Phần 1 của giáo trình Đọc văn (Lí thuyết và thực hành đọc hiểu tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn phổ thông) trình bày những nội dung về: những vấn đề chung trong đọc văn; bản chất của đọc văn; một số hướng đọc văn; đọc văn trong trường phổ thông; đọc tác phẩm văn học dân gian; đọc thơ ca dân gian; đọc truyện dân gian; đọc tục ngữ;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN PHỔ THÔNG)
Trang 2TẬP THỂ TÁC GIẢ
1 TS Đỗ Văn Hiểu: Chương 1, chương 4
2 Th§ Nguyễn Thị Mai Anh: Chương 2
3 TS Trần Thị Thu Hương: Chương 3
Trang 3Thế Nguyễn Thị Mai Anh, TS Trin Thi Thu Hương
GIÁO TRÌNH ĐỌC VĂN
(LÍ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN PHỔ THÔNG)
NHAXUAT BAN DAI HOC OUGC GIA HA NOL
Trang 43.3 Đọc văn từ góc độ văn hóa
3 BOCVANTRONG TRUONG PHOTHONG
Trang 53 ĐỌCTỤCNGỮ
3.1 (ách đọc tục ngữ
34, Thựchành đọc tục ngữ
-68 -68
1 ĐỌCTHƠCATRUNG ĐẠI - B 1.1 Cách đọc tho ca trung đại 3
2 ĐỌCTRUYỆNTRUNGĐẠI # = es Su z Suy E meee
7 3 Đ0CVĂN CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI see WD
(hương IV 'ĐỌC TÁC PHẨM VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
1 ĐỌCTHỮCA HIỆN ĐẠI - - poe 1.1 Cách đọc thơ ca hiện đại —_— soostsussn snrsrsunsn ., 1.2 Thực hành đọc thơ ca hiên đại wot 2 DOCTRUYEN HIEN ĐẠI 142
2.1 Cách đọc truyện ngắn hiện đại 12 2.2 Thực hành đọc truyện ngắn hiện đại wa AT
Trang 6MUC LUC 7
4.1, Céch dockivin hoc hién di —_— su 4.2 Thựchành đọckívăn họchiện đi s „ 14
5.1 (ách đọc văn chính luận đại 179
TÀI LIỆU THAM KHẢO esseeerrriirrree - se TRỂ
Trang 7Đọc văn là một môn học quan trọng trong chương trình đào tạo của Khoa Khoa học Xã hội, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội Theo định hướng, nâng cao chất lượng giáo trình phục vụ các môn học - một nhiệm vụ then chốt của Đại học Thủ đô Hà Nội, với mục tiêu tiếp cận và phát huy tích cực
năng lực của người học, giáo trình chú trong một số điểm sau:
Thứ nhất, giáo trình kết hợp cân đối giữa lí thuyết đọc tác phẩm văn
học nói chung và thực hành thao tác đọc tác phẩm văn học cụ thể Lí thuyết
sẽ định hướng cho thực hành, và ngược lại, thực hành sẽ giúp người học
hiểu rõ hơn lí thuyết, từ đó hình thành được tư duy, thao tác, kĩ năng, có
thể chủ động tiếp cận một tác phẩm hoàn toàn mới Do đó, phần lí thuyết
sẽ được biên soạn theo xu hướng trực tiếp phục vụ thực hành, trong mỗi
chương sẽ trình bày ngắn gọn cách đọc một số loại tác phẩm văn học Phần
thực hành sẽ hướng dẫn đọc một hoặc hai tác phẩm văn học mang tính
chất thị phạm Mục đích chính của phần thực hành không phải là cung cấp
kiến thức vẻ tác phẩm cụ thể trong chương trình phổ thông, mà chủ yếu là
hình thành thao tác, kĩ năng đọc đưới sự soi đường của lí thuyết
Thứ hai, giáo trình chủ trương hướng dẫn sinh viên tiếp cận tác phẩm văn học bằng nhiều phương pháp khác nhau Mỗi phương pháp tiếp cận
tác phẩm văn học đều có mặt mạnh và mặt hạn chế, do đó, độc tôn một
phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học là quan điểm cực đoan Vì vậy, giáo trình chủ trương kết hợp nhiều hướng tiếp cận tác phẩm văn học, như tiếp cận từ nội tại văn bản - một hướng tiếp cận rất được chú trọng trong những năm gần đây, với hướng đọc tác phẩm văn học từ góc độ tiểu sử của nhà văn, góc độ văn hóa,
Thứ ba, nhằm mục tiêu giúp sinh viên phát huy tỉnh thần tự học, độc
Trang 810 GIAO TRINH BOC VAN (LÍ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH ĐỌC HIỂU TAC PHAM VAN HOC
gồm một số tài liệu tham khảo và hệ thống câu hỏi vừa có tính chất định
hướng ôn tập, vừa gợi mở suy nghĩ
Mục tiêu của Đại học Thủ đô Hà Nội là đào tạo ra đội ngũ giáo viên cho cả Trung học Phổ thông và Trung học Cơ sở Bám sát mục tiêu đó, nhóm biên soạn giáo trình Đọc øăn vấp phải một vấn đẻ vô cùng khó khăn, đó là: số lượng tác phẩm văn học được tuyển chọn vào chương,
trình Trung học Phổ thông, Trung học Cơ sở rất phong phú, phức tạp,
thuộc nhiều loại hình văn học khác nhau, nhiều thể loại khác nhau, cả
trong nước và nước ngoài Bao quát được tất cả các loại tác phẩm cũng,
khó, mà xây dựng một bộ khung giáo trình đảm bảo được tính thống nhất
cao độ cũng không hé dé dàng Nếu chọn triển khai theo cách phân loại
tác phẩm văn học của phương Tây, như: Tự sự, Trữ tình, Kịch, Kí thì một
số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam và Trung Quốc sẽ không thể xếp vào loại tác phẩm nào Hoặc nếu căn cứ trên hình thức văn bản để chia
tác phẩm văn học thành hai loại thơ và văn, thì cũng sẽ không tránh khỏi lúng túng khi đối diện với thể loại Truyện thơ Hơn nữa, trong mỗi loại tác phẩm văn học, ở mỗi loại hình khác nhau cũng có những biến động
đáng kể, chẳng hạn: trữ tình dân gian, trữ tình trung đại, trữ tình hiện đại không hoàn toàn giống nhau
Trước những khó khăn đó, nhóm biên soạn chọn cách thiết kế giáo trình Doc viin dựa trên cơ sở loại hình văn học và loại tác phẩm văn học với hi vọng kết hợp được cả đồng đại và lịch đại Căn cứ trên loại hình
văn học, giáo trình chia tác phẩm văn học thành Văn học dân gian, Văn học trung đại, Văn học hiện đại Căn cứ trên loại tác phẩm văn học, giáo trình chia mỗi loại hình văn học thành: Thơ ca, Truyện, Kịch, Kí, Chính luận Tuy nhiên, do tác phẩm văn học được chọn trong chương trình phổ thông,
rất phong phú, phức tạp, cho nên trong mỗi phản, giáo trình sẽ chọn
một số loại tác phẩm tiêu biểu để hướng dẫn lí thuyết và thực hành đọc, không nhất thiết trong mỗi loại hình văn học đều triển khai tất cả Thơ ca,
Truyện, Kịch, Kí, Chính luận Cụ thể, Giáo trình được chia thành 4 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về đọc văn; Chương 2: Đọc tác phẩm văn học dân gian; Chương 3: Đọc tác phẩm văn học trung đại; Chương 4:
Bina thn thin wis Wa KỈ
Trang 9Chúng tôi hi vọng, với giáo trình này, sinh viên sẽ có được những
kĩ năng cơ bản trong việc đọc tác phẩm văn học dân gian, văn học trung
đại, văn học hiện đại mà cụ thể là: thơ ca dân gian, thơ ca trung đại, thơ
ca hiện đại; truyện dân gian, truyện trung đại, truyện hiện đại; kịch hiện đại; kí văn học hiện đại; văn chính luận trung đại và hiện đại Đây là những loại tác phẩm văn học tiêu biểu được tuyển chọn vào chương trình phổ thông Trong quá trình biên soạn các tác giả đã rất có gắng, song cuốn sách, khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định Chúng tôi mong muốn nhận được ý kiến đóng góp của quý độc giả, quý thầy cô giáo và các em
sinh viên để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần tái bản sau
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Nhóm biên soạn
Trang 10(hương
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỌC VĂN
1 BẢN CHẤT CỦA ĐỌC VĂN
1.1.Đối tượng của đọc văn
1.1 1 Măn bản văn học — đổi tượng của đọc văn
Trong dạy học văn những năm gần đây, vấn đẻ “đọc văn”, “đọc hiểu văn bản” được đặt ra gắn liền với sự chuyển động của tình hình nghiên
cứu lí luận văn học trong nước Từ sau cải cách mở cửa 1986, các nhà nghiên cứu đã nỗ lực đổi mới nghiên cứu văn học theo hướng nghiên cứu
nội tại văn bản, cố gắng khắc phục tính chất xã hội học dung tục trong,
tiếp nhận văn học Từ đó đến nay, các trường phái nghiên cứu nộ
bản tác phẩm văn học được giới thiệu và ứng dụng ở Việt Nam như Chủ
nghía hình thức Nga, Chủ nghĩa cầu trúc, Tự sự học và đặc biệt là sự hiện
diện của Thi pháp học do Tran Dinh Sử giới thiệu và phát triển đã khiến
cho vấn đề văn bản văn học ngày càng được chú ý M Bakhtin timg cho
rằng: “văn bản (viết hoặc nói) với tư cách là thực thể thứ nhất của tất cả
những ngành khoa học và chỉnh thể tư duy nhân văn và tư duy ngữ văn học (trong đó thậm chí bao gồm cả tư duy triết học và thẳn học sơ khai), văn bản là hiện thực trực tiếp (hiện thực tư tưởng, tình cảm) của những, ngành khoa học nay va tư duy này với tư cách là xuất phát điểm, không,
