1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người: Phần 2 - TS. Lại Thị Thanh Bình

105 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 10,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 3 của cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người tiếp tục trình bày những nội dung: chương III - Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người; cung cấp cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, chính sách thực hiện quyền con người ở Việt Nam hiện nay;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Điều đó thể hiện tư duy biện chứng duy vật rất nhuần

nhuyễn của Hồ Chí Minh, với quan điểm rất toàn diện

về con người

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về các quyền con

người rất toàn diện và sâu sắc Nhìn tổng thể, có thể

thấy, Người đã luận giải từ cơ sở của quyền con người,

đến nội dung của quyền con người, và đến điều kiện,

phương thức thực hiện quyền con người Người cũng

thấy rõ mối quan hệ giữa các quyền với nhau Nội dung

tư tưởng về quyền con người của Hồ Chí Minh thống

nhất với tư tưởng của Người về cách mạng Việt Nam

nói chung, tạo nên một thể thống nhất hoàn chỉnh

Trong đó, rõ ràng, nội dung tư tưởng về quyền con

người của Hồ Chí Minh giữ vị trí trung tâm trong toàn

bộ hệ thống tư tưởng chính trị của Người Vì thế, để

nhận diện đúng tư tưởng của Hồ Chí Minh về quyền

con người, cần đặt nó trong nhận thức chỉnh thể tư

tưởng chính trị Hồ Chí Minh, và ngược lại, nhận thức tư

tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người chính là đi từ

nhân lõi để nhận thức toàn bộ hệ thống tư tưởng chính

trị của Người

Chương III

GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

là sự vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận Mác - Lênin về quyền con người, kết tinh những giá trị khoa học, cách mạng và tính nhân văn sâu sắc, ngang tầm thời đại

a) Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

là sự vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận Mác - Lênin về quyền con người

So với các cuộc cách mạng trong lịch sử, cách mạng

tư sản có thể coi là cuộc cách mạng tiến bộ, cuộc cáchmạng đã xóa bỏ ách thống trị của chế độ phong kiến

hủ bại, giành lấy phần thắng cho xã hội công dân Đó

là cuộc cách mạng mà gắn liền với nó là những bảntuyên ngôn nổi tiếng về quyền con người: Tuyên ngônđộc lập của Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyềncủa Pháp Cách mạng tư sản thắng lợi bởi sự ủng hộ củađại đa số người dân vốn tin vào những lời hứa dân chủ,

Trang 2

nhân quyền sau khi cách mạng thành công Tuy nhiên,

sau khi cách mạng tư sản thành công, giai cấp tư sản

dần bộc lộ bản chất phản động Với mục đích đặt lợi

nhuận lên hàng đầu, giai cấp này đã chĩa mũi nhọn

tấn công vào lực lượng quần chúng đông đảo đã từng

ủng hộ mình trong cách mạng Chúng áp bức, bóc lột

giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở chính các

nước tư bản cũng như những nước kém phát triển bị

chúng xâm lược, thống trị, nhằm thu về nguồn lợi

nhuận khổng lồ Trong bối cảnh như thế, không đi theo

lối mòn trong tư tưởng về nhân quyền của các nhà xã

hội chủ nghĩa không tưởng Pháp, C.Mác, Ph.Ăngghen

đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện

chứng, phân tích bản chất của chủ nghĩa tư bản lúc

bấy giờ và chỉ ra con đường duy nhất để giải phóng con

người là con đường cách mạng vô sản Nếu thắng lợi

cách mạng tư sản là đem một chế độ bóc lột mới thay

thế cho chế độ áp bức bóc lột cũ thì mục đích của cách

mạng vô sản hướng tới một chế độ xã hội không có

người bóc lột người

Xuất phát điểm của tư tưởng C.Mác, Ph.Ăngghen về

quyền con người là những con người hiện thực - điều đã

được các ông tuyên bố trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

Sự tự do, phát triển quyền cá nhân và hạnh phúc của

mỗi người trong xã hội là tiền đề và điều kiện cho sự

phát triển tự do và hạnh phúc của tất cả mọi người

Lôgíc tư tưởng của chủ nghĩa Mác về nhân quyền là giải

phóng con người thông qua thực tiễn đấu tranh cáchmạng của giai cấp vô sản chứ không viện vào sức mạnhcủa lực lượng siêu nhiên Điều đó đòi hỏi giai cấp vô sảnmuốn giải phóng mình và giải phóng xã hội thì chỉ có một con đường duy nhất là phải làm cách mạng chínhtrị, lật đổ sự thống trị phi nhân quyền của giai cấp tư sản để giành lấy chính quyền, tức là tự giải phóngmình, vì giai cấp mình và vì nhân quyền

Về nội dung quyền con người, C.Mác, Ph.Ăngghen

đã tập trung vào hàng loạt các quyền cụ thể như: quyềndân tộc tự quyết, quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham giaquản lý nhà nước và xã hội, quyền tự do tín ngưỡng,quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền phụ nữ, trẻ

em Trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội, ngoài quyền

sở hữu đối với tư liệu sản xuất, các nhà kinh điển còn đề cập tới quyền lao động, quyền thừa kế, quyền giáo dục,quyền hưởng thụ văn hóa, v.v trong đó hai ông đã

khẳng định: quyền con người phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và chế độ chính trị Giải phóng con người là giải phóng cả về chính trị lẫn kinh tế.

Như vậy, giai đoạn C.Mác, Ph.Ăngghen sống, mâuthuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ngày càngtrở nên gay gắt, phong trào đấu tranh phát triển mạnh

mẽ Chủ nghĩa đế quốc bắt đầu xuất hiện và tiến hànhxâm lược thuộc địa, cuộc đấu tranh giành độc lập ở các nước thuộc địa mang tính tự phát, chưa trở thành mốinguy hại đến chủ nghĩa đế quốc Trung tâm của các

Trang 3

nhân quyền sau khi cách mạng thành công Tuy nhiên,

sau khi cách mạng tư sản thành công, giai cấp tư sản

dần bộc lộ bản chất phản động Với mục đích đặt lợi

nhuận lên hàng đầu, giai cấp này đã chĩa mũi nhọn

tấn công vào lực lượng quần chúng đông đảo đã từng

ủng hộ mình trong cách mạng Chúng áp bức, bóc lột

giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở chính các

nước tư bản cũng như những nước kém phát triển bị

chúng xâm lược, thống trị, nhằm thu về nguồn lợi

nhuận khổng lồ Trong bối cảnh như thế, không đi theo

lối mòn trong tư tưởng về nhân quyền của các nhà xã

hội chủ nghĩa không tưởng Pháp, C.Mác, Ph.Ăngghen

đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện

chứng, phân tích bản chất của chủ nghĩa tư bản lúc

bấy giờ và chỉ ra con đường duy nhất để giải phóng con

người là con đường cách mạng vô sản Nếu thắng lợi

cách mạng tư sản là đem một chế độ bóc lột mới thay

thế cho chế độ áp bức bóc lột cũ thì mục đích của cách

mạng vô sản hướng tới một chế độ xã hội không có

người bóc lột người

Xuất phát điểm của tư tưởng C.Mác, Ph.Ăngghen về

quyền con người là những con người hiện thực - điều đã

được các ông tuyên bố trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

Sự tự do, phát triển quyền cá nhân và hạnh phúc của

mỗi người trong xã hội là tiền đề và điều kiện cho sự

phát triển tự do và hạnh phúc của tất cả mọi người

Lôgíc tư tưởng của chủ nghĩa Mác về nhân quyền là giải

phóng con người thông qua thực tiễn đấu tranh cáchmạng của giai cấp vô sản chứ không viện vào sức mạnhcủa lực lượng siêu nhiên Điều đó đòi hỏi giai cấp vô sảnmuốn giải phóng mình và giải phóng xã hội thì chỉ có một con đường duy nhất là phải làm cách mạng chínhtrị, lật đổ sự thống trị phi nhân quyền của giai cấp tư sản để giành lấy chính quyền, tức là tự giải phóngmình, vì giai cấp mình và vì nhân quyền

Về nội dung quyền con người, C.Mác, Ph.Ăngghen

đã tập trung vào hàng loạt các quyền cụ thể như: quyềndân tộc tự quyết, quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham giaquản lý nhà nước và xã hội, quyền tự do tín ngưỡng,quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền phụ nữ, trẻ

em Trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội, ngoài quyền

sở hữu đối với tư liệu sản xuất, các nhà kinh điển còn đề cập tới quyền lao động, quyền thừa kế, quyền giáo dục,quyền hưởng thụ văn hóa, v.v trong đó hai ông đã

khẳng định: quyền con người phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và chế độ chính trị Giải phóng con người là giải phóng cả về chính trị lẫn kinh tế.

Như vậy, giai đoạn C.Mác, Ph.Ăngghen sống, mâuthuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ngày càngtrở nên gay gắt, phong trào đấu tranh phát triển mạnh

mẽ Chủ nghĩa đế quốc bắt đầu xuất hiện và tiến hànhxâm lược thuộc địa, cuộc đấu tranh giành độc lập ở các nước thuộc địa mang tính tự phát, chưa trở thành mốinguy hại đến chủ nghĩa đế quốc Trung tâm của các

Trang 4

cuộc cách mạng trên thế giới dồn vào các nước châu Âu,

cách mạng thuộc địa chưa khởi sắc Lý luận của chủ

nghĩa Mác - Ăngghen về quyền con người trong bối cảnh

xã hội đó đã tập trung vào đấu tranh giai cấp, tập hợp

giai cấp vô sản ở các nước tư bản để giành chính quyền,

đồng thời giải phóng cho các dân tộc bị áp bức: “Vô sản

tất cả các nước, đoàn kết lại” Do thực tiễn thời đại, vấn

đề dân tộc và thuộc địa chưa phải là vấn đề trọng tâm

của cuộc cách mạng do Mác - Ăngghen khởi xướng

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các nước tư bản Âu -

Mỹ có nhiều chuyển biến mạnh mẽ về đời sống kinh tế,

chính trị, bước sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, mở

rộng và đẩy mạnh xâm lược các nước thuộc địa ở các

nước thuộc châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh

Đến đây, phong trào giải phóng dân tộc, đòi chủ quyền,

xây dựng quốc gia tự do độc lập ở các nước thuộc địa đã

trở nên cấp bách, nhận rõ tình hình đó, V.I.Lênin đã kế

thừa, phát triển và bảo vệ chủ nghĩa Mác trong giai

đoạn lịch sử mới

Từ thực tiễn Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I.Lênin

trong lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc, về giải

phóng con người đã nhận định rằng, cùng với cách

mạng vô sản, cách mạng giải phóng dân tộc có vai trò

quan trọng Ông coi đó là một bộ phận của cách mạng

thế giới, thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc sẽ

không thể thắng lợi nếu không liên minh với cách mạng

giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa Nhấn mạnh

điều này, V.I.Lênin cho rằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể tiến hành được dưới hình thức một thờiđại kết hợp cuộc nội chiến của giai cấp vô sản chống giaicấp tư sản trong các nước tiên tiến, với một loạt phongtrào dân chủ và cách mạng, kể cả những phong tràogiải phóng dân tộc trong các nước chưa phát triển, lạchậu và bị áp bức Điều đó có nghĩa là giai cấp vô sản ở chính quốc phải đoàn kết với các dân tộc bị áp bức để chống lại chủ nghĩa đế quốc trên phạm vi toàn thế giới.Trong đó, giải phóng giai cấp vô sản ở chính quốc làđiều kiện để giải phóng cho các dân tộc thuộc địa, giảiphóng loài người Cũng chính vì tính thực tiễn của thờiđại, V.I.Lênin đã nhấn mạnh: “Vô sản tất cả các nước

và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”

Trước thực tiễn phong trào cách mạng trên thế giới, trong đó có phong trào cách mạng các nước thuộcđịa, V.I.Lênin nhận định: Chúng ta không thể coi lý luận của C.Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn vàbất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận

đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu vớicuộc sống Chính điều này đã đặt ra cho các nhà nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin nhiệmvụ: kế thừa tư tưởng của Mác - Lênin nhưng phải gắnliền với thực tiễn, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, tránhlối tư duy giáo điều, máy móc

