Phần 1 của giáo trình Kinh tế học chính trị Mác - Lênin (Tập 1) tiếp tục trình bày những nội dung về: tư bản thương nghiệp và lợi nhuận thương nghiệp; tư bản cho vay và lợi tức cho vay; tư bản kinh doanh nông nghiệp và địa tô tư bản chủ nghĩa; tái sản xuất tư bản xã hội và khủng hoảng kinh tế; những đặc điểm kinh tế cơ bản và địa vị lịch sử của chủ nghĩa tư bản độc quyền;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Chương 7
TƯ BẢN THƯƠNG NGHIỆP VÀ LỢI NHUẬN THƯƠNG NGHIỆP
1 Tư bản thương nghiệp, nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận thương nghiệp
1.1 Tư bản thương nghiệp
a Nguồn gốc của tư bản thương nghiệp
Tư bản thương nghiệp là tư bản hoạt động trong lĩnh vực lưu thông nhằm mục đích thực hiện giá trị hàng hóa và thu lợi nhuận Điều kiện ra đời, tồn tại của nó là có sản xuất hàng hoá và có lưu thông tiền tệ
Xét về mặt lịch sử, tầng lớp thương nhân (tư bản thương nhân) ra đời trước chủ nghĩa tư bản Thời cổ đại và trung cổ, tầng lớp thương nhân hoạt động có đặc điểm là tách rời quá trình sản xuất và chủ yếu dựa trên cơ sở “mua
rẻ bán đắt” C.Mác đã viết: “Chừng nào tư bản thương nhân còn đóng vai trò trung gian trong việc trao đổi sản phẩm giữa các cộng đồng chưa phát triển, thì lợi nhuận thương nghiệp không chỉ là kết quả của việc ăn cắp và lừa đảo, mà phần lớn chính là do những việc ăn cắp và lừa đảo đó mà ra”.1
Thực tế lịch sử cho thấy, tư bản thương nghiệp góp phần thúc đẩy quá trình tan rã của chế độ phong kiến và thúc đẩy quá trình ra đời, phát triển của chủ nghĩa tư bản
b Tư bản thương nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản
Dưới chủ nghĩa tư bản, tư bản thương nghiệp là một bộ phận của tư bản công nghiệp, hoạt động chuyên biệt trong lĩnh vực lưu thông, phục vụ cho quá trình vận động của tư bản công nghiệp
Tư bản thương nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản là một bộ phận của tư bản công nghiệp có nhiệm vụ chuyển hoá tư bản hàng hoá thành tiền tệ
Trao đổi, lưu thông hàng hoá trước đây do người sản xuất trực tiếp đảm nhiệm, nay tách ra thành một chức năng chuyên môn của một loại tư bản riêng
và trở thành lĩnh vực đầu tư riêng biệt để phục vụ cho chức năng của tư bản công nghiệp trong lĩnh vực lưu thông
1C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 25 phần I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr 504
Trang 2Là bộ phận tư bản công nghiệp tách rời ra, tư bản thương nghiệp vừa phụ thuộc vào tư bản công nghiệp, vừa có tính độc lập tương đối Sự phụ thuộc của
tư bản thương nghiệp vào tư bản công nghiệp là do tư bản thương nghiệp chỉ là
bộ phận của tư bản công nghiệp tách ra, làm nhiệm vụ lưu thông hàng hoá, nên
số lượng, chất lượng và chủng loại hàng hoá đem lưu thông là do tốc độ và quy
mô sản xuất của tư bản công nghiệp quyết định Tính độc lập tương đối của tư bản thương nghiệp biểu hiện ở chỗ, khi có hàng hoá trong tay, bán ở đâu, cho
ai, bằng phương thức nào và giá bao nhiêu do tư bản thương nghiệp toàn quyền quyết định
Mối quan hệ giữa tư bản thương nghiệp và nhà tư bản công nghiệp được biểu hiện thông qua việc sản xuất và lưu thông hàng hoá Công thức vận động của tư bản kinh doanh hàng hoá là T - H - T’ (mua để bán), nhằm mục đích thu lợi nhuận, gồm hai giai đoạn: T - H (mua) và H - T’ (bán)
Trong giai đoạn mua, mục đích của các nhà tư bản công nghiệp và tư bản thương nghiệp khác nhau, nhưng có điểm chung là đều đưa tư bản tiền tệ vào lưu thông Với tư bản công nghiệp, biến tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất; với tư bản thương nghiệp, biến tư bản tiền tệ thành tư bản hàng hoá Mối quan
hệ này thể hiện khi tư bản công nghiệp bán hàng hoá cho tư bản thương nghiệp
là giai đoạn chuyển hàng hoá thành tiền Nhưng với hàng hoá, lúc này vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông, mới chỉ được chuyển sở hữu của tư bản công nghiệp sang sở hữu của tư bản thương nghiệp, nó còn cần phải được chuyển hoá thành
tư bản tiền tệ
Trong giai đoạn bán, tư bản hàng hoá mới thật sự chuyển thành tư bản tiền
tệ, mới được rút khỏi lĩnh vực lưu thông để đi vào lĩnh vực tiêu dùng Khi giai đoạn này kết thúc, sự vận động của tư bản kinh doanh hàng hoá theo công thức
T - H - T’ cũng hoàn thành Điều đó chứng tỏ: “Tư bản thương nhân chỉ là tư bản đang hoạt động trong lĩnh vực lưu thông Quá trình lưu thông là một giai đoạn của toàn bộ quá trình tái sản xuất Nhưng trong quá trình lưu thông thì không có một giá trị nào, do đó cũng không có một giá trị thặng dư nào được sản xuất ra cả Trong quá trình lưu thông chỉ có những thay đổi hình thái của cùng một khối lượng giá trị mà thôi”.1
1 C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tập 25, phần I, trang 425
Trang 3Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, tư bản thương nghiệp có tác dụng:
- Nhờ có tư bản thương nghiệp chuyên trách việc lưu thông hàng hóa, lượng tư bản ứng vào lưu thông và chi phí lưu thông sẽ nhỏ hơn là khi những người sản xuất trực tiếp đảm nhiệm chức năng này Một tư bản thương nghiệp
có thể phục vụ sự chu chuyển của một số tư bản trong cùng một lĩnh vực sản xuất hay trong lĩnh vực sản xuất khác nhau, làm giảm chi phí cho tư bản sản xuất, từ đó lợi nhuận của tư bản sản xuất và lợi nhuận của tư bản thương nghiệp đều tăng
- Có tư bản thương nghiệp chuyên trách việc liên thông hàng hóa nên
người sản xuất có thể tập trung thời gian chăm lo việc sản xuất, giảm dự trữ sản xuất, nhờ đó nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng lợi nhuận
- Tư bản thương nghiệp chuyên đảm nhiệm chức năng lưu thông nên nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng, góp phần hoàn thiện sản phẩm tạo điều kiện cho tư bản sản xuất phát triển Hơn nữa, có tư bản thương nghiệp chuyên trách việc lưu thông hàng hóa làm cho tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông rút ngắn lại, tăng nhanh chu chuyển tư bản, nhờ đó tăng tỷ suất và khối lượng lợi nhuận
Nhìn chung, tư bản thương nghiệp đã làm cho quá trình sản xuất gắn chặt với quá trình lưu thông, lưu thông chỉ là một giai đoạn quá độ của sản xuất, chỉ đơn thuần là thực hiện giá trị của sản phẩm và thay thế các yếu tố của sản xuất
đã được sản xuất ra với tư cách là hàng hoá Việc tách chức năng lưu thông hàng hoá thành một chức năng riêng biệt do tư bản thương nghiệp đảm nhận vừa là một tất yếu kinh tế, vừa đem lại lợi ích cho cả tái sản xuất công nghiệp
và tư bản thương nghiệp, cũng như toàn xã hội
1 2 Nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận thương nghiệp tư bản chủ nghĩa
a Nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp tư bản chủ nghĩa
Theo lý luận giá trị - lao động, lưu thông không tạo ra giá trị, do đó lưu thông cũng không tạo ra giá trị thặng dư Nhưng tư bản thương nghiệp ứng tư bản vào lưu thông cũng phải thu được lợi nhuận theo tỷ suất lợi nhuận bình quân Nếu không đạt được lợi nhuận bình quân, sẽ diễn ra sự dịch chuyển tư bản từ lưu thông sang sản xuất Điều đó có nghĩa là tư bản thương nghiệp cũng tham gia bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận
Trang 4Lợi nhuận thương nghiệp là số chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hoá Nhưng điều đó không có nghĩa là nhà tư bản thương nghiệp bán hàng hoá cao hơn giá trị của nó, mà là nhà tư bản thương nghiệp mua hàng hoá thấp hơn giá trị và khi bán thì họ bán đúng giá trị của hàng hoá
Vì lưu thông không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư, nên nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp chỉ có thể là bộ phận giá trị thặng dư do công nhân trong lĩnh vực sản xuất tạo ra và nhà tư bản công nghiệp nhường lại cho nhà tư bản thương nghiệp, vì đã thay nhà tư bản công nghiệp đảm trách khâu bán hàng
Để làm rõ nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp, có thể nêu ra ví dụ sau (trong ví dụ này giả định không có các loại chi phí lưu thông)
Một nhà tư bản công nghiệp có số tư bản là 800, trong đó chia thành 640c + 160v (
1
4v
c ) Giả sử tỷ suất giá trị thặng dư là 100% và tư bản cố định hao mòn hết trong năm Như vậy, tổng khối lượng giá trị thặng dư là 160 và tổng giá trị sản phẩm xã hội là: 640c + 160v + 160m = 960
Giả định tư bản công nghiệp là một thể thống nhất, chưa xét lưu thông thì
tỷ suất lợi nhuận công nghiệp là: P’CN = (160/800) x 100% = 20%
Muốn thực hiện được giá trị của hàng hóa, phải ứng thêm 200 tư bản Nhưng tư bản công nghiệp cần tập trung vào sản xuất nên nhường việc lưu thông hàng hóa cho tư bản thương nghiệp Khi tư bản thương nghiệp tham gia vào quá trình kinh doanh thì công thức trên đây sẽ thay đổi Giả dụ nhà tư bản thương nghiệp ứng ra 200 tư bản để kinh doanh Như vậy tổng tư bản ứng ra sẽ là: 800 + 200 = 1000, và tỷ suất lợi nhuận bình quân giảm xuống còn: [160/(800 + 200)] x 100% = 16%
Theo tỷ suất lợi nhuận chung, nhà tư bản công nghiệp chỉ thu được số lợi nhuận bằng 16% của số tư bản ứng ra (tức là 16% của 800 tư bản ứng ra bằng 128) và tư bản công nghiệp sẽ bán hàng hoá cho tư bản thương nghiệp theo giá
800 + 128 = 928
Nhà tư bản thương nghiệp bán hàng hoá cho người tiêu dùng đúng giá trị của hàng hoá là 960 và thu lợi nhuận là 32 (bằng 16% số tư bản thương nghiệp ứng ra) Như vậy, lợi nhuận thương nghiệp có được là do giá bán của thương nhân cao hơn giá mua, nhưng không phải vì giá bán cao hơn giá trị mà là giá mua thấp hơn giá trị hàng hoá Vì vậy, lợi nhuận thương nghiệp là hình thức
Trang 5biến tướng của giá trị thặng dư Nguồn gốc của nó cũng là một bộ phận lao động không được trả công của công nhân làm thuê trong lĩnh vực sản xuất
Ví dụ minh hoạ về nguồn gốc của lợi nhuận thương nghiệp nêu trên chỉ đúng với giả định là không có chi phí lưu thông Thực tế kinh doanh thương nghiệp, thương nhân phải ứng tư bản cho cả chi phí lưu thông (ở đây chỉ đề cập đến chi phí lưu thông thuần tuý) Giả định chi phí lưu thông thuần tuý là 50; như vậy, ngoài 800 tư bản công nghiệp 200 tư bản thương nghiệp ứng ra mua hàng, còn thêm 50 tư bản chi phí lưu thông thuần tuý Vậy, tổng cộng tư bản ứng ra là 1050 Tỷ suất lợi nhuận chung sẽ giảm xuống còn là:
(160/1050) x 100% 15,24%, chứ không phải là 16% nữa
Vì vậy, lợi nhuận của tư bản công nghiệp chỉ bằng: 15,24% của 800 tư bản ứng ra, bằng: 121,92 chứ không phải là 128 nữa, nên giá bán của tư bản công nghiệp chỉ còn là 921,92 Tương tự, tư bản thương nghiệp sẽ thu lợi nhuận bằng 15,24% của 250 tư bản ứng ra, bằng 38,08 chứ không phải là 32 Còn giá bán hàng hoá của thương nhân không phải là 960 mà là 1010, vì còn phải cộng
cả chi phí lưu thông thuần tuý vào
b Bản chất của lợi nhuận thương nghiệp tư bản chủ nghĩa
Để tiến hành kinh doanh, các nhà tư bản thương nghiệp cũng phải mua hàng hoá sức lao động - phải thuê nhân viên Những nhân viên thương nghiệp cũng là người lao động làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản thương nghiệp, nên họ cũng bị bóc lột giống như những người lao động làm thuê khác trong chủ nghĩa tư bản Giá trị hàng hoá sức lao động của họ cũng do giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết cho họ và gia đình họ quyết định Giá cả hàng hoá sức lao động của họ cũng là tiền công do nhà tư bản thương nghiệp trả Thời gian lao động của những người làm thuê trong lĩnh vực thương nghiệp cũng chia làm hai phần thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư
Thời gian lao động tất yếu là thời gian nhân viên bán được lượng hàng hoá
mà lợi nhuận thu được từ việc bán hàng đó ngang bằng với tiền công nhà tư bản thương nghiệp trả cho họ Thời gian lao động thặng dư là thời gian nhân viên bán hàng không công cho nhà tư bản
Nhưng ở đây có sự khác nhau giữa những người công nhân thương nghiệp với công nhân công nghiệp làm thuê Do lao động của công nhân thương nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lưu thông, nên lao động của họ không trực tiếp
Trang 6tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản thương nghiệp mà chỉ tạo ra một cách gián tiếp, nghĩa là tạo điều kiện cho tư bản thương nghiệp chiếm đoạt một phần giá trị thặng dư trong tổng giá trị thặng dư của xã hội dưới hình thức lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho Cụ thể, trong thời gian ngày lao động, những công nhân làm thuê cho tư bản thương nghiệp bán được một số hàng hoá, thực hiện được một số giá trị trong đó có một bộ phận giá trị thặng dư ngang với lợi nhuận của tư bản thương nghiệp (lợi nhuận này bằng lợi nhuận bình quân) Bản chất của lợi nhuận thương nghiệp tư bản chủ nghĩa không chỉ là kết quả của sự bóc lột giá trị thặng dư của người lao động trong sản xuất, mà còn là kết quả của sự bóc lột lao động thặng dư của những người lao động thương nghiệp thuần tuý Lao động không được trả công của công nhân thương nghiệp càng lớn, là điều kiện để tư bản thương nghiệp càng có thể sử dụng được nhiều
tư bản trong việc mua bán hàng hoá và do đó càng thu được nhiều lợi nhuận Theo C.Mác: “Giống như lao động không công của công nhân trực tiếp sáng tạo ra giá trị thặng dư cho tư bản sản xuất, lao động không công của công nhân làm thuê trong thương nghiệp cũng làm cho tư bản thương nhân được dự chia một phần giá trị thặng dư đó”1
2 Chi phí lưu thông tư bản chủ nghĩa và các hình thức lưu thông hàng hoá dưới chủ nghĩa tư bản
2.1 Chi phí lưu thông tư bản chủ nghĩa
Những chi phí trong lĩnh vực lưu thông gọi là chi phí lưu thông Tư bản thương nghiệp không chỉ ứng tư bản mua hàng hoá, mà còn phải ứng ra một số
tư bản cho chi phí lưu thông Có hai loại chi phí lưu thông là chi phí tiếp tục quá trình sản xuất trong lưu thông và chi phí lưu thông thuần tuý
a Chi phí tiếp tục quá trình sản xuất trong lưu thông
Chi phí tiếp tục quá trình sản xuất trong lưu thông là những loại chi phí liên quan tới việc bảo vệ và di chuyển giá trị sử dụng hàng hoá làm cho giá trị sử dụng của hàng hoá đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của xã hội Ví
dụ như chi phí về bảo quản, phân loại, đóng gói bao bì, tái chế và vận chuyển hàng hoá…
Chi phí này được gọi là chi phí lưu thông bổ sung, là chi phí mang tính chất sản xuất giống như các hoạt động sản xuất khác Lao động hao phí cho các
1 C.Mác và Ph.Ăng ghen, Toàn tập, tập 25, phần I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.446
Trang 7hoạt động nói trên cũng tạo ra giá trị và giá trị thặng dư và được nhập vào giá trị của hàng hoá
Mặc dù vậy, cũng giống như sự hình thành giá trị hàng hoá nói chung, xã hội chỉ thừa nhận chi phí tiếp tục quá trình sản xuất trong lưu thông trung bình, hợp lý Còn những chi phí quá mức, có khi xa xỉ … sẽ làm tăng những hư phí
và tăng giá bán hàng hoá thì xã hội không thừa nhận
Nghiên cứu chi phí tiếp tục quá trình sản xuất trong lưu thông nhằm thấy
rõ mối quan hệ giữa tư bản thương nghiệp và công nhân lao động thương nghiệp làm thuê Đó là mối quan hệ giữa bóc lột và bị bóc lột Bởi lẽ, lao động của công nhân thương nghiệp cũng là lao động sản xuất, cũng tạo ra giá trị và giá trị thặng dư cho nhà tư bản thương nghiệp Họ cũng bị bóc lột như công
nhân công nghiệp
b Chi phí lưu thông thuần tuý
Chi phí lưu thông thuần tuý là những chi phí trực tiếp gắn với việc thực hiện giá trị của hàng hoá Đó là những chi phí làm chuyển tư bản từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền hoặc từ tiền sang hàng hoá Chi phí lưu thông thuần túy không liên quan gì tới giá trị sử dụng của hàng hoá; như chi phí để xây cửa hàng cửa hiệu, đặt đại lý, giao dịch thư tín, sổ sách kế toán, quảng cáo, tiền lương cho nhân viên thương nghiệp v.v
Loại chi phí này có đặc điểm là chúng không có tác động trực tiếp đến giá trị sử dụng của hàng hoá, cho nên chúng không tạo thêm cho hàng hoá một chút giá trị nào Chúng được bù lại bằng một phần của tổng số giá trị thặng dư
do lao động của công nhân trong sản xuất tạo ra Vì vậy, dưới góc độ hàng hoá hiện vật, những chi phí lưu thông thuần tuý được coi là những hư phí, không những không tạo ra sản phẩm thặng dư và giá trị thặng dư, mà còn khấu trừ vào sản phẩm thặng dư, làm cho giá trị thặng dư giảm xuống
Chi phí lưu thông thuần tuý dưới góc độ hàng hoá vô hình (những dịch vụ), trong đó có dịch vụ thương nghiệp Để có hàng hoá vô hình này, xã hội cũng phải hao phí lao động quá khứ và lao động sống; hơn nữa, hàng hoá vô hình này cũng được trao đổi lấy hàng hoá hiện vật và các hàng hoá vô hình (tức dịch vụ) khác
Làm rõ vấn đề này, vẫn lấy thí dụ đã nêu trên và đứng trên góc độ hàng hoá hiện vật để phân tích Để sản xuất và lưu thông hàng hoá, các nhà tư bản
Trang 8công nghiệp phải ứng ra 640c + 160v, cộng lại bằng 800, còn các nhà tư bản thương nghiệp phải ứng ra 200 để mua hàng hoá và 50 cho chi phí lưu thông thuần tuý Khoản tư bản ứng ra 200 để mua hàng hoá ở dưới dạng tiền tạm ứng
và khi bán xong lại thu về Nếu tư bản thương nghiệp mua chịu và chỉ thanh toán cho tư bản công nghiệp sau khi bán xong hàng hoá thì không cần khoản tạm ứng 200 này, bởi vậy khi xét hàng hoá hiện vật có thể tạm gạt khoản 200 này ra ngoài sự tính toán giá trị của hàng hoá Còn khoản tư bản 50 cho chi phí lưu thông trên danh nghĩa cũng do tư bản thương nghiệp ứng ra dưới hình thái tiền, nhưng nó phải chuyển thành hiện vật như cửa hàng, quầy hàng, giao dịch thư tín, sổ sách kế toán, quảng cáo … và tư liệu sinh hoạt cho công nhân làm thuê cho tư bản thương nghiệp Nếu theo cấu tạo hữu cơ 4/1, thì số tư bản đó sẽ chia thành 40 (c) và 10 (v) Trên thực tế, các nhà tư bản công nghiệp phải là người sản xuất ra hiện vật để dùng làm các yếu tố vật chất cho hoạt động thương nghiệp và sau khi các yếu tố này đã tiêu dùng hết sẽ phải bù đắp lại dưới hình thái hiện vật để tiếp tục quá trình tái sản xuất
Như vậy, tổng tư bản ứng ra dưới hình thái hiện vật gồm 800 của tư bản công nghiệp và 50 của tư bản thương nghiệp, tổng cộng là 850 Nhưng trong quá trình hoạt động, chi phí lưu thông thuần tuý không được chuyển sang hiện vật, vì nó không liên quan gì đến giá trị sử dụng của hàng hoá, do đó không tạo
ra sản phẩm thặng dư và giá trị thặng dư Chỉ có tư bản công nghiệp mang lại
160 giá trị thặng dư Giá trị tổng sản phẩm xã hội sẽ là: 850 + 160 = 1010 Tổng số giá trị 1010 này đều chứa đựng trong giá trị sử dụng dưới hình thái hiện vật Nhưng 50 chi phí lưu thông thuần tuý qua quá trình hoạt động hao mòn mà không chuyển sang hiện vật, nên đến cuối năm tổng giá trị của hàng hoá dưới dạng hiện vật chỉ có 960 Để tái sản xuất giản đơn, người ta lại phải ứng ra dưới hình thái hiện vật 640 (c) + 160 (v) cho lĩnh vực công nghiệp và 40 (c) + 10 (v) cho chi phí lưu thông, nên giá trị thặng dư chỉ còn 110 Với ý nghĩa
đó, C.Mác coi chi phí lưu thông thuần tuý là hư phí, không những không tạo ra sản phẩm thặng dư và giá trị thặng dư, mà còn khấu trừ vào sản phẩm thặng dư, làm cho giá trị thặng dư giảm từ 160 xuống còn 110
Chúng ta không chỉ xét hàng hoá hiện vật mà còn xét cả hàng hoá vô hình, tức dịch vụ thương nghiệp thuần tuý Cũng như các loại dịch vụ khác, sản phẩm của dịch vụ thương nghiệp là hàng hoá vô hình Để có hàng hoá vô hình này, cũng phải hao phí lao động quá khứ và lao động sống Mặt khác, hàng hoá
Trang 9vô hình này cũng được trao đổi lấy hàng hoá hiện vật và các loại hàng hoá vô hình (tức dịch vụ) khác Bởi vậy, nếu thống kê cả hàng hoá hiện vật và hàng hoá vô hình, thì tổng giá trị hàng hoá cả năm đúng là 1010 (trong đó 960 là hàng hoá hiện vật và 50 là dịch vụ thương nghiệp) Những người được hưởng dịch vụ thương nghiệp (nhận được hàng hoá vô hình) phải trả lại vật ngang giá bằng hiện vật hoặc hàng hoá vô hình khác Khi nói tổng giá cả hàng hoá bằng tổng giá trị (theo nghĩa rộng) là phải tính cả hàng hoá hữu hình và vô hình (là 1010), chứ không phải là 960 Vì vậy, bán theo giá 1010 mới là đúng giá trị và
có như vậy, những người hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp mới bù đắp được hao phí lao động của mình Quan điểm của C.Mác về dịch vụ thương nghiệp thuần tuý cho ta cơ sở khoa học để hiểu về các loại dịch vụ không sản xuất và thấy rõ tính khoa học, tính thực tiễn của hệ thống thống kê mới ứng dụng với kinh tế hàng hoá
2.2 Các hình thức lưu thông hàng hoá dưới chủ nghĩa tư bản
Dưới chủ nghĩa tư bản, với nhiệm vụ quan trọng là thực hiện giá trị sản phẩm nhanh chóng trong điều kiện thị trường không ngừng mở rộng và cạnh tranh ác liệt, thương nghiệp trở thành một mắt khâu quan trọng phục vụ cho sản xuất công nghiệp Có hai hình thức thương nghiệp chủ yếu dưới chủ nghĩa tư bản là thương nghiệp bán buôn và thương nghiệp bán lẻ
Thương nghiệp bán buôn gồm hai hình thức là bán buôn công nghiệp và bán buôn thương nghiệp Bán buôn công nghiệp là các nhà tư bản công nghiệp bán buôn hàng hoá cho nhà tư bản thương nghiệp Bán buôn thương nghiệp là các nhà tư bản thương nghiệp bán buôn hàng hoá cho nhau
Thương nghiệp bán lẻ là các nhà tư bản thương nghiệp bán hàng hoá cho người tiêu dùng Các nhà tư bản thương nghiệp không thể tuỳ tiện định ra giá bán hàng hoá Giá bán hàng hoá phụ thuộc vào giá cả sản xuất của hàng hoá và
tỷ suất lợi nhuận trung bình
Hiện nay, ở các nước tư bản phát triển, việc xuất hiện ngày càng nhiều các siêu thị theo hướng tự động hoá, hiện đại, văn minh, cũng như việc mở rộng các hình thức tín dụng tiêu dùng … đều nhằm mục đích thực hiện giá trị của hàng hoá và mang lại lợi nhuận cho các nhà tư bản
Trang 102.3 Chu chuyển của tư bản thương nghiệp
Chu chuyển của tư bản thương nghiệp là quá trình vận động của nó bắt đầu từ khi ứng trước tư bản dưới hình thức tiền tệ cho đến khi tư bản trở về tay nhà tư bản cũng dưới hình thức ấy với giá trị tăng thêm Sự vận động của
tư bản thương nghiệp vẫn theo công thức T-H-T’ Trên thực tế, chu chuyển của tư bản thương nghiệp là sự vận động tách ra của tư bản hàng hoá Bắt đầu bằng thương nhân mua, chuyển tiền của mình thành hàng (T-H), sau đó
là bán lại, chuyển hàng hoá ấy trở lại thành tiền (H-T) và cứ lặp đi lặp lại như thế liên tục
Số vòng chu chuyển của tư bản thương nghiệp trong một năm là số lần mà
sự vận động T-H-T’ lặp đi lặp lại trong năm đó Tốc độ chu chuyển của tư bản thương nghiệp phụ thuộc vào tốc độ và quy mô của quá trình tái sản xuất và tiêu dùng cá nhân
Những yếu tố tác động đến tốc độ chu chuyển của tư bản thương nghiệp gồm thời gian chu chuyển của tư bản thương nghiệp và số vòng chu chuyển của