có văn bản, cũng chính là không có đối tượng nghiên cứu và đối tượng tư
Trong một thời kì dài, ngôn ngữ luôn bị coi là công cụ biểu đạt ý
nghĩa Trong thi học cổ điển Trung Hoa, dù là “thi ngôn chí” hay “tự sự
Trang 11lịch sử” thì cũng đều nhắn mạnh tính bị động, tính phụ thuộc của ngôn ngữ Ngôn ngữ trở thành công cụ truyền đạt ý nghĩa, thực ra là công cụ
của tác giả Với ngôn ngữ công cụ luận, tác giả trở thành “thượng đế”,
trở thành xuất phát điểm đuy nhất để nghiên cứu tác phẩm, bản thân tác
phẩm không có tính độc lập, tính tự chủ
Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của Ede Saussure mở đầu cho
“chuyển hướng ngôn ngữ” trong nghiên cứu văn học Dưới ảnh hưởng của ngôn ngữ học của Saussure, Chủ nghĩa hình thức Nga, Phê bình mới Anh - Mĩ, Chủ nghĩa cấu trúc coi ngôn ngữ là bản thể, truy tìm đặc tính
và quy luật tự thân của văn học Từ đây, nghiên cứu văn học thế giới chuyển trọng tâm nghiên cứu sang văn bản tác phẩm văn học Chủ nghĩa hình thức Nga và trường phái Prague trước tiên phân biệt ngôn ngữ thơ
ca và ngôn ngữ hằng ngày, nhắn mạnh vị trí bản thể của ngôn ngữ thơ ca
Chủ nghĩa hình thức Nga coi văn học là hệ thống độc lập, họ chú ý đến thủ pháp lạ hóa và tính văn học Chủ nghĩa cấu trúc nhắn mạnh ngôn
ngữ là một chỉnh thể thống nhất, có kết cầu bên trong ổn định, độc lập,
tự đủ Chủ nghĩa giải cầu trúc vẫn coi ngôn ngữ là bản thể, nhưng đã coi diễn ngôn và tác dụng cụ thể của nó trong những văn bản khác nhau là hạt nhân giải cấu trúc Đối với họ, trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, quan
hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt luôn không ngừng chuyển hóa
rên cơ sở thành tựu của Chủ nghĩa hình thức, Chủ nghĩa cấu trúc và
trực tiếp là Hiện tượng học hiện đại, một đại điện tiêu biểu của Mĩ học tiếp
nhận Konstanz Đức Wolfwang Iser đã đề xuất quan niệm mới vẻ tác phẩm
van hoc Theo ông, tác phẩm văn học là sự kết hợp của hai cực, cực thẩm
mĩ và cực nghệ thuật Nhà văn chỉ sáng tạo ra văn bản văn học (cực nợi
thuật, chỉ khi có sự tiếp nhận của độc giả (cực tham mi) thi van ban mới trở thành tác phẩm Nhà văn đưa ra một văn bản với đầy những khoảng trắng
và điểm bất định, vấy gọi sự tham gia của người đọc, và người đọc sẽ đến
để điền thêm vào những khoảng trắng và điểm bắt định đó Như vậy, văn bản là một trong những hình thức tồn tại của tác phẩm văn học Trong quá trình sáng tác, trước hết, nhà văn có một ý tưởng hình thành trong dau, sau
đó, tác giả mã hóa ý tưởng sáng tạo đó thành văn bản, và độc giả thông qua
Trang 12
(HƯƠNG |: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VE ĐỌC VĂN 15
sống động trong tâm tưởng mình Như vậy, văn bản trở thành đối tượng
của hành động đọc, là cầu nói giữa độc giả và tác giả
1.1.3 Đặc trưng và sấu trúc của văn bản vẫn học
Trong ngôn ngữ học, văn bản là một chuối ngôn từ có tính hoàn
chỉnh tương đối, có mở đầu và kết thúc, thể hiện chủ đẻ thống nhất Văn
bản văn học khác với văn bản phi văn học như văn bản báo chí, văn bản
lịch sử, văn bản triết học Văn bản văn học có những đặc trưng sau:
Văn bản văn học sử
dụng các biện pháp tu từ nhằm tạo ra một thế giới nghệ thuật sống động Cho nên, ngôn từ trong văn bản văn học
thường là ngôn từ đa nghĩa, giàu hình ảnh, những cách nói mới lạ, vừa tác động vào lí trí, vừa tác động vào tình cảm Khi tìm hiểu văn bản văn học, cản chú ý đến “tính văn học”, tính “lạ hóa” trong sử dụng ngôn từ 'Văn bản văn học mang tính hư cấu Trong nghiên cứu văn học, các
nhà nghiên cứu thừa nhận đặc điểm chung của văn bản văn học là tính
hư cầu Văn bản văn học tạo nên một thế giới giống thực nhưng chỉ là mô
hình của thể giới hiện thực Trong thể giới nghệ thuật do văn bản ngôn từ tạo nên, mọi thứ đều là sản phẩm của sáng tạo, từ nhân vật, sự kiện, hình ảnh cho đến người kể chuyện, nhân vật trữ tình Ngay cả những văn bản
viết về sự kiện, nhân vật có thật trong đời sống cũng luôn có những yếu
tố hư cấu Văn bản văn học chứa đựng nhiều khoảng trồng và điểm bất định, tạo thành kết cấu vẫy gọi sự tiếp nhận của người doc
Van ban văn học là hệ thống kí hiệu thẩm mĩ nhiều tẳng bậc Cấu trúc của một kí hiệu bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt Hoạt động sáng tạo văn bản văn học là hoạt động sáng tạo các kí hiệu nghệ thuật
nhằm mã hóa những ý đồ nghệ thuật của nhà văn Ngôn từ biểu đạt hình tượng, đến lượt nó, hình tượng lại biểu đạt ý nghĩa Sự xếp chồng các kí
đã góp phản tạo nên tính đa nghĩa của văn bản văn học Văn bản văn học không phải là một hệ thông khép kín, mà là hệ thống kí hiệu vừa
có liên kết nội tại tạo thành thể thống nhất tự đủ, vừa có khả năng hướng
tới những liên hệ bên ngoài, gợi liên tưởng Từ góc độ này, văn bản văn
học là sự thống nhất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, cái được biểu
Trang 13
Theo quan niệm của Roman Ingarden trong công trình Tác phẩm van học nghệ thuật, văn bản văn học có kết cầu bồn tẳng: tẳng ngữ âm, tầng ý
nghúa, tẳng khách thể được tái hiện và tầng phương thức thể hiện khách thể Trong đó, tằng ngữ âm là tẳng cơ bản nhất của văn bản văn học, là
cơ sở vật chất của ba tầng khác Khi khảo sát tằng ngữ âm, chúng ta có thể khảo sát từ ngữ, vần, nhịp, điệu, trùng điệp Tầng ngữ âm được tổ chức khác nhau tùy theo từng thể loại, mục đích sáng tác Tầng ngữ âm
có quan hệ mật thiết với tầng ý nghĩa, bởi vì ý nghĩa phải dựa vào ngữ
âm để tồn tại Ý nghĩa của văn bản văn học có nhiều cấp độ khác nhau,
có ý nghĩa của từng chữ, có ý nghĩa của từng từ, có ý nghĩa của từng câu, của toàn bộ văn bản, và trong tương quan giữa chúng cũng nảy sinh ý nghúa mới Tầng khách thể được tác giả hư cấu và thể hiện trong văn bản,
nó có “hình thái bên ngoài” của hiện thực, nhưng không phải là hiện thực, mà chỉ là mô phỏng đặc điểm của hiện thực mà thôi Nó được tạo
nên bởi hình ảnh, biểu tượng, nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh Khách thể
được tái hiện trong văn bản mang nhiều “điểm không xác định”, ý nghĩa
của nó cũng không xác định và luôn mở ra trong sự tiếp nhận Tầng ý nghúa bao gồm để tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng, ý nghĩa thẩm mĩ Đây
là tầng sâu của văn bản, do tầng ngữ âm và tầng hình tượng thể hiện ra Tầng phương thức thể hiện khách thể hướng tới chủ thể tiếp nhận, chờ đợi người tiếp nhận đến biến “mạng liên kết” đầy điểm không xác định
thành những hiện tượng cụ thể phong phú sinh động Trên cơ sở quan
niệm của Roman Ingarden, có thể hiểu giản đơn hơn vẻ kết cầu của văn
bản văn học như sau: văn bản văn học có kết cau ba tang, bao gdm: tang
bề mặt, tang ẩn ý và tằng phong cách (phong cách văn bản, trào lưu, nhà
văn) Xác định được cấu trúc văn bản văn học giúp người đọc có định
hướng trong tiếp nhận văn bản văn học
1.2 Chủ thể người đọc và các cấp độ của đọc văn
Nghiên cứu về đọc văn, áp đặt máy móc hiện thực đời sống hay
tuyệt đối hóa vai trò chủ thể của người đọc, hoặc qué dé cao tinh tự trị của văn bản văn học đều là những quan niệm sai lắm Trong quá trình đọc văn luôn diễn ra sự tương tác, đồng hóa, điều tiết giữa chủ thể người
Trang 14(HƯƠNG |: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VE ĐỌC VĂN 17
đọc văn mới thực sự có giá trị Nếu sử dụng nhiều phương pháp dạy
học khác nhau, như đọc điễn cảm, phát vấn, đối thoại, sân khấu hóa, sử
dụng phương tiện trực quan mà xa rời văn bản, không thấy được hình
tượng trong văn bản, ần ý trong văn bản, thì việc đạy học văn chỉ là đi tìm
những mô hình sẵn có trong kinh nghiệm, tâm lí của người học mà thôi
Vì vậy, khi tìm hiểu vấn đề đọc văn, chúng ta vừa phải chú ý đến kết cầu
