Phần 1 của giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Tập 1) trình bày những nội dung về: đối tượng, chức năng, nhiệm vụ, phương pháp của môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời; Đảng lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền (1930-1945); Đảng lãnh đạo xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân (9-1945 - 12-1946);... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1GIÁO TRÌNH
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
Tập I
ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN
(Dùng cho đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội - bậc đại học)
HÀ NỘI - 2007
Trang 2BAN BIÊN SOẠN
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy các môn khoa học
xã hội và nhân văn trong các học viện, nhà trường quân đội Tổng cục Chính
trị tổ chức biên soạn giáo trình “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, Tập I,
Đảng lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1930 - 1975), dùng cho đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội - bậc đại học Giáo trình do tập thể giảng viên Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quân sự biên soạn
Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam được biên soạn dựa trên cơ
sở kế thừa chọn lọc những kiến thức của các bộ giáo trình trước đây, đồng thời
tiếp thu kiến thức mới của Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cấp
quốc gia xuất bản năm 2001, cập nhật những tư liệu mới, những kết luận và tổng kết quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng
Tập I: Đảng lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1930 – 1975),
được hoàn thành có sự tham gia đóng góp tích cực của các nhà khoa học, cán
bộ giảng dạy, đặc biệt là sự cố gắng của đội ngũ biên soạn thuộc Khoa Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quân sự Xin chân thành cảm ơn các tác giả, các nhà khoa học trong các Hội đồng đánh giá chất lượng giáo trình, các cơ quan chuyên trách thuộc Tổng cục Chính trị và Học viện Chính trị quân sự, Nhà xuất bản QĐND đã tạo điều kiện thuận lợi để xuất bản giáo trình này
TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ
Trang 4Chương 1
ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP CỦA
MÔN HỌC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
1 Đối tượng nghiên cứu của môn học Lịch sử Đảng
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là một môn học, có đối tượng nghiên
cứu là những quy luật về sự ra đời, phát triển của Đảng và những quy luật về hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng qua các thời kỳ, giai đoạn cách mạng Thể hiện trên các vấn đề cơ bản sau:
Một là, môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu nhóm quy
luật về sự ra đời, phát triển, trưởng thành của Đảng, (nghiên cứu về bản thân Đảng) Nhóm quy luật này đòi hỏi phải làm rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là tất yếu khách quan do nhu cầu đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp phát triển đến độ chín muồi đòi hỏi phải có Đảng lãnh đạo; làm rõ quy luật ra đời của Đảng, đó là sản phẩm của sự kết hợp lý luận Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Quy luật đó vừa phản ánh quy luật chung về sự ra đời của các đảng cộng sản trên thế giới, vừa phản ánh tính đặc thù về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ở nước thuộc địa nửa phong kiến
Hai là, nghiên cứu làm rõ quy luật xây dựng và phát triển của Đảng qua
các thời kỳ lịch sử Đó là quy luật xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng bản chất giai cấp công nhân của Đảng, mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng đảng viên, quy luật đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ…
Ba là, môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu nhóm quy
luật về hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng Nhóm quy luật này yêu cầu làm rõ nội dung lãnh đạo của Đảng; con đường, biện pháp Đảng lãnh đạo giành thắng lợi một cách nhanh nhất, có lợi nhất, đỡ tốn kém nhất Đó là những vấn đề có tính quy luật về nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng qua mỗi thời kỳ, giai đoạn cách mạng
Tuy nhiên trong xác định đối tượng môn học cần phân biệt rõ ranh giới lịch sử Đảng với lịch sử dân tộc, lịch sử quân sự Mặc dù giữa chúng có mối
Trang 5liên hệ với nhau, nhưng môn học lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu riêng của mình, không trùng lặp với các chuyên ngành khác trong khoa học lịch sử Vì vậy, cần nắm vững đối tượng nghiên cứu của từng chuyên ngành lịch sử thì mới lựa chọn được nội dung hợp lý, đồng thời làm cơ sở mở rộng nghiên cứu sang các lĩnh vực khác thuộc ngành lịch sử, để hỗ trợ cho việc nghiên cứu, học tập hiệu quả hơn
2 Chức năng, nhiệm vụ của môn học Lịch sử Đảng
2.1 Chức năng của môn học Lịch sử Đảng
- Thông qua nghiên cứu, học tập lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam còn giúp người học nhận rõ xu hướng vận động, phát triển của cách mạng Việt Nam và xã hội Việt Nam Học lịch sử Đảng không những giúp người học nhận thức được quá khứ, mà còn giúp hiểu được hiện tại và dự đoán được tương lai Đúng như V.I.Lênin đã chỉ rõ: "Khi xem xét bất cứ một hiện tượng xã hội nào trong quá trình phát triển của nó, thì bao giờ người ta cũng tìm thấy trong đó vết tích của quá khứ, những cơ sở của hiện tại và những mầm mống của tương lai"1
b) Chức năng giáo dục
Thực hiện tốt chức năng nhận thức là cơ sở thực hiện chức năng giáo dục Vấn đề bao trùm, nổi bật chức năng giáo dục của môn học Lịch sử Đảng là giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, định hướng hành động đúng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân,
1 V I.Lênin, Toàn tập, tập 1, Nxb Tiến bộ, 1974, tr 218
Trang 6phục vụ các nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài Nội dung giáo dục bao gồm những vấn đề cơ bản sau:
- Giáo dục nâng cao sự giác ngộ sâu sắc về mục tiêu cách mạng, lý tưởng của Đảng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân là vấn đề quan trọng hàng đầu trong giáo dục chính trị, tư tưởng; làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, của xã hội Việt Nam
- Giáo dục chủ nghĩa yêu nước chân chính, chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan, sô vanh nước lớn; không ngừng giáo dục chủ nghĩa yêu nước truyền thống, chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí Minh, giáo dục lịch sử, truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc Việt Nam
- Giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước qua các thời kỳ, giai đoạn cách mạng, góp phần nâng cao giác ngộ
xã hội chủ nghĩa, giữ vững phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, xây dựng niềm tin tuyệt đối của quần chúng vào Đảng, vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nêu cao ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng
2.2 Nhiệm vụ của môn học lịch sử Đảng
a) Trình bày đường lối cách mạng của Đảng qua các thời kỳ, giai đoạn cách mạng
Đây là nhiệm vụ đầu tiên, nhiệm vụ quan trọng nhất của môn học Lịch sử Đảng Đảng lãnh đạo cách mạng trước hết bằng đường lối, chủ trương, chính sách lớn Hoạch định đường lối là nội dung căn bản nhất trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, bảo đảm cho Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo, đưa cách mạng tiến lên Yêu cầu trình bày nhiệm vụ này phải khách quan, khoa học, cần làm
rõ những nội dung chủ yếu sau:
- Trình bày hoàn cảnh lịch sử hình thành đường lối của Đảng trong từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng
Trang 7Trình bày hoàn cảnh lịch sử là dựng lại bức tranh chân thật của lịch sử;
đi sâu làm rõ tình hình, đặc điểm có liên quan, chi phối đến sự hình thành đường lối của Đảng
Trình bày hoàn cảnh lịch sử là làm rõ căn cứ thực tiễn để Đảng vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh nghiệm thế giới vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam để định ra đường lối, chủ trương, chính sách trong mỗi thời kỳ, giai đoạn cách mạng cho phù hợp
- Trình bày quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện đường lối
Đường lối của Đảng không phải ngay từ đầu đã đầy đủ và hoàn chỉnh, đường lối đó phải có quá trình hình thành, từng bước được bổ sung, phát triển
đi đến hoàn thiện qua chỉ đạo thực tiễn Đường lối ban đầu của Đảng có thể đúng trên những vấn đề cơ bản, sau đó tiếp tục phát triển và ngày càng hoàn thiện Nhưng cũng có trường hợp đường lối ban đầu đúng, nhưng phải qua một thời gian dài mới được kiểm chứng, phát triển đi lên; có những điểm trong đường lối ban đầu đúng, nhưng sau này không thừa kế được Qua tổ chức thực tiễn, tổng kết thực tiễn, đường lối đó dần được bổ sung, phát triển đi đến hoàn chỉnh Thực tiễn cho thấy đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được hình thành từ Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (3-2-1930); đến Luận cương chính trị (tháng 10-1930) và các Nghị quyết Trung ương 6 (11-1939), Trung ương 7 (11-1940), Trung ương 8 (5-1941) bổ sung; đến Đại hội II (2-1951) mới hoàn chỉnh Các đường lối cụ thể khác của Đảng cũng diễn ra quá trình hình thành, phát triển, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh
- Trình bày Đảng tổ chức thực hiện đường lối (hay còn gọi là tổ chức thực tiễn) Quá trình tổ chức thực tiễn, biến đường lối thành hiện thực bao gồm nhiều công đoạn xen kẽ lẫn nhau như công tác tư tưởng, công tác tổ chức, phát động các phong trào quần chúng Đảng lãnh đạo toàn diện các mặt của đời sống kinh tế, xã hội Đảng lãnh đạo, Nhà nước cụ thể hoá đường lối bằng pháp luật, chủ trương, chính sách cụ thể Đảng không bao biện, làm thay Nhà nước Đảng ta là Đảng cầm quyền, thực hiện sự kiểm tra của mình đối với Nhà nước
và các tổ chức chính trị xã hội, qua đó kịp thời phát hiện, uốn nắm những lệch
Trang 8lạc, phát hiện những nhân tố mới, những kinh nghiệm mới bổ sung và hoàn chỉnh đường lối
b) Trình bày phong trào cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng
Trong tiến trình cách mạng nếu chỉ một mình đội tiền phong của giai cấp công nhân không thể hoàn thành được nhiệm vụ của đội tiền phong Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, Đảng phải biết tổ chức, phát động đông đảo quần chúng đứng lên đấu tranh theo mục tiêu, lý tưởng của Đảng Đồng thời, Đảng nhận thức rõ vai trò quần chúng nhân dân trong lịch sử, luôn quán triệt quan điểm "lấy dân làm gốc" trong mọi hoạt động lãnh đạo của mình Sức mạnh của quần chúng nhân dân chỉ được phát huy khi quần chúng được tổ chức lại, được giáo dục và có sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng Nếu không được
