Đây là kinh nghiệm quý cần được tiếp tục quán triệt trong công cuộc đổi mới hiện nay
Thứ ba, có hình thức, bước đi, cách làm phù hợp
Quá trình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng
ta một mặt kiên trì với mục tiêu chủ nghĩa xã hội, mặt khác Đảng coi trọng tìm tòi, lựa chọn bước đi, hình thức, cách làm phù hợp nhằm giành thắng lợi từng bước, trong từng mục tiêu nhiệm vụ ở mỗi thời kỳ
Để đưa miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng chủ trương khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, hoàn thành những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Đó là việc làm cần thiết tạo cơ sở cho cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật Khi đã có cơ sở, tiền đề cần thiết mới bắt tay thực hiện kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) xây dựng chủ nghĩa xã hội Khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại, Đảng chỉ đạo chuyển hướng xây dựng kinh tế, chuyển hướng tư tưởng, tổ chức cho phù hợp với thời chiến
Đó là những bước đi, cách làm phù hợp với thực tiễn của miền Bắc, do đó cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã giành thắng lợi
Trong kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế (1955-1957), Đảng chủ trương khôi phục toàn diện nền kinh tế, song lấy khôi phục nông nghiệp là chủ yếu, trong đó tập trung vào sản xuất lương thực đáp ứng yêu cầu trước mắt đời sống nhân dân Thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960), Đảng chủ trương cải tạo toàn diện các ngành, các thành phần kinh tế, song tập trung cải tạo nông nghiệp Quá trình hợp tác hoá nông nghiệp được tiến hành theo ba bước từ tổ đổi công lên hợp tác xã bậc thấp rồi hợp tác xã bậc cao Thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Đảng xác định: phát triển công nghiệp và nông nghiệp toàn diện, thực hiện một bước ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, phát triển nông nghiệp toàn diện, lấy lương thực làm trọng tâm, thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu… Sự chỉ đạo tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc của Đảng trong từng thời kỳ cụ thể là tư tưởng đưa miền Bắc tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội trong đó khâu trung tâm đột phá chỉ đạo của Đảng là lĩnh vực nông nghiệp làm chuyển biến tình hình, qua đó tạo cơ sở vững chắc cho phát triển công nghiệp, thương nghiệp, xây dựng văn hoá, y tế và các lĩnh vực xã hội khác
Trang 27Tuy nhiên, từ năm 1965 trở đi do tác động của chiến tranh cùng những hạn chế trong nhận thức, nôn nóng, chủ quan muốn tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã phạm phải sai lầm, thiếu sót về bước đi, hình thức, cách làm như: phát triển công nghiệp tràn lan; trong kết hợp công nghiệp với nông nghiệp; trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, nôn nóng đưa mô hình hợp tác
xã nông nghiệp lên bậc cao khi chưa đủ điều kiện… đã làm hạn chế nhất định đến thắng lợi của cách mạng
Kinh nghiệm này cần được vận dụng, giúp chúng ta tránh những sai lầm, vấp váp, nôn nóng, chủ quan, trong chỉ đạo công cuộc đổi mới
Thứ tư, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cách mạng miền Bắc với cách mạng miền Nam
Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (năm 1954), miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Trong tình hình mới, điều kiện mới, Đảng ta xác định: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam quyết định trực tiếp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà Tuy cách mạng mỗi miền có nhiệm vụ khác nhau, nhằm giải quyết những yêu cầu
cụ thể khác nhau song đều nhằm mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Việc Đảng ta đặt nhiệm vụ cách mạng của mỗi miền trong mối quan hệ hữu cơ với mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng của cả nước đã phát huy được sức mạnh của toàn thể quốc gia dân tộc Mỗi hành động cách mạng của nhân dân miền Bắc không chỉ vì sự phát triển chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc mà còn vì mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà Mỗi hành động cách mạng của nhân dân miền Nam không chỉ nhằm giải phóng miền Nam mà còn bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa Mỗi bước đi, hình thức, cách làm của cách mạng miền Bắc không chỉ xuất phát từ thực tế yêu cầu của miền Bắc mà còn từ yêu cầu của cách mạng miền Nam và cách mạng cả nước Cách mạng miền Nam vừa xuất phát từ yêu cầu của cách mạng miền Nam vừa xuất phát từ yêu cầu cách mạng miền Bắc và cách mạng cả nước Vì vậy, xây dựng chủ nghĩa