Trang 5

cuộc cách mạng trên thế giới dồn vào các nước châu Âu,

cách mạng thuộc địa chưa khởi sắc Lý luận của chủ

nghĩa Mác - Ăngghen về quyền con người trong bối cảnh

xã hội đó đã tập trung vào đấu tranh giai cấp, tập hợp

giai cấp vô sản ở các nước tư bản để giành chính quyền,

đồng thời giải phóng cho các dân tộc bị áp bức: “Vô sản

tất cả các nước, đoàn kết lại” Do thực tiễn thời đại, vấn

đề dân tộc và thuộc địa chưa phải là vấn đề trọng tâm

của cuộc cách mạng do Mác - Ăngghen khởi xướng

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các nước tư bản Âu -

Mỹ có nhiều chuyển biến mạnh mẽ về đời sống kinh tế,

chính trị, bước sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, mở

rộng và đẩy mạnh xâm lược các nước thuộc địa ở các

nước thuộc châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latinh

Đến đây, phong trào giải phóng dân tộc, đòi chủ quyền,

xây dựng quốc gia tự do độc lập ở các nước thuộc địa đã

trở nên cấp bách, nhận rõ tình hình đó, V.I.Lênin đã kế

thừa, phát triển và bảo vệ chủ nghĩa Mác trong giai

đoạn lịch sử mới

Từ thực tiễn Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I.Lênin

trong lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc, về giải

phóng con người đã nhận định rằng, cùng với cách

mạng vô sản, cách mạng giải phóng dân tộc có vai trò

quan trọng Ông coi đó là một bộ phận của cách mạng

thế giới, thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc sẽ

không thể thắng lợi nếu không liên minh với cách mạng

giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa Nhấn mạnh

điều này, V.I.Lênin cho rằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể tiến hành được dưới hình thức một thờiđại kết hợp cuộc nội chiến của giai cấp vô sản chống giaicấp tư sản trong các nước tiên tiến, với một loạt phongtrào dân chủ và cách mạng, kể cả những phong tràogiải phóng dân tộc trong các nước chưa phát triển, lạchậu và bị áp bức Điều đó có nghĩa là giai cấp vô sản ở chính quốc phải đoàn kết với các dân tộc bị áp bức để chống lại chủ nghĩa đế quốc trên phạm vi toàn thế giới.Trong đó, giải phóng giai cấp vô sản ở chính quốc làđiều kiện để giải phóng cho các dân tộc thuộc địa, giảiphóng loài người Cũng chính vì tính thực tiễn của thờiđại, V.I.Lênin đã nhấn mạnh: “Vô sản tất cả các nước

và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”

Trước thực tiễn phong trào cách mạng trên thế giới, trong đó có phong trào cách mạng các nước thuộcđịa, V.I.Lênin nhận định: Chúng ta không thể coi lý luận của C.Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn vàbất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận

đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu vớicuộc sống Chính điều này đã đặt ra cho các nhà nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin nhiệmvụ: kế thừa tư tưởng của Mác - Lênin nhưng phải gắnliền với thực tiễn, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, tránhlối tư duy giáo điều, máy móc

Trang 6

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trước hết

và bắt nguồn sâu xa từ giá trị truyền thống của dân tộc

Trải qua cuộc kháng chiến dựng nước và giữ nước,

Người thấy vai trò và sức mạnh to lớn của quần chúng

nhân dân, của yếu tố con người Đất nước mất chủ

quyền, nhưng Nguyễn Tất Thành đã được nuôi dưỡng

trong môi trường giáo dục đầy tính nhân văn, trong đó

nhấn mạnh tầm quan trọng của người dân trong xã hội

Xuất phát từ địa vị người nô lệ mất nước, đi tìm con

đường cách mạng để đánh đuổi thực dân, giành lại

quyền tự do cho con người, Nguyễn Tất Thành đã mất

gần 10 năm bôn ba khắp các nước tư bản, đế quốc và

thuộc địa để khảo sát đời sống chính trị xã hội, Người

đã rút ra kết luận: Chủ nghĩa tư bản ở đâu cũng như

nhau, đều tàn bạo, độc ác, bóc lột người lao động Người

lao động ở đâu cũng như nhau, đều bị áp bức, bóc lột,

đầy đọa và bị tước mất quyền con người Tận mắt chứng

kiến những cuộc đình công, biểu tình của giai cấp vô

sản ở các nước tư bản, Hồ Chí Minh đã bước đầu tán

thành quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa

Mác - Lênin: giải phóng giai cấp là tiền đề để giải

phóng dân tộc, giải phóng con người

Tuy nhiên, nghiên cứu lý luận của các nhà tư tưởng

nổi tiếng trên thế giới, tiếp thu học thuyết của chủ

nghĩa Mác - Ăngghen, kinh nghiệm thắng lợi của Cách

mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh đã có sự phân

tích xuất chúng về thực tiễn cách mạng Việt Nam:

một đất nước thuộc địa, nửa phong kiến đang bị giằng

xé bởi hai mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ phong kiến và nhân dân lao động; mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân, đế quốc

Hồ Chí Minh nhận định: mâu thuẫn cơ bản và lớn nhấtđòi hỏi cách mạng Việt Nam phải giải quyết, đó là mâuthuẫn dân tộc Còn lại, do tính chất thuộc địa nửaphong kiến, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp

tư sản ở Việt Nam không phải là mâu thuẫn cơ bản,không đi đến đỉnh điểm như ở các nước phương Tây

Từ những phân tích, lập luận trên, có thể thấy,

trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện quyền con người suy cho cùng chính là một phương thức giải phóng con người và được thể hiện thông qua hai mối

quan hệ: Con người với xã hội và con người với tự

nhiên Trước hết, trong mối quan hệ giữa con người với xã hội (con người với con người), Hồ Chí Minh đã

vạch rõ con đường cách mạng cho dân tộc Việt Nam: Giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản;hay giải phóng dân tộc, tiến tới giải phóng giai cấp và cao nhất là giải phóng con người; giữa các giai đoạncách mạng, nhiệm vụ cách mạng không có hố sâungăn cách mà là liên tục, trong đó, giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn sau, đồng thời đã thực hiện mộtphần nhiệm vụ của giai đoạn sau, và giai đoạn sau tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của giai đoạn trước

Trang 7

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trước hết

và bắt nguồn sâu xa từ giá trị truyền thống của dân tộc

Trải qua cuộc kháng chiến dựng nước và giữ nước,

Người thấy vai trò và sức mạnh to lớn của quần chúng

nhân dân, của yếu tố con người Đất nước mất chủ

quyền, nhưng Nguyễn Tất Thành đã được nuôi dưỡng

trong môi trường giáo dục đầy tính nhân văn, trong đó

nhấn mạnh tầm quan trọng của người dân trong xã hội

Xuất phát từ địa vị người nô lệ mất nước, đi tìm con

đường cách mạng để đánh đuổi thực dân, giành lại

quyền tự do cho con người, Nguyễn Tất Thành đã mất

gần 10 năm bôn ba khắp các nước tư bản, đế quốc và

thuộc địa để khảo sát đời sống chính trị xã hội, Người

đã rút ra kết luận: Chủ nghĩa tư bản ở đâu cũng như

nhau, đều tàn bạo, độc ác, bóc lột người lao động Người

lao động ở đâu cũng như nhau, đều bị áp bức, bóc lột,

đầy đọa và bị tước mất quyền con người Tận mắt chứng

kiến những cuộc đình công, biểu tình của giai cấp vô

sản ở các nước tư bản, Hồ Chí Minh đã bước đầu tán

thành quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa

Mác - Lênin: giải phóng giai cấp là tiền đề để giải

phóng dân tộc, giải phóng con người

Tuy nhiên, nghiên cứu lý luận của các nhà tư tưởng

nổi tiếng trên thế giới, tiếp thu học thuyết của chủ

nghĩa Mác - Ăngghen, kinh nghiệm thắng lợi của Cách

mạng Tháng Mười Nga, Hồ Chí Minh đã có sự phân

tích xuất chúng về thực tiễn cách mạng Việt Nam:

một đất nước thuộc địa, nửa phong kiến đang bị giằng

xé bởi hai mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ phong kiến và nhân dân lao động; mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa thực dân, đế quốc

Hồ Chí Minh nhận định: mâu thuẫn cơ bản và lớn nhấtđòi hỏi cách mạng Việt Nam phải giải quyết, đó là mâuthuẫn dân tộc Còn lại, do tính chất thuộc địa nửaphong kiến, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp

tư sản ở Việt Nam không phải là mâu thuẫn cơ bản,không đi đến đỉnh điểm như ở các nước phương Tây

Từ những phân tích, lập luận trên, có thể thấy,

trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện quyền con người suy cho cùng chính là một phương thức giải phóng con người và được thể hiện thông qua hai mối

quan hệ: Con người với xã hội và con người với tự

nhiên Trước hết, trong mối quan hệ giữa con người với xã hội (con người với con người), Hồ Chí Minh đã

vạch rõ con đường cách mạng cho dân tộc Việt Nam: Giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản;hay giải phóng dân tộc, tiến tới giải phóng giai cấp và cao nhất là giải phóng con người; giữa các giai đoạncách mạng, nhiệm vụ cách mạng không có hố sâungăn cách mà là liên tục, trong đó, giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn sau, đồng thời đã thực hiện mộtphần nhiệm vụ của giai đoạn sau, và giai đoạn sau tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của giai đoạn trước

Trang 8

Con đường cách mạng này là triệt để, khoa học, phù

hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam, đồng

thời cũng phù hợp với những nguyên lý nền tảng của

chủ nghĩa Mác - Lênin

Giải phóng dân tộc để giành lại độc lập, chủ quyền

đất nước, sau đó là giải phóng giai cấp, và thực thi

quyền con người ở Việt Nam trong chế độ xã hội mới

chính là con đường hiện thực hóa khát vọng của tư

tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người Nhấn mạnh

điều này, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (tháng

5/1941) cho rằng: “Trong lúc này quyền lợi của bộ

phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong

của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này nếu không

giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi

được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng

những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp

ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn

năm cũng không đòi lại được”1

Từ những nhận định mang tính vượt thời đại về giải

phóng con người ở nước thuộc địa, Hồ Chí Minh làm

phong phú lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề

quyền con người Xuất phát từ đấu tranh cách mạng

giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, Hồ Chí Minh coi

đó là cơ sở để thực thi quyền chính trị, dân sự, quyền

_

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.113

kinh tế, văn hóa xã hội cho con người, các quyền cơ bảncho các đối tượng người trong xã hội như quyền phụ nữ,trẻ em, quyền của các dân tộc thiểu số, v.v., trong xã hộimới, xã hội xã hội chủ nghĩa Từ thực tiễn đó, Hồ ChíMinh đã kêu gọi toàn thể nhân dân lao động bị áp bứctrên toàn thế giới, bao gồm: công nhân, nông dân, tríthức, thợ thủ công, v.v., và các thành phần lao động khác, cùng đồng lòng, chung sức để tiến hành cách

mạng giải phóng cho chính mình: “Lao động tất cả các

nước, đoàn kết lại”1 Phương pháp giải phóng con người

là của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng cách thức mà Hồ Chí Minh tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc để giành chủ quyền đất nước, từ đó xác lập quyền conngười đã mang dấu ấn thời đại, mang tầm nhân loại.Giá trị hiện hữu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyềncon người còn được thể hiện ở sự tôn trọng và phát huybản tính người của con người trong suốt quá trình đấutranh cách mạng Điều này hoàn toàn đối lập bản tínhphi nhân tính của thực dân Pháp đối với các dân tộcthuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam Trước cáchmạng, dù thực dân, đế quốc có đối xử phi nhân tính đốivới nhân dân thuộc địa trong đó có Việt Nam, trongcách mạng, Hồ Chí Minh vẫn thể hiện tính nhân văn vàtầm cao văn hóa chính trị Người đau lòng trước cảnh con người buộc phải tàn sát lẫn nhau; Người thể hiện _

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.496.

Trang 9

Con đường cách mạng này là triệt để, khoa học, phù

hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam, đồng

thời cũng phù hợp với những nguyên lý nền tảng của

chủ nghĩa Mác - Lênin

Giải phóng dân tộc để giành lại độc lập, chủ quyền

đất nước, sau đó là giải phóng giai cấp, và thực thi

quyền con người ở Việt Nam trong chế độ xã hội mới

chính là con đường hiện thực hóa khát vọng của tư

tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người Nhấn mạnh

điều này, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (tháng

5/1941) cho rằng: “Trong lúc này quyền lợi của bộ

phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong

của quốc gia, của dân tộc Trong lúc này nếu không

giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi

được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng

những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp

ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn

năm cũng không đòi lại được”1

Từ những nhận định mang tính vượt thời đại về giải

phóng con người ở nước thuộc địa, Hồ Chí Minh làm

phong phú lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề

quyền con người Xuất phát từ đấu tranh cách mạng

giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, Hồ Chí Minh coi

đó là cơ sở để thực thi quyền chính trị, dân sự, quyền

_

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.113

kinh tế, văn hóa xã hội cho con người, các quyền cơ bảncho các đối tượng người trong xã hội như quyền phụ nữ,trẻ em, quyền của các dân tộc thiểu số, v.v., trong xã hộimới, xã hội xã hội chủ nghĩa Từ thực tiễn đó, Hồ ChíMinh đã kêu gọi toàn thể nhân dân lao động bị áp bứctrên toàn thế giới, bao gồm: công nhân, nông dân, tríthức, thợ thủ công, v.v., và các thành phần lao động khác, cùng đồng lòng, chung sức để tiến hành cách

mạng giải phóng cho chính mình: “Lao động tất cả các

nước, đoàn kết lại”1 Phương pháp giải phóng con người

là của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng cách thức mà Hồ Chí Minh tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc để giành chủ quyền đất nước, từ đó xác lập quyền conngười đã mang dấu ấn thời đại, mang tầm nhân loại.Giá trị hiện hữu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyềncon người còn được thể hiện ở sự tôn trọng và phát huybản tính người của con người trong suốt quá trình đấutranh cách mạng Điều này hoàn toàn đối lập bản tínhphi nhân tính của thực dân Pháp đối với các dân tộcthuộc địa, trong đó có dân tộc Việt Nam Trước cáchmạng, dù thực dân, đế quốc có đối xử phi nhân tính đốivới nhân dân thuộc địa trong đó có Việt Nam, trongcách mạng, Hồ Chí Minh vẫn thể hiện tính nhân văn vàtầm cao văn hóa chính trị Người đau lòng trước cảnh con người buộc phải tàn sát lẫn nhau; Người thể hiện _

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.496.