tư bản thương nghiệp
Thời gian chu chuyển của tư bản thương nghiệp dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào tính chất của từng ngành thương nghiệp, và do đó ảnh hưởng đến số vòng chu chuyển trong một năm nhiều hay ít Trong cùng một ngành thương nghiệp, chu chuyển của tư bản thương nghiệp cũng nhanh hay chậm khác nhau trong các giai đoạn khác nhau của chu kỳ kinh tế Tuy vậy, kinh nghiệm cho phép người ta tính được số vòng chu chuyển trung bình của mỗi ngành
Số vòng chu chuyển của tư bản thương nghiệp có tác động quyết định đến lượng tuyệt đối và tương đối của tư bản thương nghiệp cần thiết cho lưu thông Lượng tuyệt đối của tư bản thương nghiệp cần thiết và tốc độ chu chuyển của
nó tỷ lệ nghịch với nhau, nhưng lượng tương đối của nó, tức là tỷ số giữa nó với tổng số tư bản, lại do lượng tuyệt đối của nó quyết định, nếu mọi điều kiện khác vẫn như cũ
Ví dụ, tổng tư bản là 100.000, nếu tư bản thương nghiệp chu chuyển 10 vòng một năm thì lượng tuyệt đối cần thiết của nó là 10.000 và lượng tương đối của nó là 1/10 Nếu chu chuyển 5 vòng một năm thì lượng tuyệt đối cần thiết của nó là 20.000 và lượng tương đối của nó là 1/5
Trang 11Nếu lượng tương đối của tư bản thương nghiệp là một lượng xác định thì
sự khác nhau về số vòng chu chuyển trong các ngành thương nghiệp khác nhau
sẽ không ảnh hưởng gì tới quy mô của tổng số lợi nhuận thuộc về tư bản thương nghiệp, cũng không ảnh hưởng gì đến tỷ suất lợi nhuận chung Lợi nhuận của tư bản thương nghiệp không phải do khối lượng tư bản hàng hoá mà nhà tư bản ấy đảm nhiệm việc chu chuyển quyết định, mà do số lượng tư bản tiền tệ được ứng ra để thực hiện việc chu chuyển đó quyết định
Ví dụ, nếu tỷ suất lợi nhuận chung hàng năm là 15% và tư bản thương nghiệp ứng tư bản ra là 100 đơn vị tiền tệ, khi kinh doanh trong ngành thương nghiệp có tốc độ chu chuyển trung bình là 1 vòng/năm, thương nhân ấy sẽ bán hàng hoá của mình là 115 đơn vị tiền tệ Nhưng khi kinh doanh trong một ngành thương nghiệp khác có tốc độ chu chuyển tư bản trung bình là 5 vòng/ năm thì trong một năm, thương nhân ấy phải bán 5 lần 103 và doanh số cả năm
sẽ là 515 đơn vị tiền tệ, lợi nhuận trung bình thu được là 15 đơn vị tiền tệ, tức
là bằng 15% của tư bản thương nhân đã ứng ra ban đầu Như vậy, số vòng chu chuyển của tư bản thương nghiệp trong các ngành thương nghiệp khác nhau ảnh hưởng trực tiếp tới giá cả thương nghiệp của hàng hoá Số tiền mà tư bản thương nghiệp tính thêm vào giá cả tức là lượng lợi nhuận thương nghiệp tính thêm vào giá bán của mỗi đơn vị hàng hoá tỷ lệ nghịch với số vòng chu chuyển của tư bản thương nghiệp trong các ngành thương nghiệp khác nhau
Mối quan hệ giữa tư bản thương nghiệp và tư bản công nghiệp vừa có tính độc lập ở bên ngoài vừa có tính phụ thuộc bên trong Bên ngoài, tư bản thương nghiệp là một ngành kinh doanh độc lập với tư bản công nghiệp Ngay trong cùng một lúc tư bản thương nghiệp có thể đảm nhiệm lưu thông hàng hoá cho nhiều nhà tư bản công nghiệp khác nhau Nhưng xét ở nội dung bên trong thì nó vẫn bị phụ thuộc vào tư bản công nghiệp Bởi lẽ, sự vận động của tư bản thương nghiệp chỉ là sự thay thế sự vận động của tư bản công nghiệp trong lĩnh vực lưu thông nhằm thực hiện chức năng tư bản hàng hoá Vì lẽ đó, sản xuất quyết định lưu thông, có sản xuất mới có hàng hoá để lưu thông
Tính độc lập ở bên ngoài và tính phụ thuộc ở bên trong của tư bản thương nghiệp đối với tư bản công nghiệp đã làm cho sự thống nhất giữa sản xuất và lưu thông bị phân ra, lưu thông tách khỏi sản xuất và độc lập với sản xuất; làm
Trang 12cho mâu thuẫn vốn có của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa sâu sắc thêm Điều đó dẫn tới khả năng khủng hoảng kinh tế có thể xảy ra
Chu chuyển của tư bản thương nghiệp tuỳ thuộc lượng tư bản mà thương nhân chi phối và sở trường kinh doanh của từng nhà tư bản thương nghiệp Nhìn chung, trong cùng ngành thương nghiệp, tư bản cá biệt nào chu chuyển nhanh hơn tốc độ chu chuyển trung bình sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch
Câu hỏi ôn tập
1 Phân tích bản chất của tư bản thương nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản và vai trò của nó đối với sự phát triển tư bản chủ nghĩa ?
2 Làm rõ nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận thương nghiệp tư bản chủ nghĩa ?
3 Làm rõ chi phí lưu thông tư bản chủ nghĩa và chu chuyển của tư bản thương nghiệp ?
4 Ý nghĩa kinh tế của việc nghiên cứu tư bản thương nghiệp và lợi nhuận thương nghiệp ?
Trang 13Chương 8
TƯ BẢN CHO VAY VÀ LỢI TỨC CHO VAY
1 Tư bản cho vay, lợi tức và tỷ suất lợi tức
1.1 Tư bản cho vay và đặc điểm của tư bản cho vay dưới chủ nghĩa tư bản
a Tư bản cho vay
Tư bản cho vay là tư bản tiền tệ mà người chủ sở hữu nó cho người khác vay trong thời gian nhất định nhằm thu lợi nhuận dưới hình thức lợi tức
Trong lịch sử, trước khi xuất hiện chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện người cho vay dưới hình thức cho vay nặng lãi Gọi là cho vay nặng lãi, bởi vì lợi tức của
nó thường rất cao, chiếm toàn bộ sản phẩm thặng dư, có khi còn chiếm thêm cả một phần sản phẩm tất yếu của người đi vay Lợi tức hàng năm ở Cổ La Mã tới 50%, có khi 100%; còn thời trung cổ thì tới 100 - 200% và hơn nữa Sự xuất hiện cho vay trong các xã hội này, một mặt để đáp ứng yêu cầu tiêu dùng xa xỉ của bọn chủ nô hoặc lãnh chúa phong kiến, quí tộc… Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu của những người nông dân, thợ thủ công, thương nhân… khi gặp hoạn nạn, thiên tai, mất mùa, rủi ro… Vì vậy, cho vay nặng lãi đã kìm hãm sự phát triển sản xuất và nó không còn phù hợp với điều kiện của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
Dưới chủ nghĩa tư bản, tư bản cho vay có bản chất hoàn toàn khác, đó là
bộ phận tư bản tiền tệ trong quá trình tuần hoàn của tư bản công nghiệp tách ra hoạt động độc lập nhằm mục đích thu lợi nhuận
b Đặc điểm của tư bản cho vay dưới chủ nghĩa tư bản
Dưới chủ nghĩa tư bản, tư bản cho vay ra đời là do quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư bản công nghiệp, xuất hiện bộ phận tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi như: quĩ khấu hao máy móc, thiết bị chưa đến kỳ hạn thay thế; quỹ lương chưa đến kỳ trả ; giá trị thặng dư tích luỹ chưa đủ lớn để tư bản hoá, mở rộng sản xuất…, nhà tư bản có thể cho vay thu lợi nhuận Cùng lúc đó, có một
số nhà tư bản khác thiếu vốn để mua sắm máy móc, thiết bị, nguyên, nhiên, vật liệu để duy trì hay mở rộng sản xuất - kinh doanh do chưa bán được hàng hoá hoặc muốn cải tiến kĩ thuật, áp dụng công nghệ mới, nhưng tích luỹ chưa đủ vốn, nên xuất hiện nhu cầu đi vay
Trang 14Do có cung - cầu về vốn trên thị trường nên xuất hiện và ngày càng phát triển tư bản cho vay dưới chủ nghĩa tư bản
Tư bản cho vay dưới chủ nghĩa tư bản là loại tư bản đặc biệt, khác với các loại tư bản công, thương nghiệp, vì nó có những đặc điểm sau:
Tư bản cho vay là loại tư bản mà quyền sở hữu tách rời khỏi quyền sử dụng Cùng một tư bản, nó là tư bản sở hữu của người cho vay hay còn gọi là
tư bản tài sản và chỉ tạm thời chuyển sang tay người đi vay trong một thời gian nhất định và phải hoàn trả lại người cho vay đúng kỳ hạn cả vốn và lãi Đối với người đi vay, nó là tư bản chức năng, được sử dụng để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản sử dụng Theo C.Mác:
“Người cho vay và người đi vay, cả hai đều chi ra cùng một số tiền với tư cách
là tư bản Nhưng chỉ trong tay người đi vay số tiền đó mới hoạt động với tư cách là tư bản Cùng một số tiền đã tồn tại hai lần với tư cách là tư bản đối với hai người, thì lợi nhuận cũng không vì thế mà tăng gấp đôi Số tiền đó có thể làm chức năng tư bản với cả hai người”.1
Tư bản cho vay là một loại hàng hoá đặc biệt Bởi vì, nó cũng có giá trị
và giá trị sử dụng; cũng có kẻ bán, người mua và giá cả cũng lên xuống dưới tác động của quan hệ cung - cầu Nhưng nó là hàng hoá đặc biệt, vì đối với người bán không mất quyền sở hữu; còn đối với người mua, trong quá trình
sử dụng, cả giá trị sử dụng và giá trị đều không mất đi mà còn tăng thêm Giá cả không do giá trị mà do giá trị sử dụng (tức khả năng tao ra lợi nhuận) của nó quyết định
Tư bản cho vay là loại tư bản được sùng bái nhất Do công thức vận động của tư bản cho vay được rút gọn lại còn T-T’, nên dễ gây cho người ta lầm tưởng là toàn bộ sự vận động của tư bản cho vay chỉ gồm những giao dịch giữa nhà tư bản cho vay và nhà tư bản đi vay, chứ không có liên quan gì với quá trình sản xuất, kinh doanh hay tuần hoàn của tư bản công nghiệp hoặc sự bóc lột lao động làm thuê Hình như tiền tệ có thuộc tính tự nhiên là tự sinh sôi nảy
nở, tiền đẻ ra tiền Chính cái vỏ bề ngoài đó đã thần bí hoá và che dấu quan hệ bóc lột của tư bản với lao động, nên nó được sùng bái nhất Trên thực tế, sự vận động của tư bản cho vay luôn gắn liền với sự vận động của tư bản công nghiệp theo công thức đầy đủ là:
1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 25, phần I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.540
Trang 15Dưới chủ nghĩa tư bản, tư bản cho vay góp phần đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của tư bản xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng tư bản tiền tệ Tư bản cho vay còn thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung tư bản để mở rộng sản xuất; kích thích cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới và phân phối lại tư liệu sản xuất, sức lao động giữa các vùng, ngành, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp
lý, hiệu quả Từ đó, tư bản cho vay góp phần tạo ra nhiều giá trị thặng dư cho các nhà tư bản và gián tiếp tham gia bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận
1.2 Lợi tức và tỷ suất lợi tức trong chủ nghĩa tư bản
a Lợi tức cho vay
Tư bản cho vay được chuyển giao cho nhà tư bản kinh doanh (tư bản công nghiệp, thương nghiệp…) sử dụng, sau một thời gian phải hoàn trả lại cho người chủ sở hữu nó kèm theo lãi, phần lãi đó là lợi tức cho vay, ký hiệu Z
Lợi tức là khoản tiền mà nhà tư bản kinh doanh phải trả cho người sở hữu
tư bản cho vay để được quyền sử dụng khoản tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của người đó
Tiền là tư bản ngay từ khi được đưa ra để cho vay thu lợi tức Nhưng khi tiền mới chuyển từ tay người cho vay sang tay người đi vay thì nó chưa thể tạo
ra lợi nhuận được; muốn có lợi nhuận, nó phải được đưa vào đầu tư làm tư bản kinh doanh Ở đây, cùng một số tiền tồn tại với tư cách là tư bản đối với cả hai người (cho vay và đi vay) nhưng nó chỉ thật sự đưa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh và đem lại lợi nhuận trong tay người đi vay Trên thực tế, nhà tư bản kinh doanh cũng chỉ thu được lợi nhuận bình quân và phải trích một phần lợi nhuận bình quân thu được đó để trả cho nhà tư bản cho vay dưới hình thức lợi tức cho vay Phần lợi nhuận bình quân còn lại là lợi nhuận doanh nghiệp của
SLĐ T-T- H … SX — H’—T’—T’
TLSX
Trang 16nhà tư bản đi vay Điều đó là phù hợp vì nhà tư bản kinh doanh thu được lợi nhuận bình quân nhờ sử dụng tư bản của người khác, nên phải trả tiền thuê tư bản của người đó.