Trang 28xã hội ở miền Bắc để tạo ra sức mạnh đánh Mỹ, thắng Mỹ hoàn thành độc lập thống nhất đất nước cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Kiềm chế và đánh thắng
Mỹ trên chiến trường chính miền Nam không chỉ để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam mà còn để miền Bắc có điều kiện thuận lợi xây dựng chủ nghĩa xã hội, đáp ứng yêu cầu của cách mạng miền Nam và làm tròn nhiệm vụ quốc tế
Thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã chứng minh sự gắn bó, sự chỉ đạo đúng đắn trong giải quyết mối quan hệ giữa cách mạng miền Bắc với miền Nam của Đảng ta, đã làm cho thế và lực của cách mạng cả nước nói chung và của cách mạng mỗi miền nói riêng không ngừng tăng lên Chúng ta đã tận dụng và phát huy được sức mạnh tổng hợp của
cả nước tiến công địch, lần lượt đánh bại từng chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn Miền Bắc không chỉ làm tròn nhiệm vụ hậu phương lớn, đánh thắng chiến tranh phá hoại của địch mà còn chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội sau này
Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cách mạng miền Bắc với cách mạng miền Nam trong những năm (1954-1975) là do Đảng ta nắm vững, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững đặc điểm xu thế thời đại, thế chiến lược tiến công của cách mạng thế giới vào đặc điểm, hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước ta
Kinh nghiệm lịch sử đã và đang soi sáng cho cách mạng nước ta trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải giữ vững, tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng; nắm vững và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
CÂU HỎI ÔN TẬP
- Trình bày nội dung đường lối và quá trình Đảng chỉ đạo thực hiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc?
- Trình bày kết quả và những kinh nghiệm của quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc từ 1954-1975?
Trang 29Chương 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐƯA CẢ NƯỚC TỪNG BƯỚC
QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI thời kỳ 1975 - 1985
1 Đảng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1975 đến năm 1979
1.1 Đảng lãnh đạo thống nhất đất nước về mặt Nhà nước
Với thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Hội nghị lần thứ 24 Ban chấp hành Trung ương khoá III chủ trương: Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội Hội nghị nhấn mạnh: Thống nhất đất nước vừa là nguyện vọng thiết tha của nhân dân cả nước, vừa là quy luật khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương khoá III, từ ngày 15 đến 21-11-1975, Hội nghị Hiệp thương chính trị của hai đoàn đại biểu Bắc, Nam họp tại Sài Gòn Hội nghị khẳng định nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam là một, nước nhà cần được sớm thống nhất về mặt Nhà nước Hội nghị chủ trương tổ chức tổng tuyển cử trên toàn lãnh thổ Việt Nam bầu ra Quốc hội chung cho cả nước vào nửa đầu năm 1976 theo nguyên tắc dân chủ, phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín
Ngày 3-1-1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra chỉ thị nêu rõ tầm quan trọng của cuộc Tổng tuyển cử và giao trách nhiệm cho các cấp uỷ lãnh đạo cuộc bầu cử
Thực hiện chủ trương thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước của Đảng, ngày 25-4-1976, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất được tiến hành thắng lợi Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử biểu thị ý chí của toàn dân xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa, là thắng lợi của lòng quyết tâm phấn đấu thực hiện trọn vẹn di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà" (1)
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.499
Trang 30Từ ngày 24-6 đến ngày 3-7-1976, kỳ họp thứ Nhất của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất đã họp tại Thủ đô Hà Nội Quốc hội quyết định đặt tên nước ta là nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc kỳ có nền đỏ sao vàng 5 cánh, Thủ đô là Hà Nội, Quốc ca là bài Tiến quân ca, Thành phố Sài Gòn được mang tên Hồ Chí Minh Quốc hội bầu đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước, các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Hữu Thọ làm Phó Chủ tịch nước, đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch Quốc hội và đồng chí Phạm Văn Đồng làm Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Theo chủ trương của Trung ương Đảng, tháng 6 - 1976 các tổ chức quần chúng thanh niên, phụ nữ, công đoàn và Mặt trận Tổ quốc cũng họp Hội nghị hợp nhất, thống nhất cơ quan lãnh đạo trong toàn quốc
