1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác - Lênin (Tập 1): Phần 1

86 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác - Lênin (Tập 1): Phần 1
Tác giả Chử Văn Tuyên, Nguyễn Công Cời, Hoàng Minh Thảo, Đặng Đình Tiến, Đào Văn Dụng, Bùi Ngọc Quỵnh, Nguyễn Trọng Xuân, Thân Văn Nhau, Đinh Huy Chung, Phạm Văn Phùng, Đỗ Văn Dạo
Trường học Học viện Chính trị quân sự
Chuyên ngành Kinh tế học chính trị
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 1 của giáo trình Kinh tế học chính trị Mác - Lênin (Tập 1) trình bày những nội dung về: đối tượng, phương pháp nghiên cứu và chức năng của Kinh tế học chính trị Mác-Lênin; sản xuất hàng hóa và sự ra đời của phương thức sản tư bản chủ nghĩa; sản xuất tư bản chủ nghĩa là sản xuất giá trị thặng dư; tích lũy tư bản và quy luật chung của tích lũy tư bản chủ nghĩa;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 2

BAN BIÊN SOẠN

Đại tá, TS Chử Văn Tuyên (chủ biên) - Chương 1, 5 Đại tá, Th.S Nguyễn Công Cời - Chương 2, 3 Đại tá, TS Hoàng Minh Thảo - Chương 10 Đại tá, Th.S Đặng Đình Tiến - Chương 8 Đại tá, Th.S Đào Văn Dụng - Chương 6 Thượng tá, TS Bùi Ngọc Quỵnh - Chương 11 Thượng tá, TS Nguyễn Trọng Xuân - Chương 12 Thượng tá, Th.S Thân Văn Nhau - Chương 7 Thượng tá, Th.S Đinh Huy Chung - Chương 13 Thượng tá, CN Phạm Văn Phùng - Chương 4 Thiếu tá, CN Đỗ Văn Dạo - Chương 9

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Trong giảng dạy, học tập các môn lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay, kinh tế học chính trị có vị trí rất quan trọng

Thời gian qua, việc nghiên cứu, dạy và học kinh tế học chính trị trong các nhà trường quân đội nói chung, ở Học viện Chính trị quân sự nói riêng luôn được quan tâm đúng mức; chất lượng và hiệu quả ngày càng được nâng cao Nhưng trong điều kiện xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, nội dung chương trình của môn học đang đặt ra nhiều vấn đề mới cần quan tâm giải quyết

Tiếp tục quán triệt và vận dụng đường lối quan điểm của Đảng vào giảng dạy, học tập bộ môn kinh tế học chính trị; chấp hành chỉ thị của Thủ trưởng Tổng cục chính trị, Học viện Chính trị quân sự, trực tiếp là cán bộ giáo viên Khoa Kinh

tế chính trị đã tiến hành biên soạn giáo trình “Kinh tế học chính trị Mác - Lênin - Tập I” (Dùng cho đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội, bậc đại học)

Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã bám sát những nguyên lý kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa có chọn lọc, nội dung kết cấu của những giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin đã và đang được sử dụng trong hệ thống giáo dục quốc gia Các tác giả cũng đã quán triệt, vận dụng những quan điểm mới của Đảng về nhiệm vụ kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, quốc phòng an ninh vào những chủ đề hoặc những nội dung có liên quan nhằm làm cho những nguyên lý kinh tế chính trị Mác - Lênin một cách cơ bản

và có hệ thống hơn, gắn bó chặt chẽ hơn với thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta hiện nay, giúp người học nắm các nguyên lý lý luận làm cơ sở thuận lợi trong xem xét và lý giải các hiện tượng kinh tế - xã hội trong nước và trên thế giới

TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ

Trang 4

Chương 1 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

VÀ CHỨC NĂNG CỦA KINH TẾ HỌC CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN

1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của kinh tế học chính trị

Trước khi Kinh tế học chính trị Mác - Lênin ra đời, đã xuất hiện những

tư tưởng, những học thuyết kinh tế đại biểu cho lợi ích của những giai cấp khác nhau trong xã hội

1.1 Một số tư tưởng kinh tế thời cổ đại và trung đại

a Tư tưởng kinh tế thời cổ đại

Những tư tưởng kinh tế thời cổ đại phản ánh trình độ phát triển kinh tế

và trình độ nhận thức của con người trong xã hội chiếm hữu nô lệ Những người đã đề xuất các quan điểm, tư tưởng kinh tế thời đó là: Xenophon (430-354); Platon (427-347); Aristoteles (384-322) Những tư tưởng kinh tế thời cổ đại chưa được khái quát thành hệ thống các phạm trù, quy luật mà chỉ được thể hiện trong các tác phẩm triết học, sử học, văn học nghệ thuật Có thể khái lược những quan điểm, tư tưởng kinh tế thời cổ đại với những nội dung sau:

Thứ nhất, coi chế độ chiếm hữu nô lệ là tất yếu

Platon đã mô tả một xã hội lý tưởng dựa trên cơ sở chế độ chiếm hữu nô

lệ, trong đó việc mua bán nô lệ là tất yếu nhằm củng cố quyền lực thống trị của giai cấp chủ nô

Aristotles cho rằng chế độ nô lệ là do giới tự nhiên sáng tạo ra, và chỉ có 2 khoa học là làm thế nào để có nhiều nô lệ và nên sử dụng nô lệ như thế nào? Ông đã khuyến cáo giới chủ nô phải thường xuyên tiến hành chiến tranh để bắt

tù binh về làm nô lệ; chia nô lệ thành từng nhóm nhỏ không cùng nguồn gốc, màu da; không cho nô lệ ăn quá đói nhưng cũng không nên cho ăn quá no Theo Aristotles thì chiến tranh là không thể tránh được và chiến tranh “chính nghĩa” là chiến tranh cướp đoạt nô lệ để đem lại nguồn của cải vô tận

Thứ hai, thái độ coi khinh lao động

Xenophon coi lao động chân tay là điều không đáng làm vì nó có thể làm

hư hỏng thân thể con người Người lao động không thể là người chiến binh hoặc là người bạn tốt Platon quan niệm về một nhà nước lý tưởng mà xã hội

Trang 5

được chia thành những đẳng cấp khác nhau Trong đó tầng lớp trên là giới chủ

nô, là những người thông thái; tầng lớp thứ hai là những chiến binh có nhiệm

vụ bảo vệ nhà nước, bảo vệ chế độ đương thời; tầng lớp thứ ba là những thợ thủ công và những thị dân có nhiệm vụ phục vụ lợi ích của hai tầng lớp trên Những nô lệ - người trực tiếp làm ra của cải cho xã hội, chỉ là những “công cụ biết nói” chứ không thể được coi là những công dân của thành Aten

Thứ ba, tư tưởng phủ nhận thương nghiệp và đề cao nền kinh tế tự cấp, tự túc

Liên quan đến sản xuất và trao đổi hàng hoá, Platon cho rằng thương nghiệp là một tội ác, là việc làm xấu xa vì nó làm cho con người phát triển tính giả dối, lừa gạt Theo Aristotles, cho vay nặng lãi cũng đáng phải lên án như việc kinh doanh nhà thổ Các nhà tư tưởng thời cổ đại lên án cho vay nặng lãi, hoạt động thương nghiệp vì những hoạt động này làm lung lay chế độ chiếm hữu nô lệ và quyền lực của tầng lớp chủ nô

Thứ tư, bước đầu xem xét và phân tích một số hiện tượng kinh tế - xã hội

Platon coi sự phân công xã hội là cơ sở sinh ra hoạt động trao đổi, sinh ra giai cấp và nhà nước Tuy chưa đề cập tới nguồn gốc và bản chất của tiền nhưng ông đã phát hiện chức năng lưu thông của tiền Ông còn cho rằng tiền tệ

và thương nghiệp thúc đẩy phân công phát triển

Aristotles là nhà tư tưởng kinh tế lớn nhất thời cổ đại Ông là người đầu tiên phân biệt sự khác nhau giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi; đồng thời nêu ra hai loại thương nghiệp là: thương nghiệp trao đổi (H - H hoặc H - T - H) và đại thương nghiệp (T - H - T) Mục đích của thương nghiệp trao đổi là để tổ chức kinh tế tốt hơn Còn mục đích của đại thương nghiệp là để có nhiều tiền, để làm giàu.Vì vậy, hoạt động đại thương nghiệp là trái đạo đức, không hợp quy luật

b Tư tưởng kinh tế thời trung cổ

Các tư tưởng kinh tế thời trung cổ đều đứng về phía lợi ích của giai cấp địa chủ quý tộc và giới giáo sĩ; mang tính phiến diện, đề cao cưỡng bức phi kinh tế, bênh vực bạo lực và chiến tranh theo tinh thần hiệp sĩ

Đề cập tư tưởng kinh tế thời trung cổ trước hết phải kể đến phạm trù “giá

cả công bằng” của Augustin Siannt (linh mục người Italia - 354 - 450).Theo Augustin Siannt, một mặt, giá cả công bằng là giá cả trung bình phù hợp với hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá, trên một ý nghĩa nào đó giá cả công bằng chính là tư tưởng trao đổi ngang giá Bên cạnh đó ông lại giải thích giá cả

Trang 6

công bằng một cách chủ quan dựa vào tư tưởng phân biệt đẳng cấp xã hội Ông

ta cho rằng cùng trao đổi một loại hàng hoá, mỗi đẳng cấp có một giá cả công bằng riêng Điều này có nghĩa là giá cả hàng hoá không phụ thuộc vào giá trị, không phụ thuộc vào cung - cầu, mà phụ thuộc vào địa vị xã hội của những người tham gia trao đổi trên thị trường

Một đại biểu khác cho tư tưởng kinh tế thời trung cổ là Thomasd Aquin(1225-1274) người Italia Xuất thân từ một gia đình quý tộc nên ông là người bảo vệ giáo lý nhà thờ; bảo vệ chế độ sở hữu phong kiến và sự thống trị của giai cấp địa chủ, quý tộc Tư tưởng kinh tế của Thomasd Aquin mang tính hai mặt và còn nhiều yếu tố duy tâm chủ quan Một mặt ông cho rằng giới tự nhiên do thượng đế sinh ra và sản phẩm nông nghiệp phát sinh từ thượng đế nên sản xuất nông nghiệp hợp ý muốn của chúa trời, hợp với giáo lý nhà thờ và

là việc làm từ thiện Còn tài sản tiền tệ, sự giàu có từ trao đổi và cho vay nặng lãi là sự chiếm đoạt của người khác Nó trái với lòng tốt của con người

Mặt khác, Thomasd Aquin lại cho rằng người ta có thể hoạt động thương nghiệp để có lợi nhuận Lợi nhuận thương nghiệp cũng có tính hợp pháp, cũng hợp với giáo lý khi người ta thực hiện tích luỹ tiền tệ để theo đuổi mục đích từ thiện Nói chung, tư tưởng kinh tế thời trung cổ đại biểu cho lợi ích của giai cấp địa chủ quý tộc và giới tu hành Cuối thời kỳ phong kiến, khi sản xuất hàng hoá

và hoạt động trao đổi ngày càng phát triển, còn xuất hiện những tư tưởng dung hoà lợi ích của địa chủ quý tộc với lợi ích của tầng lớp thương nhân và cho vay nặng lãi