Trang 10

mong ước hòa bình càng sớm càng tốt; Người mong mỏi

độc lập cho dân tộc mình và sự tôn trọng độc lập giữa

các dân tộc trên thế giới Trong cách mạng và sau cách

mạng, Hồ Chí Minh thể hiện lòng nhân đạo, khoan

dung và tôn trọng quyền con người đối với tù binh chiến

tranh, v.v Do đó mà, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền

con người còn có giá trị cảm hóa, để cho những kẻ phi

nhân tính quay trở về với bản tính vốn có của con

người Thông qua cách mạng giải phóng dân tộc, giải

phóng con người Việt Nam, thực dân, đế quốc đã thấy

được giá trị làm người của con người, nhiều người trong

số thực dân, đế quốc sau chiến tranh sống cuộc sống

dằn vặt, lương tâm day dứt, họ đã quay trở về Việt

Nam, làm những việc có ích với tinh thần tạ lỗi đối với

dân tộc, con người Việt Nam Qua đó cho thấy, tư tưởng

Hồ Chí Minh về quyền con người không chỉ mang giá trị

thực tiễn là cải tạo xã hội mà còn cải tạo chính bản thân

con người - với tư cách là hạt nhân của xã hội

Giải quyết tốt mối quan hệ giữa con người với con

người, con người với xã hội thông qua cuộc cách mạng

giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con

người, sự sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về

quyền con người còn được thể hiện trong mối quan hệ

giữa con người với tự nhiên, giải phóng con người khỏi

những thảm họa khắc nghiệt của tự nhiên Điều này

được thể hiện rất rõ trong phong cách sống, trong hoạt

động thực tiễn của Người

Gần một năm sau khi nước nhà giành độc lập, ngày 22/5/1946, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 70/SL, thànhlập Ủy ban hộ đê Trung ương (tiền thân của Ban Chỉ huy phòng, chống lụt bão Trung ương) Cứ đến mùa mưa bão, Người lại gửi điện, thư nhắc nhở các cấp,ngành, ban ở các địa phương phải cảnh giác và có kế hoạch cụ thể để chủ động phòng, chống thiên tai, bảođảm tính mạng, của cải cho người dân Những đợt hạnhán, Hồ Chí Minh cũng chủ động đến thăm các công trình thủy lợi, thăm hỏi, động viên bà con chống hạn, bảo đảm sức khỏe và vụ mùa Người nhắc nhở cán bộ,đảng viên phải hết sức quan tâm và có biện pháp hỗ trợ kịp thời trước biến đổi của thiên tai Người coi đó làcông việc ích nước, lợi dân

Tháng 8/1969, cơn đại hồng thủy đe dọa miền Bắcnước ta, trong thời gian này, Hồ Chí Minh đang lâm bệnh nặng Chính phủ có ý định sơ tán Người đến nơi

an toàn, tấm lòng của vị Chủ tịch nước dù đến nhữngngày tháng cuối đời vẫn hướng về đồng bào, Người loChính phủ làm thế nào cho đê không vỡ chứ khôngmàng đến cá nhân mình Rõ ràng, dù là đại hồng thủycũng không làm ảnh hưởng đến tinh thần của lãnh tụ

Hồ Chí Minh, Người luôn coi thiên nhiên là một bộ phận của đời sống con người, chúng ta phải chinh phụcthiên nhiên, tìm mọi cách để dự báo, phòng, chống vàkhắc phục thiên nhiên nhằm mang lại chất lượng sống tốt nhất cho con người chứ không để thiên nhiên chinh phục con người

Trang 11

mong ước hòa bình càng sớm càng tốt; Người mong mỏi

độc lập cho dân tộc mình và sự tôn trọng độc lập giữa

các dân tộc trên thế giới Trong cách mạng và sau cách

mạng, Hồ Chí Minh thể hiện lòng nhân đạo, khoan

dung và tôn trọng quyền con người đối với tù binh chiến

tranh, v.v Do đó mà, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền

con người còn có giá trị cảm hóa, để cho những kẻ phi

nhân tính quay trở về với bản tính vốn có của con

người Thông qua cách mạng giải phóng dân tộc, giải

phóng con người Việt Nam, thực dân, đế quốc đã thấy

được giá trị làm người của con người, nhiều người trong

số thực dân, đế quốc sau chiến tranh sống cuộc sống

dằn vặt, lương tâm day dứt, họ đã quay trở về Việt

Nam, làm những việc có ích với tinh thần tạ lỗi đối với

dân tộc, con người Việt Nam Qua đó cho thấy, tư tưởng

Hồ Chí Minh về quyền con người không chỉ mang giá trị

thực tiễn là cải tạo xã hội mà còn cải tạo chính bản thân

con người - với tư cách là hạt nhân của xã hội

Giải quyết tốt mối quan hệ giữa con người với con

người, con người với xã hội thông qua cuộc cách mạng

giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con

người, sự sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về

quyền con người còn được thể hiện trong mối quan hệ

giữa con người với tự nhiên, giải phóng con người khỏi

những thảm họa khắc nghiệt của tự nhiên Điều này

được thể hiện rất rõ trong phong cách sống, trong hoạt

động thực tiễn của Người

Gần một năm sau khi nước nhà giành độc lập, ngày 22/5/1946, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 70/SL, thànhlập Ủy ban hộ đê Trung ương (tiền thân của Ban Chỉ huy phòng, chống lụt bão Trung ương) Cứ đến mùa mưa bão, Người lại gửi điện, thư nhắc nhở các cấp,ngành, ban ở các địa phương phải cảnh giác và có kế hoạch cụ thể để chủ động phòng, chống thiên tai, bảođảm tính mạng, của cải cho người dân Những đợt hạnhán, Hồ Chí Minh cũng chủ động đến thăm các công trình thủy lợi, thăm hỏi, động viên bà con chống hạn, bảo đảm sức khỏe và vụ mùa Người nhắc nhở cán bộ,đảng viên phải hết sức quan tâm và có biện pháp hỗ trợ kịp thời trước biến đổi của thiên tai Người coi đó làcông việc ích nước, lợi dân

Tháng 8/1969, cơn đại hồng thủy đe dọa miền Bắcnước ta, trong thời gian này, Hồ Chí Minh đang lâm bệnh nặng Chính phủ có ý định sơ tán Người đến nơi

an toàn, tấm lòng của vị Chủ tịch nước dù đến nhữngngày tháng cuối đời vẫn hướng về đồng bào, Người loChính phủ làm thế nào cho đê không vỡ chứ khôngmàng đến cá nhân mình Rõ ràng, dù là đại hồng thủycũng không làm ảnh hưởng đến tinh thần của lãnh tụ

Hồ Chí Minh, Người luôn coi thiên nhiên là một bộ phận của đời sống con người, chúng ta phải chinh phụcthiên nhiên, tìm mọi cách để dự báo, phòng, chống vàkhắc phục thiên nhiên nhằm mang lại chất lượng sống tốt nhất cho con người chứ không để thiên nhiên chinh phục con người

Trang 12

Quan tâm đến những biến đổi của thiên tai, Hồ

Chí Minh còn giải quyết vấn đề này từ gốc, đó là chiến

dịch trồng cây mỗi dịp tết đến xuân về Người từng

giải thích: “Nếu rừng kiệt thì không còn gỗ và mất

nguồn nước thì ruộng nương mất màu, gây ra lụt lội và

hạn hán”1 Người lên án nạn tàn phá rừng và cho rằng

đó là hành động “đem vàng đổ xuống biển” “Phá rừng

sẽ ảnh hưởng tới khí hậu, ảnh hưởng tới sản xuất, đến

đời sống rất nhiều” Trong cuộc sống của mình, bản

thân Hồ Chí Minh cũng rất gần gũi với cỏ cây, hoa lá,

ao hồ Người còn căn dặn về kế hoạch trồng cây ở phần

mộ của Người sau này: “Nên có kế hoạch trồng cây

trên và chung quanh đồi Ai đến thăm thì trồng một

vài cây làm kỷ niệm Lâu ngày, cây nhiều thành rừng

sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”2 Có thể

nói, thông qua hành động và những việc làm thiết

thực, đã cho thấy triết lý vị nhân sinh cao cả của một

nhà chính trị vĩ đại, suốt đời hy sinh vì con người

Sau khi xóa bỏ chế độ thuộc địa, giành chính

quyền, việc bảo đảm quyền con người trong xã hội xã

hội chủ nghĩa còn được Hồ Chí Minh nhấn mạnh ở

khía cạnh nâng cao dân trí cho nhân dân Hồ Chí Minh

nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người

xã hội chủ nghĩa”3; “Muốn có con người xã hội chủ

Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, Hồ ChíMinh coi trọng nhiệm vụ nâng cao dân trí “Vì lợi íchmười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phảitrồng người” Với quan niệm bản tính con người phầnlớn là do giáo dục mà nên, Hồ Chí Minh cho rằng, mộtdân tộc dốt là một dân tộc yếu, đã yếu thì sao giữ nổiđộc lập, một dân tộc bị phụ thuộc thì sao có thể bìnhđẳng với các dân tộc khác Do đó, mọi người dân, với tư cách là chủ nước nhà, phải coi học tập là quyền vànghĩa vụ của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước: “Chúng ta là những người lao động làm chủ nước nhà Muốn làm chủ được tốt, phải có năng lực làmchủ Chúng ta học tập chính là để có đủ năng lực làmchủ, có đủ năng lực tổ chức cuộc sống mới - trước hết là

tổ chức nền sản xuất mới Bởi vậy, ý thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở tinh thần hăng hái lao động màcòn phải tỏ rõ ở tinh thần say mê học tập để khôngngừng nâng cao năng lực làm chủ của mình”1

Học những gì? Ngoài việc học văn hóa phổ thông,

Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến việc học tập khoa học

kỹ thuật, học về kỹ năng, phương pháp: “Trước đây làm _

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.527.

Trang 13

Quan tâm đến những biến đổi của thiên tai, Hồ

Chí Minh còn giải quyết vấn đề này từ gốc, đó là chiến

dịch trồng cây mỗi dịp tết đến xuân về Người từng

giải thích: “Nếu rừng kiệt thì không còn gỗ và mất

nguồn nước thì ruộng nương mất màu, gây ra lụt lội và

hạn hán”1 Người lên án nạn tàn phá rừng và cho rằng

đó là hành động “đem vàng đổ xuống biển” “Phá rừng

sẽ ảnh hưởng tới khí hậu, ảnh hưởng tới sản xuất, đến

đời sống rất nhiều” Trong cuộc sống của mình, bản

thân Hồ Chí Minh cũng rất gần gũi với cỏ cây, hoa lá,

ao hồ Người còn căn dặn về kế hoạch trồng cây ở phần

mộ của Người sau này: “Nên có kế hoạch trồng cây

trên và chung quanh đồi Ai đến thăm thì trồng một

vài cây làm kỷ niệm Lâu ngày, cây nhiều thành rừng

sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”2 Có thể

nói, thông qua hành động và những việc làm thiết

thực, đã cho thấy triết lý vị nhân sinh cao cả của một

nhà chính trị vĩ đại, suốt đời hy sinh vì con người

Sau khi xóa bỏ chế độ thuộc địa, giành chính

quyền, việc bảo đảm quyền con người trong xã hội xã

hội chủ nghĩa còn được Hồ Chí Minh nhấn mạnh ở

khía cạnh nâng cao dân trí cho nhân dân Hồ Chí Minh

nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người

xã hội chủ nghĩa”3; “Muốn có con người xã hội chủ

Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, Hồ ChíMinh coi trọng nhiệm vụ nâng cao dân trí “Vì lợi íchmười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phảitrồng người” Với quan niệm bản tính con người phầnlớn là do giáo dục mà nên, Hồ Chí Minh cho rằng, mộtdân tộc dốt là một dân tộc yếu, đã yếu thì sao giữ nổiđộc lập, một dân tộc bị phụ thuộc thì sao có thể bìnhđẳng với các dân tộc khác Do đó, mọi người dân, với tư cách là chủ nước nhà, phải coi học tập là quyền vànghĩa vụ của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước: “Chúng ta là những người lao động làm chủ nước nhà Muốn làm chủ được tốt, phải có năng lực làmchủ Chúng ta học tập chính là để có đủ năng lực làmchủ, có đủ năng lực tổ chức cuộc sống mới - trước hết là

tổ chức nền sản xuất mới Bởi vậy, ý thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở tinh thần hăng hái lao động màcòn phải tỏ rõ ở tinh thần say mê học tập để khôngngừng nâng cao năng lực làm chủ của mình”1

Học những gì? Ngoài việc học văn hóa phổ thông,

Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến việc học tập khoa học

kỹ thuật, học về kỹ năng, phương pháp: “Trước đây làm _

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.527.