tổ chức lại thì quần chúng dù là đông đến đâu cũng không thể phát huy được sức mạnh Trình bày phong trào cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng gồm những vấn đề sau đây:
- Trình bày quá trình Đảng đã vận động, tuyên truyền, giáo dục và tổ chức quần chúng thông qua việc đề ra nhiệm vụ, mục tiêu đấu tranh sát hợp với nguyện vọng, khả năng của quần chúng với nhiều hình thức tổ chức phong phú, đa dạng phù hợp với tình hình trong mỗi thời kỳ, giai đoạn lịch sử
- Trình bày phong trào cách mạng quần chúng đúng với hoàn cảnh lịch sử diễn ra đi từ thấp đến cao, có khi đạt tới cao trào cách mạng, nhưng cũng có lúc tổn thất, mất mát, thậm chí có khi thoái trào, nhưng cuối cùng sẽ đi đến thắng lợi hoàn toàn
- Qua phong trào cách mạng tìm ra mối quan hệ biện chứng giữa Đảng và quần chúng Có Đảng lãnh đạo, giúp cho phong trào quần chúng hành động có mục đích, có tổ chức, đó là phong trào tự giác của quần chúng, có sức mạnh vô địch Ngược lại, quần chúng không chỉ là người thực hiện đường lối của Đảng,
mà còn góp phần vào sự tổng kết, bổ sung phát triển đường lối của Đảng Ví
dụ đường lối đổi mới do Đại hội lần thứ VI của Đảng khởi xướng được hình thành từ phong trào và sáng kiến của quần chúng, được Đảng tổng kết đúc rút thành đường lối, đó là sự tương đồng giữa ý Đảng và lòng dân Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời cũng phải làm rõ vai trò của quần chúng nhân dân
Trang 9trong lịch sử Quần chúng và phong trào cách mạng của quần chúng luôn có những đóng góp quan trọng vào công tác xây dựng Đảng
c) Trình bày nhiệm vụ xây dựng Đảng qua các thời kỳ, giai đoạn cách mạng
Nhiệm vụ này đòi hỏi phải trình bày lịch sử xây dựng Đảng về chính trị,
tư tưởng, tổ chức, đảm bảo cho Đảng luôn ngang tầm với đòi hỏi của đất nước, thời đại Nội dung đó bao gồm những vấn đề sau đây:
- Trình bày quá trình hình thành, phát triển và hoàn chỉnh đường lối trong mỗi thời kỳ, giai đoạn cách mạng; quá trình hình thành, củng cố các tổ chức đảng; trình bày những bài học kinh nghiệm về xây dựng Đảng qua các thời kỳ, giai đoạn cách mạng
- Lịch sử xây dựng Đảng ta là lịch sử xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gắn bó chặt chẽ với nhau Vì vậy, trình bày nhiệm vụ xây dựng Đảng phải bắt đầu từ nhiệm vụ chính trị của Đảng trong mỗi thời kỳ, đó
là căn cứ để Đảng đặt ra yêu cầu về xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị đặt ra Trên cơ sở đó, trình bày sự phát triển nhận thức, thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm xây dựng Đảng kiểu mới Mác - Lênin ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến đi lên chủ nghĩa xã hội
d) Trình bày kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng qua từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử và bài học kinh nghiệm tổng quát của cách mạng Việt Nam
Kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng được khái quát từ thực tiễn phong trào cách mạng của quần chúng và thực tiễn xây dựng Đảng qua các thời kỳ lịch sử
Nó có giá trị to lớn trong công tác lãnh đạo của Đảng và rèn luyện đội ngũ đảng viên Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ, dồi dào thêm"1
Trong lịch sử Đảng trình bày kinh nghiệm là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, được tổng kết ở các cấp độ khác nhau:
Cấp độ thứ nhất: Là kinh nghiệm lịch sử của từng thời kỳ, thường xuất phát từ diễn biến, sự kiện lịch sử để tổng kết thành những kinh nghiệm Cấp độ
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 417
Trang 10thứ hai: Là bài học lịch sử được tổng kết ở trình độ cao hơn thành những vấn
đề mang tính quy luật, những vấn đề lý luận của cách mạng Việt Nam Cấp độ này tổng kết những bài học kinh nghiệm tổng quát của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Trình bày quá trình hình thành nên những kinh nghiệm, có kinh nghiệm chỉ diễn ra trong một thời kỳ lịch sử nhất định, nhưng cũng có kinh nghiệm được lặp đi lặp lại nhiều lần trong nhiều thời kỳ lịch sử
Trình bày kinh nghiệm phải hết sức khách quan, tránh phương pháp lựa chọn sự kiện gượng ép "gọt chân cho vừa giầy" Vì vậy, khi trình bày phải tôn trọng sự thật lịch sử, trong đó có cả kinh nghiệm thành công, cả kinh nghiệm sai lầm, thiếu sót
- Cần phân biệt giữa lý luận và kinh nghiệm Lý luận định hướng hoạt động thực tiễn, còn kinh nghiệm được nghiên cứu, khái quát từ thực tiễn trên
cơ sở lý luận gắn với hoạt động thực tiễn Vì vậy, khi vận dụng kinh nghiệm phải tính đến hiệu quả thiết thực Có những kinh nghiệm đúng với thời kỳ này, đúng với nước này, nhưng sẽ là sai lầm khi vận dụng máy móc vào thời
- Tính đảng trong khoa học Lịch sử Đảng đòi hỏi phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân để xem xét, đánh giá khách quan, trung thực các
sự kiện, quá trình lịch sử, phục vụ cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, đấu tranh triệt để chống các quan điểm cơ hội, xét lại dưới mọi màu sắc; bảo vệ Đảng, sự nghiệp cách mạng của Đảng Đúng như V.I.Lênin đã chỉ rõ: "Tính phi đảng trong xã hội tư sản chỉ là biểu hiện giả dối, che đậy, tiêu cực của tình trạng đứng trong đảng của những kẻ no bụng, đứng trong đảng của
Trang 11bọn thống trị, đứng trong đảng của bọn bóc lột… Tính phi đảng là tư tưởng tư sản Tính đảng là tư tưởng xã hội chủ nghĩa"1
Tính đảng nói chung là sự thể hiện tập trung của tính giai cấp, tuy nhiên cần phân biệt tính đảng trong nghiên cứu khoa học, trong công tác tuyên truyền, giảng dạy và tính đảng trong sinh hoạt Đảng
- Tính khoa học, là sử dụng các phương pháp khoa học để phản ánh khách quan, trung thực các sự kiện lịch sử, quá trình lịch sử của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
Tính khoa học trong lịch sử Đảng đòi hỏi phải tuân thủ phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, nguyên tắc, phương pháp luận sử học mácxít để trình bày khách quan trung thực về lịch sử hình thành, phát triển, tồn tại của Đảng; về hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng qua các thời kỳ, giai đoạn lịch sử
Tính đảng và tính khoa học là hai phạm trù khác nhau, nhưng giữa chúng
có mối quan hệ khăng khít với nhau
Vì lợi ích giai cấp, dân tộc và của Đảng, đòi hỏi khoa học Lịch sử Đảng phải nghiên cứu, phản ánh sự thật lịch sử Tìm ra quy luật vận động, phát triển của lịch sử và hành động theo quy luật đó Mặt khác, mục đích khoa học cũng phải tìm ra sự thật lịch sử, quy luật lịch sử Do đó, tính khách quan, trung thực chẳng những là biểu hiện của tính khoa học mà còn là sự biểu hiện cao nhất của tính đảng
Tuy vậy, tính đảng và tính khoa học cũng có sự khác nhau nhất định, không thể đồng nhất là một Tính đảng, tính khoa học thống nhất với nhau đều
là phản ánh trung thực, khách quan lịch sử Nhưng khác nhau ở hình thức vận động của tính đảng, tính khoa học và được thể hiện qua năng lực chủ quan của mỗi nhà khoa học, mỗi tổ chức chính trị xã hội Do đó, để đảm bảo sự thống nhất ngày càng cao giữa tính đảng, tính khoa học đòi hỏi mỗi người, mỗi tổ chức không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt, giữ vững lập trường giai cấp công nhân
1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, tr 165
Trang 12Nắm vững tính đảng, tính khoa học giúp cho việc nghiên cứu, dạy - học lịch sử Đảng có tính định hướng chính trị đúng đắn, không tuỳ tiện, phiến diện, chủ quan Đồng thời với việc nắm vững tính đảng, tính khoa học, phải nắm vững nguyên tắc lý luận liên hệ với thực tiễn, lịch sử gắn với hiện thực v.v
3.2 Phương pháp môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Lịch sử Đảng là một khoa học, thuộc môn lý luận Mác - Lênin, vì vậy phương pháp nghiên cứu, dạy - học phải dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, dựa trên cơ sở những phương pháp chung của các khoa học xã hội và nhân văn Đồng thời, khoa học Lịch sử Đảng
là bộ phận của khoa học lịch sử, do đó, phải tuân theo phương pháp luận sử học Mác xít Trong đó, phương pháp chủ yếu nhất là phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc và sự kết hợp hai phương pháp đó với nhau
Phương pháp lịch sử, là phương pháp nghiên cứu các sự kiện lịch sử, quá trình lịch sử trong bối cảnh lịch sử, theo trình tự thời gian lịch sử, trong quá trình vận động, phát triển và mối quan hệ biện chứng với nhau Phương pháp lịch sử yêu cầu làm rõ quá trình phát sinh, phát triển và hình thức vận động của mỗi sự kiện lịch sử, quá trình lịch sử và mối liên hệ của chúng với các sự kiện, quá trình lịch sử khác, đồng thời phân biệt được sự khác nhau giữa các sự kiện, quá trình lịch sử
Phương pháp lôgíc, là phương pháp nghiên cứu các sự kiện lịch sử, quá trình lịch sử dưới hình thức lý luận trừu tượng, khái quát thành những nguyên
lý lý luận, nhằm chỉ rõ bản chất, quy luật vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Thông qua các sự kiện lịch sử, quá trình lịch sử để tìm ra bản chất, quy luật phát triển của sự vật, hiện tượng, để tìm ra chân lý khoa học
Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là hai phương pháp khác nhau, nhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau, được sử dụng nhằm tìm ra chân lý khách quan sự phát triển của lịch sử Do đó, để nghiên cứu, dạy - học môn lịch
sử Đảng có chất lượng, hiệu quả cao phải kết hợp chặt chẽ hai phương pháp đó với nhau Theo Ph.Ăngghen, Phương pháp lôgíc chẳng qua cũng là phương pháp lịch sử, có điều là đã thoát khỏi hình thái lịch sử và khỏi những hiện tượng ngẫu nhiên gây trở ngại mà thôi Lịch sử bắt đầu từ đâu thì tư duy cũng bắt đầu từ đó và sự vận động tiếp tục của nó chẳng qua là sự phản ánh quá trình lịch sử dưới một hình thức trìu tượng và nhất quán về lý luận
Trang 13Cùng với phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc và sự kết hợp hai phương pháp đó trong khoa học Lịch sử Đảng, còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp lịch đại, đồng đại, phương pháp khảo sát thực tiễn v.v để nâng cao chất lượng nghiên cứu, dạy - học lịch sử Đảng Thông thường các phương pháp trên được kết hợp, sử dụng trong từng chương, từng phần, nhưng tuỳ theo từng nội dung cụ thể có thể sử dụng các phương pháp cụ thể khác nhau phải rất uyển chuyển, linh hoạt, không cứng nhắc Do vậy, nghiên cứu, dạy - học lịch sử Đảng mới sinh động, chất lượng hiệu quả mới cao
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Phân tích đối tượng, nhiệm vụ của khoa học Lịch sử Đảng trong dạy - học và nghiên cứu ?