1.2 Kinh tế chính trị tư sản cổ điển và những cống hiến của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I Lênin cho kinh tế học chính trị

Kinh tế chính trị với tư cách là một khoa học độc lập ra đời vào thế kỷ 17, cùng kỷ nguyên ra đời của chủ nghĩa tư bản Montchsetien(1575-1629)- đại biểu của trường phái trọng thương Pháp) là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ kinh tế chính trị Kinh tế chính trị (Oiconomia- Politria) tiếng Hy Lạp có nghĩa là “quy luật kinh tế của một thiết chế xã hội” Người sáng lập ra kinh tế chính trị tư sản cổ điển là W.Petty (1623-1687) người Anh và F.Quesnay (1694 - 1774) người Pháp Đại biểu xuất sắc nhất của kinh tế chính trị tư sản cổ điển là hai nhà kinh tế học người Anh: A.Smith (1723-1790) và Đ.Ricardo (1772-1823)

Gọi là Kinh tế học tư sản cổ điển hay Kinh tế chính trị tư sản cổ điển, vì thời kỳ đó bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp; giai cấp tư sản đang lên, họ

Trang 7

đại biểu cho một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn nên lợi ích của họ ít nhiều còn phù hợp với lợi ích của xã hội

Lý luận của A.Smith phản ánh sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thời kỳ công trường thủ công Trong tác phẩm “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân sự giàu có của các dân tộc” (1776), ông xác định kinh tế chính trị có hai

nhiệm vụ: một là, phân tích thực tiễn khách quan nền kinh tế và giải thích tính quy luật phát triển của nó; hai là, đưa ra những đề nghị cụ thể về các chính sách

kinh tế cho nhà nước và giới chủ Điểm xuất phát trong phân tích kinh tế của ông là nhân tố “con người kinh tế” và lý thuyết “bàn tay vô hình” A.Smith cho rằng, loài người là một liên minh trao đổi Trong khi trao đổi sản phẩm lao động cho nhau, phục vụ lẫn nhau thì con người luôn bị chi phối bởi lợi ích cá nhân Song khi chạy theo lợi ích cá nhân thì “người kinh tế” bị “Bàn tay vô hình” bắt buộc phải làm một việc không nằm trong dự kiến là đáp ứng lợi ích

xã hội “Bàn tay vô hình” chính là các quy luật kinh tế khách quan, tự phát hoạt động chi phối hành động của con người Điều kiện để các quy luật kinh tế khách quan hoạt động là: phải có sản xuất và trao đổi hàng hoá, nền kinh tế phát triển trên cơ sở tự do kinh tế và tự do thương mại Quan hệ giữa người với người là quan hệ phụ thuộc về kinh tế Ông đã nêu lên rất nhiều phạm trù, quan điểm kinh tế như: tiền là “phương tiện kỹ thuật”, là “bánh xe vĩ đại” của lưu thông; lao động là thước đo cuối cùng của giá trị; giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi

Đ.Ricardo sống và nghiên cứu kinh tế trong thời đại cách mạng công nghiệp Đó là điều kiện khách quan cho lý thuyết kinh tế của Đ.Ricardo vượt lên trên A.Smith trên nhiều lĩnh vực nghiên cứu Trong tác phẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học” (1817), Đ.Ricardo xác định đối tượng và phương pháp của kinh tế học chính trị là xác lập các quy luật phân phối sản phẩm (tức thu nhập) của ba giai cấp trong xã hội

Đ.Ricardo đã đứng vững trên quan điểm giá trị - lao động để phân tích các phạm trù: tiền lương, lợi nhuận, địa tô Về địa tô, ông lập luận: do “đất đai canh tác hạn chế”, “độ màu mỡ của đất đai giảm sút”, “năng suất đầu tư bất tương xứng” trong khi đó dân số tăng nhanh làm cho nạn khan hiếm tư liệu sinh hoạt trở thành phổ biến trong xã hội buộc con người phải canh tác trên ruộng đất xấu Vì canh tác trên đất xấu, nên giá trị nông phẩm do hao phí lao động trên ruộng đất xấu nhất quy định Vì vậy, ở ruộng đất tốt và trung bình, cùng chi phí

Trang 8

đầu tư nhưng sẽ thu được một lượng nông phẩm nhiều hơn so với ruộng đất xấu Phần chênh lệch phải nộp trả cho chủ ruộng gọi là địa tô

Tuy còn nhiều hạn chế bởi lập trường giai cấp và phương pháp luận nghiên cứu, nhưng công lao to lớn của kinh tế học tư sản cổ điển là đã đi sâu vào nghiên cứu bản chất các hiện tượng, các quá trình kinh tế; hệ thống và khái quát thành các phạm trù, khái niệm kinh tế C.Mác đã đánh giá cao công lao của các nhà kinh tế

tư sản cổ điển cho khoa học kinh tế và coi Đ.Ricardo là tiền bối trực tiếp trong quá trình hình thành và phát triển học thuyết kinh tế của mình

Đến những năm đầu của thế kỷ XIX, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xác lập được địa vị thống trị và bắt đầu bộc lộ những mâu thuẫn của chính nó Kinh tế chính trị tư sản cổ điển chấm dứt, bắt đầu xuất hiện các trào lưu hậu cổ điển (hoặc là tầm thường hoá kinh tế học và biện hộ cho chủ nghĩa tư bản) hoặc

là phê phán chủ nghĩa tư bản theo lập trường tiểu tư sản)

Đến giữa thế kỷ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực hiện một cuộc cách mạng trong kinh tế chính trị và phát triển nó thực sự trở thành một khoa học Bằng thiên tài của mình và trên cơ sở kế thừa có phê phán những thành tựu của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển, C.Mác đã hoàn bị lý luận giá trị lao động; phát kiến ra học thuyết giá trị thặng dư và khẳng định: quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản là quy luật giá trị thặng dư, vạch rõ bản chất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và quy luật vận động của xã hội tư sản Học thuyết kinh

tế của C.Mác được trình bày tập trung và đầy đủ nhất trong bộ “Tư bản”

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một giai đoạn mới của kinh tế học mác-xít ra đời: V.I Lênin bảo vệ và phát triển học thuyết kinh tế Mác trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản Di sản mà V.I Lênin để lại trong hệ tư tưởng của giai cấp vô sản nói chung và cho khoa học kinh tế nói riêng là lý luận về chủ nghĩa tư bản thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, lý luận về kinh tế xã hội chủ nghĩa và thời kỳ quá độ

Hiện nay, học thuyết kinh tế Mác - Lênin vẫn đang được tiếp tục bổ sung, phát triển và hoàn thiện Thông qua những hoạt động thực tiễn và nghiên cứu khoa học, các nhà lý luận mác - xít đã tổng kết những thành công

và cả những thất bại của các nước xã hội chủ nghĩa trong những năm cuối của thế kỷ XX, nhằm bảo vệ và phát triển những nguyên lý cơ bản của Kinh

tế học chính trị Mác - Lênin trong điều kiện lịch sử mới

Trang 9

2 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế học chính trị

Nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội loài người, C.Mác và Ph.Ăngghen đều bắt đầu bằng sự phân tích các hiện tượng, các quá trình kinh tế với một luận điểm cơ bản nhất: sản xuất vật chất là cơ sở của toàn bộ đời sống xã hội và nền sản xuất xã hội bao giờ cũng là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất

2.1 Nền sản xuất xã hội

a Vai trò của lao động sản xuất ra của cải vật chất

Lao động sản xuất ra của cải vật chất là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người Đó là quá trình con người thông qua công cụ tác động vào giới tự nhiên, cải biến giới tự nhiên nhằm tạo ra các sản phẩm để thoả mãn nhu cầu của mình Lao động sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện đầu tiên, cơ bản nhất để con người, xã hội loài người tồn tại và phát triển

Lao động sản xuất ra của cải vật chất là loại hình hoạt động thực tiễn cơ bản nhất của con người và xã hội loài người Lao động sản xuất vật chất, một mặt tạo

ra các sản phẩm để thoả mãn những nhu cầu con người; mặt khác, chính quá trình sản xuất vật chất làm cho nhu cầu của con người tăng lên, do đó nó tạo thêm những động lực mới thúc đẩy sản xuất vật chất không ngừng phát triển

Lao động sản xuất vật chất của con người được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục Sự lặp đi lặp lại và đổi mới không ngừng của quá trình sản xuất chính là quá trình tái sản xuất Mọi quá trình sản xuất (đồng thời cũng là quá trình tái sản xuất) đều là sự kết hợp giữa 3 yếu tố: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động

- Sức lao động: Là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại

trong một con người đang sống và được người đó đem ra sử dụng mỗi khi sản xuất ra một sản phẩm nào đó

- Đối tượng lao động: Là tất cả nhưng gì mà lao động của con người hướng tới

và tác động vào nhằm biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu của con người

- Tư liệu lao động: Là một vật hay một tổ hợp vật có khả năng truyền dẫn

sức lao động của con người đến đối tượng lao động để biến các đối tượng đó thành sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu của con người Tư liệu lao động bao gồm công cụ lao động và cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội Sự

Trang 10

phát triển của hệ thống các công cụ lao động là một trong những tiêu chí để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau

Lao động sản xuất ra của cải vật chất luôn mang tính mục đích, tính liên tục và tính xã hội Tổng thể các hoạt động sản xuất vật chất có quan hệ biện chứng với nhau, phụ thuộc lẫn nhau hợp thành nền sản xuất xã hội

Nền sản xuất xã hội bao giờ cũng tồn tại và phát triển trong những điều kiện lịch sử nhất định Tiêu chí để phân biệt sự khác nhau giữa các nền sản xuất xã hội

là phương thức sản xuất Phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất tương ứng

b Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

- Lực lượng sản xuất: Là tổng hợp các yếu tố vật chất, kỹ thuật của nền

sản xuất cùng con người - với những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm, ý thức sử dụng các yếu tố vật chất kỹ thuật đó để sản xuất ra của cải vật chất

Lực lượng sản xuất phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên của con người Trong mọi nền sản xuất, con người luôn là yếu tố quyết định V.I Lênin cho rằng: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại là giai cấp công nhân, là người lao động”1 Con người với vai trò là yếu tố quyết định trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, không phải là những con người chung chung, trừu tượng mà là con người của một thời đại kinh tế nhất định Đó là những con người có tri thức, có kỹ năng, có sức khoẻ, có ý thức lao động và phải được tổ chức chặt chẽ, khoa học Hiện nay, cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ; loài người đang chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức (tiếp cận từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất), con người vẫn là yếu tố quyết định đến năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Hiện nay, trong nền sản xuất xã hội, những

“robot thông minh”, những “nhà máy không người” đều là những sản phẩm

do lao động con người tạo ra trong thời cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại Một mặt, nó phản ánh năng lực kỳ diệu của con người trong chinh phục tự nhiên; mặt khác, nó lại được sử dụng như những phương tiện để con người nâng cao trình độ chinh phục tự nhiên Không những thế, trong những điều kiện lịch sử cụ thể, máy móc còn là phương tiện để giải quyết mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình chinh phục tự nhiên Trong quá trình