nội tại của văn bản, lại vừa phải chú ý đến chủ thể người đọc
1.2.1 Chủthểngười đọc
Khi tìm hiểu chủ thể người đọc cần quan tâm đến vấn đẻ “tầm đón
nhận” “Tầm đón nhận” là một khái niệm quan trọng của Mĩ học tiếp
nhận trường phái Konstanz Đức Các nhà Hiện tượng học hiện đại thừa
nhận vai trò của tầm đón nhận trong tiếp nhận văn học, họ gọi đó là “tiền
Tí giải”, là “thiên kiến” Hans Georg Gadamer tuyên bó: “Điều kiện quan
trọng nhất trong tất cả mọi điều kiện của giải thích học là tiền lí giải ” Ông cho rằng, thiên kiến tồn tại ngay trong quá trình lí giải, là điều kiện
quan trọng để hành động lí giải được tiến hành Hans Robert Jauss kế
thừa tư tưởng của Hiện tượng học hiện đại, cho rằng, trước khi tiếp nhận một tác phẩm văn học, người đọc bao giờ cũng đã có những hiểu biết nhất
định về đề tài, thể loại, hiểu biết về sự khác biệt giữa ngôn ngữ văn học
và ngôn ngữ đời thường Nhưng vẻ sau các nhà nghỉ
nội hàm của thuật ngữ này, coi tầm đón nhận bao gồm tắt cả những hiểu
biết vốn có của con người trước khi tiếp nhận một tác phẩm, bao gồm cả
sở thích, hứng thú, kinh nghiệm sống Nếu như khoảng cách giữa tầm đón nhận của người đọc và tầm đón nhận của tác phẩm quá xa (quá thấp
hoặc quá cao) thì người đọc cũng không hứng thú với tác phẩm Chỉ khi
tác phẩm nằm giữa quen và lạ, tức là ở khoảng cách giữa tằm đón nhận
cứu đã mở rộng,
Hans-Georg Gadamer, Châu lí oà phương pháp, Hồng Hán Đỉnh địch sang tiếng Trung, NXB
Trang 15
của người đọc và tầm đón nhận của tác phẩm vừa phải thì sự tiếp nhận
mới thực sự diễn ra Tâm đón nhận có vai trò quan trọng trong tiếp nhận
văn bản văn học, nó chỉ phối mức độ lí giải và hứng thú đối với văn bản
văn học Khi đọc một văn bản văn học, người đọc thường lí giải văn bản
trên cơ sở những hiểu biết của mình về đề tài, thể loại, ngôn ngữ văn
học, thậm chí là trên cơ sở kinh nghiệm sống, kiến thức văn hóa khác
Đánh t tiểu thuyết, một bài thơ, người đọc thường căn cứ trên đặc trưng thể loại mà mình đã biết, xem trình độ ngôn ngữ của tác phẩm đạt đến mức độ nào thường căn cứ trên hiểu biết về ngôn ngữ văn học của
mình; và thường liên tưởng đến những tác phẩm có cùng đề tài, chủ đề, liên tưởng đến những nhân vật văn học khác mà mình đã từng đọc, liên
tưởng đến những gì xảy ra trong cuộc đời mình Kinh nghiệm sống và kinh nghiệm nghệ thuật là tiền đề quan trọng trong hoạt động tiếp nhận
văn học Trong dạy học văn, giáo viên cẳn nắm được tắm đón nhận của
học sinh, bồi đưỡng tầm đón nhận cho học sinh, trên cơ sở đó mới có thể
tổ chức tốt hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học
Ngoài tắm đón nhận, tâm thế đọc cũng ảnh hưởng khá nhiều đến
hiệu quả tiếp nhận tác phẩm văn học Trên cơ sở tằm đón nhận, hoạt
động tiếp nhận bao giờ cũng gắn với một tâm thé tiếp nhận nhất định
Tâm thế tiếp nhận là trạng thái tâm lí của mỗi cá nhân khi tiếp nhận
tác phẩm văn học Tâm trạng của con người trong đời sống vô cùng
phức tạp, muôn màu, có vui, có buồn, có hân hoan, có ức chế Tâm thế tiếp nhận ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tiếp nhận Vui, buồn, hân hoan hay ức chế đều khiến việc tiếp nhận tác phẩm bị ảnh hưởng Do
đó, tâm thế lí tưởng nhất để tiếp nhận tác phẩm văn học là tâm thế thư
thái, tâm thế mà các học giả Trung Quốc cổ đại gọi là “hư tĩnh” Đối với dạy học văn, chuẩn bị tâm thế tiếp nhận cho học sinh cũng là điều hết
sức quan trọng Tránh làm cho học sinh cảm thấy ức chế, mệt mỏi, tạo cảm giác thoải mái cho học sinh là cơ sở quan trọng để tiền hành mỗi
giờ dạy học văn
ác ấp độ của đọc vẫn
Hoạt động đọc văn bản văn học diễn ra rất đa dạng, phức tạp Hans
Trang 16(HƯƠNG |: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VE ĐỌC VĂN 19
văn bản văn học thành ba cấp độ Dựa trên lí thuyết của Jauss và căn cứ vào đặc điểm của văn bản văn học cũng như thực tế đọc văn, chúng ta có
thể khái quát hoạt động đọc thành các cấp độ cụ thể như sau:
Khi tiếp xúc với văn bản văn học, trước mắt người đọc chỉ là văn bản ngôn từ, người đọc không thấy bat kì một đường nét, màu sắc, hình ảnh,
âm thanh nào cả Cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa người đọc và văn bản văn
học là tiếp xúc với ngôn từ Người đọc không có cách nào khác là đọc một lượt toàn bộ văn bản, và hiểu nghĩa mặt chữ của các câu trong văn bản Ví
dụ, với bài Mộ (Chiều tối) của Nguyễn Ái Quốc
Quyén diéu quụ lâm lầm túc thụ,
Cô tân mạn mạn độ thiên không;
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô di hong
(SGK Ngữ Vấn 11, tập 2, NXB Giáo dục, 2007 tr41) Đầu tiên, người đọc sẽ lí giải nghĩa mặt chữ của tiêu đẻ, của từng
câu “Chiều tối” thường gợi không gian hoàng hôn, gợi khoảng thời gian cuối ngày khi con người và tạo vật chuẩn bị nghỉ ngơi Nghĩa mặt
chữ của câu thứ nhất là chỉ con chim mệt mỏi sau một ngày kiếm ăn, về
rừng tìm chỗ nghỉ Câu thứ hai chỉ đám mây lẻ loi bay cham chậm trên
không trung Câu thứ ba nói về một cô gái ở miễn sơn cước xay ngô Câu
thứ tư trình bày một thực tế, khi cô gái ở miền sơn cước xay ngô xong
thì lò than đã cháy đỏ, gợi ra một việc tiếp theo hoặc một không gian ấm
áp Ở cấp độ đọc này, người đọc ý thức được hình thức hoàn thành của văn bản nhưng chưa ý thức được chỉnh thể ý nghĩa của văn bản Khi lí giải nghĩa mặt chữ của văn bản, người đọc bước đầu hình dung sơ bộ
về hình ảnh, ý nghĩa của từng câu nhưng chưa quan tâm một cách toàn
diện đến quan hệ giữa các câu, giữa các hình ảnh, ý nghĩa của các câu;
việc tìm hiểu ý nghĩa của chỉnh thể văn bản cũng chưa đặt ra Nhưng
việc lí giải sơ bộ văn bản với những ý nghĩa, hình ảnh riêng lẻ sẽ là cơ sở
Trang 17Cấp độ đọc thứ nhất trở thành cơ sở của cấp độ đọc thứ hai Mang
theo những dự đoán ban đâu vẻ chỉnh thể văn bản, người đọc “đọc” lại
một lần nữa từ đầu đến cuối, từ chỉnh thể đến bộ phận, liên kết giữa các
câu, giữa các hình ảnh lại với nhau, từ đó tìm kiếm và xác lậ
chỉnh thể mà cấp độ đọc trước chưa thực hiện được Lúc này, thông qua tưởng tượng, liên tưởng, người đọc tái hiện trong tâm tưởng mình một
thế giới hoàn chỉnh với các mối
người đọc sẽ luôn điều chỉnh, phản tư lại những kiến giải sơ bộ của mình
khi tiến hành liên kết các yếu tố riêng lẻ thành một chỉnh thể Chỉ trên
cơ sở cấp độ đọc thứ nhất, kết hợp tưởng tượng liên tưởng với tầm đón
nhận vốn có của mình, người đọc mới có thể tái hiện trong tâm tưởng một
thế giới nghệ thuật với không gian, thời gian, sự kiện, hình ảnh cụ thể Ví
dụ đọc bài Mộ, sau khi lí giải từng câu, có được những hình dung sơ bộ
riêng lẻ, thì ở cấp độ đọc thứ hai, người đọc sẽ liên kết các câu, các hình
ảnh thành một thế giới chỉnh thể: Không gian miền sơn cước trong một
buổi chiều muộn, có hình ảnh cánh chim mệt mỏi bay vẻ rừng tìm chốn
nghỉ ngơi, trên không trung có đám mây cô độc trôi chằm chậm, dưới sơn
thôn có một người thiếu nữ xay ngô, xay ngô xong thì lò than đã cháy đỏ Day là một thế giới nghệ thuật có không gian trên trời và không gian dưới
mặt đất, điểm xuyết trong không gian trên trời là cánh chim và đám mây,
điểm xuyết trong không gian dưới mặt đất là hình ảnh con người đang, lao động và lò than cháy đỏ Tạo vật dẫn dẫn đi vào nghỉ ngơi, màn đêm
cũng dẫn dẫn buông xuống, nhưng công việc của con người vẫn tiếp tục
diễn ra, đó chính là vận động ngầm nhưng hết sức mạnh mẽ khiến cho
không gian miền sơn cước lúc chiều tối trở nên ấm áp
Cấp độ đọc thứ ba liên quan đến ảnh hưởng lịch sử của văn bản Người
đọc trước tiên tìm hiểu vẫn đẻ được văn bản đẻ xuất trong thời đi
đời, sau đó chuyển hóa thành vấn đề văn bản đề xuất với độc giả đời sau,
và độc giả đời sau đặt ra với văn bản trong quá khứ Cũng ở cắp độ đọc