Trang 14

việc theo lối thủ công, nhưng bây giờ làm bằng máy móc

tinh xảo cả, nên việc học tập văn hóa, nâng cao trình độ

kỹ thuật là rất cần thiết”1; với cán bộ, Người yêu cầu:

“Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm

việc cho có phương pháp Phải cần mà phải cẩn nữa”2

Những sự sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về

quyền con người, giải phóng con người trong xã hội mới

vẫn còn giữ nguyên ý nghĩa, nhất là trong thời đại ngày

nay, khi xã hội loài người đã chuyển sang kỷ nguyên số,

kỷ nguyên đòi hỏi mỗi người muốn giải phóng mình

phải làm chủ máy móc, kỹ thuật, công nghệ, và làm chủ

chính bản thân mình, như thế là đã thực hiện quyền

làm người một cách hoàn chỉnh nhất, tạo tiền đề cho sự

phát triển quyền quốc gia, dân tộc, nhân loại

b) Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

kết tinh các giá trị khoa học, cách mạng và tính

nhân văn sâu sắc, ngang tầm thời đại

Về giá trị khoa học, cách mạng Việt Nam cuối thế

kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ghi dấu ấn của nhiều chí sĩ yêu

nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn

An Ninh, Nguyễn Trường Tộ, v.v Dù các vị tiền bối đã

rất nỗ lực trong việc tìm ra con đường cách mạng cho

dân tộc Việt Nam, nhưng vì nhiều lý do chủ quan và

tự tha hóa của chủ nghĩa tư bản Người dân lao động ở

chính quốc và ở các nước thuộc địa là những người bị tước hết quyền, bị áp bức, bị bóc lột, họ là những người

bị tha hóa Hồ Chí Minh cho rằng: Chủ nghĩa đế quốc

là con đỉa hai vòi, một vòi bám hút vào nhân dân laođộng ở chính quốc, còn vòi kia bám hút vào nhân dân lao động ở các nước thuộc địa Với tình thế đó, conđường cách mạng khoa học nhất cho dân tộc Việt Namchỉ có thể là con đường cách mạng vô sản, cách mạnggiải phóng dân tộc theo chủ nghĩa Mác - Lênin Con đường cách mạng Hồ Chí Minh tìm thấy cho dân tộcViệt Nam cũng chính là cách mạng giải phóng dân tộcnhằm xóa bỏ sự nô dịch giữa con người với con người,

để người tự tha hóa trở về đúng với bản tính người vốn

có, để người bị tha hóa được thực hiện đúng các quyền

cơ bản của con người; để giữa các dân tộc bình đẳng, tự

do, tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm phát triển

Trang 15

việc theo lối thủ công, nhưng bây giờ làm bằng máy móc

tinh xảo cả, nên việc học tập văn hóa, nâng cao trình độ

kỹ thuật là rất cần thiết”1; với cán bộ, Người yêu cầu:

“Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm

việc cho có phương pháp Phải cần mà phải cẩn nữa”2

Những sự sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về

quyền con người, giải phóng con người trong xã hội mới

vẫn còn giữ nguyên ý nghĩa, nhất là trong thời đại ngày

nay, khi xã hội loài người đã chuyển sang kỷ nguyên số,

kỷ nguyên đòi hỏi mỗi người muốn giải phóng mình

phải làm chủ máy móc, kỹ thuật, công nghệ, và làm chủ

chính bản thân mình, như thế là đã thực hiện quyền

làm người một cách hoàn chỉnh nhất, tạo tiền đề cho sự

phát triển quyền quốc gia, dân tộc, nhân loại

b) Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

kết tinh các giá trị khoa học, cách mạng và tính

nhân văn sâu sắc, ngang tầm thời đại

Về giá trị khoa học, cách mạng Việt Nam cuối thế

kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ghi dấu ấn của nhiều chí sĩ yêu

nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn

An Ninh, Nguyễn Trường Tộ, v.v Dù các vị tiền bối đã

rất nỗ lực trong việc tìm ra con đường cách mạng cho

dân tộc Việt Nam, nhưng vì nhiều lý do chủ quan và

tự tha hóa của chủ nghĩa tư bản Người dân lao động ở

chính quốc và ở các nước thuộc địa là những người bị tước hết quyền, bị áp bức, bị bóc lột, họ là những người

bị tha hóa Hồ Chí Minh cho rằng: Chủ nghĩa đế quốc

là con đỉa hai vòi, một vòi bám hút vào nhân dân laođộng ở chính quốc, còn vòi kia bám hút vào nhân dân lao động ở các nước thuộc địa Với tình thế đó, conđường cách mạng khoa học nhất cho dân tộc Việt Namchỉ có thể là con đường cách mạng vô sản, cách mạnggiải phóng dân tộc theo chủ nghĩa Mác - Lênin Con đường cách mạng Hồ Chí Minh tìm thấy cho dân tộcViệt Nam cũng chính là cách mạng giải phóng dân tộcnhằm xóa bỏ sự nô dịch giữa con người với con người,

để người tự tha hóa trở về đúng với bản tính người vốn

có, để người bị tha hóa được thực hiện đúng các quyền

cơ bản của con người; để giữa các dân tộc bình đẳng, tự

do, tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm phát triển

Trang 16

toàn diện con người Thực hiện thành công cuộc cách

mạng giải phóng dân tộc, tức là thực hiện cuộc cách

mạng về quyền cho con người

Để thực hiện thành công cuộc cách mạng giải phóng

dân tộc, Hồ Chí Minh khẳng định phải có một tổ chức

đảng lãnh đạo, gắn kết các giai tầng trong xã hội, để:

trong thì vận động tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc

với các dân tộc bị áp bức và vô sản ở mọi nơi, ý tưởng này

vừa mang tính đột phá, vừa thể hiện tầm cao tư duy của

Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc, bởi

việc xác lập một đảng cầm quyền đối với một nước Đông

Nam Á là điều rất mới mẻ và tiến bộ Để một chính đảng

ra đời đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng, ngay từ

rất sớm, Hồ Chí Minh đã có sự chuẩn bị chu đáo về tổ

chức, tư tưởng, lực lượng, chính trị Sự ra đời của Đảng

Cộng sản Việt Nam, chính đảng của giai cấp công nhân

và nhân dân lao động là kết quả của sự vận dụng tư

tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào

công nhân và phong trào yêu nước Có tổ chức lãnh đạo

là Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh yêu cầu phải

có lực lượng cách mạng Trong nước, Người yêu cầu lực

lượng cách mạng là toàn dân tộc, vì chỉ có toàn thể dân

tộc, trong đó có nhân dân lao động mới có đủ phẩm chất

để khẳng định và giành lại quyền tự do cho chính mình

Ngay cả đối với giai cấp tư sản dân tộc, Hồ Chí Minh

cũng có thái độ rất rõ ràng, coi họ cũng là một lực lượng cần

có trong cách mạng và trong xây dựng chế độ xã hội mới,

tức là đồng minh của cách mạng để cải tạo họ thànhngười lao động chứ họ không phải là đối tượng của cáchmạng Về tình thế cách mạng, Hồ Chí Minh nhận địnhtính linh hoạt và bước đột phá của cách mạng giải phóng dân tộc là phải được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc Người chỉ rõ: “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đixâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị

áp bức ở các thuộc địa”1 Ngoài nước, Hồ Chí Minh yêucầu phải đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, bị bóc lột, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, thân thiện với kiều dân ngoại quốc, nhất là Hoa kiều Đối với Pháp, chỉ đánh bọnthực dân, còn đối với những kiều dân Pháp không làmhại gì cho nền độc lập của ta, ta sẽ bảo vệ tính mạng, tài sản cho họ Tinh thần đoàn kết trong và ngoài nước của

tư tưởng Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người chính là một điểm mới so với các cuộc cách mạng trên thế giới Tinh thần này đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, lật đổ áchthống trị của tư bản đế quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hộitrên diện rộng

Giá trị khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, bao gồm cả tư tưởng về nội dung, hình thức và phương thức thực hiện quyền con người gắn _

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.295.

Trang 17

toàn diện con người Thực hiện thành công cuộc cách

mạng giải phóng dân tộc, tức là thực hiện cuộc cách

mạng về quyền cho con người

Để thực hiện thành công cuộc cách mạng giải phóng

dân tộc, Hồ Chí Minh khẳng định phải có một tổ chức

đảng lãnh đạo, gắn kết các giai tầng trong xã hội, để:

trong thì vận động tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc

với các dân tộc bị áp bức và vô sản ở mọi nơi, ý tưởng này

vừa mang tính đột phá, vừa thể hiện tầm cao tư duy của

Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc, bởi

việc xác lập một đảng cầm quyền đối với một nước Đông

Nam Á là điều rất mới mẻ và tiến bộ Để một chính đảng

ra đời đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng, ngay từ

rất sớm, Hồ Chí Minh đã có sự chuẩn bị chu đáo về tổ

chức, tư tưởng, lực lượng, chính trị Sự ra đời của Đảng

Cộng sản Việt Nam, chính đảng của giai cấp công nhân

và nhân dân lao động là kết quả của sự vận dụng tư

tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào

công nhân và phong trào yêu nước Có tổ chức lãnh đạo

là Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh yêu cầu phải

có lực lượng cách mạng Trong nước, Người yêu cầu lực

lượng cách mạng là toàn dân tộc, vì chỉ có toàn thể dân

tộc, trong đó có nhân dân lao động mới có đủ phẩm chất

để khẳng định và giành lại quyền tự do cho chính mình

Ngay cả đối với giai cấp tư sản dân tộc, Hồ Chí Minh

cũng có thái độ rất rõ ràng, coi họ cũng là một lực lượng cần

có trong cách mạng và trong xây dựng chế độ xã hội mới,

tức là đồng minh của cách mạng để cải tạo họ thànhngười lao động chứ họ không phải là đối tượng của cáchmạng Về tình thế cách mạng, Hồ Chí Minh nhận địnhtính linh hoạt và bước đột phá của cách mạng giải phóng dân tộc là phải được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc Người chỉ rõ: “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đixâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị

áp bức ở các thuộc địa”1 Ngoài nước, Hồ Chí Minh yêucầu phải đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, bị bóc lột, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, thân thiện với kiều dân ngoại quốc, nhất là Hoa kiều Đối với Pháp, chỉ đánh bọnthực dân, còn đối với những kiều dân Pháp không làmhại gì cho nền độc lập của ta, ta sẽ bảo vệ tính mạng, tài sản cho họ Tinh thần đoàn kết trong và ngoài nước của

tư tưởng Hồ Chí Minh trong cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người chính là một điểm mới so với các cuộc cách mạng trên thế giới Tinh thần này đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, lật đổ áchthống trị của tư bản đế quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hộitrên diện rộng

Giá trị khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, bao gồm cả tư tưởng về nội dung, hình thức và phương thức thực hiện quyền con người gắn _

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.295.