1V.I.Lênin, Toàn tập , tập 38, bản tiếng Việt, Nxb Tiến bộ Mátxcơva,1978, tr.430

Trang 11

lao động không chỉ diễn ra trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, mà còn xuất hiện mối quan hệ giữa người với người

- Quan hệ sản xuất: Là tổng hợp các mối quan hệ giữa người với người

trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu của chính con người

Quan hệ sản xuất là một hệ thống các mối quan hệ đa chiều rất phong phú, phức tạp Nó được biểu hiện tập trung trên ba mối quan hệ cơ bản: quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ về tổ chức và quản lý sản xuất, quan hệ về phân phối sản phẩm Trong đó, quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định, chi phối các quan hệ khác và nó là cơ sở của toàn bộ quan hệ sản xuất

Các quan hệ sản xuất là các quan hệ vật chất khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người C.Mác đã viết: “Trong sự sản xuất ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của họ tức là những quan hệ sản xuất Những quan hệ này phù hợp với một trình độ nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ” Quan hệ sản xuất là một phạm trù được xác định trong tính hiện thực của

nó như: chủ sở hữu các tư liệu sản xuất là ai? Tổ chức và quản lý hoạt động sản xuất như thế nào? Sản phẩm lao động làm ra thuộc về ai và phục vụ lợi ích cho những ai? Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế giữa người với người trong sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng của cải vật chất của nền sản xuất xã hội Trong nền sản xuất xã hội, lực lượng sản xuất là nội dung, quan hệ sản xuất

là hình thức xã hội của sản xuất Chúng luôn vận động, phát triển theo yêu cầu của quy luật: quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo thành phương thức sản xuất Trong mọi phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất luôn giữ vai trò là yếu tố cách mạng nhất Nó quy định hình thức của những quan hệ sở hữu, tổ chức quản lý sản xuất, phương thức phân phối sản phẩm

- nghĩa là nó quy định toàn bộ quan hệ sản xuất nói chung

Tuy nhiên, quan hệ sản xuất cũng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với quy luật khách quan, nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại, nếu không phù hợp (lạc hậu hay tiến bộ hơn trình độ phát triển của lực lượng sản xuất), nó sẽ trở thành lực cản kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

Trang 12

Lịch sử xã hội loài người gắn liền với sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất và sự thay đổi của những quan hệ sản xuất Đó là lịch sử phát triển của những phương thức sản xuất kế tiếp nhau từ thấp đến cao: cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa

2.2 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế học chính trị Mác - Lênin

Lịch sử hình thành và phát triển của kinh tế học chính trị cho thấy có các

tư tưởng, các trường phái kinh tế khác nhau vì có nhận thức khác nhau về đối tượng nghiên cứu

Trường phái trọng thương cho rằng, đối tượng nghiên cứu của kinh tế học chính trị là lưu thông để thực hiện việc tích luỹ của cải, tích luỹ sự giàu có (chủ yếu là tích luỹ vàng) thông qua hoạt động ngoại thương

Trường phái trọng nông chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất nhưng lại chỉ giới hạn ở sản xuất nông nghiệp Các đại biểu của kinh tế học chính trị tư sản cổ điển cho rằng, đối tượng của kinh tế học chính trị là nghiên cứu nguồn gốc, bản chất của mọi của cải; sự giàu có của các dân tộc và việc phân chia của cải đó giữa các tầng lớp xã hội Ngoài ra, kinh tế học chính trị tư sản cổ điển còn có những đóng góp nhất định khi phát hiện ra một số quy luật kinh tế chi phối quá trình vận động của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Điểm hạn chế của họ là coi các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản là quy luật chung của mọi quá trình lao động sản xuất, phủ định tính chất lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Với quan điểm duy vật về lịch sử; C.Mác, Ph Ăng ghen và V.I.Lênin cho rằng: sản xuất ra của cải vật chất là nền tảng của đời sống xã hội Quá trình lao động sản xuất không chỉ có mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, mà còn phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người Kinh tế học chính trị nghiên cứu nền sản xuất vật chất nhưng không nghiên cứu các mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên - mặt kỹ thuật của sản xuất; mà nghiên cứu mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất - mặt xã hội của sản xuất, nhằm tìm ra những quy luật chi phối sự vận động của một phương thức sản xuất nhất định trong lịch sử C.Mác đã viết: “Đối tượng nghiên cứu của tôi

là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và những quan hệ sản xuất và trao đổi thích ứng với phương thức ấy”1 V.I.Lênin cho rằng: Kinh tế chính trị tuyệt

1 C.Mác và Ph.Ăng ghen,Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 19

Trang 13

nhiên không nghiên cứu sự sản xuất mà nghiên cứu quan hệ xã hội giữa người với người trong sản xuất, nghiên cứu chế độ xã hội của sản xuất

Đối tượng nghiên cứu của kinh tế học chính trị được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa hẹp, kinh tế học chính trị nghiên cứu một phương thức sản xuất nào đó để tìm ra những quy luật vận động của riêng nó, nghiên cứu những quy luật kinh tế chi phối sự phát sinh, phát triển của một phương thức sản xuất nhất định và sự thay thế tất yếu phương thức sản xuất đó bằng một phương thức sản xuất mới cao hơn Bộ “Tư bản” của C.Mác là hình mẫu về kinh tế học chính trị theo nghĩa hẹp Trong tác phẩm này, C.Mác đã luận giải sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa; phát hiện ra những nhân tố kinh tế- xã hội sẽ phủ định chủ nghĩa tư bản và những tiền đề vật chất chuẩn bị cho sự ra đời một phương thức sản xuất mới

Theo nghĩa rộng, Ph.Ăngghen cho rằng, kinh tế chính trị là khoa học về những quy luật chi phối sự sản xuất và trao đổi tư liệu sinh hoạt vật chất trong xã hội loài người Quá trình sản xuất và trao đổi vật chất của con người được quy định bởi những điều kiện lịch sử nhất định Nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển của sức sản xuất và ý chí chủ quan của con người thông qua hệ

tư tưởng, thiết chế chính trị xã hội Không có kinh tế chính trị chung cho mọi thời đại, mọi dân tộc và giai cấp

Như vậy, đối tượng nghiên cứu của kinh tế học chính trị là các quan hệ sản xuất - một xã hội của sản xuất trong mối quan hệ biện chứng với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng, nhưng không phải là những quan hệ xã hội chung chung trừu tượng, mà là những quan hệ sản xuất gắn với đời sống hiện thực, nhằm tìm ra các quy luật kinh tế chi phối sự vận động và phát triển của các phương thức sản xuất trong những giai đoạn lịch sử khác nhau

Cũng như tất cả những quy luật tự nhiên và xã hội khác, các quy luật kinh

tế mang tính khách quan, không lệ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Các quy luật kinh tế chỉ phát sinh và phát huy tác dụng thông qua các hoạt động kinh tế mang tính xã hội Có những quy luật kinh tế tồn tại trong mọi phương thức sản xuất của xã hội loài người, gọi là quy luật chung (như quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật tiết kiệm chi phí và nâng cao năng suất lao động ); có những quy luật kinh tế chỉ ra đời, tồn tại trong một hoặc một số phương thức sản xuất nhất định (như quy luật giá trị, cung cầu, lưu thông tiền tệ )

Trang 14

Mỗi phương thức sản xuất đều có một hệ thống các quy luật kinh tế cùng tồn tại và phát huy tác dụng Việc nhận thức và vận dụng các quy luật kinh tế vào hoạch định các chính sách kinh tế xã hội, vào tổ chức quản lý sản xuất và phân phối các sản phẩm làm ra phụ thuộc vào năng lực chủ quan của con người Trong các xã hội có phân chia giai cấp, có nhà nước, những chính sách kinh tế của nhà nước bao giờ cũng đứng về phía lợi ích của một giai cấp nhất định Nghiên cứu kinh tế học chính trị không thể tách rời những chính sách kinh tế của nhà nước đại biểu cho lợi ích của một dân tộc, một giai cấp

3 Phương pháp nghiên cứu và chức năng của kinh tế học chính trị Mác - Lênin

3.1 Phương pháp nghiên cứu của Kinh tế học chính trị Mác - Lênin

Là một khoa học, Kinh tế chính trị Mác - Lênin đã sử dụng phép biện chứng duy vật để nghiên cứu các hiện tượng, các quá trình kinh tế diễn ra trong đời sống kinh tế xã hội Khi xem xét, lý giải các hiện tượng, các quá trình kinh

tế phải luôn đặt nó trong mối liên hệ phổ biến và sự vận động, phát triển không ngừng; đồng thời phải gắn với những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể Quan hệ sản xuất là những mối quan hệ đa chiều rất phức tạp Việc nghiên cứu nó để tìm ra những quy luật chi phối sự vận động, phát triển của những phương thức sản xuất nhất định là điều hoàn toàn không đơn giản Vì vậy, kinh

tế học chính trị Mác - Lênin đã sử dụng phương pháp đặc thù: trừu tượng hoá khoa học để nghiên cứu, tìm ra bản chất của những quan hệ kinh tế xã hội Phương pháp trừu tượng hoá khoa học trong kinh tế học chính trị Mác- Lênin là phương pháp nghiên cứu kinh tế dựa vào phép biện chứng duy vật để phân tích, tổng hợp các hiện tượng, các quá trình kinh tế; gạt bỏ những yếu tố tạm thời, ngẫu nhiên, thứ yếu ; đi sâu vào những yếu tố chủ yếu, ổn định, bản chất nhất để khái quát thành hệ thống các phạm trù, khái niệm kinh tế

Trừu tượng hoá tức là phải tư duy để nhận thức được bản chất của những hiện tượng, quá trình kinh tế Trừu tượng hoá khoa học khác hoàn toàn với kiểu trừu tượng kiểu hư vô chủ nghĩa Trừu tượng hoá khoa học chỉ gạt bỏ những yếu tố tạm thời, ngẫu nhiên, thứ yếu, chứ không gạt bỏ hết thảy mọi thuộc tính vốn có của sự vật để rồi tự tưởng tượng, áp đặt những thuộc tính mà bản thân

sự vật không có để rơi vào chủ nghĩa cực đoan, duy ý chí

Trang 15

Có ý kiến cho rằng, vì sử dụng phương pháp trừu tượng hoá nên kinh tế học chính trị Mác - Lênin chỉ đưa ra được những nội dung chung chung không

có ý nghĩa về mặt thực tiễn Ý kiến này là hoàn toàn sai trái, vì trước khi kinh

tế học mác-xít ra đời, Ph.Kêne đã sử dụng thành công phương pháp trừu tượng hoá để nghiên cứu tái sản xuất và phát minh ra “Biểu kinh tế” nổi tiếng Mặt khác, khi sử dụng phương pháp trừu tượng hoá, kinh tế học chính trị Mác - Lênin cũng luôn quan tâm tới tính lịch sử và tính thực tiễn của những hiện tượng, những quá trình kinh tế

Ngoài phương pháp trừu tượng hoá khoa học, kinh tế học chính trị Mác - Lênin còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác như: kết hợp lôgíc và lịch sử, phương pháp đi từ giản đơn đến phức tạp, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp toán, sơ đồ hoá các hiện tượng, quá trình kinh tế