2 Trình bày phương pháp của môn học Lịch sử Đảng và những vấn đề vận dụng vào học tập, giảng dạy lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ?
Trang 14Chương 2 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI
1 Cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ
XX
1.1 Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX
Sau khi cơ bản kết thúc giai đoạn vũ trang xâm lược, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa và bình định nước ta
Về kinh tế, để bóc lột được lợi nhuận thuộc địa tối đa, thực dân Pháp duy trì phương thức sản xuất phong kiến, thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Chúng thực hiện chính sách độc quyền về kinh tế: xuất nhập khẩu, khai thác mỏ, giao thông vận tải, ngân hàng, tài chính, muối, rượu, thuốc phiện, chiếm đất lập đồn điền, lập ra hàng trăm thứ thuế vô lý Chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tuỷ, khiến cho nhân dân ta ngày càng nghèo khổ, nước ta xơ xác, tiêu điều, nền kinh tế của Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp
Về chính trị, chúng tiếp tục chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị người Pháp, từ Toàn quyền Đông Dương, Thống đốc Nam Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ, công sứ các tỉnh, đến các bộ máy quân đội, cảnh sát, toà án biến vua quan Nam Triều, tư sản mại bản thành bù nhìn, tay sai đắc lực Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong biển máu, chúng tiếp tục thi hành chính sách chia
để trị rất thâm độc, chia nước ta làm ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng
và nhập ba kỳ đó với nước Lào và nước Campuchia để lập ra liên bang Đông Dương thuộc Pháp, xoá tên nước ta trên bản đồ thế giới Chúng gây chia rẽ và thù hận giữa Bắc, Trung, Nam; giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phương, thậm chí giữa các dòng họ; giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương
Về văn hoá, chúng thi hành triệt để chính sách văn hoá nô dịch, gây tâm
lý tự ti, vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục, du nhập “văn hoá thực dân” Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều
bị cấm đoán Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hoá tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để
Trang 15dễ bề thống trị Tuy nhiên, chúng không thể hoàn toàn ngăn chặn được trào lưu
tư tưởng tiến bộ và những tri thức khoa học - kỹ thuật mới tràn vào Việt Nam Những chính sách trên của thực dân làm cho xã hội Việt Nam thay đổi từ một xã hội phong kiến độc lập trở thành một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến
Về cơ cấu xã hội, bên cạnh giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân đã tồn tại từ lâu, xuất hiện giai cấp công nhân, giai cấp tiểu tư sản thành thị
và giai cấp tư sản, với sự phân hoá giai cấp ngày càng sâu sắc hơn
Giai cấp địa chủ phong kiến đã tồn tại hơn ngàn năm Chủ nghĩa tư bản thực dân vào Việt Nam và trở thành yếu tố bao trùm, song vẫn không xoá bỏ
mà vẫn bảo tồn và duy trì giai cấp địa chủ phong kiến để làm cơ sở cho chế độ thuộc địa Tuy nhiên, do chính sách kinh tế và chính trị phản động của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ càng bị phân hoá khá rõ rệt: đại địa chủ thành tay sai đế quốc; trung, tiểu địa chủ cũng bị chèn ép về quyền lợi Vốn sinh ra và lớn lên trong một quốc gia dân tộc có truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, lại bị chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, chèn ép về kinh tế nên một
bộ phận không nhỏ tiểu và trung địa chủ không chịu nỗi nhục mất nước, có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn phản động tay sai
Giai cấp nông dân chiếm hơn 90% dân số Họ bị đế quốc, phong kiến địa chủ và tư sản áp bức, bóc lột rất nặng nề Ruộng đất của nông dân đã bị bọn tư bản thực dân chiếm đoạt Chính sách độc quyền về kinh tế, mua rẻ bán đắt, tô cao, thuế nặng, chế độ cho vay nặng lãi… của đế quốc và phong kiến đã đẩy nông dân vào con đường bần cùng hoá, không lối thoát Một số ít bán sức lao động, làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền hoặc bị bắt đi làm phu tại các thuộc địa khác của đế quốc Pháp Còn số đông vẫn phải gắn với đồng ruộng và gánh chịu sự bọc lột vô cùng nặng nề ngay trên mảnh đất mà trước đây là sở hữu của chính họ
Vì bị mất nước và mất ruộng đất nên nông dân có mâu thuẫn với đế quốc
và phong kiến, đặc biệt sâu sắc nhất với đế quốc và bọn tay sai phản động Họ vừa có yêu cầu độc lập dân tộc, lại vừa có yêu cầu ruộng đất, song yêu cầu về độc lập dân tộc là bức thiết nhất Giai cấp nông dân có truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất là lực lượng to lớn nhất, một động lực cách mạng mạnh
mẽ Nông dân không thể lãnh đạo được cách mạng, nhưng khi được tổ chức lại
và có sự lãnh đạo của một đội tiên phong cách mạng, họ sẽ phát huy vai trò
Trang 16cực kỳ quan trọng của mình trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam
Giai cấp tư sản hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam mới chỉ là một tầng lớp nhỏ bé Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam đã hình thành giai cấp rõ rệt
Ra đời trong điều kiện bị tư sản Pháp chèn ép, cạnh tranh rất gay gắt, nên số lượng tư sản Việt Nam không nhiều, thế lực kinh tế nhỏ bé, thế lực chính trị yếu đuối Giai cấp tư sản Việt Nam phân làm hai bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dân tộc
Tư sản mại bản là những tư sản lớn, hợp tác kinh doanh với đế quốc, bao thầu những công trình xây dựng của chúng ở nước ta Nhiều tư sản mại bản có đồn điền lớn hoặc có nhiều ruộng đất cho phát canh, thu tô Vì có quyền lợi kinh tế và chính trị gắn liền với đế quốc thực dân, nên tư sản mại bản là tầng lớp đối lập với dân tộc
Tư sản dân tộc là bộ phận đông nhất trong giai cấp tư sản, bao gồm tư sản loại vừa và nhỏ, thường hoạt động trong các ngành thương nghiệp, công nghiệp và cả tiểu thủ công nghiệp Họ muốn phát triển chủ nghĩa tư bản của dân tộc Việt Nam, nhưng do chính sách độc quyền và chèn ép của tư bản Pháp nên không thể phát triển được Xét về mặt quan hệ với đế quốc Pháp, tư sản dân tộc phải chịu số phận mất nước, có mâu thuẫn về quyền lợi với bọn đế quốc thực dân và phong kiến, nên họ có tinh thần chống đế quốc và phong kiến Giai cấp tư sản dân tộc là một lực lượng cách mạng không thể thiếu trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc Mặt khác, họ có thái độ cải lương
Họ không có khả năng lãnh đạo dân tộc đấu tranh chống đế quốc, phong kiến giành độc lập dân tộc, dân chủ tự do và giải phóng người lao động khỏi áp bức bóc lột
Giai cấp tiểu tư sản bao gồm tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên và những người làm nghề tự do Giữa những
bộ phận có sự khác nhau về kinh tế và cách sinh hoạt, nhưng nhìn chung địa vị kinh tế của họ rất bấp bênh, luôn bị đe doạ phá sản, thất nghiệp Họ có tinh thần yêu nước nồng nàn, lại bị đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột và khinh
rẻ nên rất hăng hái cách mạng Đặc biệt, tầng lớp trí thức rất nhạy cảm với thời cuộc, dễ tiếp xúc với những tư tưởng tiến bộ và canh tân đất nước, tha thiết bảo
vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Khi phong trào công nông
Trang 17đã thức tỉnh, họ bước vào trận chiến đấu dân tộc ngày một đông đảo và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của quần chúng, nhất là ở đô thị Giai cấp tiểu tư sản là một lực lượng cách mạng quan trọng trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc
Giai cấp công nhân là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của Pháp và nằm trong những mạch máu kinh tế quan trọng do chúng nắm giữ Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của đế quốc Pháp ở nước ta, giai cấp công nhân đã hình thành Đến cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, giai cấp công nhân đã phát triển nhanh chóng về số lượng Tuy còn non trẻ, số lượng ít (chỉ chiếm khoảng 1% số dân), trình độ học vấn, kỹ thuật thấp, nhưng công nhân sống tập trung tại các thành phố, các trung tâm công nghiệp và các đồn điền
Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế, đồng thời còn có những đặc điểm riêng của mình như: phải chịu
ba tầng áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và tư sản bản xứ; phần lớn vừa mới từ nông dân bị bần cùng hoá mà ra, nên có mối quan hệ gần gũi nhiều mặt với nông dân Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, nên nội bộ thuần nhất, không bị phân tán về lực lượng và sức mạnh Sinh
ra và lớn lên ở một đất nước có nhiều truyền thống văn hoá tốt đẹp, nhất là truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm, sớm tiếp thu được tinh hoa văn hoá tiên tiến của thời đại mới để bồi dưỡng bản chất cách mạng của mình Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất mới, tiến bộ, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có tinh thần cách mạng triệt để Họ là một động lực cách mạng mạnh mẽ và khi liên minh được với giai cấp nông dân và tiểu tư sản sẽ trở thành cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do Khi được
tổ chức lại và hình thành được một đảng tiền phong cách mạng, được vũ trang bằng một học thuyết cách mạng triệt để là chủ nghĩa Mác - Lênin thì giai cấp công nhân thực sự trở thành người lãnh đạo cách mạng
Chính sách thống trị của Pháp và bọn tay sai đã tạo ra hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam thuộc địa, nửa phong kiến: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là giữa nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với bọn thực dân Pháp và
Trang 18bè lũ tay sai đắc lực nhất Độc lập dân tộc và người cày có ruộng là hai yêu cầu