Trang 18

liền với sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc đã được

khẳng định bởi những thành tựu trong thực tiễn cách

mạng Việt Nam, không chỉ trong quá khứ, mà còn cả

trong hiện tại và trong những định hướng phát triển

hướng tới tương lai

Giá trị khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh về

quyền con người còn được khẳng định một cách mạnh

mẽ không phải chỉ bởi những nhà khoa học, nhà hoạt

động chính trị - xã hội trong nước, mà còn cả những

nhà khoa học, nhà hoạt động chính trị - xã hội quốc tế,

và đặc biệt, không phải chỉ bởi những người làm khoa

học hay hoạt động chính trị - xã hội, mà quan trọng hơn

cả là bởi sự thừa nhận và ca ngợi của chính nhân dân -

nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới

Về giá trị cách mạng, điểm nổi bật trong tư tưởng

Hồ Chí Minh về quyền con người là ở chỗ, mỗi bước

phát triển trong lý luận của Người đều trở thành kim

chỉ nam chỉ đạo hoạt động cách mạng Hồ Chí Minh

quan niệm cách mạng: “Là đổi thế giới cũ thành một

thế giới mới, thế giới xã hội chủ nghĩa”1; “là tiêu diệt

những cái gì xấu, xây dựng những cái gì tốt”2; “là giải

phóng dân tộc”3; “là xây dựng một nước Việt Nam độc

lập, thống nhất, tự do, giàu mạnh”4; “là để tranh lấy

có tính phê phán, có tính chiến đấu để chống quan niệm cũ và kiến tạo quan niệm mới về quyền con người Hạt nhân của cách mạng giải phóng con người

trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nội dung về quyền con người, quyền công dân, chủ quyền dân tộc

Hồ Chí Minh luôn gắn sự phát triển tự do cá nhân với

sự phát triển tự do của cộng đồng dân tộc Cá nhân chỉ

có cơ hội được phát triển toàn diện khi xã hội được giảiphóng khỏi mọi hình thức bóc lột, áp bức, trong đó có

áp bức, bóc lột và nô dịch dân tộc Hồ Chí Minh nhậnđịnh cách mạng giải phóng dân tộc phải được diễn ra dưới hình thức cách mạng bạo lực chứ không thể bằng con đường nào khác: “Trong cuộc đấu tranh gian khổ

chống kẻ thù của giai cấp và dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”2 Cách mạngtrong tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm: giải phóng conngười - giải phóng dân tộc; giải phóng con người - giảiphóng giai cấp; giải phóng con người - giải phóng nhân loại, đó mới thực sự là cuộc cách mạng giải phóng xãhội Một người trong xã hội không thể đứng ngoài giai cấp Sau khi tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ _

1, 2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.260, 391

Trang 19

liền với sự nghiệp cách mạng của toàn dân tộc đã được

khẳng định bởi những thành tựu trong thực tiễn cách

mạng Việt Nam, không chỉ trong quá khứ, mà còn cả

trong hiện tại và trong những định hướng phát triển

hướng tới tương lai

Giá trị khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh về

quyền con người còn được khẳng định một cách mạnh

mẽ không phải chỉ bởi những nhà khoa học, nhà hoạt

động chính trị - xã hội trong nước, mà còn cả những

nhà khoa học, nhà hoạt động chính trị - xã hội quốc tế,

và đặc biệt, không phải chỉ bởi những người làm khoa

học hay hoạt động chính trị - xã hội, mà quan trọng hơn

cả là bởi sự thừa nhận và ca ngợi của chính nhân dân -

nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới

Về giá trị cách mạng, điểm nổi bật trong tư tưởng

Hồ Chí Minh về quyền con người là ở chỗ, mỗi bước

phát triển trong lý luận của Người đều trở thành kim

chỉ nam chỉ đạo hoạt động cách mạng Hồ Chí Minh

quan niệm cách mạng: “Là đổi thế giới cũ thành một

thế giới mới, thế giới xã hội chủ nghĩa”1; “là tiêu diệt

những cái gì xấu, xây dựng những cái gì tốt”2; “là giải

phóng dân tộc”3; “là xây dựng một nước Việt Nam độc

lập, thống nhất, tự do, giàu mạnh”4; “là để tranh lấy

có tính phê phán, có tính chiến đấu để chống quan niệm cũ và kiến tạo quan niệm mới về quyền con người Hạt nhân của cách mạng giải phóng con người

trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nội dung về quyền con người, quyền công dân, chủ quyền dân tộc

Hồ Chí Minh luôn gắn sự phát triển tự do cá nhân với

sự phát triển tự do của cộng đồng dân tộc Cá nhân chỉ

có cơ hội được phát triển toàn diện khi xã hội được giảiphóng khỏi mọi hình thức bóc lột, áp bức, trong đó có

áp bức, bóc lột và nô dịch dân tộc Hồ Chí Minh nhậnđịnh cách mạng giải phóng dân tộc phải được diễn ra dưới hình thức cách mạng bạo lực chứ không thể bằng con đường nào khác: “Trong cuộc đấu tranh gian khổ

chống kẻ thù của giai cấp và dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”2 Cách mạngtrong tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm: giải phóng conngười - giải phóng dân tộc; giải phóng con người - giảiphóng giai cấp; giải phóng con người - giải phóng nhân loại, đó mới thực sự là cuộc cách mạng giải phóng xãhội Một người trong xã hội không thể đứng ngoài giai cấp Sau khi tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ _

1, 2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.260, 391

Trang 20

nhân dân để giành độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc,

giải phóng giai cấp, Hồ Chí Minh yêu cầu tiếp tục tiến

hành cách mạng xã hội chủ nghĩa vì đây mới là cuộc

cách mạng để giải phóng con người một cách toàn diện

Đó chính là lôgíc tất yếu của sự phù hợp giữa lý luận

và thực tiễn cách mạng

Cách mạng tự bản thân nó là cái mới, trong xã hội

mới không chỉ bảo đảm quyền con người mà ở trình độ

cao hơn về chất, đó là quyền làm người Sự phát triển

các hình thái kinh tế xã hội, chủ nghĩa xã hội là sự phủ

định biện chứng của các hình thái xã hội trước Chủ

nghĩa xã hội trong quan niệm của Hồ Chí Minh là chủ

nghĩa xã hội hiện thực, cụ thể, nó phải được xây dựng

trên mảnh đất của một quốc gia gắn liền với đặc điểm

lịch sử, truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc Để

xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải xây dựng những con

người có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, cách mạng xã hội

chủ nghĩa còn là cuộc cách mạng trong mỗi con người,

nhằm xây dựng nên những giá trị chân, thiện, mỹ trong

mỗi con người, để con người có quyền làm chủ chính

mình, làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội

Về giá trị nhân văn: Thứ nhất là về đối tượng, đó là

con người hiện thực, con người xét trong quan hệ và

hoạt động hiện thực, lịch sử Trước thực trạng đất nước

mất độc lập, chủ quyền, dân mất tự do, Hồ Chí Minh

đòi quyền sống, quyền làm người, quyền độc lập tự do;

phải trả lại độc lập cho nhân dân Việt Nam để con

người Việt Nam làm chủ đất nước mình, tự mình xâydựng cuộc sống, đưa con người trở về với bản tính ngườivốn có của con người Hồ Chí Minh tiếp cận với các họcthuyết lớn ở phương Đông và phương Tây, Người nhậnđịnh: Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡngđạo đức cá nhân Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có

ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiệnnước ta Khổng Tử, Giêsu, C.Mác, Tôn Dật Tiên chẳngphải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốnmưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lạimột chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhaurất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết Với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh cho rằng: “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa”1 Tình yêu thương giữa con người với con ngườichính là động lực của cuộc sống, là cội nguồn sức mạnh đoàn kết cộng đồng, dân tộc

Tiếp xúc với tư tưởng văn minh của S.Đ.Môngtexkiơ,của G.G.Rútxô, đặc biệt là tư tưởng nhân văn cộng sảnchủ nghĩa của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, tư tưởngnhân văn Hồ Chí Minh càng rõ hơn, trở thành lý luận,thành chủ nghĩa vững chắc Tư tưởng cộng sản chủ _

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.668.

Trang 21

nhân dân để giành độc lập dân tộc, giải phóng dân tộc,

giải phóng giai cấp, Hồ Chí Minh yêu cầu tiếp tục tiến

hành cách mạng xã hội chủ nghĩa vì đây mới là cuộc

cách mạng để giải phóng con người một cách toàn diện

Đó chính là lôgíc tất yếu của sự phù hợp giữa lý luận

và thực tiễn cách mạng

Cách mạng tự bản thân nó là cái mới, trong xã hội

mới không chỉ bảo đảm quyền con người mà ở trình độ

cao hơn về chất, đó là quyền làm người Sự phát triển

các hình thái kinh tế xã hội, chủ nghĩa xã hội là sự phủ

định biện chứng của các hình thái xã hội trước Chủ

nghĩa xã hội trong quan niệm của Hồ Chí Minh là chủ

nghĩa xã hội hiện thực, cụ thể, nó phải được xây dựng

trên mảnh đất của một quốc gia gắn liền với đặc điểm

lịch sử, truyền thống văn hóa và bản sắc dân tộc Để

xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải xây dựng những con

người có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, cách mạng xã hội

chủ nghĩa còn là cuộc cách mạng trong mỗi con người,

nhằm xây dựng nên những giá trị chân, thiện, mỹ trong

mỗi con người, để con người có quyền làm chủ chính

mình, làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội

Về giá trị nhân văn: Thứ nhất là về đối tượng, đó là

con người hiện thực, con người xét trong quan hệ và

hoạt động hiện thực, lịch sử Trước thực trạng đất nước

mất độc lập, chủ quyền, dân mất tự do, Hồ Chí Minh

đòi quyền sống, quyền làm người, quyền độc lập tự do;

phải trả lại độc lập cho nhân dân Việt Nam để con

người Việt Nam làm chủ đất nước mình, tự mình xâydựng cuộc sống, đưa con người trở về với bản tính ngườivốn có của con người Hồ Chí Minh tiếp cận với các họcthuyết lớn ở phương Đông và phương Tây, Người nhậnđịnh: Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡngđạo đức cá nhân Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có

ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiệnnước ta Khổng Tử, Giêsu, C.Mác, Tôn Dật Tiên chẳngphải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốnmưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lạimột chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhaurất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết Với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh cho rằng: “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa”1 Tình yêu thương giữa con người với con ngườichính là động lực của cuộc sống, là cội nguồn sức mạnh đoàn kết cộng đồng, dân tộc

Tiếp xúc với tư tưởng văn minh của S.Đ.Môngtexkiơ,của G.G.Rútxô, đặc biệt là tư tưởng nhân văn cộng sảnchủ nghĩa của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, tư tưởngnhân văn Hồ Chí Minh càng rõ hơn, trở thành lý luận,thành chủ nghĩa vững chắc Tư tưởng cộng sản chủ _

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.668.

Trang 22

nghĩa đã giúp Hồ Chí Minh nâng những yêu cầu có

tính nhân bản lên tầm cao đó là tính nhân văn thực

thụ Tính nhân văn ở đây không còn bị giới hạn trong

khuôn khổ giải quyết vấn đề vị trí của con người, tách

con người khỏi kiếp ngựa trâu do chế độ nô lệ kìm kẹp

làm cho bị tha hóa, mà là giải quyết vấn đề xây dựng

một cuộc sống mới cho con người, phát huy mọi tiềm

năng của con người, xây dựng vị thế con người trong xã

hội mới Thực hiện lý tưởng nhân văn cộng sản chủ

nghĩa, ở đó con người không chỉ có điều kiện để phát

huy mọi tiềm lực, tài năng xây dựng xã hội mới, mà

còn phát triển toàn diện con người; hài hòa giữa giá trị

nhân văn của cộng đồng xã hội với giá trị nhân văn

của cá nhân con người Đó chính là tính nhân văn cao

nhất của con người, của xã hội loài người trên mọi

phương diện

Thứ hai là phẩm giá và lợi ích chính đáng của con

người, Hồ Chí Minh yêu cầu cần thừa nhận và tôn trọng

phẩm giá và lợi ích đó, cụ thể hóa những phẩm giá và

những lợi ích đó thành các quyền của con người Tư

tưởng nhân văn Hồ Chí Minh thuộc về số đông, gắn liền

với quyền sống, quyền hạnh phúc của những con người

bị áp bức, đọa đầy trên toàn thế giới Ở các nước thuộc

địa, Hồ Chí Minh đã gắn hạnh phúc của những người

lao động với độc lập dân tộc, tự do và giải phóng giai

cấp Để con người không chỉ được hưởng quyền con

người nói chung mà còn được hưởng quyền công dân,

cụ thể là quyền dân sự, chính trị; quyền kinh tế, vănhóa xã hội

Thứ ba là Hồ Chí Minh vạch ra con đường đầy tính hiện thực để thực hiện quyền con người Muốn giải

phóng con người trước hết phải giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp Quan điểm này nhất quán và thống nhất trong suốt cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh:

“Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự

nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”1 Cách mạng giải phóng dân tộc chính là con đường hiện thực để thực hiện quyền con người Và trên conđường đó, chính con người là chủ thể, và phương thứcthực hiện là văn minh và hiện đại

Thứ tư là nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người nằm trong dòng chảy nhân văn cộng sản chủ nghĩa Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận

định: “Hồ Chí Minh là hiện thân của tình thân ái, giàu lòng khoan dung” Ở chủ nghĩa nhân văn Hồ ChíMinh, không có tình yêu thương con người chung chung, mà chỉ có tình thương yêu dành cho người bị ápbức, nghèo khổ ở bất cứ nước nào Hồ Chí Minh chỉ rabản tính loài phổ biến của con người là được quyền sốngtrong một thế giới hòa bình, được hưởng quyền hạnh phúc, _

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.441.