này, người đọc thông qua phương pháp so sánh, đối chiếu với các văn bản cùng thời hoặc trước và sau nó để tìm ra vấn để phong cách của văn bản,
của nhà văn Bài thơ Mộ thể hiện cảm nhận của nhà thơ vẻ cảnh chiều tối
nó ra
Trang 18(HƯƠNG |: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VE ĐỌC VĂN 21
sẽ thấy nó mang nhiều âm hưởng của thơ Đường Thế nhưng, bài thơ của
Nguyễn Ái Quốc vẫn có nét rắt riêng, rất hiện đại trong việc khắc họa thời
gian vận động từ bóng tối đến ánh sáng khi đặt chữ “hồng” ở cuối bài thơ, cũng như khắc họa lao động liên tục của con người trong thế tương phản với vận động đi dần về nghỉ ngơi của thiên nhiên, tạo vật Đặt trong thời điểm ra đời của bài thơ, trong chỉnh thể của tập Nhật kí trong tù, người đọc
sẽ thấy bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh nhà thơ đang phải chịu đựng
cuộc sống tù đày, từ đó thấy được tinh thần lạc quan của thi sĩ - chiến sĩ
và sự quan tâm của nhà thơ đối với cuộc sống của người lao động Người
đọc trong thời điểm hiện tại có thể thấy được dấu ấn của thơ Đường trong, thơ Nguyễn Ái Quốc, và sẽ tìm thầy tỉnh thần cách mạng lạc quan vượt lên
là
hoàn cảnh tương tự trong sáng tác của các chiến sĩ cách mạng, đặc biệ những bài thơ trong tù của họ Người đọc cũng có thể suy ngẫm về cuộc sống lao động của con người trong thời đại mình đang sống
Nói chung, trong thực tế đọc văn bản văn học cũng khó có thể phân
chia rạch ròi các cấp độ đọc, nhưng khi ý thức được sự tồn tại của những
cấp độ đọc như vậy, chúng ta sẽ chủ động hơn trong việc hướng dẫn học
sinh tiễn hành đọc hiểu văn bản văn học, giúp học sinh nhận ra đọc văn
không phải là hoạt động quá khó khăn hoặc quá thần bí
1,3.Mục đích, giá trị của đọc văn
1.3.1 Mucdich cia doc vin
Mục đích của đọc văn là gì? Có nhiều quan điểm vẻ vấn dé này,
nhưng tựu trung lại, có thể chia thành hai loại, một loại cho rằng mục
đích của đọc văn là tìm ý nghĩa mà tác giả gửi gắm trong văn bản, nhắn
mạnh sự trùng cầu ý đỏ và thái độ của tác giả; loại cho rằng mục đích
của đọc văn là tìm ý nghĩa của văn bản một cách sáng tạo
Tư tưởng coi mục đích của đọc văn là tìm nguyên ý của tác giả đã được Lưu Hiệp chỉ ra Với Lưu Hiệp, lí tưởng nhất của hành động đọc là hiểu được nguyên ý của nhà văn, giống như Chung Tử Kỳ hiểu được tiếng đàn của Bá Nha Thủy tổ của Giải thích học Đức, nhà thần học, nhà triết học E Schleiermacher quy định nhiệm vụ hàng đầu của Giải thích học là lí giải
Trang 19văn bản là sự thể hiện cụ thể tư tưởng của tác giả, hàm nghĩa của văn bản
Ia do tác giả quyết định, lí giải chính xác là làm rõ ý đỏ ban đầu của tác
giả Trong đọc văn xuất hiện vấn để “ý nghĩa tốt nhất” và “nguyên ý của tác giả” Nếu như ý nghĩa tốt nhất không phải là nguyên ý của tác giả, thì
đó là ý nghĩa do nhà phê bình phát hiện ra Nhưng không thể phủ nhận sự tồn tại của “nguyên ý“ tác giả Nhà lí luận văn nghệ người Mĩ
E.D Hirsch cho rằng tác giả là quyền uy cuối cùng của
nhắn mạnh, hàm nghĩa của văn bản được hình thành bắt đầu từ tác giả,
hàm nghĩa luôn phụ thuộc vào từ ngữ của một hệ thống, vì thế, khôi phục
nguyên ý tác giả trao cho văn bản là điều người giải thích phải có gắng làm
Nhà văn không thể sáng tạo ra một văn bản mà không nhằm mục đích gì
Có điều, việc tìm ra một cách chính xác nguyên ý của tác giả trong văn bản văn học là điều vô cùng khó khăn Bởi vì, bản thân văn bản rất phức tap, an
tàng nhiều khả năng lí giải Nhiều tác phẩm như Lâu đài của Kafka, nguyên
ý của tác giả là gì, đến nay chúng ta vẫn rất khó có thể làm rõ Thực ra, bản
thân Hirsch cũng thừa nhận, tìm kiếm và xây dựng lại nguyên ý của tác giả vô cùng khó khăn, vì chúng ta và tác giả hoàn toàn khác nhau, chúng,
ta không thể xây dựng lại ý nghĩa mà tác giả muốn biểu đạt trên bản thân
chúng ta Ngay cả khi cùng thời với tác giả, quen biết tác giả thì độc giả cũng chưa chắc đã tìm được nguyên ý của tác giả gửi gắm trong văn ban
Au Duong Tù đời Bắc Tống và Mai Nghiêu Thẳn đều là nhà thơ lớn, hơn
nữa còn là tri âm thơ văn, nhưng bản thân Âu Dương Tu thừa nhận mình khó nắm bắt được ý của Mai Nghiéu Than Trong thực tế đọc văn, người
đọc vẫn thường nói: trong tác phẩm, nhà văn “gửi gắm” điều này điều
khác, hoặc thông qua tác phẩm, nhà văn thể hiện tình cảm này tình cảm
é co ban là đang hướng tới mục dich tìm ra nguyên ý
Quan niệm đọc văn nhằm tìm ra nguyên ý của nhà văn đã vấp phải
sự phản đối của nhiều nhà nghiên cứu văn học hiện đương đại Gadamer
nhắn mạnh ý nghĩa của văn bản luôn vượt qua tác giả của nó, lí giải là một hành vi mang tính sáng tạo Người giải thích không nhất thiết phải
tìm ý nghĩa nguyên thủy của văn bản, mỗi cá nhân có thể gi: thích văn
Trang 20(HƯƠNG |: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VE ĐỌC VĂN 2
bao gồm cả “hiểu sai” Con người khi nhận thức, quan sát sự vật, bao giờ cũng mang theo yếu tố chủ quan như tri thức, tình cảm, nguyện vọng
của mình Chính tắm đón nhận chỉ phối sự lí giải, tằm đón nhận khác
in t6i li gidi khác nhau Bên cạnh đó, khoảng cách thời gian giữa
người tiếp nhận với văn bản cũng tạo điều kiện để xuất hiện những lí giải
khác nhau Khoảng cách thời gian tạo cơ sở sản sinh ý nghĩa mới, đồng,
thời chuẩn bị điều kiện cho sự tham dự sáng tạo của người đọc Điều này
có nghĩa là nhiều khi phải sau một khoảng thời gian khá dài, giá tri dich thực của tác phẩm mới được phát hiện và khẳng định Chẳng hạn như
Đào Uyên Minh không hè nổi tiếng trong khoảng thời gian cuối thời Tấn đầu thời Nam Tống, Tống thư của Thẩm Ước không hẻ nhắc đến ông, có
người còn cho rằng tác phẩm của ông “không phải là văn” Nhưng đến
đời Bắc Tống, nhờ những người như Tô Thức, tác phẩm của Đào Uyên Minh mới được khẳng định, và bản thân ông cũng trở thành một trong,
những thi nhân được sùng bái nhất thời kì đó Trong đọc văn, do ảnh
hưởng của nhiều nhân tố văn hóa xã hội, chúng ta thường có những xôn xao thái quá về giá trị và ý nghĩa của tác phẩm văn học Việc chỉ ra ý nghĩa
thực sự của văn bản văn học là một quá trình vĩnh viễn không có điểm đừng, lí giải mới không ngừng sản sinh, không gian có thể giải thích của
van ban không ngừng được mở rộng, ý vị của tác phẩm ngày một phong phú, sâu sắc Giao lưu giữa người đọc và văn bản không có tính trực tiếp mặt đối mặt như giao lưu trong đời sống hằng ngày, văn bản chỉ có thể
thông qua cơ chế nội tại để tác động đến sự tiếp nhận của độc giả, thông
qua kết cầu với day “khoảng trồng” và “điểm không xác định” (W Iser) để vẫy gọi người đọc đến điển vào những khoảng trồng và điểm không xác
định đó Văn bản văn học chỉ là những “đề án tiếp nhận”, là những “đồ thức”, mọi thứ mới chỉ ở dạng tiềm năng, tiềm năng đó muốn chuyển hóa
thành hiện thực thì phải thông qua liên tưởng, tưởng tượng, cụ thể hóa
của độc giả Chính kết cấu sơ lược theo hình thức khung trống ấy đã cung,
cấp không gian rộng lớn để độc giả phát huy tính chủ động sáng tạo của mình Dưới góc độ kí hiệu học, các nhà nghiên cứu cho rằng văn bản văn học mang tính kí hiệu, nhà văn là người lập mã, còn độc giả là người giải
Trang 21
Như vậy, bản chất của văn bản văn học, tầm đón nhận và khoảng, cách thời gian giữa văn bản văn học và độc giả đã tạo nên sự phong phú,
đa nghĩa trong quá trình đọc Mục đích của đọc văn là tìm ra ý nghĩa của
văn bản văn học, có điều, ý nghĩa này có thể trùng hoặc không trùng với
ý đồ của tác giả Lí thuyết văn học hiện đại đã thừa nhận sự “đọc sai ý đồ
của tác giả” trong hoạt động đọc văn Đọc sai ý đồ của nhà văn có thể làm
cho tác phẩm giảm giá trị, nhưng cũng có thể làm cho tác phẩm hay hơn Huy Cận từng tự bình luận về bài Tràng gian của mình, ông cho rằng câu:
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc/ Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa” là