3.2 Tính đảng của kinh tế học chính trị Mác - Lênin

Kinh tế học chính trị là môn khoa học xã hội, nó thuộc hệ tư tưởng và luôn bảo vệ lợi ích của một giai cấp nhất định Không có kinh tế học chính trị phi giai cấp hoặc kinh tế học chính trị chung cho mọi giai cấp Tính đảng của kinh tế học chính trị phản ánh tính mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các giai cấp có địa vị khác nhau trong một nền sản xuất xã hội Nó còn được biểu hiện qua tính phê phán và tính kế thừa có phê phán giữa các trường phái, các học thuyết kinh tế Kinh tế học chính trị Mác - Lênin là một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin; bảo vệ lợi ích của giai cấp vô sản; nó là vũ khí tư tưởng được giai cấp vô sản sử dụng đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, đồng thời nó trang bị tri thức để giai cấp vô sản nhận thức và thực hiện nhiệm vụ xây dựng chế độ xã hội mới do nhân dân lao động làm chủ

Tính đảng trong Kinh tế học chính trị Mác - Lênin không mâu thuẫn với tính khoa học của nó Điều đó cũng có nghĩa là Kinh tế học chính trị Mác - Lênin có sự thống nhất cao giữa tính đảng và tính khoa học Bởi vì nó là bộ phận quan trọng trong hệ tư tưởng của giai cấp vô sản- giai cấp mà lợi ích của nó thống nhất với lợi ích của toàn xã hội, giai cấp đại biểu cho một phương thức sản xuất mới

sẽ thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội đẩy mạnh xuyên tạc, phủ nhận những nguyên lý kinh tế học mác-xít; chống phá đường lối, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta Nhận thức đầy đủ và

Trang 16

sâu sắc tính đảng, tính giai cấp của kinh tế học chính trị, chúng ta tích cực và chủ động đấu tranh trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng, góp phần bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện mới

3.3 Chức năng của Kinh tế học chính trị Mác - Lênin

Kinh tế học chính trị Mác - Lênin là môn cơ sở cho nhiều môn khoa học kinh tế khác và có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế-xã hội Vì vậy, kinh tế học chính trị Mác - Lênin có những chức năng cơ bản sau:

Chức năng nhận thức: Trang bị tri thức cho con người là chức năng chung

của mọi khoa học Đối với Kinh tế học chính trị Mác - Lênin, chức năng nhận thức hay trang bị tri thức chính là cung cấp những tri thức về sự vận động của các quan hệ sản xuất, về mối quan hệ và sự tác động lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng Trên cơ sở đó, người học nhận thức được hệ thống các quy luật kinh tế; hiểu biết đầy đủ và ngày càng sâu sắc hơn bản chất của các hiện tượng, quá trình kinh tế đã và đang diễn ra trong hiện thực xã hội; nhận thức được lịch sử phát triển của sản xuất vật chất

và lịch sử phát triển của xã hội loài người; phân tích nguyên nhân ra đời và dự báo xu hướng vận động, phát triển của một phương thức sản xuất, một hình thái kinh tế-xã hội

Chức năng phương pháp luận: Cùng với triết học và chủ nghĩa xã hội

khoa học, kinh tế học chính trị Mác - Lênin có vai trò quan trọng để giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong xem xét lý giải các hiện tượng kinh tế xã hội Học tập, nghiên cứu kinh tế học chính trị Mác - Lênin để từng bước hình thành, phát triển tư duy khoa học và cách mạng, làm

cơ sở để nhận thức đúng đắn các vấn đề kinh tế xã hội phức tạp đã hoặc sẽ nảy sinh Ngoài ra, Kinh tế học chính trị Mác - Lênin còn cung cấp hệ thống các phạm trù, khái niệm làm nền tảng, cơ sở cho các khoa học kinh tế khác

Chức năng tư tưởng : Trên cơ sở luận giải đầy đủ, sâu sắc quy luật vận

động, phát triển của các phương thức sản xuất nói chung, phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa nói riêng, kinh tế học chính trị Mác- Lênin là vũ khí lý luận tư tưởng của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản

Kinh tế học chính trị Mác - Lênin góp phần đắc lực vào việc hình thành nhân sinh quan cách mạng, tạo niềm tin sâu sắc cho người học vào thắng lợi cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản xoá bỏ áp bức bóc lột, xây dựng chế độ xã hội mới do nhân dân lao động làm chủ Nó trang bị cho người học những tri thức, phương thức đấu tranh trên lĩnh vực lý luận tư tưởng để bảo vệ đường lối,

Trang 17

chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trước hết và cơ bản nhất là đổi mới về kinh tế

Chức năng thực tiễn : Nghiên cứu kinh tế học chính trị Mác - Lênin không

chỉ nhằm mục đích nhận thức các hiện tượng, các quá trình kinh tế mà quan trọng hơn là vận dụng những nhận thức đó vào hoạt động thực tiễn

Thực hiện chức năng này, đòi hỏi quá trình nghiên cứu môn học phải bám sát thực tiễn và tham gia giải quyết kịp thời những vấn đề kinh tế - xã hội đang

và sẽ đặt ra Phải khắc phục triệt để khuynh hướng giáo điều, kinh viện Phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, cả những thành tựu lẫn những hạn chế của những quá trình kinh tế - xã hội, để bảo vệ và phát triển kinh tế học mác-xít trong điều kiện lịch sử mới Kinh tế học chính trị Mác - Lênin trang bị cho giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động hệ thống các tri thức kinh tế-

cơ sở lý luận cách mạng và khoa học cho cuộc đấu tranh xoá bỏ bóc lột, bất công; xây dựng chế độ xã hội mới văn minh hạnh phúc

Câu hỏi ôn tập

1 Trình bày khái lược sự ra đời và phát triển của kinh tế học chính trị ?

2 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế học chính trị Mác- Lênin? Phân biệt đối tượng của kinh tế chính trị theo nghĩa rộng, hẹp ?

3 Phân tích phương pháp trừu tượng hóa khoa học của kinh tế học chính trị Mác - Lênin Phê phán những quan điểm sai trái liên quan tới vấn đề nghiên cứu ?

4 Mối quan hệ giữa chức năng tư tưởng và chức năng thực tiễn và chức năng tư tưởng của kinh tế học chính trị Mác - Lênin ?

Trang 18

Chương 2 SẢN XUẤT HÀNG HÓA

1 Sản xuất hàng hóa và hàng hóa

1.1 Sản xuất hàng hoá và vai trò của nó trong phát triển lực lượng sản xuất

Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã trải qua hai kiểu tổ chức kinh

tế đặc trưng: sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa Đặc trưng cơ bản của sản xuất tự cấp tự túc là sản xuất ra sản phẩm để tự tiêu dùng, còn sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm để bán đáp ứng nhu cầu của xã hội chống thông qua sự trao đổi trên thị trường Ở đây, quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa với nhau được biểu hiện thông qua thị trường- mua và bán sản phẩm của lao động

a Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa

Sản xuất hàng hóa ra đời là một bước tiến quan trọng của nền sản xuất xã hội, khi có những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định

* Phân công lao động xã hội

Phân công lao động là sự phân chia lao động xã hội thành những ngành nghề khác nhau, tạo ra sự chuyên môn hóa lao động sản xuất Tham gia vào quá trình phân công lao động xã hội, mỗi người chỉ sản xuất ra một, hoặc một vài sản phẩm nhất định Trong khi đó, nhu cầu cuộc sống của con người lại rất

đa dạng, phong phú, cần đến nhiều loại sản phẩm khác nhau Vì vậy, để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống, đòi hỏi họ phải có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, trao đổi sản phẩm của lao động với nhau

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, phân công lao động càng phát triển thì sản xuất và trao đổi hàng hóa càng

mở rộng và đa dạng hơn Xét về mặt lịch sử, phân công lao động xã hội là cơ

sở, là tiền đề để sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển

* Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất

Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất hình thành từ khi xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc lập với nhau, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu cá nhân người lao động, sản phẩm làm ra thuộc quyền chi phối của họ Do đó, người

Trang 19

này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác, nhất thiết phải thông qua trao đổi, mua bán hàng hóa Tuy nhiên, sự tách biệt tương đối về mặt kinh

tế giữa những người sản xuất không chỉ do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất quy định Trong nền sản xuất lớn, nó còn do các hình thức sở hữu khác nhau về

tư liệu sản xuất, sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tư liệu sản xuất quy định

Sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại phải có đầy đủ hai điều kiện trên, thiếu một trong hai điều kiện đó thì không có sản xuất hàng hóa

b Vai trò của sản xuất hàng hóa

Sản xuất hàng hóa ra đời là một bước tiến quan trọng trong sự phát triển của nền sản xuất xã hội, đánh dấu một bước ngoặt của lịch sử xã hội loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội”, tiến lên xã hội văn minh Vai trò của sản xuất hàng hoá được thể hiện ở các mặt sau:

Thứ nhất, sản xuất hàng hóa ra đời đã phá vỡ tính tự cấp, tự túc, bảo thủ,

trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành, địa phương, vùng lãnh thổ; giải phóng lực lượng sản xuất, mở rộng mối liên hệ kinh tế Do đó, nó có tác động thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên môn hóa lao động ngày càng cao, khai thác triệt để lợi thế tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất, từng ngành và từng địa phương, vùng lãnh thổ Trên cơ sở

đó, năng xuất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu của xã hội Khi sản xuất hàng hóa phát triển, quan hệ trao đổi hàng hóa vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, nó còn thúc đẩy phân công lao động quốc

tế, khai thác tốt hơn lợi thế so sánh để phát triển sản xuất ở mỗi nước cũng như từng khu vực và trên toàn thế giới

Thứ hai, sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm để đáp ứng nhu cầu

của thị trường, của xã hội nên nó không bị giới hạn bởi quy mô sản xuất, nhu cầu, nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở sản xuất mỗi địa phương, vùng lãnh thổ Do đó, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng nhanh nhất những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng

Thứ ba, sản xuất hàng hóa chịu sự chi phối của những quy luật kinh tế

khách quan như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, cạnh tranh Do đó, người sản xuất hàng hóa phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, buộc họ phải luôn luôn năng động, nhạy bén, tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản

Trang 20

xuất, tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả kinh tế, hạ thấp chi phí sản xuất đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng

Thứ tư, sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa không chỉ mở rộng

giao lưu kinh tế mà còn mở rộng giao lưu văn hóa giữa các địa phương, vùng lãnh thổ, quốc gia, khu vực và thế giới; làm thỏa mãn ngày càng tốt hơn cả đời sống vật chất và văn hoá tinh thần người lao động Từ đó, tạo động lực kích thích sản xuất phát triển nhanh chóng