Trang 23

nghĩa đã giúp Hồ Chí Minh nâng những yêu cầu có

tính nhân bản lên tầm cao đó là tính nhân văn thực

thụ Tính nhân văn ở đây không còn bị giới hạn trong

khuôn khổ giải quyết vấn đề vị trí của con người, tách

con người khỏi kiếp ngựa trâu do chế độ nô lệ kìm kẹp

làm cho bị tha hóa, mà là giải quyết vấn đề xây dựng

một cuộc sống mới cho con người, phát huy mọi tiềm

năng của con người, xây dựng vị thế con người trong xã

hội mới Thực hiện lý tưởng nhân văn cộng sản chủ

nghĩa, ở đó con người không chỉ có điều kiện để phát

huy mọi tiềm lực, tài năng xây dựng xã hội mới, mà

còn phát triển toàn diện con người; hài hòa giữa giá trị

nhân văn của cộng đồng xã hội với giá trị nhân văn

của cá nhân con người Đó chính là tính nhân văn cao

nhất của con người, của xã hội loài người trên mọi

phương diện

Thứ hai là phẩm giá và lợi ích chính đáng của con

người, Hồ Chí Minh yêu cầu cần thừa nhận và tôn trọng

phẩm giá và lợi ích đó, cụ thể hóa những phẩm giá và

những lợi ích đó thành các quyền của con người Tư

tưởng nhân văn Hồ Chí Minh thuộc về số đông, gắn liền

với quyền sống, quyền hạnh phúc của những con người

bị áp bức, đọa đầy trên toàn thế giới Ở các nước thuộc

địa, Hồ Chí Minh đã gắn hạnh phúc của những người

lao động với độc lập dân tộc, tự do và giải phóng giai

cấp Để con người không chỉ được hưởng quyền con

người nói chung mà còn được hưởng quyền công dân,

cụ thể là quyền dân sự, chính trị; quyền kinh tế, vănhóa xã hội

Thứ ba là Hồ Chí Minh vạch ra con đường đầy tính hiện thực để thực hiện quyền con người Muốn giải

phóng con người trước hết phải giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp Quan điểm này nhất quán và thống nhất trong suốt cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh:

“Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự

nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”1 Cách mạng giải phóng dân tộc chính là con đường hiện thực để thực hiện quyền con người Và trên conđường đó, chính con người là chủ thể, và phương thứcthực hiện là văn minh và hiện đại

Thứ tư là nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người nằm trong dòng chảy nhân văn cộng sản chủ nghĩa Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận

định: “Hồ Chí Minh là hiện thân của tình thân ái, giàu lòng khoan dung” Ở chủ nghĩa nhân văn Hồ ChíMinh, không có tình yêu thương con người chung chung, mà chỉ có tình thương yêu dành cho người bị ápbức, nghèo khổ ở bất cứ nước nào Hồ Chí Minh chỉ rabản tính loài phổ biến của con người là được quyền sốngtrong một thế giới hòa bình, được hưởng quyền hạnh phúc, _

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.441.

Trang 24

quyền sung sướng Việc một nước lớn xâm lược một

nước nhỏ đã đẩy người dân ở nước lớn vào cảnh xáo

trộn, không được hưởng hòa bình, hạnh phúc, sung

sướng; đẩy nhân dân nước nhỏ đến chỗ chết chóc Phân

biệt rõ kẻ thù là thực dân, đế quốc Pháp, Mỹ, đồng thời

Hồ Chí Minh có thái độ khoan dung với những người

lầm đường lạc lối: “Tôi biết rằng: Các người đều là con

dân nước Việt, song vì bị Pháp bắt buộc, hoặc bị chúng

lừa gạt, cho nên đi lính cho chúng Chứ thật không ai

muốn “cõng rắn bắt gà nhà”, “rước voi giày mả tổ”,

chống lại Tổ quốc, để mang tiếng Việt gian”1 Đối với tù

binh bị bắt trong chiến tranh, lính đánh thuê, với

những binh sĩ bản xứ bị bắt buộc đi lính, Hồ Chí Minh

có thái độ khoan hồng, độ lượng: “Tôi rất lấy làm phiền

lòng vì thấy các người đang ở trong tình thế này Tôi

coi các người như là bạn của tôi”2 Với những người

lính Pháp tử trận, Hồ Chí Minh cũng dành sự thương

xót chân tình, đầy tình người: “Than ôi, trước lòng bác

ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người

Pháp hay người Việt cũng đều là người”3 Đối với con

người nói chung, Hồ Chí Minh luôn khuyến khích,

nâng đỡ, khơi dậy ở con người mặt tốt, giúp họ vươn

lên, khẳng định mình Hồ Chí Minh có được tấm lòng

bộ phận hợp thành tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.Giá trị nhân văn là cội nguồn sức mạnh của nhân loại,

để các quốc gia xích lại gần nhau Chính những giá trị khoa học, cách mạng và nhân văn sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người đã nâng tư tưởng đó của Người lên ngang tầm thời đại, nghĩa làphù hợp với những quan điểm tư tưởng, định hướng giátrị của thời đại Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyềncon người, người ta dễ dàng nhận thấy sự đồng vọng ở tầng sâu tư tưởng với những Tuyên ngôn và Công phápquốc tế thời hiện đại về quyền con người Thậm chí,không ít người còn nhận thấy, trên một số phương diện, chẳng hạn như trong các quan điểm của Người về quyền của phụ nữ, quyền được giáo dục, hay quyền củatôn giáo được tiếp cận và ứng xử như một thành tố trong cấu trúc văn hóa của nhân loại Nhận định về giátrị nhân văn Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp

viết: Người là hiện thân của chủ nghĩa nhân văn cao cả, chủ nghĩa nhân văn cộng sản, là một con người nhân ái,

vị tha.

Trang 25

quyền sung sướng Việc một nước lớn xâm lược một

nước nhỏ đã đẩy người dân ở nước lớn vào cảnh xáo

trộn, không được hưởng hòa bình, hạnh phúc, sung

sướng; đẩy nhân dân nước nhỏ đến chỗ chết chóc Phân

biệt rõ kẻ thù là thực dân, đế quốc Pháp, Mỹ, đồng thời

Hồ Chí Minh có thái độ khoan dung với những người

lầm đường lạc lối: “Tôi biết rằng: Các người đều là con

dân nước Việt, song vì bị Pháp bắt buộc, hoặc bị chúng

lừa gạt, cho nên đi lính cho chúng Chứ thật không ai

muốn “cõng rắn bắt gà nhà”, “rước voi giày mả tổ”,

chống lại Tổ quốc, để mang tiếng Việt gian”1 Đối với tù

binh bị bắt trong chiến tranh, lính đánh thuê, với

những binh sĩ bản xứ bị bắt buộc đi lính, Hồ Chí Minh

có thái độ khoan hồng, độ lượng: “Tôi rất lấy làm phiền

lòng vì thấy các người đang ở trong tình thế này Tôi

coi các người như là bạn của tôi”2 Với những người

lính Pháp tử trận, Hồ Chí Minh cũng dành sự thương

xót chân tình, đầy tình người: “Than ôi, trước lòng bác

ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người

Pháp hay người Việt cũng đều là người”3 Đối với con

người nói chung, Hồ Chí Minh luôn khuyến khích,

nâng đỡ, khơi dậy ở con người mặt tốt, giúp họ vươn

lên, khẳng định mình Hồ Chí Minh có được tấm lòng

bộ phận hợp thành tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.Giá trị nhân văn là cội nguồn sức mạnh của nhân loại,

để các quốc gia xích lại gần nhau Chính những giá trị khoa học, cách mạng và nhân văn sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người đã nâng tư tưởng đó của Người lên ngang tầm thời đại, nghĩa làphù hợp với những quan điểm tư tưởng, định hướng giátrị của thời đại Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyềncon người, người ta dễ dàng nhận thấy sự đồng vọng ở tầng sâu tư tưởng với những Tuyên ngôn và Công phápquốc tế thời hiện đại về quyền con người Thậm chí,không ít người còn nhận thấy, trên một số phương diện, chẳng hạn như trong các quan điểm của Người về quyền của phụ nữ, quyền được giáo dục, hay quyền củatôn giáo được tiếp cận và ứng xử như một thành tố trong cấu trúc văn hóa của nhân loại Nhận định về giátrị nhân văn Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp

viết: Người là hiện thân của chủ nghĩa nhân văn cao cả, chủ nghĩa nhân văn cộng sản, là một con người nhân ái,

vị tha.

Trang 26

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

cung cấp cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nước

hoạch định đường lối, chính sách thực hiện quyền

con người ở Việt Nam hiện nay

Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của

nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Theo Sắc lệnh số 34-SL

ngày 20/9/1945, Ủy ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 thành

viên trong đó đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh Với Hiến

pháp năm 1946, quyền con người đã cụ thể hóa thành

quyền của người dân sống trong độc lập, tự do; quyền cá

nhân gắn liền với quyền dân tộc tự quyết, với độc lập dân

tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và quyền làm

chủ xã hội của nhân dân lao động Với những điểm tiến bộ

đó, Hiến pháp năm 1946 chứa đựng giá trị nhân văn sâu

sắc, tư tưởng lập hiến mang tầm thời đại và để lại nhiều

bài học quý báu đối với nền lập hiến Việt Nam

Nhận xét vai trò của Hồ Chí Minh trong Hiến pháp

năm 1946, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng: Với trí

tuệ uyên bác, với quan điểm lấy dân làm gốc, Bác đã

đưa vào bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta những

điều luật ngang tầm với nền chính trị tiên tiến trên thế

giới lúc bấy giờ và nhiều điều vẫn còn giá trị nóng hổi

tính thời sự cho đến tận hôm nay

PGS.NGND Lê Mậu Hãn viết: Các quyền dân tộc, tự

do, dân chủ, công bằng xã hội được ghi trong Hiến pháp

đầu tiên vẫn còn giá trị bền vững trên con đường xây

dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng, dân chủ, văn minh Đó là một động lực tiếnhoá của Việt Nam1

GS.TS Nguyễn Đăng Dung nhận định: Nhìn lại lịch

sử lập hiến Việt Nam, có cảm nhận rằng, Hiến pháp 1946

so với các hiến pháp sau này có nhiều dấu ấn của chủ

nghĩa lập hiến hơn cả Thứ nhất, đây là bản hiến pháp có

cách tiếp cận gần với quyền con người nhất Khác với cácbản Hiến pháp sau này, các quyền công dân được Hiếnpháp 1946 quy định ngay ở các chương đầu tiên, làm cơ sở

cho việc quy định các chương khác Thứ hai, tư hữu tài

sản là một trong những quyền cơ bản nhất của con người

được Hiến pháp này ghi nhận ở Điều 12 chương Quyền lợi

và nghĩa vụ của công dân như là một trong những bảo

đảm quan trọng việc thực hiện nhân quyền của Nhà nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa2

_

1 Xem PGS Lê Mậu Hãn: “Hiến pháp 1946: Quyền dân tộc

và quyền dân chủ, tự do và bình đẳng xã hội là động lực tiến hóa của Việt Nam”, in trong Văn phòng Quốc hội, Trung tâm Thông

tin - Thư viện và Nghiên cứu khoa học: Phát huy những giá trị

lịch sử, chính trị, pháp lý của Hiến pháp 1946 trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2009, tr.84.

2 GS.TS Nguyễn Đăng Dung: “Những giá trị của Hiến pháp 1946 về mô hình tổ chức và việc ứng dụng nó cho công cuộc cải cách bộ máy nhà nước hiện nay”, in trong Văn phòng Quốc

hội, Trung tâm Thông tin - Thư viện và nghiên cứu khoa học:

Phát huy những giá trị lịch sử, chính trị, pháp lý của Hiến pháp

1946 trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (Sách tham khảo), Sđd,

tr.116.

Trang 27

2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người

cung cấp cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nước

hoạch định đường lối, chính sách thực hiện quyền

con người ở Việt Nam hiện nay

Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của

nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Theo Sắc lệnh số 34-SL

ngày 20/9/1945, Ủy ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 thành

viên trong đó đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh Với Hiến

pháp năm 1946, quyền con người đã cụ thể hóa thành

quyền của người dân sống trong độc lập, tự do; quyền cá

nhân gắn liền với quyền dân tộc tự quyết, với độc lập dân

tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và quyền làm

chủ xã hội của nhân dân lao động Với những điểm tiến bộ

đó, Hiến pháp năm 1946 chứa đựng giá trị nhân văn sâu

sắc, tư tưởng lập hiến mang tầm thời đại và để lại nhiều

bài học quý báu đối với nền lập hiến Việt Nam

Nhận xét vai trò của Hồ Chí Minh trong Hiến pháp

năm 1946, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng: Với trí

tuệ uyên bác, với quan điểm lấy dân làm gốc, Bác đã

đưa vào bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta những

điều luật ngang tầm với nền chính trị tiên tiến trên thế

giới lúc bấy giờ và nhiều điều vẫn còn giá trị nóng hổi

tính thời sự cho đến tận hôm nay

PGS.NGND Lê Mậu Hãn viết: Các quyền dân tộc, tự

do, dân chủ, công bằng xã hội được ghi trong Hiến pháp

đầu tiên vẫn còn giá trị bền vững trên con đường xây

dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng, dân chủ, văn minh Đó là một động lực tiếnhoá của Việt Nam1

GS.TS Nguyễn Đăng Dung nhận định: Nhìn lại lịch

sử lập hiến Việt Nam, có cảm nhận rằng, Hiến pháp 1946

so với các hiến pháp sau này có nhiều dấu ấn của chủ

nghĩa lập hiến hơn cả Thứ nhất, đây là bản hiến pháp có

cách tiếp cận gần với quyền con người nhất Khác với cácbản Hiến pháp sau này, các quyền công dân được Hiếnpháp 1946 quy định ngay ở các chương đầu tiên, làm cơ sở

cho việc quy định các chương khác Thứ hai, tư hữu tài

sản là một trong những quyền cơ bản nhất của con người

được Hiến pháp này ghi nhận ở Điều 12 chương Quyền lợi

và nghĩa vụ của công dân như là một trong những bảo

đảm quan trọng việc thực hiện nhân quyền của Nhà nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa2

_

1 Xem PGS Lê Mậu Hãn: “Hiến pháp 1946: Quyền dân tộc

và quyền dân chủ, tự do và bình đẳng xã hội là động lực tiến hóa của Việt Nam”, in trong Văn phòng Quốc hội, Trung tâm Thông

tin - Thư viện và Nghiên cứu khoa học: Phát huy những giá trị

lịch sử, chính trị, pháp lý của Hiến pháp 1946 trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2009, tr.84.