ông muốn viết về một cảnh quan tráng lệ với những búp bông nở trắng
xếp trên bẩu trời Nhưng phần lớn độc giả lại thấy rằng, điều ấn tượng
nhất trong hai câu thơ đó là nỗi cô đơn của con người trước không gian,
con người cô đơn bé nhỏ như một cánh chim, dưới áp lực của cái mênh mông, rớt xuống như một giọt nắng chiều Mặc dù độc giả đã chủ động sáng tạo phát hiện ra ý nghĩa đó nhưng lại luôn nhằm tưởng đó là nhà thơ muốn nói điều ấy, nên thường viết thành “Huy Cận muốn nói vẻ Việc tìm ra nguyên ý của tác giả là điều vô cùng khó khăn, nó giống như
“tri am’, chỉ là giả thiết mang tính lí tưởng Cho nên, đọc văn thực ra là một hoạt động sáng tạo, mỗi người đọc ở những thời điểm khác nhau, ở
có rất nhiều lời bình Có người nói Hamlet là “người vĩ đại nhỏ bé”, lại có
người nói là “một bông hoa trong bình” Có người cho rằng Hamlet rất lí tính, lại có người cho rằng Hamlet rất đễ bị kích động, rất mẫn cảm khi
bị hại, nhưng lai do dy khi cằn phản kháng; Hamlet sáng suốt nhưng lại
thiếu sách lược, nói năng thì bạo đạn nhưng hành vi lại thiếu quyết đoán
Sự phong phú phức tạp trong tính cách của Hamlet vừa liên quan đến tài năng nghệ thuật của tác giả vừa liên quan đến sự giải thích của độc giả,
do đó, có người nói có 1000 người đọc thì có 1000 Hamlet Ý nghĩa của
văn bản văn học không phải là duy nhất, cũng không phải là bất biến, nhưng người đọc cũng không thể tùy tiện muốn hiểu văn bản thế nào
cũng được Bởi vì, bên cạnh phụ thuộc vào những đại lượng động, như
Trang 22
(HƯƠNG |: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VE ĐỌC VĂN 25
phải đựa vào một thứ tương đối có định, đó là văn bản ngôn từ với kết
cầu không thay đổi
1.3.2 Gid tr của đọc vẫn
Đọc tác phẩm văn học, độc giả có thể thu được tri thức vẻ tự nhiên,
xã hội, về đời sống tỉnh thân, tình cảm của con người Khi đọc Đời thừa
của Nam Cao, người đọc biết được bỉ kịch tỉnh thần của trí thức Việt
Nam giai đoạn đầu thế kỉ XX, đọc Lão Hạc sẽ biết được tình trạng khổ
cực của ngưi
cái đói, chống lại sự tha hóa của hoàn cảnh như thế nào Đọc Hai đứa trẻ
của Thạch Lam, người đọc có thể biết được cái am đạm tù túng khong
lối thoát của cuộc sống nơi phố huyện và ước mơ tuổi thơ về một không
gian đầy ánh sáng thời đó
nông dân, biết được con người phải đấu tranh chống lại
Đọc tác phẩm văn học, độc giả có thể được thỏa mãn nhu cầu thầm
mi, được bồi dưỡng thêm năng lực thẩm mĩ, năng lực cảm nhận cái đẹp,
năng lực sáng tạo cái đẹp Độc giả có thể thưởng thức những bức tranh thiên nhiên thơ mộng “con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng
tóc trữ tình đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở
hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương
xuân”'; cũng có thể thấy những tình cảm đẹp, cách cư xử đẹp của con người trong cuộc sống, như tình cha con, tình mẹ con, tình bạn, tình yêu Tổ quốc Độc giả còn có thể tìm thấy vẻ đẹp của sự sáng tạo, sáng
tạo ra thế giới cần có và nên có, sáng tạo ra vẻ đẹp hình thức nghệ
thuật Người đọc có thể thấy vẻ đẹp của việc thực hiện lời hứa sau 10
năm trong Lắng quả thông của K.G Paustovsky; thấy vẻ đẹp của những
câu thơ kết chùm hình ảnh “Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ/
Có đón giêng hai, chỉm én gặp mùa/ Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa/
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”?; thấy được hình ảnh đẹp một
cách ảo diệu trong Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay” Thông qua đọc văn có thể
' ˆ Nguyễn Tuân, Người ái đồ sông Đã, SGK Ngữ Văn 12, tập 1, NXB Giáo dục, 2008, tr 191 3ˆ Chế Lan Viên, Tiếng hát con tàu, SGK Ngữ Văn lớp 12, tap 1, NXB Giáo dục, 2009, tr 144
Trang 23bồi đưỡng năng lực sáng tạo cái đẹp được thể hiện rõ nhất trong trường
hợp độc giả là nhà văn Đọc tác phẩm của những nhà văn lớn cùng thời đại hoặc khác thời đại, các nhà văn có thể nâng cao trình độ s
thuật của mình Hiện tượng Thơ Mớ
Đường đều là minh chứng cho giá trị của đọc văn ở khía cạnh này
vẻ đẹp của lòng yêu nước, sẵn sàng hi sinh cho cộng đồng như Tnú, chị
Út Tịch Tuy nhiên, trong tác phẩm văn học cũng có những nhân vật xấu xa, tồn tại như một phản đề cảnh báo người đọc Người đọc khi tiếp nhận tác phẩm sẽ di chuyển tỉnh than vào trong đó, tiền hành các cuộc
đối thoại với nhân vật, với nhà văn, và cuối cùng là đối thoại với chính
bản thân mình Thông qua những cuộc đối thoại không lời ấy, nhân cách
con người dần dan được hoàn thiện Người đọc thu được những điều tốt
đẹp, những khoái cảm thẩm mĩ khó tìm thấy ở những hoạt động khác Tiếp nhận tác phẩm văn học, người đọc trải nghiệm tâm sự, sẻ chia cùng
nhân vật, cùng chủ thể trữ tình, có cảm giác được bù đắp, được thỏa mãn
những điều khó có thể thực hiện trong đi
thực Tắt cả những hoạt động
đó diễn ra một cách âm thầm, lặng lẽ và riêng tư
Trong và sau khi tiếp nhận tác phẩm văn học, người đọc có được sự đồng cảm với nhân vật, đồng cảm với những suy tư trăn trở của nhà văn,
có thể bừng tỉnh khi chợt nhận ra một chân lí nào đó của cuộc sống, mãi mãi ám ảnh, lưu giữ một chỉ tiết, một hình ảnh, một cảm nhận nào đó vẻ nhân vật, về cuộc sống, và cuối cùng có thé lam cho tinh than cia minh trở lại trạng thái cân bằng, nâng cao tâm hồn, nhân cách Tiếp nhận tác phẩm văn học có thể làm cho người đọc hiểu hơn vẻ chính mình, về cuộc sống, của bản thân và người khác, góp phần nhận thức và giải quyết tốt hơn
những vấn để trong đời sống tỉnh thần của mình Người đọc sẽ tiếp tục
Trang 24(HƯƠNG |: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VE ĐỌC VĂN 27
Đời thừa của Nam Cao, suy nghĩ về quan hệ giữa con người và những gì
gần gũi xung quanh sau khi đọc Bến quê của Nguyễn Minh Châu Tất
cả những gì đặt ra trong tác phẩm văn học đều không quá xa lạ với đời sống hiện thực quanh độc giả Chính thông qua đọc văn, độc giả có cơ hội
chiêm nghiệm, suy tư nhiều hơn về cuộc sóng hiện tại của mình Ngày
nay, phương tiện truyền thông hiện đại phát triển mạnh mẽ, văn hóa
nghe nhìn có phần lắn át văn hóa đọc, nhưng bản thân việc đọc văn vẫn
mang lại những giá trị mà các loại hình giải trí khác, thậm chí là các loại hình nghệ thuật khác không thể thay thế
gì đó trong văn bản tác phẩm, cho nên, tiếp nhận văn học là nỗ lực đi tìm
dụng ý của nhà văn Trong lí luận văn học cổ điển Trung Quốc có quan
niệm cho rằng sáng tác là giải tỏa u uất trong lòng (Tư Mã Thiên), là thể
hiện sự quan tâm đến các vấn đẻ chính trị, xã hội: “Văn chương nên vì thời
thế mà viết, thơ ca nên vì hiện thực mà sáng tác” (Bạch Cư Dị) Ở phương
Tây, mô hình lí luận tác giả là trung tâm vẻ cơ bản bao gồm Chủ nghĩa
lãng mạn, Chủ nghĩa tượng trưng, Chủ nghĩa biểu hiện, Chủ nghĩa trực giác, Phân tâm học Chủ nghĩa lãng mạn cho rằng thơ ca biểu đạt thể giới
nội tâm chứ không mô phỏng thế giới bên ngoài Theo Abrams, đối v:
Chủ nghĩa lãng mạn, thơ không phải là mô phỏng thể giới hiện thực mà
là sáng tạo ra một tự nhiên khác Nhà thơ không còn mô phỏng thế giới hiện thực như họa sĩ vẽ tranh phong cảnh hoặc tranh chân dung truyền
thống nữa, mà giống như Thượng dé sáng tạo ra một thế giới mới, một
thế giới khác, bình đẳng với thể giới hiện thực Thơ là sản phẩm của tưởng tượng và tình cảm, nó đến từ nội tâm nhà thơ chứ không phải từ kinh
nghiệm sống thông thường Là đại điện tiêu biểu của Chủ nghĩa tượng
trưng, Paul Valery (1871-1945) nhắn mạnh thơ ca phải miêu tả chân thực nội tâm, khoác chiếc áo cảm tính lên khái niệm trừu tượng Đại diện của
Trang 25là sản phẩm của xung động bản năng của con người Trong Nhà øăn oà giấc
Tơ ban nsàu, Freud nói: “một tác phẩm có tính sáng tạo giống như giấc mơ ban ngày, là vật thay thế và tiếp tục trò chơi mà thời ấu thơ đã từng chơi”?