cơ bản của xã hội Việt Nam thuộc địa, nửa phong kiến, nhưng độc lập dân tộc
là yêu cầu chủ yếu trước mắt, phản ánh nguyện vọng bức thiết của các tầng lớp, giai cấp trong dân tộc
1.2 Phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX
a Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến
Ngay từ khi thực dân Pháp vào xâm lược nước ta, với tinh thần yêu nước nồng nàn, bất chấp chủ trương đầu hàng của triều đình phong kiến, nhân dân ta
đã vùng lên chống thực dân Pháp xâm lược Chúng đã vấp phải một phong trào đấu tranh vũ trang quyết liệt và kéo dài, dưới ngọn cờ của các sĩ phu yêu nước Ngày 5-7-1885, phái kháng chiến còn sót lại trong triều đình Huế do Tôn Thất Thuyết dẫn đầu đánh đồn Mang Cá và toà Khâm sứ Trung Kỳ Bị thất bại, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra vùng núi Quảng Trị Ngày 13-7-
1885, nhà vua xuống chiếu “Cần Vương” Phong trào “Cần Vương” nhanh chóng lan ra nhiều địa phương ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ và cả Nam Kỳ Ngày 1-11-
1888, vua Hàm nghi bị Pháp bắt Phong trào “Cần Vương” còn kéo dài cho đến khi cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng thất bại (1896)
Trong thời gian này, cũng diễn ra các cuộc khởi nghĩa của nông dân chống Pháp ở khắp các miền đất nước Cuộc khởi nghĩa lớn nhất, tiêu biểu cho
ý chí chiến đấu bất khuất, kiên cường, bền bỉ của nông dân Việt Nam là cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo Thực dân Pháp đã bốn lần dùng lực lượng lớn tiến công Yên Thế, nhưng đều bị nghĩa quân đánh bại Chỉ sau khi Hoàng Hoa Thám hy sinh (10-3-1913), cuộc khởi nghĩa Yên Thế kéo dài 30 năm (1883-1913) mới kết thúc
Sự thất bại của phong trào “Cần Vương” và phong trào yêu nước của nông dân trong thời kỳ này đã chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra
b Phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản
Đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ yếu là Nhật Bản, để đánh Pháp, giành độc lập dân tộc, thành lập một nhà nước theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật Ông lập ra Hội Duy Tân (1904), tổ chức phong trào Đông Du (1906-1908) Chủ trương dựa vào đế quốc Nhật để chống Pháp không thành, ông về Xiêm nằm chờ thời Giữa lúc đó
Trang 19Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc bùng nổ và thắng lợi (1911) Ông về Trung Quốc lập ra Việt Nam Quang phục Hội (1912), từ bỏ lập trường quân chủ lập hiến, chuyển sang lập trường dân chủ tư sản với chủ trương võ trang bạo động đánh đuổi giặc Pháp, thành lập Cộng hoà dân quốc Việt Nam Ông
có cảm tình với nước Nga Xô Viết, chủ nghĩa xã hội và có ý đặt hy vọng vào Nguyễn Ái Quốc
Con đường cứu nước của Phan Bội Châu đã không thành công Trong bản hồi ký cuối đời ông viết: “Than ôi! Cuộc đời của tôi là một trăm thất bại mà không một thành công”
Phan Châu Trinh là nhà yêu nước dân chủ nhiệt thành Ông kịch liệt tố cáo bọn quan lại phong kiến sâu mọt, kết tội vua bù nhìn Khải Định và tố cáo tội ác của thực dân Pháp Ông chủ trương dùng những cải cách văn hoá, mở mang dân trí, nâng cao dân khí, phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa trong khuôn khổ hợp pháp, làm cho đất nước giàu mạnh lên, buộc thực dân Pháp phải trao trả độc lập cho Việt Nam Ở Bắc Kỳ có việc mở trường học, giảng dạy và học tập theo những nội dung và phương pháp mới, tiêu biểu là trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội Ở Trung kỳ có cuộc vận động Duy Tân, hô hào thay đổi phong tục, nếp sống, kết hợp với phong trào đấu tranh chống thuế (1908) Phan Châu Trinh phản đối bạo động và muốn dựa vào Pháp
để chống phong kiến Dù là cải lương, ông vẫn bị thực dân Pháp bắt giam, đày
đi Côn Đảo Con đường cứu nước của cụ Phan Châu Trinh cũng nhanh chóng thất bại
Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh có điểm giống nhau là chưa tiếp cận được xu thế của thời đại mới, do đó không tìm ra con đường cứu nước mới, con đường giành độc lập triệt để cho nhân dân lao động làm chủ đất nước, lấy sức ta mà tự giải phóng cho ta Nhưng lòng yêu nước và gương hoạt động của hai cụ Phan đã cổ vũ cho nhân dân ta qua nhiều thế hệ
Phong trào cách mạng quốc gia tư sản (1927-1930) gắn liền với sự ra đời
và hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng (25-12-1927) Cội nguồn đảng này
là Nam Đồng thư xã, lãnh tụ là Nguyễn Thái Học, Phạm Tuấn Tài, Nguyễn Khắc Nhu và Phó Đức Chính Đây là tổ chức chính trị tiêu biểu nhất cho khuynh hướng tư sản ở Việt Nam, tập hợp các thành phần tư sản, tiểu tư sản, địa chủ và cả hạ sĩ quan Việt Nam trong quân đội Pháp Về tư tưởng, họ mô phỏng theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn Về chính trị, họ chủ
Trang 20trương đánh đuổi đế quốc, xoá bỏ chế độ vua quan, thành lập chính thể dân quyền, nhưng chưa bao giờ có một đường lối chính trị cụ thể, rõ ràng Về tổ chức, họ chủ trương xây dựng các cấp từ trung ương đến cơ sở, nhưng cũng chưa bao giờ có một hệ thống tổ chức thống nhất
Ngày 9-2-1929, một số đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng ám sát tên trùm mộ phu Badanh (Bazin) tại Hà Nội Thực dân Pháp điên cuồng khủng
bố phong trào yêu nước Việt Nam Quốc dân Đảng bị tổn thất nặng nề nhất Trong tình thế hết sức bị động, các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng quyết định dốc toàn bộ lực lượng vào một trận chiến đấu cuối cùng với tư tưởng
“không thành công cũng thành nhân” Ngày 9-2-1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ, trung tâm là thị xã Yên Bái với cuộc tiến công trại lính Pháp của quân khởi nghĩa Ở một số địa phương như Thái Bình, Hải Dương… cũng có những hoạt động phối hợp
Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra khi chưa có thời cơ, vì thế nó nhanh chóng bị thực dân Pháp dìm trong biển máu Các lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng cùng hàng nghìn chiến sĩ yêu nước bị bắt và bị kết án tử hình Vai trò của Việt Nam Quốc dân Đảng trong phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam chấm dứt cùng với sự thất bại của khởi nghĩa Yên Bái
Mặc dù bị thất bại nhưng các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng tư sản
đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, bồi đắp thêm cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đặc biệt góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức tiên tiến chọn lựa một con đường cứu nước mới
Sau Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), tính chất thời đại thay đổi, đòi hỏi con đường giải quyết mâu thuẫn xã hội phải thay đổi và giai cấp lãnh đạo cách mạng cũng phải thay đổi
Vào những năm đầu thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước
đã diễn ra sâu sắc, trầm trọng trên đất nước ta Các con đường cứu nước đều thiếu một giai cấp tiên tiến lãnh đạo và đường lối cách mạng không phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới và nguyện vọng của đa số quần chúng nhân dân Việc tìm lối ra cho cuộc khủng hoảng là nhu cầu nóng bỏng nhất của nhân dân ta lúc bấy giờ
Trang 212 Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước và chuẩn bị thành lập Đảng
2.1 Quá trình tìm kiếm con đường cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc
Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19-5-1890, quê ở Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học lấy tên là Nguyễn Tất Thành Lớn lên giữa lúc nước mất, nhà tan, đau xót trước cảnh lầm than của đồng bào, Nguyễn Tất Thành sớm có chí đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành rời đất nước ra đi tìm đường cứu nước
Từ năm 1911 đến năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã trải qua những bước ngoặt lớn trên lộ trình tìm đường cứu nước
Nguyễn Ái Quốc sớm nhận ra hạn chế của các nhà yêu nước đương thời Người rất khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám…, nhưng không đồng ý đi theo con đường của một người nào Trong khi nhiều người còn ngưỡng mộ cách mạng tư sản, Nguyễn
Ái Quốc với nhãn quan chính trị sắc bén, đã vượt qua sự hạn chế tầm nhìn của
họ, quyết chí ra đi tìm con đường cứu nước mới
Với tên gọi Nguyễn Văn Ba, Người đã qua nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước tư bản phát triển Một cuộc khảo sát có một không hai ở Mỹ, Anh, Pháp đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhận ra là ở đâu cũng có hai loại người: người giàu và người nghèo, người áp bức và người bị áp bức Càng ngày Người càng hiểu sâu sắc về bản chất của chủ nghĩa đế quốc
Làm thuê trên chiếc tàu đi vòng quanh Châu Phi, tận mắt trông thấy những cảnh khổ cực, chết chóc của người da đen dưới roi vọt của bọn thực dân, Nguyễn Ái Quốc nghĩ: đối với bọn thực dân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu
Giữa tháng 12-1912, Nguyễn Ái Quốc tới nước Mỹ Cuối năm 1913, Người từ Mỹ sang Anh và cuối năm 1917 trở về Pháp Người dành một phần thời gian để lao động kiếm sống, còn phần lớn thời gian dành cho học tập, nghiên cứu Cách mạng tư sản Mỹ (1776), Cách mạng tư sản Pháp (1789), đồng thời tham gia đấu tranh trong hàng ngũ giai cấp công nhân và nhân dân lao động thuộc đủ các màu da Người nhận thấy các cuộc cách mạng tư sản Mỹ và Pháp là “những cuộc cách mạng chưa đến nơi” vì quần chúng nhân dân vẫn đói khổ
Trang 22Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), các nước đế quốc thắng trận họp Hội nghị Véc-xây (1919) để phân chia quyền lợi Tại Hội nghị, Tổng thống Mỹ Uynxơn (Wilson) đưa ra chương trình 14 điểm với chiêu bài dân tộc tự quyết để tranh giành ảnh hưởng thuộc địa với các đế quốc khác Thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đưa đến Hội nghị bản yêu sách 8 điểm đòi các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của dân tộc Việt Nam Bản yêu sách đó không được Hội nghị Vécxây đáp ứng, nhưng được báo chí tiến bộ Pháp công bố rộng rãi và gây ảnh hưởng chính trị vang dội Đó là đòn tiến công trực diện đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc vào bọn trùm