1.2 Hàng hoá

a Khái niệm hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá

Hàng hoá là sản phẩm của lao động, có khả năng thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người và phải được đem trao đổi (bán-mua) trên thị trường Hàng hóa có thể ở dạng vật thể (hữu hình) như sắt, thép, lương thực, thực phẩm, máy móc hoặc ở dạng phi vật thể (vô hình) như dịch vụ y tế, thương mại, giáo dục, văn hóa, thương hiệu, sở hữu trí tuệ Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học- công nghệ và sự phát triển của sản xuất hàng hóa, khái niệm hàng hóa cũng được mở rộng hơn, nhiều loại hình trước đây vốn không phải là hàng hóa, nay cũng được đem trao đổi (bán-mua) hoặc sử lý nó như hàng hoá

Sản xuất hàng hóa ra đời từ cuối xã hội cộng sản nguyên thủy và đã tồn tại qua các chế độ nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Dù trong bất kỳ hình thái kinh tế-xã hội nào thì mục đích trực tiếp của sản xuất hàng hoá để bán, mục đích xét đến cùng là để tiêu dùng, tiêu cùng cho sản xuất hoặc tiêu dùng cho sinh hoạt Vì vậy, hàng hóa có hai thuộc tính là: giá trị sử dụng và giá trị

- Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn

một nhu cầu nào đó của con người

Mỗi một hàng hóa được sản xuất ra đều có một hay một số công dụng nhất định có thể thỏa mãn được một nhu cầu nào đó của con người, hoặc nhu cầu vật chất, hoặc nhu cầu tinh thần Ví dụ: máy móc, nguyên vật liệu là sản phẩm vật chất thỏa mãn nhu cầu cho người sản xuất; lương thực, thực phẩm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng vật chất cá nhân; phim ảnh, sách báo thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người

Trang 21

Chính công dụng của vật phẩm làm cho hàng hoá có giá trị sử dụng Công dụng hay giá trị sử dụng của hàng hóa là do những thuộc tính tự nhiên (lý, hóa, sinh học) của thực thể hàng hóa đó quy định Do đó, giá trị sử dụng, với ý nghĩa

là công dụng của vật phẩm là một phạm trù vĩnh viễn

Giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dần trong quá trình phát triển của khoa học - kỹ thuật và của lực lượng sản xuất Thí dụ: Than đá trước đây chỉ dùng làm chất đốt, khi khoa học kỹ thuật phát triển than đá được dùng làm nguyên liệu cho một số ngành công nghệ hóa chất, chế tạo ra nhiều sản phẩm có công dụng khác nhau như cao su, tơ nhân tạo, thậm chí có thể là nước hoa Xã hội càng tiến bộ, lực lượng sản xuất càng phát triển thì giá trị sử dụng của vật phẩm hàng hoá càng đa dạng, phong phú

Giá trị sử dụng với tư cách là một thuộc tính của hàng hóa không phải là giá trị sử dụng cho người sản xuất trực tiếp mà là giá trị sử dụng xã hội, cho người khác, thông qua trao đổi trên thị trường Điều đó, đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải luôn quan tâm đến nhu cầu xã hội, thị hiếu của người tiêu dùng, làm cho sản phẩm của mình sản xuất ra được thị trường thừa nhận Trong nền sản xuất hàng hóa, giá trị sử dụng đồng thời là vật mang giá trị trao đổi

- Giá trị của hàng hóa:

Để hiểu được thực thể giá trị của hàng hóa, phải đi từ giá trị trao đổi của hàng hóa Giá trị trao đổi là quan hệ về số lượng, là tỷ lệ trao đổi giữa các giá trị sử dụng khác nhau

Ví dụ: 1m vải = 5kg thóc

Hai hàng hoá (vải và thóc) có giá trị sử dụng hoàn toàn khác nhau nhưng chúng lại trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất định (1/5), vì chúng đều là sản phẩm của lao động, do hao phí lao động của người sản xuất hàng hóa tạo ra Hao phí lao động chính cơ sở chung cho sự trao đổi giữa tất cả các hàng hóa, là giá trị của hàng hóa Với phương trình trao đổi trên, hao phí lao động để sản xuất ra 1m vải ngang bằng hao phí lao động để sản xuất ra 5kg thóc; 1m vải có giá trị bằng 5kg thóc

Giá trị của hàng hóa là hao phí lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó Giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi, là nội dung bên

trong; còn giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị khi trao đổi Giá trị hàng hóa là biểu hiện quan hệ xã hội, quan hệ giữa những

Trang 22

người sản xuất hàng hóa Trao đổi hàng hóa thực chất là trao đổi lao động ẩn dấu trong các hàng hóa với nhau Giá trị hàng hóa là một phạm trù lịch sử Như vậy, hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị Một sản phẩm chỉ trở thành hàng hoá khi nó vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị Thiếu một trong hai thuộc tính đó thì nó không gọi là hàng hoá Giá trị sử dụng và giá trị là hai mặt đối lập, mâu thuẫn và thống nhất với nhau trong một hàng hoá Trong nền sản xuất hàng hóa, người sản xuất không chỉ là người bán mà còn là người mua hàng hóa khác để thỏa mãn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng Khi sản xuất ra hàng hóa để bán thì mục đích của họ là giá trị chứ không phải là giá trị sử dụng, nhưng trong tay họ lại có giá trị sử dụng; để có giá trị thì hàng hóa

họ sản xuất ra phải phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người mua, phải được thị trường thừa nhận Do đó, họ chú ý đến giá trị sử dụng (chất lượng, mẫu mã, chủng loại hàng hoá) cũng chính là để đạt mục đích giá trị Ngược lại người mua, mục đích của họ là giá trị sử dụng; nhưng muốn có được giá trị sử dụng trước hết họ phải thực hiện được giá trị hàng hóa, tức là phải trả giá trị(trả tiền) cho người sản xuất ra nó thì mới chi phối được giá trị sử dụng đó Như vậy, việc thực hiện giá trị và giá trị sử dụng là hai quá trình khác nhau Do đó, hàng hóa sản xuất ra có thể bán được và cũng có thể không bán được Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải luôn quan tâm đến chất lượng, mẫu mã và giá cả của hàng hoá; sản xuất phải phù hợp với nhu cầu, thị hiếu và khả năng thanh toán của người tiêu dùng

b Tính chất hai mặt của lao động và sản xuất hàng hóa

C Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, đó là là lao động cụ thể và lao động trừu tượng Với phát hiện quan trọng này, kinh tế chính trị của C Mác thực sự là khoa học và cách mạng

- Lao động cụ thể: Là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của

những ngành nghề chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có đối tượng mục đích, phương pháp, công cụ lao động và kết quả (sản phẩm làm ra) khác nhau Do đó, mỗi lao động cụ thể tạo ra một giá trị sử dụng nhất định

Lực lượng sản xuất càng phát triển, phân công lao động xã hội- sự chuyên môn hóa càng cao thì lao động cụ thể càng đa dạng, phong phú và tạo ra nhiều giá trị sử dụng khác nhau Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, tồn tại cùng với nền sản xuất xã hội với ý nghĩa là lao động sản xuất ra những công dụng vầ vật phẩm

Trang 23

- Lao động trừu tượng: Là lao động của người sản xuất hàng hóa đã gạt bỏ

hình thức cụ thể của nó để quy về một cái chung, đồng chất Đó là sự hao phí sức lao động, tiêu hao sức lực, bắp thịt, thần kinh của người sản xuất hàng hóa Lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa

và tạo ra giá trị hàng hóa Lao động trừu tượng chỉ được biểu hiện ra khi trao đổi giữa những người sản xuất hàng hóa và phản ánh tính chất xã hội lao động của những người sản xuất hàng hóa

Chỉ có lao động của người sản xuất hàng hóa mới mang tính chất hai mặt

là lao động cụ thể và lao động trừu tượng Đây là hai mặt của một quá trình lao động sản xuất hàng hóa diễn ra trong cùng một không gian, thời gian Quá trình lao động cụ thể đồng thời là quá trình lao động trừu tượng

Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa phản ánh tính chất tư nhân và tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hóa Bởi vì, đối với mỗi người sản xuất hàng hóa, sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất như thế nào là việc riêng của họ Nhưng mặt khác, lao động của người sản xuất hàng hóa lại là một bộ phận của toàn bộ lao động xã hội trong hệ thống phân công lao động xã hội Chính sự phân công lao động xã hội đã tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất hàng hóa

Lao động cụ thể và lao động trừu tượng phản ánh tính chất tư nhân và tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hoá Đó là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa giản đơn Mâu thuẫn đó được biểu hiện:

Sản phẩm do những người sản xuất hàng hóa riêng biệt tạo ra có thể phù hợp với nhu cầu của xã hội, có thể không đủ cung cấp hoặc vượt quá nhu cầu của xã hội Trong trường hợp sản xuất vượt quá nhu cầu của xã hội, tức cung lớn hơn cầu thì sẽ có một số hàng hóa không bán được, không thực hiện được giá trị của hàng hóa

Khi hao phí lao động cá biệt của người sản xuất hàng hóa cao hơn mức hao phí lao động mà xã hội có thể chấp nhận thì hàng hóa không bán được, người sản xuất sẽ bị thua lỗ, phá sản Ngược lại, khi hao phí lao động cá biệt của người sản xuất hàng hóa thấp hơn hao phí lao động mà xã hội có thể chấp nhận thì hàng hóa bán được và có lãi, họ sẽ giàu lên nhanh chóng

Vì vậy, sự vận động của mâu thuẫn giữa tính chất tư nhân và tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hoá sẽ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, đồng

Trang 24

thời chứa đựng khả năng sản xuất thừa và là mầm mống của mọi mâu thuẫn trong tiến trình phát triển của kinh tế hàng hóa

c Lượng giá trị hàng hóa

Giá trị hàng hóa là do hao phí lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Lượng giá trị hàng hóa được đo bằng lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa đó và được tính bằng thời gian lao động (ngày, giờ ) Nhưng trong thực tế, có nhiều người cùng sản xuất một loại hàng hóa, với điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề, năng suất lao động khác nhau, do đó, thời gian lao động để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa cũng khác nhau, đó là hao phí lao động cá biệt tạo ra giá trị cá biệt của hàng hoá Trên thị trường, cùng một loại hàng hoá, tuy được sản xuất trong điều kiện khác nhau nhưng chúng được bán cùng một mức giá, đó là giá cả thị trường

Vì vậy, lượng giá trị hàng hóa không thể tính bằng thời gian lao động cá biệt mà phải tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết

Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian đòi hỏi để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa nào đó trong điều kiện sản xuất bình thường với một trình độ thành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội đó Thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa gần sát với thời gian lao động cá biệt của những người sản xuất ra phần lớn hàng hóa đó trên thị trường Thời gian lao động xã hội cần thiết không phải là đại lượng cố định, nó thay đổi theo sự phát triển của lực lượng sản xuất Do đó, lượng giá trị hàng hóa cũng thay đổi Sự thay đổi đó tùy thuộc vào nhiều yếu tố như năng suất, cường độ và tính chất của lao động

Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động Nó được tính bằng số lượng sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian, hoặc lượng thời gian lao động để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Nếu trong cùng một đơn vị thời gian làm ra được nhiều sản phẩm hơn trước, hoặc sản xuất ra một đơn vị sản phẩm tốn

ít thời gian hơn trước gọi là tăng năng suất lao động Để tăng năng suất lao động, phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao trình độ chuyên môn ngành nghề cho người lao động