Từ những quan niệm vé sai
riêng) có thể lí giải được vì sao nhà văn lại viết nhu vay Sainte-Beuve cho
rang tác phẩm văn học chính là sự phản ánh tính cách, khí chất, và trạng thái tỉnh thần của cá nhân nhà văn và biểu hiện ý đồ của nhà văn Ông
nói, “đối với một nhà văn, phải nghiên cứu một số vấn đề đường như
không có liên quan gì đến tác phẩm của họ Chẳng hạn họ quan niệm vẻ tôn giáo như thế nào? Xử lí vấn đề phụ nữ như thế nào? Ứng xử với tiền
bạc như thế nào? Họ là người giàu hay người nghèo ”3 Như vậy, theo
Sainte-Beuve, cuộc sống của nhà văn là chìa khóa mở vào bí mật của tác
phẩm Đọc văn theo cách của Sainte-Beuve đến ngày nay vẫn là phương
pháp quan trọng trong nghiên cứu phê bình văn học
H.A Taine cho rằng, gia tộc, hoàn cảnh và thời đại có ảnh hưởng quyết định đến nhà văn Cũng là kịch Pháp, kịch của thời đại Corneille khác với kịch thời đại Voltaire, cũng là kịch Hy Lạp, nhưng Aeschylus khác với Euripides Chủng tộc là nguyên nhân bên trong, hoàn cảnh và
thời đại là tác động bên ngoài, chỉ cần nghiên cứu cẩn thận ba phương
Trang 26(HƯƠNG |: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VE ĐỌC VĂN 29
điện này thì “không chỉ có thể làm rõ toàn bộ nguyên nhân trước mắt, mà
còn làm rõ tất cả ngọn nguồn của động lực sâu xa”' Như vậy, đặt
nhà văn, nhà nghệ thuật không chỉ quy về thiên tài thần bí, mà còn thuộc
về một phần trong kết cầu tổng thể của tự nhiên và xã hội Theo Taine,
sở dĩ Hy Lạp cổ đại xuất hiện những tác phẩm điêu khắc hoàn mĩ tuyệt
vời là vì đặc tính của dân tộc Hy Lạp: thông minh, đễ gần, yêu khoa học, năng lực tư duy trừu tượng phát triển, địa hình Hy Lạp nhỏ hẹp, không
sắc của
khí trong sạch Đây là một dân tộc vui vẻ, đa thần giáo, chính trị thành
bang làm cho nhân tính được phát triển toàn diện Tất cả những điều này biến người Hy Lạp thành những nhà nghệ thuật tốt nhất, họ giỏi về phân biệt quan hệ vi điệu, sáng tạo ra những bức điêu khắc tỉnh tế và những công trình kiến trúc thần miéu tỉ lệ hài hòa, trang nghiêm và trằm tĩnh
Nhưng Taine lí giải quá máy móc về quan hệ giữa nhà văn và hoàn cảnh, vì dù sao con người cũng không phải là thực vật, đặc biệt là đối với
những nhà thơ, nhà văn vĩ đại, nếu chỉ dựa vào hoàn cảnh thì khó có thể
Ii giải được triệt để một số vấn đẻ Ví dụ trong một quốc gia, một thời đ:
vì sao vẫn có nhà văn thuộc các loại hình khác nhau, phong cách khác
nhau, thể hiện giá trị cao thấp khác nhau? Đối với van dé nay, Gustave
Lanson một mặt tiếp tục phương hướng Chủ nghĩa thực chứng của Taine,
khác đã tiễn hành điều chỉnh, vừa xem xét ảnh hưởng của hoàn cảnh
xã hội, vừa thừa nhận thiên tài, cá tính của nhà văn Ông nhắn mạnh
nhân tố xã hội, vì đây là cơ sở hình thành trạng thái tinh thắn của nhà
văn, đồng thời cũng coi trọng khảo sát cuộc sống cá nhân của họ
Cũng cần lưu ý rằng, việc tìm hiểu nhà văn, gia tộc, thời đại có ý nghĩa
đối hóa cách đọc này, bởi vì “Cho dù
giữa tác phẩm nghệ thuật và cuộc đời nhà văn có quan hệ mật thiết, nhưng,
quan trọng nhưng không nên tu)
tuyệt đối không có nghĩa là tác phẩm nghệ thuật chỉ là bản sao của đời sống
nhà văn"2, mặt khác, tư liệu về cuộc đời nhà văn và hoàn cảnh sáng tác nhiều khi không có hoặc khó xác định được mức độ chân thực của chúng, ' _ Trương Trung Tài Tây phương cử điền năn luận tuyển độc, NXB Nghiên cứu và giảng day
ngoại ngữ, 200, tr 541-550,
3 Narxen, Welleck, Tí luận nản học, Lưu Tượng Ngu dich sang tiéng Trung, Tam liên thư quán
Trang 27không những thế, bản thân văn bản văn học cũng có sự tỏn tại tương đối
độc lập, vượt ra khỏi sự khống chế của người sáng tác
2.2 Docvan từ góc độ văn bản
Sang thế kỉ XX, lí luận phê bình phương Tây có một bước chuyển
ngoặt lớn, chuyển từ mô hình tác giả trung tâm luận sang văn bản trung
tâm luận, đề xuất cách tiếp nhận từ văn bản tác phẩm Trường phái Phê
bình mới Anh Mĩ (1920-1950) coi tác phẩm là vật tượng trưng khách quan độc lập, là thể hữu cơ tự đủ không có liên hệ gì với bên ngoài Họ cho
rằng về bản chất, văn học là một hình thức ngôn ngữ đặc thù, nhiệm vụ
của phê bình văn học là dùng phương thức đọc kĩ (close reading), phân
tích các tầng khác nhau của thơ ca, nghiên cứu quan hệ ẩn kín và tác động
qua lại giữa các bộ phận của tác phẩm Phê bình mới nhắn mạnh tính độc
lập của tác phẩm, cho rằng sau khi tác giả hoàn thành tác phẩm, tác phẩm
không còn thuộc vào tác giả nữa, nên cẳn tiếp nhận tác phẩm từ chính
bản thân tác phẩm Điều mà nhà phê bình cần nắm bắt chỉ là ý nghĩa của
từ ngữ, bao gồm toàn bộ ý nghĩa lịch sử của ngôn ngữ tác phẩm, ý nghĩa
liên tưởng của nó và ý nghĩa có thể gọi tên sự vật khách quan Chủ nghĩa
hình thức Nga lại chú ý đến phân tích các thủ pháp lạ hóa trong cấu tạo
văn bản, phân biệt ngôn ngữ thơ ca và ngôn ngữ hằng ngày, chú ý đến
tính văn học của văn bản văn học Chủ nghĩa cấu trúc coi tác phẩm là hệ
thống kí hiệu, tổn tại khép kín, tự nó sinh thành ý nghĩa, đồng thời tim
ra kết cầu bên trong của văn bản Phương pháp của Chủ nghĩa cấu trúc nhắn mạnh tính hệ thống, chú trọng quan hệ giữa văn bản và văn bản,
tìm ra kết cầu chung chỉ phối văn bản văn học cụ thé
Đọc văn từ góc độ văn bản đánh dấu bước ngoặt trong lí luận phê
bình văn học phương Tây, nó bao gồm nhiều trường phái nghiên cứu
khác nhau, tương đối phức tạp Ở Việt Nam, Thi pháp học thể hiện khá
rõ đặc điểm của hướng tiếp nhận này Thi pháp học do Trần Đình Sử
giới thiệu và phát triển đã góp phần rất lớn trong việc thay đổi cách đọc
văn ở Việt Nam đương thời Theo Trằn Đình Sử, “điểm làm cho thi pháp
với các bộ môn khác trong khoa văn học
Trang 28(HƯƠNG |: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VE ĐỌC VĂN 31
cũng thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người Tìm hiểu quan niệm
nghệ thuật về con người sẽ thấy được chiều sâu bên trong chỉ phối cách
xây dựng nhân vật của nhà văn, sẽ có được tiêu chuẩn đánh giá giá trị
nhân văn trong các hiện tượng văn học Chang hạn, con người trong thần
thoại thường mang chức năng của một vài hiện tượng tự nhiên, giỏi biến hóa, họ là tổ tiên của nhân loại; con người trong sử thi thường mang vẻ
đẹp đại điện cho cả cộng đồng vì thế họ tổn tại trong sự ngưỡng mộ, tôn
kính của người đời sau; con người trong cổ tích lại là con người xuất hiện
để thực hiện một chức năng nào đó, như chức năng đại điện cho cái thiện, cái ác, chức năng phù trợ , con người trong văn học trung đại Việt Nam
được quan niệm là một tiểu vũ trụ, mang dấu ấn của vũ trụ, được khắc
họa theo nguyên tắc tỏ lòng, ngoại hiện hóa những biểu hiện bên trong, con người bổn phận; tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thể hiện quan niệm vẻ
con người cá nhân xung đột với gia đình truyền thống; văn học hiện thực phê phán thể hiện quan niệm vẻ con người là sản phẩm của hoàn cảnh, bị hoàn cảnh chỉ phối Trong sáng tác của mỗi nhà văn cũng thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người Chẳng hạn, thơ Xuân Diệu thể hiện con
người ham yêu khát sống, sáng tác của Nam Cao thể hiện quan niệm con
người luôn cố gắng chống lại sự tha hóa của hoàn cản]