đế quốc Sự kiện này đã giúp Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận quan trọng là: những lời tuyên bố dân tộc tự quyết của bọn đế quốc chỉ là trò bịp bợp; các dân tộc bị áp bức muốn được độc lập tự do thực sự, trước hết phải dựa vào lực lượng của bản thân mình, phải tự mình giải phóng cho mình Đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một đảng tiến bộ hồi bấy giờ, Người có dịp tiếp xúc, hoạt động với nhiều nhà chính trị nổi tiếng ở Pháp Nguyễn Ái Quốc tìm hiểu và hoạt động trong phong trào công nhân, liên lạc và cùng hoạt động với nhiều nhà cách mạng ở nhiều thuộc địa Pháp
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi là sự kiện chính trị lớn nhất của thế kỷ XX, mở ra thời đại mới trong lịch sử loài người, thời đại quá
độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, thời đại thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản
Khi được biết thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó và kính phục Lênin Người đã tham gia nhiều cuộc vận động ủng hộ nhân dân Nga bảo vệ thành quả cách mạng Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế thứ ba) ra đời, có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế giới Năm 1920, cuộc đấu tranh giữa hai con đường diễn ra quyết liệt trong nhiều đảng công nhân và ngay trong Đảng Xã hội Pháp: tiếp tục theo Quốc tế thứ hai tức là tiếp tục con đường cải lương hay đi theo Quốc tế thứ ba, con đường cách mạng
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I Lênin Luận cương đã giải
đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở tìm hiểu, giúp Người thấy rõ con đường thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, nhận rõ lập trường của V.I.Lênin và Quốc tế thứ ba khác hẳn với những lời tuyên bố suông của Quốc tế thứ hai Luận cương của V.I.Lênin đã có ảnh hưởng quyết
Trang 23định đến lập trường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc Sau này người viết: “luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói
to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”
Từ đó tôi hoàn toàn tin theo V.I Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”1
Tháng 12-1920, tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua (Tours), Nguyễn
Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quyết định trong cuộc đời hoạt động của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản, mở đường giải quyết đúng đắn về đường lối giải phóng dân tộc của Việt Nam Qua 10 năm sống và làm việc ở nhiều nước trên thế giới, qua nhiều lục địa, đặc biệt là ở những nước tư bản phát triển, Nguyễn Ái Quốc không choáng ngợp trước sự giàu có của giai cấp tư sản mà lại nhận thấy chế độ tư bản có nhiều khuyết tật Người khẳng định dứt khoát chủ nghĩa tư bản không cứu được nước, không cứu được dân Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã giúp Nguyễn Ái Quốc nhanh chóng nhận ra chân lý thời đại: chỉ
có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp
bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ Người chỉ rõ: “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” 2
2.2 Nguyễn Ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và chuẩn bị thành lập Đảng
Từ khi trở thành người cộng sản, cùng với việc thực hiện những nhiệm
vụ đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Nguyễn Ái Quốc xúc tiến mạnh mẽ việc nghiên cứu lý luận giải phóng dân tộc theo học thuyết cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác-Lênin để truyền bá vào nước ta, từng bước chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho việc thành lập chính đảng cộng sản ở Việt Nam
Tháng 5-1921, khi còn ở Pháp, trong bài “Đông Dương”, Nguyễn Ái
Quốc cho rằng “chế độ cộng sản có áp dụng được ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng không”3 Tháng 7-1921, Nguyễn Ái Quốc cùng một số
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 127
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 314
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Sđd, 2000, tr.33
Trang 24chiến sĩ cách mạng ở nhiều nước thuộc địa Pháp lập Hội liên hiệp thuộc địa Tuyên ngôn của Hội do Người khởi thảo đã nêu bật tư tưởng tự lực tự cường:
“công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của
bản thân anh em” Hội quyết định xuất bản tờ báo “Người cùng khổ” (Le
paria), do Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm, kiêm chủ bút
Báo “Người cùng khổ” đã tạo “một luồng gió mới thổi đến nhân dân các
nước bị áp bức”, “đã làm cho nước Pháp chân chính biết rõ những việc xảy ra trong các thuộc địa”, “đã thức tỉnh đồng bào chúng ta”
Ngoài việc viết bài cho báo “Người cùng khổ”, Nguyễn Ái Quốc còn viết bài cho các báo “Nhân Đạo”, “Đời sống công nhân” Người đã dự đại hội
lần thứ nhất và lần thứ hai của Đảng Cộng sản Pháp Người tiếp tục chỉ ra sai lầm của Đảng Cộng sản Pháp về vấn đề thuộc địa Năm 1922, Ban Nghiên cứu thuộc địa trực thuộc Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Pháp được thành lập, Nguyễn Ái Quốc được cử làm trưởng tiểu ban Nghiên cứu về vấn
đề Đông Dương
Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu viết tác phẩm nổi tiếng
“Bản án chế độ thực dân Pháp” ( Le Proce`s de la colonisation fran caise ) và
được xuất bản lần đầu ở Pari năm 1925 Bằng những dẫn chứng cụ thể, sinh động, tác phẩm đã tố cáo những tội ác tày trời của thực dân Pháp đối với các nước thuộc địa và kêu gọi “dân bản xứ không cam chịu nhục được mãi, phải vùng lên” Người nêu lên mối quan hệ giữa cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc qua hình ảnh chủ nghĩa đế quốc là một con đỉa hai vòi Muốn giết con vật ấy “ người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”1 Tác phẩm “Bản
án chế độ thực dân Pháp” có giá trị lớn về mặt lý luận, thực tiễn, đồng thời có
giá trị về văn hoá
Năm 1922, qua truyện ngắn Lời than vãn của Bà Trưng Trắc, vở kịch
“Con rồng tre”, Nguyễn Ái Quốc đã lên án vua Khải Định là “đớn hèn, bất lực
và ngu dốt”, cam tâm làm tôi tớ cho thực dân Pháp
Giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Pêtơrôgrát (Liên Xô) Ở đó, Người
có điều kiện học tập, nghiên cứu sâu sắc hơn chủ nghĩa Mác - Lênin Người phát triển thêm những quan điểm chính trị của mình đã hình thành ở Pháp
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.120
Trang 25Người tiếp tục tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc Qua bài “Hành hình kiểu Linsơ”, Người coi tội ác đó “chiếm vị trí vinh dự trong toàn bộ những tội ác
của nền văn minh Mỹ” Người vạch trần “chính sách thực dân trá hình” của đế quốc Anh muốn chiếm cả Trung Quốc, phê phán đế quốc Ý đồng loã với đế quốc Pháp đàn áp phong trào cách mạng ở Bắc Phi
Tháng 10-1923, Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội lần thứ nhất Quốc tế nông dân Đại hội bầu người vào Ban chấp hành Quốc tế Nông dân và Ban chấp hành cử Người làm uỷ viên Đoàn chủ tịch Năm 1924, Người dự các Đại hội của Thanh niên, Phụ nữ Quốc tế, Công hội đỏ và Đại hội lần thứ V của Quốc
tế Cộng Sản Người tiếp tục phê bình thiếu sót của nhiều đảng cộng sản ở Tây
Âu về vấn đề thuộc địa và thẳng thắn nêu thiếu sót đó của cả Quốc tế Cộng sản Người chỉ rõ rằng: Nông dân bị áp bức bóc lột nặng nề, nạn đói luôn xảy
ra, sự phẫn uất ngày càng lên cao Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã chín muồi Trong nhiều nước thuộc địa, họ đã vài lần nổi dậy, nhưng lần nào cũng
bị dìm trong máu Nếu hiện nay nông dân vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực, thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo Quốc tế Cộng sản cần phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ lãnh đạo cho họ
và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng”
Người rất chú ý nghiên cứu chế độ mới ở Liên Xô Người nhận rõ lúc này
dù thiếu thốn, nhân dân Liên Xô đã dành cho trẻ em những “cái gì tốt nhất”, nhà nước hết sức chăm lo việc giáo dục và y tế cho nhân dân Người viết nhiều bài báo nêu cao công lao vĩ đại, đạo đức cao cả của Lênin
Ngày 11-11-1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc) làm nhiệm vụ đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản và trực tiếp chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam Tại đây, Người cùng với một số nhà cách mạng
lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông, do ông Liêu Trọng Khải
(Trung Quốc) làm Hội trưởng và Người làm bí thư
Tháng 6-1925, Người sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, hạt nhân là Cộng sản đoàn, nhằm tập hợp những thanh niên yêu nước Việt Nam có
xu hướng cộng sản chủ nghĩa, chuẩn bị thành lập Đảng, cơ quan tuyên truyền
của Hội là tuần báo Thanh niên Từ năm 1925-1927, Người mở nhiều lớp
huấn luyện chính trị tại Quảng Châu, đào tạo một đội ngũ cán bộ cho cách mạng Việt Nam Sau các khoá học một số được chọn đi học ở Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, một số được cử đi học Trường Quân sự
Trang 26Hoàng Phố, còn phần lớn trở về nước để “truyền bá lý luận giải phóng dân tộc
và tổ chức nhân dân”1
Đầu năm 1927, những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc cho các lớp đào tạo cán bộ tại Quảng Châu được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị
áp bức xuất bản thành sách với tên gọi là Đường Kách mệnh Trong tác phẩm