Khi năng suất lao động tăng lên, trong một đơn vị thời gian, người sản xuất hàng hóa tạo ra được nhiều sản phẩm hơn, lượng giá trị một đơn vị sản phẩm giảm, nhưng tổng giá trị không đổi

Trang 25

Tăng cường độ lao động là tăng mức độ khẩn trương căng thẳng, tức là tăng sự hao phí sức lực của người lao động trong một đơn vị thời gian Do đó,

số lượng hàng hóa được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên và tổng lượng giá trị cũng tăng lên tương ứng, nhưng lượng giá trị một đơn vị sản phẩm không đổi

Trong quá trình phát triển của nền sản xuất hàng hóa, người sản xuất hàng hóa có sự khác nhau về mức độ thành thạo và trình độ nghề nghiệp Nhưng khi trao đổi trên thị trường, phải căn cứ vào lượng giá trị (thời gian lao động xã hội cần thiết) Do đó, khi xét đến lượng giá trị hàng hóa và quan hệ trao đổi giữa những người sản xuất hàng hóa phải xét đến lao động giản đơn và lao động phức tạp

Lao động giản đơn là lao động không qua đào tạo mà bất cứ người nào có khả năng lao động bình thường đều làm được Còn lao động phức tạp là lao động phải được học tập, đào tạo chuyên môn ngành nghề Năng suất của lao động phức tạp bao giờ cũng là bội số của lao động giản đơn Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động phức tạp sẽ tạo ra số lượng hàng hóa lớn hơn nhiều

so với lao động giản đơn Để trao đổi ngang bằng giữa những sản phẩm hàng hóa của lao động phức tạp và lao động giản đơn, người ta lấy lao động giản đơn làm đơn vị tính toán và quy tất cả lao động phức tạp thành lao động giản đơn Trong nền kinh tế hàng hóa dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, việc quy đổi diễn ra một cách tự phát trên thị trường

2 Bản chất và chức năng của tiền tệ

2.1 Nguồn gốc và bản chất của tiền

Không phải ngay từ khi có sản xuất hàng hóa tiền tệ đã ra đời Tiền tệ ra đời là kết quả của sự vận động, phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa Tiền tệ là một hình thái giá trị, nhưng là hình thái giá trị đặc biệt phản ánh trình độ phát triển cao của sản xuất và lưu thông hàng hóa Trong lịch sử phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, tương ứng với mỗi giai đoạn lịch

sử và trình độ phát triển của nó có một hình thái giá trị Hình thái giá trị cũng phát triển từ thấp đến cao: hình thái giản đơn, hình thái mở rộng, hình thái chung, hình thái tiền tệ

a Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên

Trang 26

Hình thái giá trị này xuất hiện khi sản xuất hàng hóa mới ra đời nhưng còn

ở trình độ thấp Số hàng hóa sản xuất ra còn rất ít, nên trao đổi giữa những người sản xuất hàng hóa mang tính chất ngẫu nhiên Trong hình thái giá trị này, giá trị của hàng hóa thứ nhất được biểu hiện ra duy nhất ở hàng hóa thứ hai

Ví dụ: 1m vải = 5kg thóc

Ở đây giá trị của 1m vải được biểu hiện ở 5kg thóc Trường hợp này, vải

là hàng hoá có hình thái giá trị tương đối, còn thóc đóng vai trò vật ngang giá Hàng hóa đóng vai trò ngang giá là hình thái phôi thai của tiền tệ

b Hình thái giá trị mở rộng hay đầy đủ

Khi lực lượng sản xuất phát triển, phân công lao động xã hội mở rộng, năng suất lao động tăng lên, do đó có nhiều sản phẩm hơn Điều đó đã làm cho trao đổi trở nên thường xuyên và đa dạng hơn Thích ứng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa ở giai đoạn này là hình thái giá trị mở rộng hay đầy đủ

Hình thái giá trị này xuất hiện khi mà một sản phẩm lao động nào đó được trao đổi với nhiều hàng hóa khác một cách thông thường, phổ biến

để so sánh Nhưng trong hình thái này vẫn là trao đổi trực tiếp hàng lấy hàng

Do đó, khi sản xuất hàng hóa phát triển, trao đổi trực tiếp hàng hóa A lấy hàng hóa B, C, D không còn thích hợp, thậm chí cản trở làm cho trao đổi không thực hiện được Bởi vì, người có hàng hóa A cần hàng hóa B, nhưng người có hàng hóa B lại không cần hàng hóa A mà lại cần hàng hóa khác C, D Đây là

cơ sở khách quan cho sự xuất hiện, hình thái chung của giá trị

c Hình thái chung của giá trị

Ở hình thái này, giá trị của hàng hóa đều được biểu hiện ở một hàng hóa đóng vai trò làm vật ngang giá chung

Trang 27

Nhưng ở mỗi vùng khác nhau lại có vật ngang giá chung khác nhau Do

đó, khi sản xuất phát triển và có tính chất xã hội hóa cao, nhiều vật ngang giá chung đã gây cản trở khó khăn cho trao đổi Vì vậy đòi hỏi phải có vật ngang giá chung thống nhất

Như vậy, tiền tệ xuất hiện là kết quả sự vận động phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa Khi tiền tệ ra đời, thế giới hàng hóa phân làm hai cực Một cực là hàng hóa thông thường, cực khác là hàng hóa đóng vai trò tiền tệ Tiền tệ là hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất

cả các hàng hóa khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa Đó là bản chất của tiền tệ

= 1 hàng hóa X

Trang 28

2.2 Chức năng của tiền tệ

Bản chất của tiền tệ thể hiện ở các chức năng của nó Trong nền kinh tế hàng hóa phát triển, tiền tệ có 5 chức năng sau đây:

a Thước đo giá trị

Thước đo giá trị là chức năng cơ bản của tiền tệ Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền được dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hóa khác Tiền làm được thước đo giá trị, vì bản thân tiền cũng là một hàng hóa, có giá trị sử dụng và giá trị như những hàng hóa khác Giá trị của tiền(vàng, bạc) cũng do hao phí lao động xã hội cần thiết để khai thác, sản xuất

ra vàng, bạc quyết định

Khi giá trị hàng hóa được biểu hiện và đo lường bằng một số tiền nhất định thì gọi là giá cả của hàng hóa Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị Giá cả hàng hóa do các nhân tố: giá trị, quan hệ cung cầu, giá trị của tiền, tâm lý người tiêu dùng quyết định Giá cả hàng hoá tỷ lệ thuận với giá trị hàng hoá và tỷ lệ nghịch với giá trị của tiền Giá cả lên xuống xoay quanh giá trị do tác động của quan hệ cung, cầu Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả thấp hơn giá trị; ngược lại khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị Tuy nhiên, nếu xét trong toàn xã hội và trong một khoảng thời gian dài thì tổng giá cả luôn bằng tổng giá trị

b Phương tiện lưu thông

Khi làm chức năng phương tiện lưu thông, tiền làm trung gian(môi giới) trong việc trao đổi hàng hóa Mọi hàng hóa trao đổi với nhau thường phải thông qua tiền tệ Công thức lưu thông hàng hóa là H - T - H (Hàng - Tiền - Hàng) Khi hàng hóa chuyển từ tay người bán sang tay người mua thì tiền chuyển từ tay người mua sang tay người bán Do đó, làm phương tiện lưu thông nhất thiết phải là tiền mặt Lúc đầu tiền là vàng thỏi, bạc nén, dần dần tiền đúc ra đời và sau đó là tiền giấy, tiền tín dụng Bản thân tiền giấy không có giá trị(hoặc có nhưng rất nhỏ) mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do nhà nước phát hành và được xã hội công nhận Lượng tiền mặt cần thiết làm chức năng phương tiện lưu thông phụ thuộc vào ba yếu tố: Số lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường, giá cả hàng hóa, số vòng quay của đồng tiền cùng loại Có thể minh họa bằng công thức sau:

V

Q.P

M 

Trang 29

Trong đó: - M là lượng tiền cần thiết cho lưu thông

- P là mức giá

- Q là khối lượng hàng hóa và dịch vụ đem ra lưu thông

- V là số vòng lưu thông của đồng tiền

Thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền tệ làm cho việc sản xuất, trao đổi hàng hóa thuận lợi hơn; đồng thời cũng làm cho việc mua bán có thể tách rời nhau cả không gian và thời gian Do đó, xuất hiện khả năng khủng hoảng kinh tế

c Phương tiện cất trữ

Khi làm phương tiện cất trữ, tiền được rút ra khỏi lưu thông để dự trữ, khi cần lại được đưa vào phục vụ cho sản xuất và lưu thông hàng hoá Cất trữ tiền

là cất trữ của cải, cất trữ giá trị

Lượng tiền cất trữ nhiều hay ít, tăng hay giảm là tùy thuộc vào tình hình kinh tế của mỗi nước và ở từng thời kỳ khác nhau Thông thường tiền đưa vào cất trữ phải là tiền vàng

d Phương tiện thanh toán

Khi kinh tế hàng hóa phát triển đến một trình độ nào đó tất yếu sẽ nảy sinh việc mua bán chịu hàng hoá với nhau Việc mua bán chịu hàng hoá được bảo đảm bằng những hối phiếu (kỳ phiếu) thương mại Do đó, tiền có chức năng phương tiện thanh toán

Tiền làm phương tiện thanh toán, tức là tiền được dùng để chi trả sau khi giao dịch, mua - bán đã hoàn thành Thí dụ: trả tiền mua hàng chịu, trả

Trang 30

sẽ dẫn đến hiện tượng: nếu một người nào đó bị phá sản không đủ khả năng thanh toán nợ sẽ gây ảnh hưởng đến một loạt người sản xuất hàng hóa khác, gây rối loạn nền kinh tế

Khi tiền làm chức năng phương tiện thanh toán, công thức tính lượng tiền cần thiết cho lưu thông là:

Đây chính là quy luật lưu thông tiền tệ Quy luật này phát sinh và phát huy tác dụng cho mọi hình thái kinh tế xã hội có sản xuất hàng hoá và lưu thông tiền tệ

đ Tiền tệ thế giới

Khi sản xuất, trao đổi hàng hóa mở rộng ra ngoài biên giới quốc gia và hình thành quan hệ buôn bán giữa các nước thì tiền tệ làm chức năng tiền tệ thế giới Chức năng tiền tệ thế giới là tiền dùng làm phương tiện lưu thông và thanh toán quốc tế, làm công cụ tín dụng di chuyển của cải từ nước này sang nước khác

Làm chức năng tiền tệ thế giới phải là tiền vàng hoặc tiền giấy được các bên liên quan công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế Việc chuyển đổi tiền giấy giữa nước này với nước khác được tiến hành theo một quan hệ tỷ lệ nhất định gọi là tỷ giá hối đoái

Như vậy, tiền tệ có năm chức năng, các chức năng này ra đời cùng với

sự ra đời phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá Các chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau, thông thường, tiền có thể làm nhiều chức năng cùng một lúc