Hoàn thành thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước là một thành công rực rỡ, có ý nghĩa to lớn; đó là cơ sở để thống nhất nước nhà trên các lĩnh vực khác, nhanh chóng tạo ra sức mạnh toàn diện của đất nước; là điều kiện tiên quyết để đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thể hiện tư duy chính trị nhạy bén của Đảng trong thực hiện bước chuyển giai đoạn cách mạng ở nước ta
1.2 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trong cả nước
a Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, của Đảng được tiến hành từ ngày
14 đến 20-12-1976 tại Hà Nội Dự Đại hội có 1.008 đại biểu, thay mặt cho hơn 1,5 triệu đảng viên trong cả nước, có 29 đoàn đại biểu của các Đảng và tổ chức Quốc tế Đại hội đã thông qua Báo cáo Chính trị, Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980), Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng, Bầu Ban Chấp hành Trung ương khoá IV gồm 101 uỷ viên chính thức, 32 uỷ viên dự khuyết Hội nghị lần thức nhất Ban Chấp hành Trung ương đã bầu bộ Chính trị, Ban Bí thư, Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam
Đại hội đã tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khẳng định thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi
Trang 31đi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất và đi vào lịch
sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có ý nghĩa quốc tế quan trọng, có tính thời đại sâu sắc
b Đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa trong cả nước
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã phân tích toàn diện tình hình thế giới, trong nước, qua đó đã nêu lên những đặc điểm lớn của cách mạng nước ta trong giai đoạn cách mạng mới:
Một là, nước ta đang ở trong quá trình từ một xã hội mà nền kinh tế còn
phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa
Hai là, Tổ quốc ta đã hoà bình, độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên chủ
nghĩa xã hội với nhiều thuận lợi song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả của
chiến tranh và tàn dư của chủ nghĩa thực dân gây ra
Ba là, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh
quốc tế thuận lợi, song cuộc đấu tranh "ai thắng ai" giữa thế lực cách mạng và thế lực phản cách mạng trên thế giới còn gay go, quyết liệt
Trong ba đặc điểm trên, đặc điểm một là lớn nhất Đặc điểm này quy định nội dung, hình thức, bước đi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Những đặc điểm trên nói lên rằng, nước ta có đủ điều kiện đi lên và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, song đó là sự nghiệp khó khăn, phức tạp, lâu dài đòi hỏi Đảng và nhân dân ta phải phát huy cao độ tính chủ động, tự giác, sáng tạo trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa
Trên cơ sở đánh giá đúng đặc điểm cơ bản của tình hình đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới của nước ta là:
"Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan
hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người
Trang 32mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội1
Những nội dung cơ bản của đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa là:
Thứ nhất, mô hình mục tiêu, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
là: Xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã
hội chủ nghĩa
Bốn mục tiêu nêu trên phù hợp với nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội Đó là những định hướng, mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thứ hai, điều kiện quyết định sự toàn thắng của chủ nghĩa xã hội ở nước
ta là: Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập
thể của nhân dân lao động
Chuyên chính vô sản là quy luật phổ biến của cách mạng xã hội chủ nghĩa Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã hội mà nền kinh tế sản xuất nhỏ là phổ biến đòi hỏi phải nắm vững chuyên chính vô sản, nhằm phát huy ưu thế của tiền đề chính trị để chủ động tạo ra các tiền đề kinh tế, văn hoá, khắc phục sự yếu kém về vật chất, văn hoá
Nắm vững chuyên chính vô sản ở nước ta là: "Nắm vững đường lối của Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thực hiện và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, xây dựng Nhà nước vững mạnh, tập hợp các tầng lớp nhân dân đông đảo chung quanh giai cấp công nhân, để tiến hành ba cuộc cách mạng, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; củng cố và tăng cường lực lượng quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, đập tan mọi sự phản kháng và mọi hành động xâm lược của kẻ thù; củng cố và phát triển quan hệ hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em; cùng nhân dân thế giới tích cực đấu tranh vì hoá bình, độc lập dân tộc, dân chủ và