2 GS.TS Nguyễn Đăng Dung: “Những giá trị của Hiến pháp 1946 về mô hình tổ chức và việc ứng dụng nó cho công cuộc cải cách bộ máy nhà nước hiện nay”, in trong Văn phòng Quốc

hội, Trung tâm Thông tin - Thư viện và nghiên cứu khoa học:

Phát huy những giá trị lịch sử, chính trị, pháp lý của Hiến pháp

1946 trong sự nghiệp đổi mới hiện nay (Sách tham khảo), Sđd,

tr.116.

Trang 28

Trong bài trả lời phỏng vấn “Quyền dân chủ được

cam kết trong bản Hiến pháp đầu tiên”, GS.TSKH

Vũ Minh Giang - Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử

Việt Nam nhận định: Ưu điểm lớn nhất của Hiến

pháp 1946 là tinh thần “mọi quyền lực đều thuộc về

nhân dân” Tinh thần này không những còn nguyên

giá trị cho hôm nay mà còn là nguyên tắc cao nhất

cho các bản Hiến pháp được phát triển về sau Bởi vì

“quyền lực đều thuộc về nhân dân” là nền tảng của

một chế độ dân chủ, một xã hội công bằng và văn

minh - cái đích mà chúng ta đang hướng đến và ra

sức phấn đấu để đạt tới

Bản Hiến pháp mới nhất của nước ta được Quốc hội

khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 6, ngày 28/11/2013

đã kế thừa và phát triển tất cả các bản Hiến pháp trước

đó Đặc biệt về quyền con người được đưa lại vị trí thứ

hai sau chương nói về chính thể Sau Hiến pháp năm

1946, chương nói về quyền công dân được đưa dần

xuống vị trí các chương sau, như trong Hiến pháp năm

1959 ở vị trí Chương III, đến Hiến pháp năm 1980 và

năm 1992 xuống tới vị trí Chương V Nhưng đến Hiến

pháp năm 2013, chẳng những nội dung này được trở lại

vị trí Chương II mà còn gọi đích danh là Quyền con

người (Nhân quyền)1

đề cao, đưa lên vị trí trang trọng hàng đầu trong Hiếnpháp (Chương II) Đó vừa là sự kế thừa Hiến pháp năm

1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh - Trưởng ban soạn thảo;vừa thể hiện nhận thức mới đầy đủ, sâu sắc hơn trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về

đề cao nhân tố con người, coi con người là chủ thể,nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển1.Những nhận định trên đây của các nhà nghiên cứucho thấy: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, quyền công dân trong các bài nói, bài viết của Người,đặc biệt là Hiến pháp năm 1946 đã cung cấp cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, chính sách thực hiện quyền con người ở Việt Nam hiện nay

1 nguoi-583700.htm.

Trang 29

https://tuoitre.vn/hien-phap-sua-doi-de-cao-quyen-con-Trong bài trả lời phỏng vấn “Quyền dân chủ được

cam kết trong bản Hiến pháp đầu tiên”, GS.TSKH

Vũ Minh Giang - Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử

Việt Nam nhận định: Ưu điểm lớn nhất của Hiến

pháp 1946 là tinh thần “mọi quyền lực đều thuộc về

nhân dân” Tinh thần này không những còn nguyên

giá trị cho hôm nay mà còn là nguyên tắc cao nhất

cho các bản Hiến pháp được phát triển về sau Bởi vì

“quyền lực đều thuộc về nhân dân” là nền tảng của

một chế độ dân chủ, một xã hội công bằng và văn

minh - cái đích mà chúng ta đang hướng đến và ra

sức phấn đấu để đạt tới

Bản Hiến pháp mới nhất của nước ta được Quốc hội

khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 6, ngày 28/11/2013

đã kế thừa và phát triển tất cả các bản Hiến pháp trước

đó Đặc biệt về quyền con người được đưa lại vị trí thứ

hai sau chương nói về chính thể Sau Hiến pháp năm

1946, chương nói về quyền công dân được đưa dần

xuống vị trí các chương sau, như trong Hiến pháp năm

1959 ở vị trí Chương III, đến Hiến pháp năm 1980 và

năm 1992 xuống tới vị trí Chương V Nhưng đến Hiến

pháp năm 2013, chẳng những nội dung này được trở lại

vị trí Chương II mà còn gọi đích danh là Quyền con

người (Nhân quyền)1

đề cao, đưa lên vị trí trang trọng hàng đầu trong Hiếnpháp (Chương II) Đó vừa là sự kế thừa Hiến pháp năm

1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh - Trưởng ban soạn thảo;vừa thể hiện nhận thức mới đầy đủ, sâu sắc hơn trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về

đề cao nhân tố con người, coi con người là chủ thể,nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển1.Những nhận định trên đây của các nhà nghiên cứucho thấy: Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, quyền công dân trong các bài nói, bài viết của Người,đặc biệt là Hiến pháp năm 1946 đã cung cấp cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, chính sách thực hiện quyền con người ở Việt Nam hiện nay

1 nguoi-583700.htm.

Trang 30

https://tuoitre.vn/hien-phap-sua-doi-de-cao-quyen-con-quyền con người, https://tuoitre.vn/hien-phap-sua-doi-de-cao-quyen-con-quyền công dân về chính trị, dân sự,

kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ,

bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Để bảo đảm tính

hiện thực của quyền con người, quyền công dân, bảo đảm

sự công bằng, minh bạch về lợi ích trong các mối quan hệ

giữa Nhà nước với con người, công dân, cá nhân, đồng thời

cũng hạn chế tối đa sự lạm dụng, tùy tiện tước đi quyền

con người bởi các tổ chức, các cơ quan nhà nước, khoản 2,

Điều 14 quy định rõ: Quyền con người, quyền công dân

chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường

hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật

tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng

Nguyên tắc suy luận vô căn cứ, buộc tội cũng được quy

định tại Điều 31 của Hiến pháp: Người bị buộc tội được coi

là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự

luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực

pháp luật Cũng tại điều này, quy định về quyền được bồi

thường của người dân và trách nhiệm phải xử lý người vi

phạm pháp luật, đó là: Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam,

khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp

luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh

thần và phục hồi danh dự Người vi phạm pháp luật trong

việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi

hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo

pháp luật Điều 15, 16 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục

khẳng định và làm rõ các nguyên tắc về quyền dân sự

chính trị của con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của

công dân theo hướng: quyền công dân không tách rờinghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyềncủa người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa

vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân tuyệt đối không cho phép xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, đặc biệt, thực hiện quyềncon người, quyền công dân không được phép xâm phạmđến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Hiến phápkhẳng định sự bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọingười; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chínhtrị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Các quyền dân sự,chính trị được quy định cụ thể như sau:

Quyền bình đẳng trước pháp luật, không bị phân

biệt đối xử; nguyên tắc tranh tụng xét xử công bằng;nguyên tắc người buộc tội phải được Tòa xét xử kịp thờitrong thời hạn luật định được ghi nhận tại Điều 16;khoản 2 Điều 31; khoản 4 Điều 31, khoản 5 Điều 103;Hiến pháp năm 2013 Quyền này được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự theo Điều 5; Điều 9; Điều 19;Điều 24, Điều 29; Điều 49; Điều 182, Điều 135, Điều 136, Điều 231 Theo đó mọi công dân không phân biệt dântộc, nam nữ, tôn giáo, thành phần xã hội đều bình đẳngtrước pháp luật Đảm bảo quyền bình đẳng trong việcđưa ra chứng cứ; được dùng tiếng nói, chữ viết của dântộc mình; được bồi thường thiệt hại về vật chất và tinhthần, danh dự do bị xét xử trái pháp luật; được nhậnbản cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra xét xử

Trang 31

quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự,

kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ,

bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Để bảo đảm tính

hiện thực của quyền con người, quyền công dân, bảo đảm

sự công bằng, minh bạch về lợi ích trong các mối quan hệ

giữa Nhà nước với con người, công dân, cá nhân, đồng thời

cũng hạn chế tối đa sự lạm dụng, tùy tiện tước đi quyền

con người bởi các tổ chức, các cơ quan nhà nước, khoản 2,

Điều 14 quy định rõ: Quyền con người, quyền công dân

chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường

hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật

tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng

Nguyên tắc suy luận vô căn cứ, buộc tội cũng được quy

định tại Điều 31 của Hiến pháp: Người bị buộc tội được coi

là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự

luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực

pháp luật Cũng tại điều này, quy định về quyền được bồi

thường của người dân và trách nhiệm phải xử lý người vi

phạm pháp luật, đó là: Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam,

khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp

luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh

thần và phục hồi danh dự Người vi phạm pháp luật trong

việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi

hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo

pháp luật Điều 15, 16 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục

khẳng định và làm rõ các nguyên tắc về quyền dân sự

chính trị của con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của

công dân theo hướng: quyền công dân không tách rờinghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyềncủa người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa

vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân tuyệt đối không cho phép xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, đặc biệt, thực hiện quyềncon người, quyền công dân không được phép xâm phạmđến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Hiến phápkhẳng định sự bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọingười; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chínhtrị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Các quyền dân sự,chính trị được quy định cụ thể như sau:

Quyền bình đẳng trước pháp luật, không bị phân

biệt đối xử; nguyên tắc tranh tụng xét xử công bằng;nguyên tắc người buộc tội phải được Tòa xét xử kịp thờitrong thời hạn luật định được ghi nhận tại Điều 16;khoản 2 Điều 31; khoản 4 Điều 31, khoản 5 Điều 103;Hiến pháp năm 2013 Quyền này được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự theo Điều 5; Điều 9; Điều 19;Điều 24, Điều 29; Điều 49; Điều 182, Điều 135, Điều 136, Điều 231 Theo đó mọi công dân không phân biệt dântộc, nam nữ, tôn giáo, thành phần xã hội đều bình đẳngtrước pháp luật Đảm bảo quyền bình đẳng trong việcđưa ra chứng cứ; được dùng tiếng nói, chữ viết của dântộc mình; được bồi thường thiệt hại về vật chất và tinhthần, danh dự do bị xét xử trái pháp luật; được nhậnbản cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra xét xử

Trang 32

Quyền sống, quyền được tôn trọng về nhân phẩm và

bất khả xâm phạm về thân thể Trong các bản Hiến

pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, quyền sống không

được đề cập như một quyền cụ thể, mà chỉ được thể hiện

thông qua các quyền bất khả xâm phạm về thân thể,

tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công

dân Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung quyền sống của

con người, quyền mà ngay trong bản Tuyên ngôn độc lập

khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí

Minh đã xếp quyền sống ở vị trí thứ nhất của quyền con

người Việc Hiến pháp bổ sung quyền sống của con

người một lần nữa chứng tỏ tính định hướng của tư

tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong hiến định

giai đoạn hiện nay Điều 19 Hiến pháp năm 2013 quy

định: “Mọi người có quyền sống Tính mạng con người

được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng

trái luật” Quyền sống, quyền được tôn trọng về nhân

phẩm và bất khả xâm phạm về thân thể còn được quy

định tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013; Điều 33, Điều 34

Bộ luật Dân sự năm 2015; Chương XIV từ Điều 123

đến Điều 156, Điều 157 theo đó quy định mọi người có

quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo

hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật; mọi

người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể không

bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình

thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc

phạm danh dự, nhân phẩm Cá nhân có quyền yêu cầu

Tòa án bác bỏ những thông tin làm ảnh hưởng xấu đếndanh dự, nhân phẩm, uy tín của mình có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai

và bồi thường thiệt hại Quy định hình phạt đối với các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm,danh dự con người; Quy định hình phạt đối với tội bắt,giam giữ người trái pháp luật, v.v