Số vòng quay trung bình của đồng tiền cùng loại

Lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông

 giá cả hàng hóa và dịch vụ - ( giá cả hàng hóa bán chịu và tổng số tiền khấu trừ cho nhau) +  giá cả hàng hóa đến

kỳ hạn thanh toán

=

Trang 31

3 Quy luật giá trị - quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế hàng hoá

Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và lưu thông hàng hoá Ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hoá thì ở đó quy luật giá trị hoạt động

và phát huy tác dụng

3.1 Nội dung và hình thức biểu hiện của quy luật giá trị

a Nội dung của quy luật giá trị

Quy luật giá trị quy định, việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải căn cứ vào hao phí lao động xã hội cần thiết, trao đổi phải ngang giá Quy luật giá trị biểu hiện mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hoá Cơ

sở của sự trao đổi đó là hao phí lao động xã hội cần thiết chứ không phải là hao phí lao động cá biệt Trong nền sản xuất hàng hoá, cùng một loại hàng hoá có thể có nhiều người cùng sản xuất ra, tuy nhiên, do trình độ tay nghề khác nhau, công nghệ khác nhau, năng suất khác nhau nên hao phí cá biệt

để sản xuất ra hàng hoá khác nhau Song trên thị trường, do cạnh tranh giữa người bán với người bán, giữa người bán với người mua, giữa người mua với người mua mà hàng hoá không phải bán theo hao phí lao động cá biệt

mà là hao phí lao động xã hội cần thiết

b Hình thức biểu hiện của quy luật giá trị

Quy luật giá trị hoạt động thông qua sự lên xuống của giá cả thị trường Giá cả thị trường là biểu hiện bằng tiền của giá trị thị trường Nó lên xuống xoay quanh giá trị thị trường, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu và một số yếu tố khác Giá cả thị trường là mệnh lệnh đối với mọi người sản xuất và trao đổi hàng hoá Căn cứ vào giá cả của hàng hoá trên thị trường, người sản xuất sẽ biết được hao phí lao động cá biệt của mình cao hơn hay thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết Từ đó, họ quyết định mở rộng hay thu hẹp quy mô sản xuất, đưa ra các giải pháp tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất xuống thấp hơn mức trung bình của xã hội

3.2 Tác dụng của quy luật giá trị

Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, quy luật giá trị có ba tác dụng cơ bản sau:

a Tự phát điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá

Điều tiết sản xuất là sự dịch chuyển tư liệu sản xuất và sức lao động từ ngành này sang ngành khác, làm cho quy mô của ngành sản xuất này được mở

Trang 32

rộng, ngành khác bị thu hẹp Điều tiết lưu thông là sự dịch chuyển của hàng hoá từ nơi này đến nơi khác (từ nơi có giá thấp đến nơi có giá cao) Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, có hiện tượng người sản xuất thu hẹp hoặc mở rộng sản xuất; bỏ ngành này, đổ xô vào sản xuất ngành khác; đưa hàng hoá từ nơi này đến nơi khác Hiện tượng trên chính là do tự phát điều tiết của quy luật giá trị Quy luật giá trị tự phát điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá thông qua sự biến động của giá cả thị trường Nếu một hàng hoá nào đó trên thị trường có cung nhỏ hơn cầu, giá cao, bán chạy, lợi nhuận nhiều thì những người sản xuất, kinh doanh hàng hoá mở rộng quy mô sản xuất hoặc chuyển hàng hóa từ nơi thừa đến nơi thiếu Do đó, tư liệu sản xuất, sức lao động được di chuyển sang ngành này nhiều hơn, quy mô sản xuất được mở rộng, lượng hàng hóa tăng Ngược lại, nếu một hàng hoá nào đó

có cung lớn hơn cầu, giá cả hạ, khó bán, ít hoặc không có lợi nhuận thì người ta thu hẹp sản xuất, lượng hàng hóa giảm…

Như vậy, thông qua sự lên xuống của giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá

b Kích thích cải tiến kỹ thuật và công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động

Trong những điều kiện khác nhau, hàng hoá được sản xuất ra có giá trị cá biệt khác nhau Trên thị trường, tất cả các hàng hoá đều phải được trao đổi theo giá trị xã hội Do đó, người sản xuất có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội sẽ

ở vào thế có lợi, thu được nhiều lợi nhuận; người sản xuất có giá trị cá biệt cao hơn giá trị xã hội sẽ ở vào thế bất lợi, có nguy cơ thua lỗ, phá sản Để giành ưu thế trong cạnh tranh và thu nhiều lợi nhuận, người sản xuất phải tìm cách làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá do mình sản xuất thấp hơn giá trị xã hội Muốn vậy, phải cải tiến kỹ thuật và công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động Việc làm này lúc đầu diễn ra ở một số người, nhưng do cạnh tranh với nhau, cuối cùng kỹ thuật và công nghệ của toàn xã hội được cải tiến Cứ như vậy, quy luật giá trị đã có tác dụng kích thích cải tiến kỹ thuật và công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, làm cho lực lượng sản xuất phát triển

c Phân hoá giàu - nghèo giữa những người sản xuất hàng hoá, làm nảy sinh quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa

Trang 33

Trong nền sản xuất hàng hoá nhỏ, người nào sản xuất ra hàng hoá có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội sẽ ở vào thế có lợi, thu được nhiều lợi nhuận dần trở nên giàu có, có điều kiên mở rộng sản xuất, thuê lao động, trở thành ông chủ Ngược lại, người nào sản xuất ra hàng hoá có giá trị cá biệt cao hơn giá trị xã hội sẽ ở vào thế bất lợi, thua lỗ, phá sản, phải đi làm thuê Như vậy, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời bắt nguồn từ sự vận động của mâu thuẫn cơ bản của nền sản xuất hàng hoá giản đơn, dưới tác động của quy luật giá trị Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào sự tác động của quy luật giá trị thì chủ nghĩa tư bản ra đời rất chậm chạp Vì vậy, để thúc đẩy chủ nghĩa tư bản ra đời nhanh chóng, trong lịch sử, chủ nghĩa tư bản đã thực hiện biện pháp tích luỹ nguyên thuỷ Thực chất tích luỹ nguyên thuỷ của tư bản là quá trình dùng bạo lực tước đoạt tư liệu sản xuất của người sản xuất nhỏ, biến họ thành những người tay trắng và tập trung một số tiền lớn vào tay một số người để có thể lập

ra được xí nghiệp tư bản chủ nghĩa Nhờ tích luỹ nguyên thủy tư bản chủ nghĩa

mà phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời nhanh chóng

Câu hỏi ôn tập

1 Phân tích điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá Những ưu thế và những kiểu sản xuất hàng hoá trong lịch sử ?

2 Phân tích hai thuộc tính và tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá?

3 Lượng giá trị và cách tính lượng giá trị hàng hoá ?

4 Trình bày bản chất và những chức năng của tiền tệ ?

5 Nội dung và tác dụng của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn ?

Trang 34

Chương 3 SẢN XUẤT TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

LÀ SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

1 Sự chuyển hóa của tiền thành tư bản

1.1 Công thức chung của tư bản

Tiền là hình thái giá trị cuối cùng của sản xuất và lưu thông hàng hóa giản đơn, đồng thời là hình thức xuất hiện đầu tiên của tư bản Bản thân tiền chưa phải là tư bản, nó chỉ là một loại hàng hóa đặc biệt, làm vật ngang giá chung trong trao đổi hàng hóa Tiền chỉ trở thành tư bản khi được sử dụng để bóc lột lao động làm thuê người khác, mang lai thu nhập không lao động cho chủ tiền tệ

Tiền trong lưu thông hàng hóa giản đơn vận động theo công thức H - T- H’ Còn tiền trong nền sản xuất tư bản vận động theo công thức T - H - T’ ( T’ > T) C.Mác gọi đây là công thức chung của tư bản Mọi tư bản, dù là tư bản công nghiệp, tư bản thương nghiệp, tư bản cho vay hay tư bản kinh doanh trong nông nghiệp cũng vận động dưới dạng khái quát đó

So sánh công thức chung của tư bản với công thức của lưu thông hàng hoá

giản đơn, chúng ta thấy giữa chúng có những điểm giống và khác nhau: Hai công thức đều phản ánh sự vận động của sản xuất hàng hoá, đều bao gồm hai yếu tố vật chất giống nhau là H và T, đều bao gồm hai hành vi đối lập nhau là mua và bán, đều biểu hiện mối quan hệ giữa người mua với người bán

Tuy nhiên, hai công thức trên phản ánh hai trình độ khác nhau của sản xuất hàng hoá, giữa chúng có những điểm khác nhau:

- Về trình tự của sự vận động Trong lưu thông hàng hóa giản đơn, bắt đầu

bằng hành vi bán (H-T), kết thúc bằng hành vi mua (T- H) Ở đây, H vừa là điểm khởi đầu, vừa là điểm kết thúc, còn T chỉ là môi giới Còn trong lưu thông

tư bản, bắt đầu bằng hành vi mua (T- H), kết thúc bằng hành vi bán (H-T), ở đây T vừa là điểm khởi đầu vừa là điểm kết thúc, còn H chỉ là môi giới

- Về mục đích của sự vận động:

Mục đích cuối cùng của lưu thông hàng hóa giản đơn là giá trị sử dụng Ngược lại, mục đích vận động của tư bản không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị lớn hơn (T’= T + t) “t” chính là số tiền trội ra so với số tiền ứng ra ban

Trang 35

đầu, C.Mác gọi đó là giá trị thặng dư (ký hiệu là m), còn số tiền ứng ra ban đầu

“T” là tư bản Như vậy, tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư

- Về giới hạn của sự vận động: Trong lưu thông hàng hóa giản đơn,

lưu thông chỉ là phương tiện để đạt mục đích tiêu dùng Do đó, nó sẽ kết thúc ở giai đoạn thứ hai (T-H), sau khi người trao đổi có được giá trị sử dụng mà anh ta cần Ngược lại, mục đích vận động của tư bản là sự lớn lên không ngừng của giá trị, thu giá trị thặng dư Vì vậy, sự vận động là không

có giới hạn: T- H - T’- H- T”- H- Tn’

1.2 Mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản

Nhìn vào công thức chung của tư bản, ta thấy dường như có sự mâu thuẫn với lý luận giá trị, vì ở đây giá trị không chỉ được tạo ra trong sản xuất

mà còn được tạo ra cả trong lưu thông C.Mác đã chỉ rõ: “Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông

Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông”1 Đúng là, nếu nhà tư bản không bỏ tiền vào lưu thông thì cũng không thể thu được giá trị thặng dư, nhưng bản thân lưu thông dù ngang giá hay không ngang giá cũng không tạo ra giá trị thặng dư Nếu trao đổi ngang giá, lưu thông không tạo ra giá trị mà chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị (từ tiền thành hàng, từ hàng thành tiền); còn tổng giá trị trong tay mỗi người tham gia trao đổi trước sau vẫn không thay đổi Trong trường hợp trao đổi không ngang giá; lưu thông cũng không tạo ra giá trị Trong thực

tế đời sống, có hiện tượng bán hàng hóa cao hơn giá trị và mua hàng hóa thấp hơn giá trị Ở trường hợp này, giá trị cũng không tăng thêm; vì trong nền sản xuất hàng hóa, mỗi người đều là người bán nhưng đồng thời cũng

là người mua Khi là người bán, họ được lời bao nhiêu thì khi là người mua, họ bị thiệt bấy nhiêu, còn tổng giá trị hàng hóa của xã hội không đổi Giả sử trong xã hội có những kẻ chuyên mua rẻ, bán đắt kiếm lãi, trường hợp này, giá trị cũng không tăng lên Nhờ mua rẻ, bán đắt, họ có thể thu thêm một số giá trị, nhưng đó chỉ là sự tước đoạt lẫn nhau giữa những người trao đổi hàng hóa Cái mà người này thu được thêm cũng chính là cái mà người khác mất đi Tổng giá trị trong xã hội không thay đổi