' Trin Đình Sử, 2007, Gio tình Dân luận H pháp học, NXB Giáo dục, tr 9
Trang 29Đọc văn theo kiểu Thi pháp học quan tâm đến vấn đẻ thời gian
nghệ thuật Văn học là nghệ thuật của thời gian, khi đọc một văn bản,
chúng ta mắt một lượng thời gian nhất định, thế giới nghệ thuật trong, tác phẩm cũng dân dần được hoàn thiện trong dòng thời gian Thời gian không chỉ là đối tượng được thể hiện trong văn bản văn học, mà
còn là một nhân tố cấu thành văn bản văn học Khi khảo sát thời gian trong văn bản văn học, Thi pháp học đặc biệt quan tâm đền vấn để thời gian trần thuật, tức là “thời gian biểu diễn bằng phương tiện ngôn từ” Khi khảo sát thời gian trằn thuật, Thi pháp học chú ý đến mở dau va kết thúc của trằn thuật; tốc độ, nhịp độ của trần thuật; chiều hướng của
thời gian có thể là phát triển theo chiều tuyến tính của sự kiện được trằn thuật, cũng có thể trằn thuật đảo ngược từ hiện tại về quá khứ Thời gian trần thuật là một phương thức biểu hiện nghệ thuật, do đó, nó góp
phản thể hiện tiết tấu của bức tranh cuộc sống được tái hiện, tư tưởng
tình cảm của người trần thuật Bên cạnh thời gian trần thuật, Thi pháp
học cũng quan tâm đến thời gian được trần thuật với các bình điện thời
gian hiện tại, thời gian quá khứ, thời gian tương lai, và đi kèm với nó là
quan niệm về thời gian, ý thức về thời gian Chẳng hạn câu thơ: “Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dồn lại một ngày dài ghê” (Truyện Kiều, Nguyễn Du) thể hiện rất rõ quan niệm vẻ thời gian tâm trạng, Khi người
ta buồn, thời gian đường như dài lê thê Hoặc trong thơ Xuân Diệu,
“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua/ Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già” (Vội ving) thể hiện quan niệm về thời gian hiện tại ngắn ngủi Thời
gian trong thần thoại thường là thời gian gắn với sự khởi nguồn, thời
gian nằm ngoài lịch sử, không liên hệ trực tiếp với thời gian lịch sử Thời
gian trong sử thi là thời gian thuộc về “quá khứ tuyệt đối”, cách biệt hẳn với người kể, gắn với kí ức cộng đồng, khoảng cách thời gian đó khiến cho những đối tượng cao đẹp càng trở nên cao đẹp hơn, nó tạo ra sự
thành kính trong cách kể
Đọc văn từ góc độ Thi pháp học cũng quan tâm đến van dé khong
gian nghệ thuật Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật đều là
phương thức tồn tại của thế giới nghệ thuật Với tư cách là phương thức
Trang 30(HƯƠNG |: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VE ĐỌC VĂN 33
tồn tại của thế giới nghệ thuật, không gian có thể biểu hiện ở các phạm trù như cao - thấp, rộng - hẹp, trong - ngoài, thoáng đãng ~ tù túng hoặc gắn
với các địa điểm cụ thể như núi non, sông biển, nhà cửa, con đường, bầu
trời Khi tìm hiểu không gian nghệ thuật, bên cạnh việc chỉ ra đặc điểm
của thế giới nghệ thuật được tái hiện, còn cần chỉ ra quan niệm của nhà
văn về không gian Chẳng hạn, trong sáng tác của Nam Cao có hai phạm trù không gian rất đáng quan tâm, đó là không gian trong nhà và không gian ngoài đường Đối với Nam Cao, không gian trong nhà là không gian
của sự hoàn lương, còn không gian ngoài đường thường gắn với sự tha
hóa Chính vì thế mà khi ở ngoài đường thì Chí Phèo “vừa đi vừa chửi” (Chí Phèo), Hộ quên cả ý định mang tiền nhuận bút vẻ cho vợ con, lại ngồi
uống rượu tán chuyện với bạn bè, và nửa say nửa tỉnh vẻ quát tháo vợ con Nhưng khi về tới căn lều của mình, Chí Phèo lại trở nên rất hiền; ở trong
nhà sau một đêm, sáng hôm sau tỉnh dậy, Hộ lại thấy hối hận và tự lên án
mình “chỉ là một thằng khốn nạn” (Đời thừa) Chỉ ra quan niệm của
nhà văn về không gian cũng chính là chỉ ra cảm nhận của nhà văn về cuộc sống, thấy được chiều sâu trong tư tưởng nghệ thuật của nhà văn
Ngoài ra, đọc văn từ góc độ Thi pháp học còn chú ý đến vấn đẻ thi
pháp thể loại, kết cầu hình tượng, kết cầu văn bản trằn thuật và ngôn từ nghệ thuật Có thể nói, đọc văn từ góc độ văn bản là hướng tiếp nhận quan
trọng, trong trường hợp không có những tư liệu về cuộc đời nhà văn, thời đại, hoàn cảnh sáng tác, chỉ cằn có văn bản trong tay là có cơ sở để tiến hành
hoạt động đọc Hoạt động đạy học văn cũng không thể xa rời văn bản, giáo
viên và học sinh cùng tiếp cận văn bản, giải mã các kí hiệu của văn bản ngôn
từ, thông qua văn bản khám phá thế giới nghệ thuật, tư tưởng quan niệm
của nhà văn, tìm ra các ý nghĩa an tàng trong văn bản ngôn từ
2.3.Đọc văn từ góc độ văn hóa
Đọc văn từ góc độ văn hóa là hướng tiếp nhận đang được quan tâm
hiện nay Hướng tiếp nhận này được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ
chặt chẽ giữa văn học và văn hóa Văn học là một thành phần của văn hóa, phản ánh điện mạo, bản chất của văn hóa và chịu sự tác động của
Trang 31hóa dân tộc được biểu hiện trong văn bản văn học; cũng có thể đi tìm các
nhân tố trong đời sống xã hội, văn hóa chỉ phối sự hình thành các giá trị,
các quan niệm, các biểu hiện hình thức của văn bản văn học
Khi tiến hành đọc văn từ góc độ văn hóa, người đọc sẽ tìm những,
biểu hiện của văn hóa trong để tài, chủ đẻ, nhân vật, ngôn từ, thủ pháp
nghệ thuật, thể loại Đẻ tài là một phạm vi đời sống được thể hiện trong,
tác phẩm văn học, nó thể hiện khá rõ những dấu ấn của văn hóa, chẳng
hạn để tài phong tục tập quán dân tộc, đẻ tài cuộc sống ở nông thôn, cui sống ở thành thị Chủ để là vấn đẻ “nổi cộm” trong một phạm vi đời sống, nó cũng là yi thể hiện rõ nét các mâu thuẫn, các vấn dé chủ yếu
trong quá trình phát triển văn hóa dân tộc Chẳng hạn chủ đề về quan giữa cá nhân và cộng đồng, cá nhân và gia đình, giữa con người và hoàn
cảnh, giữa dân tộc này với dân tộc khác thể hiện khá rõ dấu ấn văn
hóa dân tộc Xung đột giữa cá nhân và gia đình truyền thống trong tiểu
thuyết Tự lực văn đoàn đã thể hiện rõ truyền thống văn hóa gia đình ở
Nam trong thời trung đại, và sự hình thành, sự va đập với quan nị mới xuất hiện khi tiếp xúc với văn hóa phương Tây Sự xung đột giữa cá nhân và gia đình hay sự va chạm giữa gia đình hiện đại và gia đình truyền
thống là một nét nổi bật trong văn hóa Việt Nam dau thé ki XX Nhân oật
trong tác phẩm văn học thể hiện rất rõ đấu ấn văn hóa khi nó được khắc
họa như một nhân cách văn hóa Nhân vật văn học thể hiện được vấn
đề đạo đức luân lí trong ứng xử giữa con người và con người, con người
và môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, con người với những vấn đẻ
tín ngưỡng, tôn giáo, hứng thú thẩm mĩ Chẳng hạn, trong thơ Nguyễn Trãi, chúng ta luôn bắt gặp một con người sống hòa mình với tự nhiên
và mang nỗi lo nước thương đời Điều này thể hiện rất rõ quan niệm con
người là một tiểu vũ trụ, vạn vật nhất thể, tư tưởng tốt đẹp trong văn hóa truyền thống Cũng như vậy, chúng ta thấy được truyền thống yêu nước,
sẵn sàng hi sinh cho độc lập dân tộc trong các hình tượng nhân vật như
chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng, Nguyễn Thị); thấy được sự gắn bó với
làng quê trong nhân vật ông Hai (Làng, Kim Lân) Ngôn từ trong văn bản văn học cũng là yếu tố thể hiện khá đậm nét văn hóa dân tộc, bởi vì ngôn
từ là sản phẩm của văn hóa xã hội Mỗi dân tộc có một ngôn ngữ riêng,
Trang 32(HƯƠNG |: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VE ĐỌC VĂN 35