Trang 33chủ nghĩa xã hội"(1) Nội dung đó phản ánh bản chất, chức năng nhiệm vụ của
chuyên chính vô sản phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin Nắm vững chuyên chính vô sản phải nắm vững toàn diện các nội dung trên, trong đó vấn đề có ý nghĩa quyết định nhất là nắm vững đường lối của Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của giai cấp công nhân
Thứ ba, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: Cách mạng về quan hệ
sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hoá trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt
Mỗi cuộc cách mạng có nội dung, vị trí khác nhau, song ba cuộc cách mạng có mối quan hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển Mỗi thành tựu của chủ nghĩa xã hội ở nước ta đều là kết quả tổng hợp của ba cuộc cách mạng Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hiện cuộc cải biến cách mạng trên tất cả các lĩnh vực để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Thứ tư, đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung
tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là quy luật của những nước kinh tế chậm phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Nước
ta tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa nhằm phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, là cơ sở
để củng cố quan hệ sản xuất mới, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường chuyên chính vô sản
Thứ năm, xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn liền với bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa
Đây là sự kế thừa, phát triển truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc Thực tiễn nước ta đòi hỏi quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội phải không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa Đó cũng là vấn đề mang tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa
(1) §¶ng Céng s¶n ViÖt Nam, NghÞ quyÕt §¹i héi IV cña §¶ng, Nhµ xuÊt b¶n Sù thËt, Hµ Néi,1977, tr.19
Trang 34Thứ sáu, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì
hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội
1.3 Đảng lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV trong những năm 1976-1980
a Đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Sau 30 năm chiến đấu liên tục để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, nguyện vọng thiết tha của nhân dân Việt Nam là được sống trong hoà bình để xây dựng đất nước Song, các thế lực thù địch đã cấu kết với nhau ra sức chống phá cách mạng Việt Nam Chúng không muốn nước Việt Nam được thống nhất, hoà bình, để xây dựng chủ nghĩa xã hội
Tập đoàn Pôn-pốt ở Campuchia đã thi hành chính sách diệt chủng dã man
ở trong nước và chính sách thù địch chống Việt Nam Chúng liên tục gây ra xung đột vũ trang, lấn chiếm biên giới Từ tháng 4-1977, họ tiến hành chiến tranh quy mô lớn chống Việt Nam, coi Việt Nam là kẻ thù số 1
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có quan hệ hữu nghị từ lâu đời Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam biết ơn sâu sắc sự ủng hộ, giúp
đỡ của Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam trong chiến tranh giải phóng dân tộc Nhưng từ năm 1978 quan hệ của Trung Quốc với Việt Nam xấu đi rõ rệt, Trung Quốc công khai thi hành chính sách thù địch chống Việt Nam Cùng với việc liên tiếp gây ra các vụ xung đột vũ trang, lấn chiếm biên giới, Trung Quốc ra sức chuẩn bị chiến tranh xâm lược quy mô lớn Nước ta đứng trước nguy cơ bị xâm lược từ hai hướng (biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc)
Trước âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương, khoá IV (Tháng 7-1978)
đã ra Nghị quyết về tình hình nhiệm vụ mới Đảng đã kịp thời vạch rõ kẻ thù mới rất nguy hiểm của nhân dân ta, chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của nhân dân ta là làm thất bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực thù địch để bảo vệ độc lập dân tộc, đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ quân sự trước mắt
là đánh thắng chiến tranh xâm lược ở biên giới phía Tây Nam và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược quy mô lớn từ biên giới phía Bắc của địch