Từ phân tích trên cho thấy, lưu thông không tạo ra giá trị thặng dư Nhưng nếu không có lưu thông (tức nhà tư bản để tiền trong két sắt), nó cũng

Trang 36

không thể có được giá trị thặng dư Điều này dẫn đến mâu thuẫn là lưu thông vừa tạo ra giá trị thặng dư, vừa không tạo ra giá trị thặng dư Đây chính là mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản

C.Mác đã giải quyết triệt để mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản bằng việc tìm ra một loại hàng hóa đặc biệt, đó là hàng hóa sức lao động

a Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa

Sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi có đủ hai điều kiện sau:

Một là, người lao động phải được tự do về thân thể, do đó được tự do sử

dụng sức lao động của mình, kể cả tự do bán sức lao động

Hai là, người lao động không còn tư liệu sản xuất cần thiết để thực hiện

năng lực lao động của mình Do đó, họ không có tư liệu tiêu dùng, muốn duy trì sự sống, buộc họ phải đem bán sức lao động của mình cho người khác

Quá trình ra đời, chủ nghĩa tư bản đã đồng thời tạo ra đầy đủ hai điều kiện

cho sức lao động trở thành hàng hóa Một mặt, nhà nước tư sản ban hành các

đạo luật giải phóng nô lệ, nông nô khỏi sự lệ thuộc về thân thể đối với chủ nô, lãnh chúa phong kiến Mặt khác, tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản đã tước đoạt hết ruộng đất, tư liệu sản xuất của người lao động, biến họ thành những người tay trắng Cùng với các tác nhân trên, trong nền sản xuất hàng hóa giản đơn, quy luật giá trị đã làm phân hóa Những người sản xuất hàng hóa nhỏ, những người làm ăn thua lỗ cũng dần mất hết tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho người khác

1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1993 tr 249

Trang 37

b Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động

Giá trị của hàng hoá sức lao động là thời gian lao động xã hội cần thiết để

sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động Để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động, phải thông qua tiêu dùng của người công nhân cùng gia đình họ Do đó, giá trị của hàng hóa sức lao động được tính bằng giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống công nhân, gia đình họ, cũng như những phí tổn đào tạo người công nhân để có một trình độ tay nghề nhất định, phù hợp với yêu cầu sản xuất tư bản chủ nghĩa

Trên thị trường, giá trị của hàng hóa sức lao động được biểu hiện thành tiền công (hay tiền lương) mà nhà tư bản trả cho công nhân Tiền công là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động Dưới chủ nghĩa tư bản, tiền công mà người lao động nhận được chính là tiền bán sức lao động cho nhà tư bản Nhà tư bản trả công cho công nhân theo thời gian hoặc theo sản phẩm, tùy thuộc vào tính chất công việc Tiền công theo thời gian là hình thức tiền công

mà số lượng của nó nhiều hay ít tùy thuộc vào thời gian lao động của công nhân dài hay ngắn Tiền công tính theo sản phẩm là tiền công mà số lượng của

nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm đã làm ra, hoặc số lượng công việc đã hoàn thành trong một thời gian nhất định Mỗi sản phẩm được trả công bằng một lượng tiền nhất định, gọi là đơn giá sản phẩm Để xác định đơn giá sản phẩm, người ta lấy tiền công trung bình một ngày của công nhân chia cho số lượng sản phẩm của một công nhân sản xuất ra trong một ngày lao động bình thường Như vậy, tiền công theo sản phẩm chỉ là một hình thức chuyển hóa của tiền công theo thời gian Tuy nhiên, trả công theo sản phẩm, một mặt giúp cho nhà tư bản quản lý, giám sát quá trình lao động của công nhân dễ dàng hơn; mặt khác kích thích công nhân lao động tích cực, khẩn trương để tạo ra nhiều sản phẩm, từ đó nhận được tiền công nhiều hơn

Phạm trù tiền công còn được thể hiện hiện ở tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người lao động nhận được do bán sức lao động cho nhà tư bản Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng, chất lượng tư liệu tiêu dùng và dịch vụ mà công nhân mua được

từ tiền công danh nghĩa của mình Cái mà người lao động quan tâm nhiều hơn

là tiền công thực tế chứ không phải tiền công danh nghĩa Bởi vì, trong nhiều trường hợp, tiền công danh nghĩa có thể tăng, nhưng mức tăng chậm hơn mức tăng của giá cả các tư liệu sinh hoạt, do đó tiền công thực tế giảm, cuộc sống

Trang 38

trở nên khó khăn hơn trước Tiền công là một phạm trù có tính lịch sử và xã hội, nó tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước, từng thời kỳ Do đó, giá trị của hàng hóa sức lao động cũng là một phạm trù mang tính lịch sử - xã hội

cụ thể

Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động là công dụng của hàng hóa

sức lao động, thỏa mãn một nhu cầu sử dụng nào đó của nhà tư bản Quá trình nhà tư bản tiêu dùng giá trị sử dụng hàng hóa sức lao động là quá trình công nhân phải làm việc cho nhà tư bản Đó là quá trình công nhân kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất (lao động) để sản xuất ra hàng hoá cho nhà

tư bản Khác với các hàng hóa thông thường, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt Tính đặc biệt của nó được thể hiện ở chỗ, khi nhà tư bản tiêu dùng nó, nó không những không mất đi mà còn tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó; phần giá trị lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư (m)

Việc tìm ra hàng hóa sức lao động đã giúp C.Mác giải quyết triệt để mâu thuẫn công thức chung của tư bản và khẳng định: giá trị thặng dư chỉ được tạo ra trong quá trình sản xuất Trong công thức chung của tư bản, hành vi lưu thông (1) (T-H) là giai đoạn chuẩn bị cho quá trình sản xuất, hành vi lưu thông (2) (H-T) là để thực hiện sự chuyển hóa giá trị hàng hóa thành tiền tệ Như vậy, công thức đầy đủ biểu thị quá trình sản xuất và lưu thông của tư bản phải là:

SLĐ

T- H .SX H – T’

TLSX

2 Sản xuất giá trị thặng dư - quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản

2.1 Quá trình sản xuất giá trị thặng dư

Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhà tư bản chiếm hữu tư liệu sản xuất, còn công nhân là người trực tiếp lao động nhưng không có tư liệu sản xuất, nên quá trình sản xuất trong các xí nghiệp tư bản có đặc điểm:

- Công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản;

- Sản phẩm do công nhân làm ra thuộc nhà tư bản

Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là nền sản xuất hàng hóa phát triển cao Đó

là quá trình kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất để sản xuất ra hàng hóa

Trang 39

Tuy nhiên, nhà tư bản ứng tiền ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động không phải để thu về một số tiền như đã ứng ra ban đầu, mà phải là số tiền lớn hơn Vì vậy, sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa sản xuất ra giá trị sử dụng

Như vậy, 4 giờ sản xuất đầu, người công nhân sản xuất được 1 kg sợi, giá trị của 1 kg sợi sẽ là: + Giá trị của 1 kg bông = 3 $

+ Khấu hao máy móc = 2 $

+ Giá trị mới do công nhân tạo ra = 3 $

= 8 $

Nếu quá trình sản xuất dừng lại ở đây thì nhà tư bản sẽ chẳng thu được gì

và người công nhân cũng không bị bóc lột

Nhưng nhà tư bản mua sức lao động của người công nhân để làm việc trong 8 giờ chứ không phải trong 4 giờ, do đó công nhân phải lao động tiếp 4 giờ nữa

Trong 4 giờ lao động tiếp theo, người công nhân cũng sản xuất được 1 kg sợi như 4 giờ đầu và giá trị của 1 kg sợi đó cũng là 8$ Nhưng ở 1kg sợi thứ hai, nhà tư bản chỉ phải chi 5$, gồm 1kg bông 3$, khấu hao máy móc 2$ (không phải trả giá trị cho hàng hoá sức lao động) Tổng cộng 8 giờ lao động, công nhân sản xuất ra 2 kg sợi, trong đó nhà tư bản chi phí 13$ Bán 2kg sợi đúng giá trị được 16 $ So sánh thu chi, nhà tư bản được lời 3 $ Số tiền lời(3$)

đó chính là giá trị thặng dư; là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị hàng hoá sức lao động, bị nhà tư bản chiếm đoạt

Tóm lại, trong 8 giờ lao động, người công nhân chỉ mất 4 giờ để tạo ra lượng giá trị mới ngang bằng giá trị sức lao động; 4 giờ tiếp theo là lao động không công cho nhà tư bản

Trang 40

Như vậy, giá trị thặng dư là lượng giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra trong sản xuất bị nhà tư bản chiếm

đoạt Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách bóc lột công nhân lao động làm thuê

Sự phân tích trên đây cho chúng ta rút ra kết luận chính xác về tư bản: tư

bản không phải là một số tiền mà cũng không phải là tư liệu sản xuất, mà là một quan hệ xã hội, quan hệ sản xuất nhất định trong lịch sử Nó thể hiện quan

hệ bóc lột giữa nhà tư bản đối với công nhân lao động làm thuê

Những phân tích trên đã chứng minh phạm trù hàng hoá sức lao động là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản, lao động của người công nhân làm thuê là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư Nhưng quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa không thể thiếu máy móc, đặc biệt trong điều kiện cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ và cạnh tranh tư bản đang diễn ra rất quyết liệt Vậy máy móc có vai trò gì trong việc tạo ra giá trị thặng dư? Để làm rõ vấn đề này C.Mác đưa ra hai khái niệm tư bản bất biến

Trong quá trình đó, giá trị các bộ phận tư liệu sản xuất khác nhau được lao động cụ thể của công nhân chuyển vào sản phẩm mới theo cách thức khác nhau Trong đó, giá trị của nguyên, nhiên liệu được chuyển hết ngay sau một chu kỳ sản xuất; giá trị của máy móc, nhà xưởng được chuyển dần sau nhiều chu kỳ sản xuất Tuy nhiên, chúng có một đặc điểm chung là giá trị của chúng không mất đi, cũng không tăng lên mà được bảo tồn nguyên vẹn Trong quá trình sản xuất, tư liệu sản xuất nói chung, máy móc nói riêng có vai trò quan trọng, không thể thiếu đối với việc sản xuất ra hàng hóa, đặc biệt là việc tăng năng suất lao động Song nó không phải là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư

Tư bản khả biến

Tư bản khả biến là bộ phận tư bản dùng để mua hàng hoá sức lao động (ký hiệu là v) Khác với tư bản bất biến, trong quá trình sản xuất, bằng lao động

Ngày đăng: 30/12/2022, 16:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w