này, Nguyễn Ái Quốc vạch ra những phương hướng cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam
Trước hết, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ, chỉ có cách mạng vô sản là cách mạng triệt để, vì lợi ích của đại đa số dân chúng Thông qua giới thiệu những cuộc cách mạng điển hình trên thế giới, từ Cách mạng tư sản Mỹ (1776) đến Cách mạng tư sản Pháp (1789), từ Công xã Pari (1871) đến Cách mạng Tháng mười Nga (1917) và sau khi so sánh Cách mạng tư sản với Cách mạng vô sản, Nguyễn ái Quốc khẳng định: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”2
Người khẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”3 Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh:
“làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”4
Về mục tiêu và con đường đi lên của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa
xã hội Muốn xoá bỏ chế độ người bóc lột người, muốn có tự do, hạnh phúc, bình đẳng thật sự thì cách mạng Việt Nam phải qua hai cuộc cách mạng: cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau
Về lực lượng cách mạng, công nông là gốc của cách mệnh, học trò, nhà buôn, điền chủ nhỏ là bầu bạn của công nông Ai mà bị áp bức càng nặng, thì
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,2000, tr.274
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập,tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.280
4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,2000, tr.270
Trang 27lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việc của một hai người
Về phương pháp cách mạng, quan điểm của Nguyễn Ái Quốc là quan điểm cách mạng bạo lực Người cho rằng giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào, cho nhân loại là công việc “to tát”, cho nên phải “dùng hết sức”, phải
“quyết tâm thì làm chắc được”, “thà chết tự do hơn sống làm nô lệ”
Nhưng phải “biết cách làm thì mới chóng” “Cách mệnh trước hết phải làm cho dân giác ngộ” Tiếp theo tư tưởng khởi nghĩa vũ trang quần chúng giành chính quyền đề ra từ năm 1924, trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc phát triển thêm: “dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không thắng nổi” “Đời này làm chưa xong, đời sau nối theo làm thì phải xong” Người chỉ ra những thiếu sót của những người đi trước như “xúi dân bạo động
mà không bày cách tổ chức”, hoặc “làm cho dân quen tính ỷ lại mà quên tính
tự cường” Tóm lại là phải có sách lược, mưu chước, kế hoạch, biết lúc nào nên làm, lúc nào chưa nên làm
Về đoàn kết quốc tế, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ “Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới Ai làm cách mạng trên thế giới là đồng chí của Việt Nam” “Chúng ta cách mệnh thì cũng phải liên lạc tất cả những đảng cách mệnh trong thế giới để chống lại tư bản và đế quốc chủ nghĩa (như
Đệ tam quốc tế )”1 “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ
Đệ tam quốc tế”2 Trong quan hệ giữa cách mạng nước ta với bầu bạn thế giới, Người nhấn mạnh: “Muốn người ta giúp cho thì trước hết mình tự giúp lấy mình đã” Cách mạnh vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa quan hệ mật thiết với nhau và ảnh hưởng thúc đẩy nhau trong quan hệ bình đẳng “Việt Nam dân tộc cách mệnh thành công thì
tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ”
Về đảng cách mạng, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: muốn đưa cách mạng đến thắng lợi, trước hết phải có đảng cách mệnh Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy Trong đảng phải có chủ nghĩa làm cốt, ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo Đảng thiếu chủ nghĩa như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam “Bây
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 tr.281
2 Hồ Chí Minh,Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,2000 tr 287
Trang 28giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”1
Những nội dung cơ bản trong tác phẩm Đường Kách mệnh là tư tưởng
cốt lõi về con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, trực tiếp chuẩn bị về tư tưởng, chính trị cho việc thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam
Tháng 4-1927, Tưởng Giới Thạch phản bội cách mạng Trung Quốc, đàn
áp đảng viên cộng sản và những người cách mạng Nguyễn Ái Quốc phải rời Quảng Châu sang Liên Xô Mùa thu năm 1928, Người về Thái Lan tiếp tục công việc chuẩn bị thành lập Đảng
Năm 1928, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên thực hiện chủ trương
“vô sản hoá”, đưa hội viên của mình vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền trong nước, cùng sống và làm việc với công nhân, đồng thời cũng là phương thức truyền bá lý luận giải phóng dân tộc, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh
Hội kết nạp ngày càng nhiều hội viên, năm 1928 có 300 hội viên, năm
1929 có 1700 hội viên, nếu kể cả hội viên dự bị thì có gần 3000 người Từ năm
1926 đến năm 1929, Hội có cơ sở ở nhiều trung tâm kinh tế, chính trị trong cả nước, trở thành lực lượng chính trị yêu nước lớn mạnh nhất đất nước
Việc truyền bá lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức, vận động nhân dân đấu tranh đã dấy lên một phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là phong trào công nhân
Cuộc đấu tranh của công nhân xuất hiện ngay từ khi giai cấp công nhân
ra đời Trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, phong trào đã diễn ra với những hình thức sơ khai như bỏ trốn tập thể, phá giao kèo, đốt lán trại, đánh cai ký, đưa đơn phản kháng, rồi tiến dần lên các hình thức đấu tranh đặc thù của giai cấp mình như bãi công Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, giai cấp công nhân ở nước ta ngày càng đông đảo và tập trung hơn Trong những năm 1919-1925 đã nổ ra 25 cuộc bãi công, tiêu biểu là các cuộc bãi công của công nhân viên chức các sở công nhân tư thương Bắc Kỳ, công nhân các lò nhuộm ở Sài Gòn, Chợ Lớn (1922); các nhà máy dệt, rượu, xay xát ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương (1924) Đáng chú ý nhất là cuộc bãi công của hơn 1000 công nhân Xưởng sửa chữa tàu thuỷ Ba Son, Sài Gòn (8-1925) do Tôn Đức Thắng
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2000 tr 268
Trang 29tổ chức Từ năm 1926 đến năm 1929, phong trào công nhân ngày càng phát triển với sự ra đời và hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Trong những năm 1926-1927, mỗi năm có hàng chục cuộc bãi công Trong hai năm 1928-1929 nổ ra hơn 40 cuộc đấu tranh, tiêu biểu là các cuộc bãi công ở Nhà máy xi măng Hải Phòng, Nhà máy sợi Nam Định, Nhà máy diêm và Nhà máy cưa Bến Thuỷ, Xưởng sửa chữa ô tô Avia Hà Nội, Nhà máy sợi Hải Phòng, Mỏ than Hồng Gai, Nhà máy xe lửa Trường Thi (Vinh), Xưởng sửa chữa tàu thuỷ Ba Son (Sài Gòn), Đồn điền cao su Phú Riềng….Các cuộc đấu tranh đó đã kết hợp những khẩu hiệu kinh tế với những khẩu hiệu chính trị, vượt ra ngoài phạm vi một nhà máy, đồn điền, bước đầu có sự liên kết nhiều ngành, nhiều địa phương Điều đó chứng tỏ trình độ giác ngộ của công nhân đã nâng lên rõ rệt tuy chưa đều khắp Phong trào công nhân đang phát triển mạnh
mẽ, có sự quy tụ và dẫn đầu phong trào yêu nước nói chung
Từ năm 1925 đến năm 1927, đồng thời với phong trào yêu nước theo lập trường vô sản, xuất hiện phong trào yêu nước theo quan điểm dân chủ tư sản, tiêu biểu là phong trào đòi thả tự do cho Phan Bội Châu (1925), phong trào yêu nước tổ chức đám tang Phan Châu Trinh (1926), phong trào yêu nước của Tân Việt (1927), phong trào của Việt Nam quốc dân Đảng…
Thời gian này, ở nước ta đã nổ ra cuộc đấu tranh giữa hai đường lối cứu nước và kết cục đường lối cứu nước của Nguyễn Ái Quốc đã thắng đường lối cứu nước theo quan điểm dân chủ tư sản Trong hai năm 1929-1930, phần lớn đảng viên đảng Tân Việt và một số đảng viên tiên tiến của Việt Nam quốc dân đảng đã chuyển sang lập trường của những người cộng sản Lập trường cách mạng giải phóng dân tộc của công nhân đã thắng lập trường giải phóng của tư sản
Thực tiễn lịch sử chứng minh, con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc
đã mở đường giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước ở nước ta, dẫn đến sự ra đời các tổ chức cộng sản vào nửa cuối năm 1929 và Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930
3 Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản và hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
3.1 Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản
Đến năm 1929, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam
đã phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo thống nhất của một đảng cách mạng Trong lúc nhiều người yêu nước khác chưa nhận thức được đòi hỏi
Trang 30bức xúc đó thì những người tiên tiến trong Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã sớm nắm bắt được nhu cầu lịch sử này của giai cấp công nhân và của dân tộc
Tháng 5-1929, tại Đại hội đại biểu của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên họp tại Hương Cảng (Trung Quốc) đã xảy ra sự bất đồng giữa các đoàn đại biểu xung quanh việc xúc tiến thành lập đảng cộng sản Đoàn đại biểu Bắc
Kỳ do Ngô Gia Tự dẫn đầu kiên quyết đấu tranh đòi thành lập ngay một đảng cộng sản, yêu cầu đó không được chấp nhận, đoàn đại biểu Bắc Kỳ đã rút khỏi Đại hội về nước
Ngày 17-6-1929, tại Nhà số 312 Khâm Thiên, Hà Nội, đại biểu các tổ chức cơ sở cộng sản ở miền Bắc họp Đại hội, quyết định thành lập Đông Dương cộng sản Đảng, thông qua Tuyên ngôn, Điều lệ, quyết định xuất bản báo Búa liềm và cử ra Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Trong tuyên ngôn, Đông Dương Cộng sản Đảng nêu rõ: Thời kỳ đầu tiên của cách mạng ở Đông Dương là tư sản dân chủ cách mạng, giai cấp vô sản “thực hành công nông liên hiệp” để đánh đuổi đế quốc Pháp và lật đổ phong kiến địa chủ,