Như vậy, bản chất lợi tức cho vay là một phần giá trị thặng dư mà nhà tư bản đi vay (tư bản kinh doanh) thu được phải trả cho nhà tư bản cho vay (tư bản
sở hữu tư bản cho vay), vì sử dụng tư bản cho vay của người đó để kinh doanh
Sự phân chia lợi nhuận bình quân thành lợi tức cho vay và lợi nhuận doanh nghiệp biểu thị mối quan hệ giữa hai nhà tư bản cùng có quyền lực đối với một tư bản Nhưng về sau, các nhà tư bản dù kinh doanh bằng vốn của mình hay của người khác đều chia lợi nhuận thành hai bộ phận lợi tức và lợi nhuận doanh nghiệp Sự phân chia đó đã làm cho người ta lầm tưởng lợi tức là kết quả tự nhiên của quyền sở hữu tư bản Đặc biệt là khi tỷ suất lợi tức thường được xác định trước, theo tỷ lệ tương đối ổn định, và người đi vay về
có sử dụng kinh doanh hay không đều phải trả lợi tức Còn lợi nhuận doanh nghiệp được biểu hiện ra là tiền công lao động quản lý của nhà tư bản Chính hình thức bề ngoài đò đã che dấu quan hệ bóc lột của tư bản với lao động, là căn cứ để các lý luận gia tư sản bênh vực sự bóc lột của giai cấp tư sản
Z Theo công thức trên thì lượng lợi tức (Z) mà nhà tư bản cho vay thu được phụ thuộc vào lượng tư bản cho vay (k) và tỷ suất lợi tức (Z’) ở từng thời điểm khác nhau
Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, tỷ suất lợi tức phụ thuộc vào các yếu
tố sau:
- Tỷ suất lợi nhuận bình quân
- Tỷ lệ phân chia lợi nhuận bình quân thành lợi tức và lợi nhuận doanh nghiệp Nhưng do lợi tức là một bộ phận của lợi nhuận bình quân, nên tỷ suất lợi tức chỉ dao động trong giới hạn: (0 < Z’ < ’)
- Quan hệ cung - cầu về tư bản cho vay Tỷ suất lợi tức là một đại lượng không cố định mà lên xuống dưới tác động của quan hệ cung-cầu về tư bản cho
Trang 17vay và theo chu kỳ vận động của tư bản công nghiệp C.Mác chỉ rõ: “Mức lợi tức tương đối thấp phần lớn là tương ứng với thời kì phồn vinh và thời kì lợi nhuận siêu ngạch ; … lợi tức cao lên là tương ứng với thời kì quá độ giữa phồn vinh và cái đối lập với nó”1, “Tỷ suất lợi tức đạt tới đỉnh cao nhất trong các cuộc khủng hoảng, khi người ta phải đi vay với bất cứ một giá trị nào để
có thể có tiền mà thanh toán”2
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, tỷ suất lợi tức có xu hướng giảm xuống, do các nguyên nhân dưới đây:
- Do tỷ suất lợi nhuận bình quân có xu hướng giảm xuống, vì cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng lên nhanh chóng
- Do cung tư bản cho vay tăng nhanh hơn cầu tư bản đi vay, do tình trạng “tư bản thừa tương đối” (tức là tư bản không kiếm được nơi đầu tư có lợi nhuận cao) Những nhà tư bản có tư bản tiền tệ nhưng không tìm được nơi đầu tư có lợi nhuận cao, tập trung tư bản tiền tệ vào ngân hàng, làm cho lượng tư bản cho vay tăng lên
- Hệ thống tín dụng dưới chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển, thu hút được hầu hết các nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội vào tay các tư bản ngân hàng và biến thành tư bản cho vay, làm cho cung vượt cầu
Để chống lại xu hướng tỷ suất lợi tức giảm xuống, các nhà tư bản đã tăng cường liên kết lại với nhau để bóc lột lao động làm thuê, nhằm thu nhiều lợi nhuận hơn
Nhà nước tư sản thấy được tỷ suất lợi tức chịu sự tác động của quan hệ cung - cầu về tư bản cho vay, nên đã chủ động sử dụng tỷ suất lợi tức làm công
cụ để điều tiết nền kinh tế thị trường hiện đại, thông qua sự điều tiết quan hệ cung - cầu về tiền tệ và tín dụng Chẳng hạn, khi nền kinh tế có biểu hiện phát triển quá “nóng”, nhà nước tăng tỷ suất lợi tức, nhằm giảm cung tư bản tiền tệ, thu hẹp tín dụng và đầu tư Nhưng khi nền kinh tế lâm vào đình trệ do thiếu vốn, gây khó khăn cho kinh doanh và áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ nhà nước hạ thấp tỷ suất lợi tức cho vay, để tăng cung tiền ra thị trường, khuyến khích mở rộng tín dụng, tăng cường đầu tư kinh doanh… Hoặc khi muốn mở rộng hay thu hẹp một ngành, một sản phẩm hay một vùng nào đó, nhà nước
1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 25 phần I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.550
2 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 25 phần I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr 551
Trang 18thông qua hệ thống ngân hàng và tỷ suất lợi tức thích hợp để điều tiết, định hướng nền kinh tế theo các chương trình kế hoạch đề ra
2 Tín dụng tư bản chủ nghĩa, ngân hàng và vai trò của nó trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
có quyền đòi hỏi người đi vay (người mua hàng chịu) phải trả lợi tức cho mình giống như cho vay tư bản tiền tệ Lợi tức được cộng vào giá bán, nên làm cho giá hàng hoá bán chịu cao hơn giá hàng hoá bán lấy tiền ngay Tuy nhiên, mục đích của việc mua, bán chịu và tín dụng thương nghiệp không phải là để thu lợi tức mà chủ yếu là để đẩy nhanh lưu thông và thực hiện giá trị hàng hoá
Khi mua bán chịu hàng hoá, người ta lập giấy ghi nhận nợ, trong đó có lượng tiền nợ, những cam kết kỳ hạn và phương thức trả - nhận tiền Những giấy tờ này gọi là hối phiếu hay kỳ phiếu thương mại Trong thời gian kỳ phiếu chưa đến hạn trả tiền, người chủ kỳ phiếu có thể dùng để mua hàng hoá, thanh toán nợ bằng cách sang tên Nếu cần tiền mặt ngay, người chủ đem kỳ phiếu tới ngân hàng để chiết khấu lấy tiền mặt; đến kỳ hạn, ngân hàng sẽ thu nợ ở người mua chịu cả vốn và lợi tức Khi ngân hàng thu về kỳ phiếu chưa đến kỳ hạn thanh toán, có thể dùng để cho vay hoặc dựa vào đó để phát hành giấy bạc ngân hàng Vì vậy, kỳ phiếu thương nghiệp được sử dụng như là tiền tệ đối với các
Trang 19chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán, tạo điều kiện đẩy nhanh lưu thông hàng hoá và sự phát triển của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, tín dụng thương nghiệp thường là tín dụng ngắn hạn, nên các nhà tư bản không thể dựa vào nó để mở rộng đầu tư kinh doanh; hơn nữa, nhà
tư bản vẫn cần phải có tiền để trả lương cho công nhân, đầu tư, thanh toán nợ nần, chi tiêu…Vì vậy, phải dựa vào tín dụng ngân hàng mới có thể vay, gửi được tiền để đáp ứng các nhu cầu kinh doanh thu lợi nhuận của nhà tư bản
b Tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hành là hình thức tín dụng giữa những người có tiền cho những người sản xuất, kinh doanh vay thông qua ngân hàng làm trung gian môi giới Ở đây, ngân hàng vừa đại diện cho người đi vay, vừa đại diện cho người cho vay Đối tượng vay, mượn của tín dụng ngân hàng là tư bản tiền tệ
Tín dụng ngân hàng ra đời do các nguyên nhân sau:
Do yêu cầu phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Sự phát triển mạnh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy sự ra đời hoạt động của tín dụng thương nghiệp như việc bán chịu hàng hoá giữa các nhà tư bản kinh doanh và việc lưu thông kỳ phiếu thương mại, làm cơ sở cho tín dụng ngân hàng phát triển; nhưng nó cũng đòi hỏi phải có ngân hàng để chiết khấu các kỳ phiếu được dễ dàng để chuyển thành tiền mặt, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, phục vụ kịp thời những yêu cầu của sản xuất, kinh doanh Mặt khác, dựa trên việc nắm giữ các kỳ phiếu thương nghiệp cùng với các khoản tiền kim khí, tiền giấy của nhà nước, là cơ sở để ngân hàng phát hành giấy bạc ngân hàng
- Sự phát triển của nghề kinh doanh tiền tệ là một lĩnh vực đầu tư béo bở thu lợi nhuận cao của các nhà tư bản Xuất phát từ thực tế, những thao tác kỹ thuật về đổi tiền, nhận thu và thanh toán hộ tiền để hưởng hoa hồng, những người kinh doanh tiền tệ nhận thấy luôn có sự chênh lệch giữa lượng tiền gửi vào và lượng tiền rút ra một số kết dư trong một thời gian nhất định Từ đó họ tìm cách dùng số tiền dư đó để cho vay thu lợi tức
- Tín dụng ngân hàng ra đời và phát triển đã khắc phục được những nhược điểm của tín dụng thương nghiệp Tín dụng thương nghiệp hạn chế về khối lượng giá trị hàng hoá trong lưu thông và chủ yếu là tín dụng ngắn hạn, phạm vi hoạt động hẹp chủ yếu trong lĩnh vực thương mại, nên khó mở rộng, phát triển được Trong khi đó, tín dụng ngân hàng không bị cản trở bởi những giới hạn đó Vì vậy, tín dụng ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất
Trang 20kinh doanh, lưu thông hàng hoá và sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
Dưới chủ nghĩa tư bản, ngoài hai hình thức tín dụng trên, còn phát triển mạnh các hình thức tín dụng tiêu dùng, tín dụng nhà nước, tín dụng cầm cố, tín dụng quốc tế
Tín dụng tiêu dùng, là hình thức bán chịu, bán trả góp đối với hàng
tiêu dùng Sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đã tạo ra khối lượng hàng hoá tiêu dùng cực lớn, càng thúc đẩy cạnh tranh để tiêu thụ nhanh hàng hoá
đó Mặt khác, nhu cầu tiêu dùng của người lao động cũng tăng lên, nhưng tài sản và thu nhập của họ lại hạn chế Đó là điều kiện thúc đẩy tín dụng tiêu dùng phát triển và đã được các nhà tư bản tận dụng để đẩy nhanh tốc độ bán hàng Tín dụng tiêu dùng nhằm tăng tốc độ chu chuyển của tư bản thương nghiệp, đồng thời là biện pháp để tăng cường sự bóc lột của tư bản với lao động, vừa làm tăng sự lệ thuộc của người lao động vào các nhà tư bản
Tín dụng nhà nước, là hình thức tín dụng mà nhà nước tư sản đứng ra vay
tiền của nhân dân thông qua phát hành trái phiếu hay công trái Trong quá trình hoạt động, nhà nước tư sản phải thường xuyên chi phí nhiều khoản như chi phí quân sự để chạy đua vũ trang, chi phí để duy trì bộ máy thống trị và đàn áp nhân dân lao động, can thiệp quân sự ở nước ngoài, viện trợ để nuôi dưỡng các lực lượng tay sai… Từ đó, làm cho ngân sách nhà nước bị thâm hụt, buộc nhà nước tư sản phải vay tiền của dân để chi tiêu
c Vai trò của tín dụng tư bản chủ nghĩa
Dưới chủ nghĩa tư bản, tín dụng có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển Điều đó được thể hiện trên các nội dung sau:
- Tín dụng làm giảm chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ, lưu thông hàng hoá và tuần hoàn chu chuyển tư bản
Xuất hiện tín dụng, phần lớn các giao dịch được thanh toán bù trừ cho nhau, hoặc dùng tiền tín dụng (kỳ phiếu thương nghiệp, séc chuyển khoản) thay thế tiền mặt Từ đó, đẩy nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ, giảm bớt được lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông; đồng thời cũng giảm luôn được các chi phí sản xuất, bảo quản, cất trữ tiền tệ Mặt khác, tín dụng có tác dụng đẩy nhanh các giao dịch và lưu thông hàng hoá, làm giảm thời gian lưu thông và các khoản chi phí bảo quản, lưu kho của hàng hoá Từ đó đẩy nhanh tốc độ của các giai đoạn
Trang 21chuyển hoá hình thái của tư bản, dẫn đến làm tăng tốc độ tuần hoàn chu chuyển của tư bản, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận cho nhà tư bản và nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
Tín dụng tạo động lực cho cạnh tranh, phân phối lại tư bản và tham gia bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận
Dưới chủ nghĩa tư bản, động lực của cạnh tranh là lợi nhuận Tín dụng tạo điều kiện mở rộng đầu tư, kích thích cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, tiết kiệm chi phí sản xuất và lưu thông hàng hoá, tạo động lực cho cạnh tranh Mặt khác, cũng do động lực lợi nhuận đã thúc đẩy việc di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, vùng này sang vùng khác Nhưng nếu tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất bằng hiện vật thì khó di chuyển, còn thông qua tín dụng thì tư bản tiền tệ được huy động và phân phối lại một cách năng động giữa các ngành, vùng Vì vậy, tín dụng tạo điều kiện đẩy mạnh bình quân hoá
tỷ suất lợi nhuận
- Tín dụng là công cụ đẩy mạnh tích tụ mà tập trung tư bản
Nếu để từng nhà tư bản tự tích luỹ giá trị thặng dư đến khi đủ lớn mới mở rộng sản xuất thì sẽ phát triển rất chậm Nhờ có tín dụng, đã nhanh chóng tập trung được những lượng giá trị thặng dư phân tán ở nhiều nhà tư bản và huy động được hầu hết các khoản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nhân dân để biến thành tư bản có lượng đủ lớn để đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh hoặc xây dựng mới ở những xí nghiệp tư bản cần thiết Điều đó đã được các nhà tư bản lớn lợi dụng có hiệu quả để tăng cường sức cạnh tranh, bóp chết các nhà tư bản vừa và nhỏ Cũng trên cơ sở đó, tín dụng tạo điều kiện thúc đẩy sự ra đời, phát triển các công ty cổ phần, tập trung nhanh tư bản để đẩy nhanh việc áp dụng khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển lực lượng sản xuất
- Tín dụng là công cụ để nhà nước tư sản điều tiết nền kinh tế thị trường Bằng việc sử dụng các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán… mà hệ thống ngân hàng có thể giám sát và nắm chắc được hoạt động của tư bản công nghiệp, thương nghiệp và nền kinh tế Đó là cơ sở để nhà nước có thể tác động điều tiết nền kinh tế theo các chương trình đề ra
Trang 222.2 Ngân hàng và vai trò của nó trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
a Ngân hàng
Ngân hàng dưới chủ nghĩa tư bản là xí nghiệp kinh doanh tiền tệ, làm môi giới giữa người cho vay và người đi vay Hoạt động của các ngân hàng cũng nhằm mục đích thu lợi nhuận như các loại doanh nghiệp công nghiệp, thương nghiệp tư bản khác
* Nguồn gốc ra đời của ngân hàng tư bản chủ nghĩa:
- Từ những thương nhân kinh doanh tiền tệ trước chủ nghĩa tư bản, họ thực hiện các hoạt động như mua - bán vàng, bạc, đổi tiền đúc, bảo quản tiền, thanh toán và di chuyển tiền cho tư bản công, thương nghiệp…, đồng thời nhận gửi được lượng tư bản tiền nhàn rỗi khá lớn của xã hội Huy động được nguồn vốn lớn, họ tìm cách cho vay thu lợi tức Hoạt động kinh doanh tiền tệ dưới hình thức đi vay để cho người khác vay dần phát triển thành các ngân hàng
- Các hội tín dụng tư bản công nghiệp, thương nghiệp lập nên Do các nhà
tư bản công, thương nghiệp không thể kinh doanh có hiệu quả nếu dựa vào nguồn vốn đi vay nặng lãi, muốn vậy họ phải liên kết lại với nhau để lập nên các hội tín dụng Công việc đầu tiên mà họ phải làm là đảm bảo các giao dịch như: nhận tiền gửi và thanh toán chuyển khoản không dùng tiền mặt, chiết khấu
kỳ phiếu thương nghiệp…Về sau phát triển thêm các nghiệp vụ cho vay và kinh doanh tín dụng, từ đó trở thành ngân hàng
* Chức năng cơ bản của ngân hàng
Do nắm độc quyền phát hành tiền tệ và lượng lớn tư bản tiền tệ, ngân hàng
có chức năng phát hành, quản lý tiền tệ, vàng bạc và ngoại tệ Mặt khác, ngân hàng làm chức năng kinh doanh tư bản tiền tệ, là chủ thể trung gian giữa người cho vay và người đi vay, biến các nguồn thu nhập và tiết kiệm của các tầng lớp dân cư thành tư bản cho vay, làm trung gian thanh toán giữa các doanh nghiệp…
* Nguồn vốn huy động của ngân hàng
- Tư bản tiền tệ là vốn tự có của ngân hàng
- Tư bản tiền tệ được huy động trong xã hội như: Tư bản tiền tệ nhàn rỗi của các nhà tư bản công nghiệp, thương nghiệp; tư bản tiền tệ của các nhà tư bản thực lợi; bộ phận tiền tệ của ngân sách nhà nước tạm thời chưa dùng đến;
số tiền tiết kiệm, tiền nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư
Trang 23Nguồn vốn của tư bản ngân hàng tồn tại dưới các hình thức: tiền mặt, gồm tiền vàng, tiền giấy; các chứng khoán như: kỳ phiếu thương nghiệp, tín phiếu kho bạc, trái phiếu công ty, cổ phiếu, công trái nhà nước, các văn tự cầm cố, vật thế chấp
Nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng
Nghiệp vụ nhận gửi (nghiệp vụ nợ), thu hút các nguồn tiền vào quỹ của ngân hàng, tạo nên nguồn vốn để cho vay Nó tồn tại dưới dạng tiền gửi không
kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền mà người gửi
có thể rút ra bất cứ lúc nào, lợi tức thường rất thấp, thậm chí có nhà tư bản không thu lợi tức, vì họ chỉ lợi dụng ngân hàng làm thủ quỹ hộ và thanh toán các giao dịch Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền mà người gửi chỉ được rút ra sau một thời gian nhất định, nó tạo thành nguồn vốn khá ổn định để ngân hàng cho vay thu lợi tức; vì vậy ngân hàng phải trả lợi tức cho loại tiền gửi này theo các mức khác nhau tuỳ từng loại thời hạn
- Nghiệp vụ cho vay được ngân hàng thực hiện dưới nhiều dạng như
chiết khấu các kỳ phiếu thương nghiệp, cho vay có bảo đảm hoặc không có bảo đảm Ngân hàng thường cho vay dưới các hình thức như cho vay bằng tiền mặt, phát hành séc, mở tài khoản, phát hành kỳ phiếu để cho vay Ngày nay, ngân hàng còn phát triển thêm các hình thức tín dụng mới như cho thuê tài chính, cho vay dài hạn để đầu tư trực tiếp vào các dự án kinh doanh béo bở… Ngoài ra, ngân hàng còn kinh doanh các hoạt động dịch vụ như chuyển tiền, thu - chi hộ, mua - bán hộ, kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán…
Lợi nhuận ngân hàng: Các ngân hàng thương mại dưới chủ nghĩa tư bản là
các doanh nghiệp kinh doanh tư bản tiền tệ nhằm mục đích thu lợi nhuận Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, khi thực hiện nghiệp vụ nhận gửi, ngân hàng trả lợi tức nhận gửi với người cho vay; khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, ngân hàng thu lợi tức của người đi vay Trong đó lợi tức cho vay kinh doanh bao giờ cũng lớn hơn lợi tức nhận gửi Số chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận gửi, cộng với thu nhập từ các hoạt động kinh doanh tiền tệ khác (chuyển tiền, uỷ thác, thu hộ, kinh doanh chứng khoán…), trừ đi các chi phí hoạt động của ngân hàng là lợi nhuận ngân hàng
PNH = Z cho vay - Z nhận gửi + thu nhập từ kinh doanh tiền tệ khác - Chi phí hoạt động nghiệp vụ, lương của nhân viên và các loại thuế
Trang 24Tỷ suất lợi nhuận ngân hàng là tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận ngân hàng thu được trong một năm với tư bản tự có của ngân hàng
Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, do cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận ngân hàng cũng ngang bằng tỷ suất lợi nhuận bình quân Nếu tỷ suất lợi nhuận ngân hàng cao hơn các lĩnh vực kinh doanh khác thì tư bản ở các ngành khác sẽ chuyển vốn đầu tư vào kinh doanh ngân hàng và ngược lại
Lao động của nhân viên làm thuê trong lĩnh vực ngân hàng tuy không tạo
ra giá trị và giá trị thặng dư, nhưng họ cũng bị chủ ngân hàng bóc lột Bởi vì trong quá trình làm việc, họ cũng giúp chủ ngân hàng chiếm được một phần giá trị thặng dư do công nhân làm thuê trong lĩnh vực sản xuất tạo ra mà tư bản công, thương nghiệp thu được phải nhượng trả cho tư bản ngân hàng- do sử dụng tư bản tiền tệ của tư bản ngân hàng
* Dưới chủ nghĩa tư bản có các loại ngân hàng
- Ngân hàng thương mại: Là ngân hàng cho các nhà tư bản công, thương nghiệp kinh doanh vay vốn ngắn hạn, chủ yếu từ nguồn vốn huy động bằng tiền gửi và hoạt động chiết khấu kỳ phiếu thương mại
- Ngân hàng cầm cố: Là ngân hàng cho vay được đảm bảo bằng tài sản, thường là bất động sản (ruộng đất, nhà cửa, vật dụng có giá trị ) Sự ra đời và hoạt động của loại ngân hàng này thường gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa
tư bản trong nông nghiệp, trong đó chủ ngân hàng trực tiếp bóc lột nông dân
- Ngân hàng phát hành (ngân hàng Trung ương): là ngân hàng nắm độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và quản lý dự trữ vàng, ngoại tệ của quốc gia Nó thường có quan hệ nghiệp vụ vay mượn với các ngân hàng thương mại
và kiểm soát việc cung ứng tiền và hoạt động của các ngân hàng thương mại Ngân hàng phát hành giữ vai trò là ngân hàng của các ngân hàng
b Vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
Dưới chủ nghĩa tư bản, ngân hàng có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội và nâng cao trình độ bóc lột của tư bản với lao động làm thuê Điều này được thể hiện trên các mặt sau:
PNN vốn tự có của ngân hàng
Trang 25Thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ và hoạt động kinh doanh, ngân hàng góp phần làm tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn, giảm bớt chi phí lưu thông tiền tệ và đẩy nhanh tích tụ, tập trung tư bản; tạo điều kiện để tư bản lớn chèn ép, thôn tính tư bản nhỏ, tăng cường bóc lột công nhân làm thuê và tước đoạt tư liệu sản xuất của những người sản xuất nhỏ
Do nắm được hầu hết lượng tiền mặt của xã hội và giữ vai trò môi giới
về tín dụng, ngân hàng nắm chắc tình hình của nền kinh tế để phân phối tư bản vào các ngành, vùng để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý Vì vậy, thông qua hoạt động của ngân hàng, nhà nước tư sản nắm được thực trạng nền kinh
tế, đề ra giải pháp phù hợp điều tiết phát triển nền kinh tế, phục vụ lợi ích giai cấp tư sản
Thông qua hệ thống ngân hàng để hình thành tỷ giá hối đoái thích hợp với từng loại ngoại tệ nhằm đẩy mạnh xuất, nhập khẩu và mở rộng thị trường quốc
tế Đồng thời, mở rộng sự liên kết, hợp tác giữa các ngân hàng trong nước với các ngân hàng quốc tế để mở rộng các dịch vụ tiền tệ, ngoại hối, tín dụng, thanh toán quốc tế, di chuyển tiền, thanh toán, thu chi uỷ thác… thúc đẩy mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế
Như vậy, tín dụng, ngân hàng là những công cụ quan trọng đẩy mạnh sự phát triển lực lượng sản xuất lên trình độ xã hội hoá ngày càng cao Đồng thời cũng làm gay gắt thêm các mâu thuẫn vốn có của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và cuộc đấu tranh để giải quyết những mâu thuẫn đó là tiền đề cho sự
ra đời một phương thức sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất
* Phân biệt tư bản cho vay và tư bản ngân hàng
Tư bản cho vay
- Là tư bản tiềm thế
- Lợi tức được xác định ngay từ đầu
theo quan hệ cung – cầu
- Chỉ bao gồm những tư bản nhàn rỗi
trong nền kinh tế xã hội
Trang 263 Công ty cổ phần, chứng khoán và thị trường chứng khoán dưới chủ nghĩa tư bản
3.1 Công ty cổ phần