Trang 35Trong khi tập đoàn Pôn Pốt thi hành chính sách thù địch đối với Việt Nam, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần đề nghị hai bên cùng đàm phán để giải quyết bằng con đường thương lượng, nhưng họ đã khước từ và càng đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, từ đầu tháng 12- 1977 đến đầu tháng 1-1978 quân và dân ta đã mở chiến dịch lớn đánh đuổi quân Pôn Pốt ra khỏi biên giới
Ngày 2-12-1978, Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia ra đời công bố Cương lĩnh cách mạng đoàn kết toàn dân đánh đổ tập đoàn phản động Pônpốt – YêngXary
Ngày 26-12-1978 Bộ chỉ huy Quân đội cách mạng Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia quyết định phát động phong trào nổi dậy của quần chúng, đồng thời kêu gọi quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ nhân dân Campuchia Trong tình hình đó, Đảng đã chỉ đạo kết hợp cuộc chiến tranh bảo
vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam với làm nhiệm vụ quốc tế, phối hợp và giúp
đỡ nhân dân Campuchia tiêu diệt bè lũ diệt chủng
Ngày 7-1-1979, Thủ đô Phnômpênh được giải phóng, nhân dân Campuchia thoát khỏi hoạ diệt chủng
Ngay sau thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
ở biên giới Tây Nam, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn đối với Việt Nam Trung Quốc đã sử dụng hơn 60 vạn quân tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam Để bảo vệ Tổ quốc, Đảng đã xác định quyết tâm chiến lược đánh thắng quân Trung Quốc xâm lược trong bất kỳ tình huống nào Ngày 17-2-1979, Chính phủ ra tuyên bố
về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc Ngày 3-3-1979, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về cuộc kháng chiến chống quân Trung Quốc xâm lược Ngày 4-3-1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước; Ngày 5-3-1979, Chủ tịch nước công bố lệnh tổng động viên trong cả nước để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Sau 30 ngày đêm chiến đấu anh dũng, từ ngày 17-2 đến ngày 18-3-1979, quân và dân ta đã làm thất bại cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn của Trung Quốc, buộc chúng phải rút quân về nước và chấp nhận ngồi bàn đàm phán với ta
Trang 36Thắng lợi của quân và dân ta trong việc chiến đấu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn, đã kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế, đã bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, tiếp tục tăng cường tình hữu nghị và hợp tác giữa các nước và góp phần củng cố hoà bình, ổn định ở Đông Nam Á
và trên Thế giới
b Đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội
Nhằm thực hiện Nghị quyết đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Ban Chấp hành Trung ương khoá IV đã có nhiều Hội nghị chuyên bàn về kinh tế Trong phát triển kinh tế, Đảng chỉ đạo tập trung phát triển nông nghiệp, giải quyết vấn đề lương thực Hội nghị lần thứ 2 (tháng 7-1977) bàn về nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp Hội nghị lần thứ 3 (tháng 12-1977) bàn về kế hoạch kinh tế năm 1978, về khắc phục sự trì trệ trong sản xuất và quản lý kinh
tế Hội nghị lần thứ 5 (tháng 12-1978) đề ra ba nhiệm vụ lớn của năm 1979: ổn định và đảm bảo đời sống, bảo đảm an ninh, bảo vệ Tổ quốc; xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm đáp ứng yêu cầu trước mắt; đồng thời chuẩn bị điều kiện phát triển cho những năm sau
Trong những năm 1976-1980, Đảng đã lãnh đạo nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội và cải tạo xã hội chủ nghĩa đã đạt nhiều thành tựu Song, nền kinh tế nước ta còn đứng trước nhiều khó khăn Từ cuối năm 1979, đất nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế xã hội: sản xuất trì trệ, năng suất, chất lượng hiệu quả thấp; giá cả tăng vọt, đồng tiền mất giá; đời sống nhân dân nhất là cán bộ, viên chức Nhà nước, lực lượng vũ trang rất khó khăn
Tình trạng trên xuất phát từ nguyên nhân khách quan và chủ quan sau:
Về khách quan: Chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ là chủ yếu lại chịu hậu quả nặng nề của 30 năm chiến tranh Từ sau năm 1975, nguồn viện trợ nước ngoài đối với ta giảm nhiều
Về chủ quan: chủ yếu là do sai lầm, khuyết điểm duy ý chí trong quá trình lãnh đạo và quản lý kinh tế Chúng ta còn lạc hậu trong nhận thức lý luận, trong hoạch định chủ trương chính sách; vừa "tả" khuynh, vừa hữu khuynh trong tổ chức thực hiện; vận dụng kinh nghiệm nước ngoài một cách máy móc, thiếu tính sáng tạo; trình độ đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế, nhất là kiến thức kinh tế, trình độ quản lý xã hội chưa theo kịp yêu cầu trong giai đoạn mới
Trang 372 Đảng lãnh đạo đổi mới từng phần từ 1979-1985