Tuy hai tổ chức cộng sản trên hoạt động riêng rẽ, thậm chí công kích lẫn nhau, song sự ra đời của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đến sự xuất hiện các tổ chức cộng sản là một xu thế phát triển khách quan của phong trào cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ
Cùng với sự phân hoá trong Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Tân Việt cách mạng Đảng ở miền Trung cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ Tiền thân của Tân Việt là Hội phục Việt (1925) đổi thành Hội Hưng Nam (1926), Việt Nam Cách mạng Đảng (7-1926), Việt Nam Cách mạng đồng chí Hội (7-1927), rồi Tân Việt Cách mạng Đảng (7-1928) Tân Việt ra đời và hoạt động trong điều kiện Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ngày càng phát triển, lý luận Mác - Lênin và tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc có ảnh
Trang 31hưởng mạnh mẽ đến Tân Việt, cuốn hút nhiều đảng viên tiên tiến đi theo Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Trong nội bộ Tân Việt đã diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng tư tưởng cách mạng và cải lương Cuối cùng xu hướng cách mạng theo quan điểm vô sản chiếm ưu thế Một số đảng viên tiên tiến của Tân Việt đã ngả sang Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Số tiên tiến còn lại chuẩn bị tiến tới thành lập một chính đảng kiểu mới theo chủ nghĩa Mác - Lênin Tháng 9-1929, từ các chi bộ cộng sản, họ công bố chính thức lập
ra Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn Mục tiêu của đảng là đấu tranh giành độc lập hoàn toàn cho xứ Đông Dương, xoá bỏ nạn người bóc lột người, xây dựng chế độ công nông chuyên chính, tiến lên chế độ cộng sản chủ nghĩa Theo kế hoạch, Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn sẽ họp đại hội chính thức vào 1-1-1930, song trên đường đến địa điểm đại hội, các đại biểu đã bị địch bắt, nhưng Đảng vẫn tích cực hoạt động
Cuối năm 1929, đầu năm 1930, ở Việt Nam có ba tổ chức cộng sản lần lượt ra đời, điều đó chứng tỏ xu thế thành lập đảng cộng sản đã trở thành tất yếu của phong trào dân tộc ở Việt Nam Các tổ chức cộng sản trên đã nhanh chóng xây dựng cơ sở ở nhiều địa phương trong cả nước và trực tiếp tổ chức, lãnh đạo cuộc đấu tranh của quần chúng Phong trào công nhân kết hợp chặt chẽ với phong trào đấu tranh của nông dân chống sưu cao, thuế nặng, chống cướp ruộng đất và phong trào bãi khoá của học sinh, bãi thị của tiểu thương, tạo thành một làn sóng đấu tranh cách mạng dân tộc, dân chủ khắp cả nước Mặt khác, những người cộng sản của ba tổ chức này đã đánh giá nhau không đúng và chưa nhận thức được hiện tượng phân tán và chia rẽ về tổ chức của phong trào cộng sản sẽ dẫn đến những nguy cơ gây bất lợi cho phong trào cách mạng Vì vậy, khắc phục sự phân tán và chia rẽ về tổ chức đó là nhiệm vụ cấp bách trước mắt của tất cả những người cộng sản, cũng là đòi hỏi khẩn thiết của cách mạng nước ta lúc bấy giờ
3.2 Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhận được tin ở Đông Dương có nhiều tổ chức cộng sản, ngày
27-10-1929, Quốc tế Cộng sản đã gửi chỉ thị cho các nhóm cộng sản Việt Nam, nói rõ
ở Việt Nam cần có một Đảng Cộng sản duy nhất Nhận được chỉ thị của Quốc
tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc rời Xiêm về Hương Cảng (Trung Quốc) Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn
đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương, Người chủ động tập
Trang 32trung các đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng bàn việc hợp nhất
Từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng họp ở bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, với sự tham gia của hai đại biểu Đông Dương Cộng sản Đảng, hai đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng và hai đại biểu ngoài nước
Hội nghị hoàn toàn nhất trí, tán thành việc hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều
lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo Đó là Cương lĩnh và Điều
lệ đầu tiên của Đảng Nội dung chủ yếu của các văn kiện trên là:
Xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là “ làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Xác định những nhiệm vụ cụ thể của cách mạng:
Về chính trị: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập, dựng ra chính phủ công nông binh và tổ chức quân đội công nông
Về kinh tế: tịch thu toàn bộ các sản nghiệp lớn của bọn đế quốc giao cho Chính phủ công nông binh; mở mang công nghiệp và nông nghiệp, miễn thuế cho dân cày nghèo…
Về văn hoá xã hội: dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục theo hướng công nông hoá
Những nội dung trên đây bao gồm cả hai nội dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và chống phong kiến, song nổi lên hàng đầu là nhiệm vụ chống
đế quốc giành độc lập dân tộc
Về lực lượng cách mạng, Đảng chủ trương tập hợp đại bộ phận giai cấp công nhân, nông dân và phải dựa vào hạng dân cày nghèo, lãnh đạo nông dân làm cách mạng ruộng đất; lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông… đi vào phe
vô sản giai cấp; đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (như Đảng lập hiến) thì phải đánh đổ “Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thoả hiệp”1
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng ,Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 tr.4
Trang 33Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới nhất là với quần chúng vô sản Pháp
Lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản
“Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”1
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới, đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử, nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp và dân tộc
Hội nghị cũng vạch ra kế hoạch hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước
và thành lập Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Nhân dịp thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc viết lời kêu gọi công nhân, nông dân, binh lính, học sinh, anh chị em bị áp bức bóc lột hãy gia nhập Đảng, đi theo Đảng để đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến An Nam và tư sản phản cách mạng “làm cho nước An Nam được độc lập”2
Sau Hội nghị hợp nhất, ngày 8-2-1930 các đại biểu về nước thực hiện kế hoạch hợp nhất các cơ sở Đảng ở trong nước Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng được thành lập, gồm 7 uỷ viên Tiếp đến các xứ uỷ cũng được thành lập
Ngày 24-2-1930, theo yêu cầu của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời họp và ra “QUYẾT NGHỊ CHẤP NHẬN ĐÔNG DƯƠNG CỘNG SẢN LIÊN ĐOÀN GIA NHẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM”3
Nhờ sự thống nhất về tổ chức và cương lĩnh chính trị đúng đắn, ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã quy tụ được lực lượng và sức mạnh của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam Đó là một đặc điểm và đồng thời là một ưu điểm của Đảng, làm cho Đảng trở thành lực lượng lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam, sớm được nhân dân thừa nhận là đội tiền phong của mình Đây là nền móng đầu tiên tạo nên truyền thống đoàn kết của Đảng và dân tộc
từ đó về sau
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998,tr.5
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, NXb Chính trị quốc gia, Hà Nội,2002, tr.10
3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 1998, tr.26
Trang 344 Ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm
4.1.Ý nghĩa sự kiện Đảng ra đời
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam trong thời đại mới
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước ta, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu sự trưởng thành của giai cấp công nhân, đưa giai cấp công nhân từ tự phát lên tự giác và đủ sức lãnh đạo cách mạng
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là điều kiện cơ bản, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam từ đó về sau Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới Từ đây, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam tham gia một cách tự giác vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới
Đánh giá về sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, sau này chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“ Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành
và đủ sức lãnh đạo cách mạng”1
4.2 Kinh nghiệm của quá trình vận động thành lập Đảng
- Độc lập tự chủ, sáng tạo, tự lực, tự cường, tổng kết thực tiễn, kết hợp
tinh hoa của nhân loại với tinh hoa của dân tộc là những yếu tố giúp Nguyễn
Ái Quốc tìm được con đường cứu nước đúng đắn, đặt tiền lệ cho truyền thống độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng về sau
- Nguyễn Ái Quốc và những người cộng sản tiền bối có phương pháp
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin đúng đắn, sáng tạo vào cả phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam
- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa
Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam
- Đảng Cộng sản Việt Nam sớm xác định được đường lối cách mạng đúng
là nhân tố hàng đầu đảm bảo thắng lợi của cách mạng Việt Nam
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2000, tr.8
Trang 35- Sự đoàn kết thống nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết
định sự đoàn kết thống nhất phong trào cách mạng cả nước
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước ở Việt Nam cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng đó ?