từ riêng nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của thói quen sử dụng ngôn ngữ của
cộng đồng Người đọc có thể khảo sát tác dụng của ngôn ngữ tiếng Việt
đa thanh điệu trong việc tạo lập văn bản thơ ca, tìm kiếm nội hàm van
hóa ẩn sau hệ thống từ ngữ được nhà văn sử dụng, cách sử dụng ngôn
ngữ địa phương Chẳng hạn cách nói rất đặc trưng của các chàng trai
nông thôn trong thơ Nguyễn Bính “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông/ Một
người chín nhớ mười mong một người” (Tương tt) rất gần gũi với cách
nói trong ca dao “Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muồng/ Nhớ ai dai nang dim sương/ Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao” Các phương,
pháp tu từ, các mô-tip trong tác phẩm văn học cũng thể hiện dấu ấn văn
hóa Chẳng hạn, trong văn học Việt Nam thường xuất hiện các hình thức
so sánh, ẩn dụ gắn với những sự vật gần gũi quen thuộc trong đời sống,
xã hội người Việt Thể loại oăn học cũng là một yếu tố thể hiện văn hóa
dân tộc Mỗi đân tộc thường có thể loại văn học riêng Thơ lục bát của Việt Nam là sản phẩm riêng của dân tộc Việt Nam gắn liễn với ngôn ngữ
giàu thanh điệu và gắn với điệu hồn dan tộc Cùng một thể loại nhưng,
ở mỗi quốc gia khác nhau cũng có những sắc thái khác nhau Chẳng hạn như cũng là tiểu thuyết, nhưng ở Việt Nam thường không phát triển tiểu
thuyết phiêu lưu như phương Tây, tiểu thuyết võ hiệp như Trung Quốc,
mà thiên sang tiểu thuyết vẻ nhân tình thế thái
Như vậy, đọc văn từ góc độ văn hóa sẽ giúp cho người đọc khám phá
được nội hàm văn hóa trong văn bản văn học, đồng thời hạn chế được
cách tiếp nhận khép kín chỉ khám phá nội tại văn bản, tách rời văn bản văn học với đời sống xã hội Bên cạnh hướng tìm kiếm nội hàm văn hóa trong văn bản văn học, thì hướng lí giải nguyên nhân hình thành các yếu
tố nội dung, các yếu tố hình thức của văn bản từ cơ sở văn hóa xã hội cũng giúp cho cách đọc văn học từ góc độ văn hóa trở nên phong phú đa
dạng hơn, đồng thời giúp người đọc cảm thấy đọc văn không phải là đọc
Ot thứ xa lạ với cuộc sống xung quanh Văn chương cũng góp phần giải
quyết những vấn đề của cuộc sống hiện thực Chẳng hạn, người đọc có thể lí giải sự xuất hiện của cái tôi cá nhân tìm cách phô bày cảm xúc riêng
tư của mình trong văn học lãng mạn đâu thế kỉ XX ở Việt Nam từ những
biến động trong đời sống văn hóa xã hội; lí giải hiện tượng văn học Việt
Trang 33
cảnh đất nước đang đương đầu với giặc ngoại xâm, lí giải hiện tượng
văn học sau 1975 quay về với những suy tư trăn trở của cuộc sống đời
thường, nhìn lại mặt trái của chiến tranh từ góc độ hoàn cảnh Việt Nam
sau khi ra khỏi cuộc chiến, bước vào thời kì kinh tế thị trường Bên cạnh
đó, nghiên cứu văn hóa còn chú ý đến các vấn để khác như văn học đại
chúng, vấn đề nữ quyền (Phê bình nữ quyền) hay vấn đề quan hệ giữa
con người và môi trường tự nhiên (Phê bình sinh thái) Tất cả những,
biểu hiện đó làm cho văn học xích lại gần hơn với thực tế cuộc sống, đọc
văn giúp độc giả suy tư, nhìn nhận, lí giải về các vấn đẻ của hiện thực
3 ĐỌC VĂN TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Khái niệm “văn” vốn có nghĩa rất rộng, nhưng giáo trình này sử
dụng khái niệm “văn” với nội hàm chỉ tác phẩm văn học, không bao gồm
những văn bản có tính chất nghiên cứu Đọc văn trong trường phổ thông
có những nét đặc thù sau:
3.1 Đối tượng đọc được lựa chọn
Đọc văn trong trường phổ thông có những nét đặc thù so với đọc
văn nói chung, tính đặc thù trước hết thể hiện ở chỗ đối tượng đọc là
những văn bản đã được lựa chọn kĩ theo định hướng giáo dục Hệ thống
văn bản tác phẩm được lựa chọn sẽ góp phần bồi dưỡng kiến thức nền tảng, hình thành kĩ năng, phẩm chất cho học sinh Tác phẩm được lựa
chọn thường là tác phẩm ưu tú, từ văn học dân gian đến văn học hiện
đại, từ văn học trong nước đến văn học nước ngoài Thế nhưng, chính
những tác phẩm này lại mang đến không ít khó khăn cho học sinh Bởi
vì nhiều tác phẩm ra đời vào thời điểm cách khá xa so với thời đại học sinh đang sống, nhiều vấn đẻ đã đổi thay, vấn để người xưa quan tâm
nhiều khi lại rất xa lạ đối với học sinh Không những thể, tác phẩm được lựa chọn đều là những tác phẩm kết tỉnh tài năng nghệ thuật của những tác giả nồi tiếng, học sinh sẽ rất khó tiếp nhận bằng kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghệ thuật có hạn của mình Người biên soạn chương
trình, viết sách giáo khoa, giáo viên trực tiếp giảng dạy cần hết sức quan
tâm đến việc xác định tâm đón nhận của học sinh, bồi dưỡng tầm đón
nhận cho học sinh Nếu tác phẩm vượt xa tằm đón nhận hiện thời của
Trang 34
(HƯƠNG |: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VE ĐỌC VĂN 37
Nếu tác phẩm được lựa chọn đưới hoặc ngang tầm đón nhận của học
sinh, học sinh cũng sẽ không hứng thú Trong nhà trường, nhiều khi học sinh “phải đọc” chứ không phải “thích đọc”, “muốn đọc” Làm thế nào để học sinh chuyền từ tâm thái “phải đọc” sang “thích đọc
đọc” là một van đẻ khá nan giải trong thời điểm hiện nay
, “muốn
3.2.Hoạt động đọc đặc thù
Đọc văn trong trường phổ thông còn là hoạt động được định hướng
Tinh dinh hướng này thể hiện ngay trong lựa chọn tác phẩm để đọc Học sinh khi lên lớp không được quyền tự do lựa chọn tác phẩm mà phải học
những tác phẩm đã được biên soạn trong sách giáo khoa Bên cạnh đó, tính định hướng còn được thể hiện ở chỗ quá trình đọc văn của học sinh là quá trình có sự hướng dẫn Sự hướng dẫn này nằm ngay trong hệ thống câu hỏi
tìm hiểu tác phẩm trong sách giáo khoa, trong các thông tin SỬ, Sự
nghiệp sáng tác của tác giả, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm Giáo viên đóng,
vai trò chủ đạo trong việc hướng dẫn quá trình đọc văn của học sinh Giáo
viên bằng trí thức, kinh nghiệm, phương pháp dạy học, hướng dẫn học sinh từng bước khám phá cái hay cái đẹp, khám phá ý nghĩa của tác phẩm văn
học Giáo viên là người biết trước cái đích cần đến của sự đọc, và hướng dẫn
học sinh dan dan di đến cái đích đó Không những thế, không khí lớp học,
ý kiến trao đổi, phát biểu của các bạn trong lớp cũng ảnh hưởng không nhỏ
đến quá trình đọc của mỗi học sinh Đọc văn ở ngoài nhà trường không có những đặc điểm này Một người đọc thông thường có thể tự do lựa chọn tác
phẩm theo sở thích, theo mục đích riêng Quá trình đọc của họ hết sức tự do
và có thể diễn ra đơn độc, không có sự chỉ dẫn của giáo viên, không chịu tác
động của không khí lớp học, và kết quả của hành động đọc không bị kiểm
tra đánh giá Hoạt động đọc văn trong nhà trường mang lại thuận lợi không, nhỏ cho mỗi học sinh, đặc biệt là khi kinh nghiệm sống, kinh nghiệm đọc
của học sinh chưa nhiều, nhưng nó cũng tiềm ẩn nguy cơ nhiều học sinh có cùng một đáp án, hạn chế sự đa dạng phong phú mang đậm tính chủ quan vốn là bản chất của tiếp nhận văn học Do đó, dạy học văn trong trường phố
thông bên cạnh việc hướng dẫn, định hướng tiếp nhận, cằn chú trọng phát
huy tỉnh thần độc lập, chủ động, sáng tạo trong tiếp nhận của học sinh, để trên cơ sở những kiến thức cơ bản, mỗi học sinh có thể tìm ra ý nghĩa, giá trị