2.1 Những tìm tòi, đổi mới đầu tiên (1979-1981)
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội lâm vào khủng hoảng, tháng 8-1979 Hội
nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương, khoá IV, đã bàn Về tình hình và
nhiệm vụ cấp bách kinh tế - xã hội và Nghị quyết Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương Đây là, bước đột phá
đầu tiên của quá trình tìm tòi, cải tiến quản lý kinh tế, thử nghiệm cách làm ăn mới Hội nghị đã có những đổi mới tư duy quan trọng, thể hiện trên những nội dung cơ bản sau:
Hội nghị chủ trương xóa bỏ những chính sách lạc hậu, kìm hãm sản xuất
và ban hành những chính sách tiến bộ để phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, trước hết là sản xuất nông nghiệp Hội nghị chủ trương: ổn định mức nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần còn lại bán cho Nhà nước theo giá thoả thuận hoặc trao đổi tự do; sửa đổi lại thuế lương thực và giá lương thực, nông sản để khuyến khích sản xuất; sửa đổi chế
độ phân phối trong hợp tác xã nông nghiệp, bỏ lối phân phối theo định suất, định lượng, đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động
Hội nghị xác định rõ phải tận dụng các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể, kể cả kinh tế tư bản tư nhân để phát triển sản xuất, kết hợp ba lợi ích: tập thể, cá nhân, xã hội
Về cải tạo đối với nông nghiệp ở miền Nam, Hội nghị chỉ rõ: Phải nắm vững phương châm tích cực và vững chắc, hiện nay nhấn mạnh tính vững chắc, chống tư tưởng nóng vội, chủ quan cưỡng ép theo mệnh lệnh, làm ồ ạt gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống nhân dân
Tư tưởng nổi bật của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khoá
IV là: "Làm cho sản xuất bung ra", nghĩa là phải khắc phục những khuyết điểm trong quản lý kinh tế, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, đề ra chủ trương phù hợp
để phát triển lực lượng sản xuất
Nghị quyết ra đời được nhân dân cả nước hồ hởi đón nhận, bước đầu đã xuất hiện những điển hình về cách làm ăn mới phát huy tác dụng tích cực Tuy nhiên những giải pháp Hội nghị Trung ương sáu nêu ra chưa đủ sức tháo gỡ khó khăn Sau một thời gian thực hiện lại xuất hiện những khó khăn mới: Sản
Trang 38xuất bung ra nhưng không đúng hướng; hàng lậu, hàng giả xuất hiện nhiều; giá
cả ngày càng cao
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu, tháng 9-1979 Hội đồng Chính phủ ra quyết định về việc tận dụng đất đai nông nghiệp để khai hoang, phục hoá được trả thù lao thích đáng và được sử dụng toàn bộ sản phẩm, được miễn thuế Tháng 10 - 1979 Hội đồng Chính phủ công bố quyết định xóa bỏ những trạm kiểm soát ngăn sông cấm chợ Người sản xuất có quyền đưa sản phẩm ra trao đổi ngoài thị trường không phải nộp thuế sau khi làm đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước Được sự quan tâm của Nhà nước trong đầu tư phát triển nông nghiệp và cố gắng của nhân dân, năm 1979 sản lượng lương thực tăng 1.718.500 tấn so với năm 1978
Ngày 22-6-1980, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông báo số 22, cho phép các địa phương mở rộng thí điểm khoán sản phẩm và khoán việc đối với cây lúa trong các hợp tác xã nông nghiệp
Rút kinh nghiệm qua khoán thí điểm cây lúa trong các hợp tác xã nông nghiệp, ngày 13-1-1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị 100/CT-TW về công tác khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp (gọi tắt là Chỉ thị 100) Chỉ thị 100 đề cập: mở rộng khoản sản phẩm đến nhóm
và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp đối với các loại cây trồng, vật nuôi, ngành nghề khác trong hợp tác xã Khoán trong hợp tác xã nông nghiệp,
xã viên làm ba khâu (cấy, chăm bón, thu hoạch) các khâu khác do hợp tác xã đảm nhiệm, vượt khoán thì xã viên được hưởng Phương hướng chủ yếu trong cải tiến khoán là khuyến khích lợi ích chính đáng của người lao động làm cho mọi người tham gia các khâu trong quá trình sản xuất và quản lý hợp tác xã đều gắn với sản phẩm cuối cùng
Trong lĩnh vực công nghiệp, trên cơ sở tổng kết các hiện tượng "xé rào"
và làm thí điểm nhằm phát triển công nghiệp, nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh và Long An, ngày 21-1-1981 Chính phủ đã ban hành Quyết định 25-CP
về quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh Quyết định nêu rõ: Cần lấy kế hoạch làm chính, đồng thời
sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá, thị trường, kinh doanh có lãi; cho phép các xí nghiệp quốc doanh có nhiều nguồn cân đối và kế hoạch ba phần (phần Nhà nước giao, phần tự làm, phần sản xuất phụ) Cùng ngày 21-1-1981 Hội