2 Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt
Trang 361.1 Cao trào cách mạng 1930 - 1931 với đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh
a) Nguyên nhân bùng nổ cao trào cách mạng 1930 - 1931
Cuộc khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản và sự lớn mạnh không ngừng của Liên bang Xô viết, đã có tác động lớn đến phong trào cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam
Ở Đông Dương, thực dân Pháp tăng cường đàn áp, bóc lột vơ vét, làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng thêm gay gắt
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời có đường lối đúng, có tổ chức rộng rãi là nguyên nhân quyết định bùng nổ cao trào cách mạng
Nhân dịp thành lập Đảng, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã ra lời kêu gọi nhân dân cả nước đứng lên đi theo Đảng làm cách mạng, chống đế quốc và tay sai Cùng với sự chỉ đạo cách mạng đúng đắn của Đảng, lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã nhanh chóng đi vào quần chúng, làm dấy lên một làn sóng đấu tranh dân tộc, dân chủ mạnh mẽ khắp cả nước
b) Sự phát triển của cao trào cách mạng, đỉnh cao là Xôviết Nghệ Tĩnh
Phong trào cách mạng được mở đầu bằng những cuộc đấu tranh của công nhân, có tổ chức, lãnh đạo chặt chẽ và đã giành được thắng lợi bước đầu quan trọng Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền Phú Riềng, nhà máy sợi Nam Định, nhà máy diêm Bến Thuỷ - Vinh Những cuộc đấu tranh này như
"phát pháo hiệu" báo rằng cao trào cách mạng ở Việt Nam đã nổ ra và chứng
tỏ giai cấp công nhân Việt Nam xứng đáng là đội ngũ tiên phong của cách mạng Việt Nam
Nhân ngày kỷ niệm Quốc tế lao động 1-5-1930 và ngày 1-8-1930, Đảng
mở cuộc vận động, đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, ủng hộ Liên Xô Thực hiện chủ trương đó, từ tháng 5-1930 trở đi, các cuộc đấu tranh của quần
Trang 37chúng đã phát triển thành cao trào rộng lớn trong phạm vi cả nước Hầu hết các cuộc đấu tranh đã giành được thắng lợi
Tháng 9-1930, phong trào phát triển lên đỉnh cao ở hai tỉnh Nghệ An và
Hà Tĩnh Hưởng ứng các cuộc đấu tranh của công nhân Bến Thuỷ (Vinh), các cuộc biểu tình khổng lồ có vũ trang của nông dân với hàng nghìn người kéo lên huyện lỵ, tiến vào huyện đường, đốt trụ sở, đốt hồ sơ, phá nhà tù, thả tù chính trị Khi bộ máy thống trị của địch ở cơ sở tan rã, các ban chấp hành nông hội do các chi bộ Đảng lãnh đạo, đã đứng ra quản lý mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ở nông thôn, làm nhiệm vụ lịch sử của chính quyền nhân dân theo kiểu chính quyền Xôviết Chính quyền đã chia ruộng đất, chia thóc tịch thu được của bọn địa chủ phong kiến cho dân nghèo, tổ chức đội tự vệ, tổ chức đời sống mới Từ tháng 9-1930 đến đầu năm 1931, chính quyền cấp xã thuộc các huyện: Thanh Chương, Nam Đàn, Can Lộc, Đức Thọ, Thạch Hà và một phần của huyện Anh Sơn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Diễn Châu, Nghi Xuân, Hương Khê đã ra đời Xôviết Nghệ Tĩnh ra đời là kết quả của cao trào đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, chống lại chính quyền của bọn đế quốc phong kiến Với thắng lợi đó, một đội quân chính trị quần chúng hùng hậu đã hình thành
Hoảng sợ trước sức mạnh của "Nghệ Tĩnh đỏ", thực dân Pháp điên cuồng khủng bố phong trào cách mạng, đồng thời lừa bịp xảo quyệt, mở chiến dịch chiêu hàng, phát "thẻ quy thuận" nhằm đánh vào tâm lý mệt mỏi của một bộ phận quần chúng, cô lập đảng viên cộng sản làm cho phong trào cách mạng chịu những tổn thất nặng nề
Khi được tin chính quyền Xôviết xuất hiện, Trung ương Đảng nhận định thời cơ giành chính quyền trong cả nước chưa có và dự đoán các Xôviết sẽ không tồn tại được lâu dài Tháng 9-1930, Trung ương Đảng chỉ thị cho Xứ uỷ Trung Kỳ chuyển hướng hoạt động, tìm mọi cách chống khủng bố, duy trì phong trào, giữ vững ảnh hưởng, bảo vệ lực lượng của Đảng và nông hội Hưởng ứng chủ trương của Đảng, nhiều địa phương trong cả nước sôi nổi đấu tranh bằng nhiều hình thức và ủng hộ Xôviết Nghệ Tĩnh Tuy nhiên, phong trào đấu tranh, chưa đủ mạnh, chưa đều khắp, do đó đế quốc Pháp và tay sai đã tập trung lực lượng khủng bố gây cho cách mạng nhiều tổn thất nặng nề
Trang 381.2.Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất (10-1930)
và Luận cương chính trị của Đảng
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất họp từ ngày 14 đến ngày 30-10-1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc) do đồng chí Trần Phú chủ trì
Hội nghị thảo luận và thông qua Luận cương chính trị do đồng chí Trần Phú khởi thảo, thông qua Nghị quyết về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, thông qua Nghị quyết về các mặt công tác: Công hội, nông hội, thanh niên, phụ nữ, binh vận, phản đế…, thông qua Điều lệ Đảng và điều lệ các tổ chức quần chúng
Thực hiện chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Hội nghị đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương Hội nghị cử ra Ban Chấp hành Trung ương chính thức và cử đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư
Nội dung cơ bản của Luận cương chính trị tháng 10 - 1930
Cách mạng Đông Dương là cách mạng tư sản dân quyền do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa
Cách mạng tư sản dân quyền có hai nhiệm vụ chiến lược chống đế quốc
và chống phong kiến để giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày Hai nhiệm vụ ấy phải tiến hành khăng khít không thể tách rời nhau
Động lực chính của cách mạng tư sản dân quyền là công nhân và nông dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo
Con đường giành thắng lợi của cách mạng tư sản dân quyền là bằng khởi nghĩa vũ trang của quần chúng Khi chưa có tình thế cách mạng, phải đặt ra khẩu hiệu "phần ít" như: tăng lương, giảm giờ làm, giảm thuế, chống thuế… Qua cuộc đấu tranh hàng ngày, giáo dục quần chúng ý thức đấu tranh đánh đổ
đế quốc, phong kiến, giành độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày Khi có tình thế cách mạng, phải chuyển sang các khẩu hiệu cao hơn: Lập Xôviết, vũ trang công nông, vũ trang thị uy, tổng bãi công bạo động Luận cương nhấn mạnh: Vũ trang khởi nghĩa giành chính quyền "không phải là một việc thường", mà là một nghệ thuật "phải theo khuôn phép nhà binh"
Trang 39Cách mạng Đông Dương và cách mạng thế giới có liên hệ chặt chẽ với nhau, giai cấp vô sản Đông Dương phải liên lạc mật thiết với giai cấp vô sản trên thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng Đảng phải có đường lối chính trị đúng, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng và từng trải tranh đấu mà trưởng thành Đảng là đội tiền phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng Những nội dung cơ bản của Luận cương chính trị đã khẳng định lại nhiều vấn đề cơ bản thuộc về chiến lược của cách mạng nước ta Có những nội dung
đã đề cập sâu sắc hơn so với "Chính cương vắn tắt", "Sách lược vắn tắt" như: Tính chất của cuộc cách mạng; phương pháp tiến hành trong cách mạng tư sản dân quyền; nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản
Tuy nhiên, Luận cương vẫn còn những hạn chế nhất định: Chưa xác định được mâu thuẫn chủ yếu của một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, do đó chưa nêu được nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của cách mạng; chưa đề ra được chiến lược liên minh dân tộc, giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc
và tay sai Luận cương đánh giá không đúng mức vai trò cách mạng của giai cấp tiểu tư sản, phủ nhận mặt tích cực của giai cấp tư sản dân tộc, không đề ra được sách lược phân hoá và lôi kéo một bộ phận giai cấp địa chủ vào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
Nguyên nhân hạn chế của Luận cương chính trị là do một số đồng chí lãng đạo Đảng chưa từng trải, chưa nắm vững tình hình thực tế, đặc điểm, truyền thống dân tộc, vận dụng máy móc, kinh nghiệm nước ngoài, bị ảnh hưởng khuynh hướng "tả" của Quốc tế Cộng sản và một số Đảng Cộng sản trong thời gian đó Thực tiễn trên thế giới lúc bấy giờ giai cấp tư sản đã trở thành giai cấp phản động và cũng chưa có sự liên minh nào giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản dân tộc được thành công Ở Việt Nam trong những năm 1930-1931, mặt tích cực của giai cấp tiểu tư sản và tư sản dân tộc cũng chưa được bộc lộ rõ
Cao trào cách mạng 1930 - 1931, với đỉnh cao Xôviết Nghệ Tĩnh, đã giành được thắng lợi rất quan trọng có ý nghĩa lịch sử to lớn:
Trang 40Cao trào cách mạng khẳng định đường lối cách mạng do Đảng đề ra là đúng đắn, khẳng định vai trò năng lực lãnh đạo của giai cấp công nhân trong thực tiễn
Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, cao trào cách mạng đã tạo lập được khối liên minh công nông, lực lượng đông đảo nhất của dân tộc, đạo quân chủ lực quyết định thắng lợi của cách mạng sau này
Thông qua phong trào cách mạng, Đảng và quần chúng nhân dân được tôi luyện và trưởng thành, làm cho cách mạng Việt Nam có tiếng vang lớn trong phong trào giải phóng dân tộc
Cao trào cách mạng 1930 - 1931 và Xôviết Nghệ Tĩnh đã để lại cho Đảng
ta một số kinh nghiệm bước đầu:
- Trong mỗi thời kỳ cách mạng, phải biết căn cứ vào thực tế tình hình thế giới và trong nước, lực lượng so sánh giữa cách mạng và phản cách mạng mà xác định mục tiêu cụ thể, trước mắt của phong trào cách mạng
- Khi chưa có tình thế cách mạng trực tiếp, phải biết sử dụng những hình thức và phương pháp cách mạng thích hợp để vận động nhân dân đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh, chứ không phải là lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền
- Công tác xây dựng Đảng trong điều kiện một nước thuộc địa nửa phong kiến phải luôn chú trọng giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng
2 Cuộc đấu tranh phục hồi hệ thống tổ chức Đảng, phát triển phong trào cách mạng và Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng (1932 - 1935)
2.1 Tình hình đất nước sau cao trào cách mạng 1930 - 1931
Đế quốc Pháp và tay sai dùng mọi hành động khủng bố dã man phong trào cách mạng Chúng tăng cường hàng vạn quân kết hợp với đưa bọn tay sai gian ác về kìm kẹp các địa phương trọng điểm, tiến hành đàn áp triệt hạ làng mạc, bắt bớ, tù đày tràn lan Hàng chục vạn chiến sĩ cộng sản và quần chúng yêu nước bị bắt và giết hại Một bầu không khí “chống cộng” bao trùm lên toàn Đông Dương Đi đôi với việc đàn áp, khủng bố, đế quốc Pháp còn dùng mọi thủ đoạn mị dân, lừa bịp, chia rẽ, hòng làm nhụt ý chí cách mạng của quần chúng