Nền kinh tế và các quan hệ tín dụng dưới chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh đã dẫn đến sự ra đời của công ty cổ phần đầu tiên ở nước Anh là công ty Đông Ấn vào năm 1600 Đến cuối thế kỷ XIX, các công ty cổ phần trở thành hình thức phát triển mạnh mẽ, và ngày nay nó trở thành hình thức kinh tế phổ biến ở các nước tư bản chủ nghĩa
Do nhu cầu tập trung vốn để thực hiện những dự án kinh doanh hứa hẹn đem lại lợi nhuận cao trong tương lai; nếu đợi sự tích luỹ vốn của từng cá nhân, khó thực hiện ngay lập tức Công ty cổ phần ra đời nhằm giải quyết yêu cầu đó
Công ty cổ phần là loại doanh nghiệp mà vốn của nó được hình thành từ
sự đóng góp của nhiều cổ đông dưới hình thức mua cổ phiếu
Tiền vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Hình thức biểu hiện của cổ phần là cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán có giá, có mệnh giá bằng nhau, ghi nhận quyền sở hữu một phần giá trị tài sản của công ty cổ phần, được quyền hưởng một phần thu nhập từ kết quả hoạt động của công ty, tương ứng với số tiền ghi trên cổ phiếu
Cổ phiếu là vốn đầu tư không được hoàn trả Người có cổ phiếu muốn thu hồi vốn, phải đưa ra thị trường chứng khoán để bán
Người mua cổ phiếu là cổ đông Mỗi cổ đông có số cổ phiếu tương ứng với số tiền bỏ ra mua cổ phiếu góp vốn vào công ty và có quyền làm chủ một phần công ty theo vốn góp; được nhận cổ tức từ thu nhập của công ty Cổ đông chịu trách nhiệm “hữu hạn” trước những rủi ro của công ty cổ phần trong phạm
vi vốn góp của mình
* Phân loại cổ phiếu
Cổ phiếu khống chế: Là lượng cổ phiếu đủ lớn tới hạn đảm bảo cho người
sở hữu có đủ quyền phủ quyết trong đại hội cổ đông và hội đồng quản trị Trong lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần, lúc đầu số lượng cổ phiếu khống chế là trên 50%, về sau giảm xuống 40%, 20%, thậm chí còn thấp hơn nữa, do các công ty cổ phần phát hành cổ phiếu có mệnh giá ngày càng
Trang 27nhỏ Cổ đông nắm được số lượng cổ phiếu khống chế, có khả năng thao túng mọi hoạt động của công ty
Cổ phiếu đặc quyền: Là loại cổ phiếu được hưởng các quyền ưu đãi về lợi
tức cố định hàng năm không phụ thuộc vào thu nhập của công ty cổ phần và lãi suất ngân hàng; được ưu tiên phân chia tài sản còn lại của công ty khi công ty
bị phá sản Người có loại cổ phiếu này không được tham gia đại hội cổ đông và ban quản trị công ty Cổ phiếu loại này thường được phát hành một lượng rất ít
Cổ phiếu phổ thông: Là loại cổ phiếu chiếm đại bộ phận trong số các cổ
phiếu của công ty (thường chiếm khoảng 80%) Các chủ cổ phiếu này được hưởng lợi tức cổ phần phụ thuộc vào thu nhập của công ty, phải chịu mạo hiểm cao khi công ty thua lỗ
Lợi tức cổ phiếu là khoản thu nhập do cổ phiếu mang lại hay còn gọi là cổ tức Nó không cố định mà phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty cổ phần, nhưng thông thường lợi tức cổ phiếu cao hơn lợi tức ngân hàng, nếu không người có tiền sẽ không mua cổ phiếu (vì mạo hiểm) mà sẽ gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lợi tức và khi cần có thể rút tiền gốc
Khi thiếu vốn kinh doanh, công ty cổ phần có thể phát hành trái phiếu hoặc vay ngân hàng Người mua trái phiếu là chủ nợ của công ty, được hưởng lợi tức cố định và được hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, nhưng không được quyền tham gia quản lý công ty
Số tiền ghi trên cổ phiếu là mệnh giá cổ phiếu hay giá trị danh nghĩa của
cổ phiếu Cổ phiếu cũng như nhiều loại chứng khoán có giá trị khác, đều có thể mua đi bán lại trên thị trường chứng khoán Khi mua, bán người ta không căn
cứ vào mệnh giá cổ phiếu mà dựa vào giá thị trường của cổ phiếu, còn gọi là thị giá cổ phiếu Thị giá cổ phiếu phụ thuộc vào lợi tức cổ phiếu và lợi tức tiền gửi ngân hàng
Ví dụ: Một cổ phiếu có mệnh giá 750 USD, mỗi năm đem lại lợi tức cổ phiếu là 50 USD và tỷ suất lợi tức ngân hàng là 5%/năm Thì cổ phiếu sẽ được bán với giá cả hay thị giá cổ phiếu là:
ng tøc lîi suÊt Tû
phiÕu cæ
tøc Lîi phiÕu
cæ gi¸
ThÞ
â
Trang 28Như vậy, thị giá cổ phiếu không phải là số tiền ghi trên cổ phiếu mà là số tiền nếu đem gửi vào ngân hàng cũng sẽ mang lại số lợi tức bằng lợi tức cổ phiếu Thị giá cổ phiếu biến động thường xuyên, do sự biến động của tỷ suất lợi tức ngân hàng và kết quả hoạt động của công ty cổ phần Cổ phiếu không còn giá trị khi công ty cổ phần bị phá sản
Việc mua, bán cổ phiếu là biện pháp để các nhà đầu tư di chuyển vốn linh hoạt, thúc đẩy phân phối lại vốn vào các ngành, vùng để hình thành cơ cấu kinh
tế hợp lý, làm thay đổi quan hệ cung - cầu, tỷ suất lợi tức; giảm bớt rủi ro cho nhà đầu tư
* Tổ chức quản lý công ty cổ phần
Đại hội cổ đông là cơ quan tối cao của công ty cổ phần, bầu ra hội đồng quản trị, ban kiểm soát, quyết định phương hướng, chiến lược kinh doanh của công ty, và những vấn đề quan trọng khác trong hoạt động của công ty về mặt hình thức Trên thực tế, số phiếu biểu quyết trong đại hội cổ đông được quyết định bởi số lượng cổ phiếu nên phần lớn cổ đông có ít cổ phiếu không tham gia đại hội cổ đông Vì vậy, những nhà tư bản lớn nắm số cổ phiếu khống chế sẽ có khả năng thao túng công ty cổ phần
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý cao nhất có trách nhiệm tập thể trong quản lý mọi hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần theo pháp luật Người đứng đầu hội đồng quản trị là chủ tịch hội đồng quản trị, được các cổ đông uỷ quyền thực hiện các chức năng, quyền hạn của chủ sở hữu đối với công ty, là đại diện hợp pháp của công ty trước pháp luật và nhà nước Theo thông lệ hội đồng quản trị không trực tiếp điều hành kinh doanh của công ty mà thuê hoặc
cử người trong hội đồng quản trị làm giám đốc (hay tổng giám đốc) Giám đốc (hoặc tổng giám đốc) là người trực tiếp điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao
Ban kiểm soát do đại hội cổ đông bầu ra, có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra hoạt động của hội đồng quản trị, bảo vệ lợi ích của các cổ đông theo điều lệ của công ty
* Vai trò của công ty cổ phần
Do sự phát triển của lực lượng sản xuất và xã hội hoá sản xuất ngày càng cao, việc sử dụng các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất -kinh
Trang 29doanh đòi hỏi phải có lượng vốn lớn Trong khi quá trình tự lớn lên của tư bản
cá biệt bằng con đường tích tụ và tập trung tư bản đang gặp những giới hạn, thì
sự ra đời của các công ty cổ phần sẽ nhanh chóng tập trung được những lượng
tư bản cực lớn, tổ chức nên những doanh nghiệp khổng lồ mà không một tư bản
cá biệt nào làm được
Công ty cổ phần ra đời sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển tư bản đầu tư một cách linh hoạt, giúp các nhà tư bản phân tán bớt rủi ro trong đầu tư
và hình thành nên cơ cấu kinh tế hợp lý
Công ty cổ phần là hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, tổ chức quản
lý phù hợp với trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất và trở thành hình thức tổ chức kinh tế cơ bản, phổ biến trong các nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay
Sự ra đời và phát triển của công ty cổ phần gắn liền với việc xã hội hoá sở hữu vốn được huy động từ mọi tầng lớp xã hội Việc tách quyền sở hữu khỏi quyền quản lý, điều hành sản xuất – kinh doanh đã báo hiệu sự ra đời của một phương thức sản xuất mới C.Mác cho rằng: “ sự thủ tiêu tư bản với tư cách là
sở hữu tư nhân ở trong những giới hạn của bản thân phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa’’1… “ Trong các công ty cổ phần, chức năng tư bản tách rời với quyền
sở hữu tư bản; và do đó lao động cũng vậy, nó hoàn toàn tách rời với quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và về lao động thặng dư Đó là kết quả của sự phát triển cao nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là điểm quá độ tất nhiên để tư bản lại chuyển thành sở hữu của những người sản xuất, nhưng không phải với tư cách là
sở hữu tư nhân của người sản xuất riêng lẻ nữa, mà với tư cách là sở hữu của những người sản xuất liên hiệp, thành sở hữu xã hội trực tiếp” 2
Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các nước phát triển theo cơ chế thị trường đều có thể vận dụng hình thức công ty cổ phần vào quy trình tổ chức nền kinh tế Ở nước ta, trong quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo quan điểm Đại hội X, chúng ta đã nhận thức về vai trò của các công ty cổ phần và chủ trương đẩy mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện đa dạng hoá các quan hệ sở hữu Chúng ta hoàn toàn có thể tiếp thu những thành tựu
1 C.Mác và Ph Ăng ghen, Toàn tập, tập 25, phần I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.667
2 C.Mác và Ph Ăng ghen, Toàn tập, tập 25, phần I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.668
Trang 30mà chủ nghĩa tư bản đã làm trong việc hình thành và phát triển công ty cổ phần, nhằm xoá bỏ cơ chế quản lý hành chính, quan liêu, bao cấp và tình trạng vô chủ trong các doanh nghiệp nhà nước, khắc phục tình trạng trông chờ ỷ lại vào sự bao cấp của nhà nước, kích thích tính năng động sáng tạo, đổi mới kỹ thuật - công nghệ và sử dụng có hiệu quả tài sản của nhà nước, làm ăn có hiệu quả Đồng thời, huy động mọi nguồn vốn trong dân cư, các thành phần kinh tế, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
3.2 Chứng khoán, thị trường chứng khoán và tư bản giả
Chứng khoán: Là những bằng chứng nhận quyền và lợi ích hội nhập
của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành được trao đổi trên thị trường tài chính và thị trường chứng khoán Chứng khoán bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác công trái, kỳ phiếu, tín phiếu, văn tự cầm cố …
Chứng khoán được trao, mua bán trên thị trường mang lại thu nhập cho người sở hữu, nên nó cũng có giá cả Giá chứng khoán tỷ lệ thuận với thu nhập mà nó mang lại và tỷ lệ nghịch với lợi tức cho vay Người có cổ phiếu hàng năm nhận được thu nhập dưới hình thức cổ tức; còn người có trái phiếu thường nhận được lợi tức cố định hàng năm
Thị trường chứng khoán: Là nơi trao đổi mua bán các loại chứng khoán
dài hạn, bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác theo những nguyên tắc được ấn định
Những thị trường chứng khoán xuất hiện đầu tiên là ở Hà Lan, Anh, Pháp
từ thế kỷ XVI XVII Hàng hoá được mua bán đầu tiên là công trái (trái phiếu nhà nước); sau đó là các cổ phiếu, trái phiếu công ty dần trở thành những đối tượng mua bán chủ yếu trên thị trường chứng khoán Ngoài ra, trên thị trường chứng khoán còn mua bán các loại chứng khoán khác như kỳ phiếu, tín phiếu, văn tự cầm cố …dài hạn
Thị trường mua bán chứng khoán chủ yếu được thực hiện tại sở giao dịch chứng khoán Sở giao dịch chứng khoán là nơi đăng ký và niêm yết thị giá mua, bán chứng khoán Ngoài sở giao dịch chứng khoán, các ngân hàng cũng tiến hành mua, bán chứng khoán theo thị giá mà sở giao dịch chứng khoán đăng ký