Trang 39đồng Chính phủ ban hành quyết định 26-CP về việc mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn
vị sản xuất kinh doanh của Nhà nước Những chủ trương chính sách nêu trên giúp cơ sở tự giải quyết một phần khó khăn, góp phần thực hiện kế hoạch Nhà nước Năm 1981, lần đầu tiên sau chiến tranh sản xuất công nghiệp đạt kế hoạch, riêng công nghiệp địa phương vượt kế hoạch 7,5%
Trên mặt trận phân phối lưu thông, ngày 23-6-1980, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 26/NQ-TW về cải tiến công tác phân phối, lưu thông Nghị quyết nhấn mạnh nguyên tắc giá cả phù hợp với chi phí sản xuất và lưu thông Tạo tiền đề cần thiết để tiến tới xoá bỏ từng bước chế độ cung cấp theo tem phiếu
Cùng với những chủ trương đổi mới từng phần trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, Đảng còn quan tâm kiện toàn bộ máy Nhà nước và tăng cường công tác xây dựng Đảng
Những tìm tòi, đổi mới từng phần từ 1979-1981 được xuất phát từ thực tế cuộc sống, dựa trên những sáng tạo của nhân dân, của địa phương Đó là những giải pháp tình thế, hướng vào giải quyết những khó khăn trước mắt về đời sống kinh tế, xã hội Những ý tưởng ban đầu của đổi mới tuy còn sơ khai, chưa cơ bản và toàn diện, nhưng đó là bước mở đầu có ý nghĩa, đặt những cơ
sở đầu tiên cho quá trình đổi mới toàn diện sau này Những đổi mới từng phần ban đầu nêu trên chưa đủ sức giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra vì nó vẫn nằm trong khung cảnh chung là mô hình chủ nghĩa xã hội cũ, tư duy về kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp cơ bản còn tồn tại Thực tiễn đòi hỏi Đảng phải tiếp tục tìm tòi đổi mới
2.2 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, bước phát triển mới về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
a Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng
Đại hội V họp trong bối cảnh trong nước và thế giới có một số mặt thuận lợi, nhưng có nhiều khó khăn mới
Đầu những năm 80 của thế kỷ XX, cách mạng thế giới tiếp tục phát triển,
sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng cách mạng tiến bộ trên thế giới tạo cho ta điều kiện thuận lợi Đất nước ta trải qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IV đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, tạo thêm thế và lực mới cho cách mạng
Trang 40Việt Nam Tuy nhiên đất nước ta đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức chống phá cách mạng nước
ta Đế quốc Mỹ tiếp tục thực hiện chính sách bao vây cấm vận và "kế hoạch hậu chiến" Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế ra sức tuyên truyền xuyên tạc việc quân tình nguyện Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia, gây sức ép với Việt Nam, chia rẽ ba nước Đông Dương Trong khi
đó tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội ở nước ta ngày càng trầm trọng Trong bối cảnh trên, Đảng tiến hành khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 27-3 đến ngày 31-3-1982 Dự Đại hội có 1.033 đại biểu thay mặt cho hơn 1,7 triệu đảng viên trong cả nước, có 47 đoàn đại biểu các đảng cộng sản và công nhân, các tổ chức cách mạng trên thế giới Đại hội đã thảo luận thông qua Báo cáo Chính trị, Báo cáo về phương hướng nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu về kinh tế - xã hội trong 5 năm 1981-
1985, Báo cáo về xây dựng Đảng và bổ sung điều lệ Đảng, Bầu Ban Chấp hành Trung ương khoá V gồm 116 uỷ viên chính thức và 36 uỷ viên dự khuyết Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương, khoá V đã bầu ra Ban Bí thư, Tổng Bí thư và Uỷ ban kiểm tra Trung ương Đồng chí Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng Bí thư của Đảng
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã có những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Thành công của Đại hội đánh dấu sự trưởng thành của Đảng trong việc thực hiện vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước, về năng lực cụ thể hoá đường lối, tiếp tục sự tìm tòi tổng kết thực tiễn để xác định bước đi, giải pháp phù hợp đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội
b Bước phát triển mới của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V về con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội
Đại hội V xác định cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược:
"Một là, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội;
Hai là, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa" (1)
(1) (2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội
1982, tr.42