Trang 31Sở giao dịch chứng khoán là thị trường chứng khoán tập trung, mua bán hầu hết các chứng khoán có trong bảng giá niêm yết
Ngoài ra, còn có các thị trường chứng khoán không tập trung (OTC) Việc mua bán các chứng khoán ở thị trường này được thực hiện qua mạng internet, fax, telephon…và qua đàm phán, thoả thuận đối với tất cả các loại chứng khoán
Thị trường chứng khoán có hai loại: Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán phát hành lần đầu Thị trường thứ cấp là thị trường mua bán lại các loại chứng khoán
sự linh hoạt trong đầu tư, phân tán bớt rủi ro cho nhà đầu tư và tăng tính cạnh tranh trong nền kinh tế
Thị trường chứng khoán có độ nhạy cảm cao với các biến cố về kinh
tế, chính trị, xã hội, quân sự… của một nước Nó như một phong vũ biểu của nền kinh tế Thông qua việc đánh giá khách quan, nhanh nhạy giá trị các cổ phiếu, trái phiếu, thị trường chứng khoán phản ánh trạng thái hoạt động của nền kinh tế và từng công ty qua các chỉ số chứng khoán Chỉ số
Mô hình thị trường chứng khoán
Cổ phiếu Thị trường chứng khoán Trái phiếu
C ty, D.nghiệp, N hàng Sơ cấp Thứ cấp
Các chứng khoán khác Tín phiếu, kỳ phiếu N hàng, văn tự cầm cố
C.ty, N.nước, N.hàng
Trang 32chứng khoán là tổng hợp các yếu tố thống kê nhằm đo lường sự tăng hay giảm giá của các chứng khoán tại một thị trường chứng khoán cụ thể nào
đó, ở một thời điểm nhất định so với thời điểm trước đó Trên thế giới hiện
có các chỉ số chứng khoán tiêu biểu như: DOW JONES của Mỹ , NEKKEIcủa Nhật Bản , PTSEcủa Anh Chỉ số chứng khoán của Việt Nam là VN Index
Ở các nước tư bản chủ nghĩa, thị trường chứng khoán có vai trò to lớn trong việc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn cho các công ty, tạo điều kiện để nhà nước quản lý vĩ mô thị trường vốn, đánh giá đúng sự phát triển của nền kinh tế và khả năng sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp Mặt khác,
nó cũng được các nhà tư bản lớn lợi dụng để hoạt động đầu cơ, lừa đảo, nhằm thu lợi nhuận kếch sù và làm phá sản những nhà tư bản vừa và nhỏ; làm tăng các rối loạn, mất cân đối, trong nền kinh tế và làm sâu sắc thêm các mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản
Chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, các loại văn tự cầm cố…)
là tư bản giả
Tư bản giả là loại tư bản tồn tại dưới hình thức chứng khoán có giá, đem lại thu nhập cho người sở hữu chứng khoán, chỉ là bản sao của tư bản thực tế
Tư bản giả có hai loại chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu
Cổ phiếu do công ty phát hành, là giấy chứng nhận quyền sở hữu của cổ đông đã góp vốn vào công ty Khi công ty cổ phần được thành lập, đi vào hoạt động, tư bản thật đã được đầu tư vào quá trình sản xuất Còn cổ phiếu chỉ là bản sao của tư bản thật
Trái phiếu là những phiếu ghi nợ do các công ty, ngân hàng hay nhà nước phát hành để vay nợ của những người mua trái phiếu Chúng tồn tại dưới các hình thức trái phiếu công ty, trái phiếu ngân hàng và công trái Các trái phiếu đều được phát hành có kỳ hạn, lợi tức cố định; khi đến kỳ hạn được hoàn trả cả vốn và lợi tức Người có trái phiếu công ty là chủ nợ của công ty, chứ không phải là người đồng sở hữu công ty, nên không có quyền tham gia quản lý công
ty như cổ đông sở hữu cổ phiếu
Các loại chứng khoán có giá đều là tư bản giả, vì bản thân chúng không
có giá trị Giá trị danh nghĩa ghi trên chứng khoán chỉ là sự sao chép lại giá trị của tư bản thật đã đầu tư vào sản xuất Tư bản thật khi đã đầu tư vào sản xuất tồn tại dưới hình thức nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên, nhiên, vật liệu, sức lao động… nó vận động gắn liền với sự vận động của sản xuất; còn các
Trang 33chứng khoán vận động bên ngoài sản xuất, lưu thông trên thị trường, tách rời hoàn toàn với sự vận động của tư bản thật
Khi tư bản thật đã sử dụng hết, thì tư bản giả (bản sao của nó) vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục lưu thông Ví dụ: tiền bán công trái đã được nhà nước sử dụng hết, nhưng tờ công trái vẫn còn trong tay người sở hữu và nó vẫn là tư bản, vẫn đem lại thu nhập cho người sở hữu
Tư bản giả khác tư bản thật về lượng, ban đầu giá trị danh nghĩa của các chứng khoán phản ánh giá trị tư bản thật đã đầu tư Nhưng về sau trên thị trường giá cả các chứng khoán được thể hiện ở thị giá chứng khoán, thì tổng thị giá chứng khoán lớn hơn nhiều lần tổng tư bản thực tế đầu tư
Trong thời kì khủng hoảng kinh tế, khi các sở giao dịch chứng khoán bị sụp đổ, các cổ phiếu, trái phiếu bị mất giá hàng loạt, thì trên thực tế trong nhiều trường hợp của cải xã hội vẫn không bị giảm sút là bao
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, lượng tư bản giả ngày càng
lớn Nguyên nhân: Một là, do các công ty cổ phần phát hành lượng cổ phiếu
ngày càng lớn ra thị trường và các quan hệ tín dụng phát triển mạnh, đòi hỏi các công ty, ngân hàng phải phát hành trái phiếu để huy động vốn đáp ứng yêu
cầu phát triển sản xuất, kinh doanh Hai là, do tỷ suất lợi tức cho vay giảm xuống làm cho thị giá chứng khoán tăng lên Ba là, tín dụng nhà nước ngày
càng mở rộng, chi tiêu của nhà nước tư sản ngày càng lớn làm cho ngân sách bị thâm thủng, nợ nhà nước tăng lên, buộc nhà nước phải phát hành công trái để
bù đắp Bốn là, hoạt động đầu cơ, lừa đảo, lũng đoạn trên thị trường chứng
khoán của một số tài phiệt
Câu hỏi ôn tập
1 Những đặc điểm của tư bản cho vay dưới chủ nghĩa tư bản?
2 Bản chất của lợi tức cho vay và cách tính tỷ suất lợi tức?
3 Các hình thức tín dụng tư bản chủ nghĩa?
4 Ý nghĩa chính trị xã hội và ý nghĩa kinh tế qua nghiên cứu tư bản cho vay
Trang 34Chương 9
TƯ BẢN KINH DOANH TRONG NÔNG NGHIỆP
VÀ ĐỊA TÔ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
1 Tư bản kinh doanh nông nghiệp, nguồn gốc và bản chất địa tô tư bản chủ nghĩa
1.1 Hai con đường phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp
a Đặc điểm quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp
Tư bản không chỉ hoạt động và thống trị trong lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp… mà còn đẩy mạnh sự hoạt động của nó sang lĩnh vực nông nghiệp, tiếp tục chi phối một trong những ngành sản xuất vật chất cơ bản của
xã hội Quá trình này đã từng bước xác lập quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp được quy định bởi các tác nhân kinh tế và phi kinh tế Dưới tác động của quy luật giá trị những người nông dân sản xuất nhỏ, bị phân hóa một bộ phận thành tầng lớp giầu có (phú nông, địa chủ) kinh doanh nông nghiệp theo phương thức tư bản chủ nghĩa một bộ phận khác bị phá sản hình thành lao động làm thuê Mặt khác, được nhà nước thống trị tạo điều kiện, tư bản đã đẩy nhanh quá trình xâm nhập vào nông nghiệp để kinh doanh, thúc đẩy sự ra đời của quan hệ sản xuất
tư bản chủ nghĩa
Đặc điểm nổi bật của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp
là chế độ độc quyền sở hữu và độc quyền kinh doanh ruộng đất Cả hai loại độc quyền đã ngăn cản sự tự do cạnh tranh trong nông nghiệp Có độc quyền tư hữu ruộng đất là do hình thái đặc thù, lịch sử chuyển hoá quan hệ sở hữu tư nhân dưới ảnh hưởng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Có độc quyền kinh doanh ruộng đất của tư bản là do xuất phát từ tình trạng đại bộ phận những người tư hữu nhỏ bị phá sản, phải bán sức lao động và bị lệ thuộc vào tư bản kinh doanh nông nghiệp Khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành, trong nông nghiệp có ba giai cấp cơ bản gắn bó chặt chẽ với nhau gồm: địa chủ (độc quyền sở hữu ruộng đất); tư bản kinh doanh nông nghiệp (độc
Trang 35quyền kinh doanh ruộng đất) và giai cấp công nhân nông nghiệp “Đó là ba giai cấp lớn của xã hội hiện đại dựa trên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa”.1
b Hai con đường hình thành và phát triển quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp
Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp nói chung được hình thành do phân hoá những người nông dân sản xuất nhỏ và sự xâm nhập của tư bản đầu tư vào nông nghiệp Tuy nhiên, quá trình này diễn ra rất chậm chạp nên việc xác lập quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp được tiến hành theo hai con đường:
Một là, tiến hành cuộc cách mạng tư sản, xoá bỏ chế độ kinh tế địa chủ,
thủ tiêu quyền sở hữu ruộng đất phong kiến cổ truyền, phát triển quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp Tiêu biểu là ở các nước: Mỹ, Pháp và một số nước Bắc Âu…Lênin gọi đó là con đường kiểu Mỹ
Hai là, thực hiện cải cách kinh tế, dần dần chuyển kinh tế địa chủ phong
kiến sang kinh doanh theo phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sử dụng lao động làm thuê Con đường này không xoá bỏ hoàn toàn quyền chiếm hữu ruộng đất cổ truyền của địa chủ phong kiến Vì vậy, trong nông nghiệp xuất hiện hai loại độc quyền: độc quyền chiếm hữu ruộng đất và độc quyền kinh doanh ruộng đất Các nước phát triển theo con đường này gồm: Đức, Italia, Nhật bản, Nga sa hoàng…Lênin gọi đó là con đường kiểu Đức
Song phát triển bằng con đường nào thì chủ nghĩa tư bản cũng chỉ xoá bỏ lối kinh doanh phong kiến trong nông nghiệp chứ không thủ tiêu chế độ tư hữu
về ruộng đất, mặc dù nó là yếu tố cản trở sự phát triển của nền nông nghiệp C Mác khẳng định: “Độc quyền sở hữu ruộng đất là một tiền đề lịch sử và vẫn là cái cơ sở thường xuyên của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, cũng như của tất cả những phương thức sản xuất trước kia dựa trên sự bóc lột quần chúng dưới một hình thức này hay một hình thức khác”.2 Chủ nghĩa tư bản vẫn thừa nhận chế độ độc quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ nhưng lại bắt nó phụ thuộc vào tư bản, thích ứng với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
c Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp theo phương thức tư bản chủ nghĩa
Kinh doanh trong nông nghiệp chịu sự tác động của những yếu tố khác nhau Một là, các điều kiện tự nhiên chi phối và ảnh hưởng trực tiếp đến qui
mô, chất lượng hiệu quả của sản xuất nông nghiệp Hai là, do còn tồn tại chế độ
1 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 25, phân II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr 643
2 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 25 phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.243
Trang 36độc quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ nên đã ngăn cản tư bản đầu tư vào lĩnh vực này, làm cho sản xuất nông nghiệp chậm được áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến
Khi tư bản xâm nhập vào nông nghiệp, tiến hành kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa, từng bước đã biến nền nông nghiệp phong kiến thành một nền nông nghiệp hàng hoá sản xuất lớn, hiện đại Kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa đã làm cho vốn được tập trung trong tay số ít nhà tư bản nên có điều kiện áp dụng khoa học và công nghệ hiện đại một cách phổ biến Trên cơ
sở đó, nâng cao, năng suất lao động nông nghiệp và chất lượng nông phẩm… Mặt khác, cạnh tranh kiểu tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy quá trình ứng dụng khoa học kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi để hiện đại hoá nông nghiệp Tính chất xã hội hoá trong nông nghiệp được đẩy mạnh, biểu hiện
ở sự tập trung hoá, chuyên môn hoá, hợp tác hoá trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Từ đó hình thành các vùng chuyên canh, cung cấp cho thị trường một khối lượng lớn sản phẩm có chất lượng cao, giá cả phù hợp
Nhưng hạn chế lớn nhất của phát triển nông nghiệp theo con đường tư bản chủ nghĩa là đã làm phá sản hàng loạt người sản xuất nhỏ, tăng cường bóc lột lao động làm thuê trong nông nghiệp; đồng thời tạo cơ hội cho tư bản
tư hữu “những mảnh địa cầu” của một nhóm chủ đất là “một vật thừa vô dụng và phi lý”
1 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 25 phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr 244, 245
2 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 25 phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr 244, 245
Trang 37Tuy nhiên, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp có những điểm khác so với lĩnh vực công nghiệp Ở đây không diễn ra quá trình tích tụ
và tập trung tư bản, không xoá bỏ hoàn toàn kinh tế hộ và trang trại gia đình vì
đó là những tổ chức kinh tế cơ sở quan trọng của nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa Các tổ chức kinh tế này sở dĩ tồn tại được vì nó có những ưu thế nhất định như: tận dụng được lao động nhàn rỗi trong gia đình, tiết kiệm được chi phí sản xuất… Bên cạnh đó, việc tồn tại bộ phận kinh tế này cũng tạo điều kiện cho tư bản tập trung vào cung ứng vật tư, tiêu thụ và chế biến nông, sản phẩm
Nó làm cho tư bản hoạt động có hiệu quả cao hơn và chi phối được người sản xuất Điều đó cho thấy kinh tế hộ và trang trại gia đình không phải là sự cản trở
mà là một hình thức phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp
1.2 Nguồn gốc và bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa
a Phạm trù địa tô
Địa tô là phạm trù xuất hiện trước chủ nghĩa tư bản Cơ sở của nó là quyền
sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế, phản ánh mối quan hệ giữa người với người đối với ruộng đất Trong xã hội phong kiến đã tồn tại địa tô,
nó là hình thức bóc lột chủ yếu của chủ đất đối với nông nô và tá điền Địa tô phong kiến có ba hình thức:
- Tô lao dịch, là loại địa tô mà người nông dân cấy rẽ ruộng đất, phải đem sức lao động, đem súc vật và nông cụ của gia đình mình đến làm việc trên ruộng đất của địa chủ
- Tô hiện vật, là số lượng nông phẩm mà người nông dân cấy rẽ ruộng đất phải nộp cho địa chủ để được quyền canh tác ruộng đất trong một thời gian nhất định Đây là hình thức địa tô đã phát triển cao hơn địa tô lao dịch
- Tô tiền, là số tiền mà người thuê đất phải trả cho địa chủ để được quyền canh tác ruộng đất trong một khoảng thời gian nhất định Đây là hình thức địa
tô khi kinh tế hàng hoá đã phát triển, do đó nó là hình thức địa tô cuối cùng của
xã hội phong kiến
Dưới chủ nghĩa tư bản, nông nghiệp cũng đã trở thành lĩnh vực để tư bản đầu tư kinh doanh Do còn tồn tại chế độ độc quyền sở hữu ruộng đất, nên để tiến hành kinh doanh, nhà tư bản phải vừa đi thuê ruộng đất của địa chủ vừa mua sức lao động của công nhân nông nghiệp Số tiền mà nhà tư bản phải trả
Trang 38
cho địa chủ (theo hợp đồng) để được sử dụng ruộng đất trong một thời gian nhất định là địa tô tư bản chủ nghĩa
Khi nền nông nghiệp bị phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thống trị
đã xuất hiện các loại địa tô: địa tô nông nghiệp, địa tô đất xây dựng, địa tô hầm
mỏ, địa tô độc quyền… Với phương pháp trừu tượng hoá khoa học, khi nghiên cứu địa tô, C.Mác chỉ giới hạn trong phạm vi ngành sản xuất lương thực, cụ thể
là sản xuất lúa mỳ; vì lĩnh vực này nuôi sống con người, nuôi sống cả một dân tộc Như vậy, các loại địa tô khác chỉ là hình thức đặc biệt của địa tô tư bản chủ nghĩa gắn với những điều kiện cụ thể
b Nguồn gốc và bản chất địa tô tư bản chủ nghĩa
Trong nông nghiệp tư bản chủ nghĩa, công nhân làm thuê là những người trực tiếp canh tác ruộng đất và bị bóc lột Trong quá trình sản xuất, họ phải tạo
ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản dưới hình thức lợi nhuận nông nghiệp Toàn
bộ nông phẩm thu được, một phần bù lại chi phí sản xuất, số còn lại là lợi nhuận Trong đó, số lợi nhuận nhà tư bản được hưởng một phần theo tỷ suất lợi nhuận bình quân, tương ứng với lượng tư bản đầu tư; phần còn lại nộp cho địa chủ dưới hình thức địa tô Như vậy, khi kinh doanh nông nghiệp, nhà tư bản phải thu được một số lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân để nộp cho chủ đất Khoản lợi nhuận này phải được bảo đảm thường xuyên và tương đối ổn định Đó chính là địa tô tư bản chủ nghĩa
Địa tô tư bản chủ nghĩa là bộ phận lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp trả cho chủ sở hữu ruộng đất
Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa là một phần giá trị thặng dư, nó được qui định cả về mặt lượng và mặt chất Về mặt lượng, địa tô là phần ngoài lợi nhuận bình quân Về mặt chất, địa tô là phần giá trị thặng dư mà tư bản bóc lột của công nhân nông nghiệp để trả cho chủ đất
Phạm trù địa tô tư bản chủ nghĩa phản ánh mối quan hệ thống nhất và đối lập giữa “ba giai cấp cấu thành cái bộ xương sống của xã hội cận đại - người công nhân làm thuê, nhà tư bản công nghiệp và địa chủ”.1 Địa tô tư bản chủ nghĩa biểu hiện quan hệ giữa địa chủ với tư bản kinh doanh nông nghiệp trong
1C Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 25 phần II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr 246
Trang 39việc chia nhau giá trị thặng dư Mặt khác nó phản ảnh quan hệ bóc lột giữa địa chủ và nhà tư bản với công nhân làm thuê trong nông nghiệp
Địa tô tư bản chủ nghĩa và địa tô phong kiến đều dựa trên cơ sở quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế, đều là kết quả của sự bóc lột người lao động Tuy nhiên, giữa chúng có những điểm khác nhau căn bản:
- Về chất, địa tô tư bản chủ nghĩa phản ánh quan hệ giữa ba giai cấp: địa chủ, tư bản nông nghiệp và công nhân làm thuê Trong đó, địa chủ gián tiếp bóc lột công nhân nông nghiệp thông qua tư bản thuê ruộng đất Còn địa tô phong kiến chỉ phản ánh mối quan hệ trực tiếp giữa hai giai cấp địa chủ và nông dân lĩnh canh (người cấy rẽ ruộng đất)
- Về lượng, địa tô tư bản chủ nghĩa là một phần giá trị thặng dư, còn địa tô phong kiến gồm toàn bộ sản phẩm thặng dư, đôi khi còn là một phần sản phẩm cần thiết (khi mất mùa địa chủ không giảm mức tô)
- Về hình thức, địa tô tư bản chủ nghĩa là địa tô tiền, còn địa tô phong kiến chủ yếu là địa tô hiện vật và địa tô lao dịch Địa tô phong kiến dựa trên cơ sở cưỡng bức siêu kinh tế, người nông nô và gia đình họ bị lệ thuộc chặt chẽ vào địa chủ Địa tô tư bản chủ nghĩa dựa trên cơ sở các quan hệ kinh tế Nhà tư bản thuê ruộng đất của địa chủ và mua hàng hoá sức lao động trên thị trường đều theo nguyên tắc “thuận mua vừa bán”
Địa tô tư bản chủ nghĩa tạo ra cái vẻ giả tạo, dường như những người sở hữu ruộng đất không tham gia bóc lột lao động làm thuê, bởi vì công nhân nông nghiệp chỉ có quan hệ trực tiếp với những nhà tư bản thuê ruộng đất Việc tư bản bóc lột người lao động cũng được nguỵ trang bằng sự bình đẳng bề ngoài theo các quan hệ kinh tế nhất định
2 Các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa
Địa tô mà chủ sở hữu ruộng đất thu được gồm những bộ phận thuộc các hình thức khác nhau, bao gồm địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối
2.1 Địa tô chênh lệch
Phân tích địa tô tư bản chủ nghĩa, trước hết phải giả định: nông sản được bán theo giá cả sản xuất như các hàng hóa khác Điều này đảm bảo cho các nhà
tư bản bù được chi phí sản xuất và có lợi nhuận bình quân tương ứng với số tư bản đầu tư trong nông nghiệp
Trang 40Lợi nhuận siêu ngạch có cả trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và nông nghiệp Trong công nghiệp, lợi nhuận siêu ngạch chỉ là hiện tượng tạm thời khi những nhà tư bản cá biệt có được điều kiện sản xuất tốt hơn mức trung bình của
xã hội Trái lại, trong nông nghiệp, lợi nhuận siêu ngạch tồn tại thường xuyên
và tương đối ổn định Điều đó bắt nguồn từ những lý do sau:
- Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu nhưng diện tích lại
có hạn, vị trí và chất lượng khác nhau Thực tế, người ta không thể tự tạo thêm được ruộng đất, nhất là ruộng đất tốt, có điều kiện canh tác thuận lợi Trong khi đó hầu hết ruộng đất đã bị độc chiếm Do vậy, những người kinh doanh ruộng đất tốt,
có điều kiện thuận lợi sẽ sử dụng được sức tự nhiên một cách độc quyền nên luôn thu được lợi nhuận siêu ngạch tương đối ổn định, lâu dài
- Trong nông nghiệp, giá cả sản xuất chung của nông phẩm do điều kiện sản xuất xấu nhất quyết định Bởi vì, nông phẩm là sản phẩm thiết yếu của đời sống con người, nếu chỉ canh tác trên ruộng đất tốt và trung bình thì sẽ không
đủ nông phẩm cho nhu cầu xã hội Cho nên người ta phải canh tác trên cả những ruộng đất xấu và ruộng đất không có vị trí thuận lợi Khi đó, giá cả sản xuất chung của nông phẩm phải đảm bảo cho những tư bản đầu tư ở những loại ruộng đất xấu và không có vị trí thuận lợi cũng thu được lợi nhuận bình quân Còn những tư bản đầu tư vào ruộng đất tốt, trung bình, có vị trí thuận lợi sẽ đạt năng suất cao hơn Khi bán theo giá cả sản xuất chung, ngoài lợi nhuận bình quân, còn thu được lợi nhuận siêu ngạch để chuyển hoá thành địa tô Số lợi nhuận siêu ngạch này sẽ thuộc về chủ đất dưới hình thức địa tô chênh lệch vì
nó là kết quả của việc sử dụng sức tự nhiên đã bị độc chiếm
Như vậy, địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận siêu ngạch (ngoài lợi nhuận bình quân) thu được trên những ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi Nó
là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung của nông phẩm được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất tốt, trung bình, có vị trí thuận lợi
Nguyên nhân trực tiếp làm cho lợi nhuận siêu ngạch chuyển hoá thành địa
tô chênh lệch là chế độ độc quyền kinh doanh ruộng đất của tư bản
Độ màu mỡ và vị trí thuận lợi của ruộng đất không phải là nguồn gốc của địa tô tư bản chủ nghĩa mà chỉ là cơ sở để lao động của công nhân nông nghiệp đạt năng suất cá biệt cao hơn Nguồn gốc duy nhất của lợi nhuận siêu ngạch mà
nó chuyển hoá thành địa tô chênh lệch là từ lao động của người công nhân nông