Như vậy, về quyền sống, pháp luật Việt Nam hiện đãtương thích với luật nhân quyền quốc tế ở mức độ những nguyên tắc cơ bản Như một số quốc gia khác, Việt Nam vẫn duy trì hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự,điều này là cần thiết nhằm bảo vệ cuộc sống bình yêncho người dân, vì lợi ích chung của cộng đồng và toàn xã hội Trong những năm qua, Việt Nam đã giảm mạnh số lượng các tội danh áp dụng án tử hình: từ 44 tội danh(Bộ luật Hình sự năm 1985) xuống còn 29 tội danh (Bộ luật Hình sự năm 1999) và 22 tội danh (Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009) Ngày 27/11/2015, Quốc hội Việt Nam

đã thông qua Bộ luật Hình sự năm 2015, bỏ hình phạt tử hình đối với 7 tội danh

Quyền bầu cử, ứng cử: đã được quy định tại Điều

thứ 18 Hiến pháp năm 1946 và được khẳng định xuyênsuốt trong các bản Hiến pháp sau đó Điều 27 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng

cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân Quyền này còn được mở rộng ở khoản 1, khoản 2 Điều 28; Điều 29 trong

Trang 33

Quyền sống, quyền được tôn trọng về nhân phẩm và

bất khả xâm phạm về thân thể Trong các bản Hiến

pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, quyền sống không

được đề cập như một quyền cụ thể, mà chỉ được thể hiện

thông qua các quyền bất khả xâm phạm về thân thể,

tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công

dân Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung quyền sống của

con người, quyền mà ngay trong bản Tuyên ngôn độc lập

khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí

Minh đã xếp quyền sống ở vị trí thứ nhất của quyền con

người Việc Hiến pháp bổ sung quyền sống của con

người một lần nữa chứng tỏ tính định hướng của tư

tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong hiến định

giai đoạn hiện nay Điều 19 Hiến pháp năm 2013 quy

định: “Mọi người có quyền sống Tính mạng con người

được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng

trái luật” Quyền sống, quyền được tôn trọng về nhân

phẩm và bất khả xâm phạm về thân thể còn được quy

định tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013; Điều 33, Điều 34

Bộ luật Dân sự năm 2015; Chương XIV từ Điều 123

đến Điều 156, Điều 157 theo đó quy định mọi người có

quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo

hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật; mọi

người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể không

bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình

thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc

phạm danh dự, nhân phẩm Cá nhân có quyền yêu cầu

Tòa án bác bỏ những thông tin làm ảnh hưởng xấu đếndanh dự, nhân phẩm, uy tín của mình có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai

và bồi thường thiệt hại Quy định hình phạt đối với các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm,danh dự con người; Quy định hình phạt đối với tội bắt,giam giữ người trái pháp luật, v.v

Như vậy, về quyền sống, pháp luật Việt Nam hiện đãtương thích với luật nhân quyền quốc tế ở mức độ những nguyên tắc cơ bản Như một số quốc gia khác, Việt Nam vẫn duy trì hình phạt tử hình trong Bộ luật Hình sự,điều này là cần thiết nhằm bảo vệ cuộc sống bình yêncho người dân, vì lợi ích chung của cộng đồng và toàn xã hội Trong những năm qua, Việt Nam đã giảm mạnh số lượng các tội danh áp dụng án tử hình: từ 44 tội danh(Bộ luật Hình sự năm 1985) xuống còn 29 tội danh (Bộ luật Hình sự năm 1999) và 22 tội danh (Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009) Ngày 27/11/2015, Quốc hội Việt Nam

đã thông qua Bộ luật Hình sự năm 2015, bỏ hình phạt tử hình đối với 7 tội danh

Quyền bầu cử, ứng cử: đã được quy định tại Điều

thứ 18 Hiến pháp năm 1946 và được khẳng định xuyênsuốt trong các bản Hiến pháp sau đó Điều 27 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng

cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân Quyền này còn được mở rộng ở khoản 1, khoản 2 Điều 28; Điều 29 trong

Trang 34

Hiến pháp năm 2013 Ngoài Hiến pháp năm 2013,

quyền bầu cử, ứng cử còn được quy định tại nhiều văn

bản luật như: Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại,

Luật Tố cáo, Luật Thanh tra, v.v Ngày 25/6/2015,

Quốc hội đã thông qua Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội

và đại biểu Hội đồng nhân dân, tạo khung pháp lý

trong việc bảo đảm quyền bầu cử, ứng cử của công dân

Tháng 5/2016, tỷ lệ cử tri đi bầu cử cao hơn 98,77% cho

thấy rõ người dân đã ý thức về quyền và nghĩa vụ của

mình Ngày 25/11/2015, Quốc hội Việt Nam đã thông

qua Luật Trưng cầu ý dân, gồm 8 chương, 52 điều, quy

định cụ thể phạm vi, nguyên tắc trưng cầu ý dân, quyền

hạn và nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức trong trưng cầu ý

dân, trình tự, thủ tục quyết định việc trưng cầu ý dân,

kết quả và hiệu lực của trưng cầu ý dân Bầu cử, ứng cử

được coi là quyền chính trị rất quan trọng, thể hiện

trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân và đồng thời

cũng thể hiện tính dân chủ trong chính trị Đi liền với

quyền bầu cử, ứng cử, pháp luật Việt Nam còn quy định

thủ tục khiếu nại và xem xét, giải quyết khiếu nại về

vấn đề này Pháp luật cũng quy định những trường hợp

không được ghi tên vào danh sách cử tri, đó là những

người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án đã có hiệu

lực; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang bị

tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin.

Quyền này đã được khẳng định ngay trong bản Hiến

pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm

1946 Ở Điều 25 Hiến pháp năm 2013, quyền này được

mở rộng hơn: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình Việcthực hiện các quyền này do pháp luật quy định

Quyền tự do hội họp, lập hội được thể hiện trong

Hiến pháp năm 1946; Sắc lệnh số 52 của Chủ tịch Hồ ChíMinh năm 1946 (gồm 15 điều); Sắc lệnh số 102-SL/004-Lnăm 1957 (gồm 12 điều); Chỉ thị số 202-CT/HĐBT về các quy định của Nhà nước về lập hội; Điều 25 Hiếnpháp năm 2013; Điều 163 Bộ luật Hình sự năm 2015;Nghị định số 33/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạtđộng và quản lý hội Số liệu thống kê mới nhất cho thấyhiện nay Việt Nam có hàng nghìn hội, đại diện cho ý chí, lợi ích, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân như phụ nữ, công nhân, nông dân, người cao tuổi, v.v

Quyền được bảo vệ bí mật riêng tư được quy định tại

Điều 21, Điều 22 Hiến pháp năm 2013; Điều 32, Điều 38

Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 159 Bộ luật Hình sự năm2015; Điều 7, Điều 13 trong Luật Bưu chính năm 2010;Điều 4, khoản 6 Điều 8 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009

Quyền tự do đi lại, cư trú được quy định tại Điều 23

Hiến pháp năm 2013; Luật Cư trú năm 2006; Bộ luậtDân sự năm 2015; Luật Quốc tịch năm 2008 ; nhữnghành vi lợi dụng quyền tự do đi lại, cư trú để vi phạm

Trang 35

Hiến pháp năm 2013 Ngoài Hiến pháp năm 2013,

quyền bầu cử, ứng cử còn được quy định tại nhiều văn

bản luật như: Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại,

Luật Tố cáo, Luật Thanh tra, v.v Ngày 25/6/2015,

Quốc hội đã thông qua Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội

và đại biểu Hội đồng nhân dân, tạo khung pháp lý

trong việc bảo đảm quyền bầu cử, ứng cử của công dân

Tháng 5/2016, tỷ lệ cử tri đi bầu cử cao hơn 98,77% cho

thấy rõ người dân đã ý thức về quyền và nghĩa vụ của

mình Ngày 25/11/2015, Quốc hội Việt Nam đã thông

qua Luật Trưng cầu ý dân, gồm 8 chương, 52 điều, quy

định cụ thể phạm vi, nguyên tắc trưng cầu ý dân, quyền

hạn và nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức trong trưng cầu ý

dân, trình tự, thủ tục quyết định việc trưng cầu ý dân,

kết quả và hiệu lực của trưng cầu ý dân Bầu cử, ứng cử

được coi là quyền chính trị rất quan trọng, thể hiện

trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân và đồng thời

cũng thể hiện tính dân chủ trong chính trị Đi liền với

quyền bầu cử, ứng cử, pháp luật Việt Nam còn quy định

thủ tục khiếu nại và xem xét, giải quyết khiếu nại về

vấn đề này Pháp luật cũng quy định những trường hợp

không được ghi tên vào danh sách cử tri, đó là những

người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án đã có hiệu

lực; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang bị

tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin.

Quyền này đã được khẳng định ngay trong bản Hiến

pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm

1946 Ở Điều 25 Hiến pháp năm 2013, quyền này được

mở rộng hơn: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình Việcthực hiện các quyền này do pháp luật quy định

Quyền tự do hội họp, lập hội được thể hiện trong

Hiến pháp năm 1946; Sắc lệnh số 52 của Chủ tịch Hồ ChíMinh năm 1946 (gồm 15 điều); Sắc lệnh số 102-SL/004-Lnăm 1957 (gồm 12 điều); Chỉ thị số 202-CT/HĐBT về các quy định của Nhà nước về lập hội; Điều 25 Hiếnpháp năm 2013; Điều 163 Bộ luật Hình sự năm 2015;Nghị định số 33/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạtđộng và quản lý hội Số liệu thống kê mới nhất cho thấyhiện nay Việt Nam có hàng nghìn hội, đại diện cho ý chí, lợi ích, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân như phụ nữ, công nhân, nông dân, người cao tuổi, v.v

Quyền được bảo vệ bí mật riêng tư được quy định tại

Điều 21, Điều 22 Hiến pháp năm 2013; Điều 32, Điều 38

Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 159 Bộ luật Hình sự năm2015; Điều 7, Điều 13 trong Luật Bưu chính năm 2010;Điều 4, khoản 6 Điều 8 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009

Quyền tự do đi lại, cư trú được quy định tại Điều 23

Hiến pháp năm 2013; Luật Cư trú năm 2006; Bộ luậtDân sự năm 2015; Luật Quốc tịch năm 2008 ; nhữnghành vi lợi dụng quyền tự do đi lại, cư trú để vi phạm

Trang 36

pháp luật hoặc tiến hành các hoạt động xâm phạm an

ninh quốc gia sẽ bị xử lý theo pháp luật

b) Đối với các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội

Trong luật quốc tế về nhân quyền, quyền dân sự,

chính trị và quyền kinh tế, văn hóa, xã hội là hai nhóm

quyền bình đẳng với nhau về vai trò cũng như giá trị,

nhưng trên thực tế, quyền dân sự, chính trị là nhóm

quyền đòi hỏi phải được đáp ứng ngay, không có sự

chênh lệch lớn trong việc giải quyết ở các nước thì nhóm

quyền kinh tế, văn hóa, xã hội ở các quốc gia khác nhau

có thể thực hiện từng bước một, tùy vào điều kiện, hoàn

cảnh và mức độ phát triển kinh tế, xã hội, sự ổn định về

chính trị ở quốc gia đó Nhóm quyền về kinh tế, văn

hóa, xã hội đã được tập trung chủ yếu từ Điều 33 đến

Điều 46 tại Chương II Hiến pháp năm 2013

Quyền hưởng thụ các thành tựu phát triển kinh tế:

Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những

thành tựu đáng kể trong công cuộc phát triển kinh tế -

xã hội Tốc độ phát triển kinh tế khá cao, ổn định, đạt

bình quân 7,5%/năm; cơ cấu kinh tế từng bước chuyển

dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ và công

nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp Các thành phần

kinh tế được khuyến khích phát triển, đời sống người

dân được cải thiện rõ rệt

Quyền sở hữu: Điều 51, Chương III, Hiến pháp năm

2013 quy định: Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức

sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Các thành phần kinh tế đều là bộ phậncấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợptác và cạnh tranh theo pháp luật Riêng đối với quyềnkinh tế gắn với quyền sử dụng đất, người sử dụng đấtđược chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền vànghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật Nhà nướcchỉ thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trongtrường hợp cần thiết do luật định, vì mục đích quốcphòng an ninh hoặc phát triển kinh tế - xã hội vì lợi íchcủa quốc gia, lợi ích công cộng Việc thu hồi đất phảibảo đảm công khai, minh bạch và được Nhà nước bồithường theo đúng quy định của pháp luật

Quyền tự do kinh doanh: Điều 33 Hiến pháp năm

2013 quy định quyền kinh tế được Hiến định và bảo đảmtrên thực tế bởi quyền tự do kinh doanh trong nhữngngành nghề mà pháp luật không cấm Đây có thể coi là một hướng mở, tạo điều kiện về đối tượng và ngành nghề kinh doanh để tất cả mọi người đều có cơ hội làm giàu chính đáng, góp phần làm giàu cho nền kinh tế - xã hội Điều 32 quy định quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa

kế thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệusinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần góp vốn trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; quyền bình đẳng hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật giữa các chủ

Trang 37

pháp luật hoặc tiến hành các hoạt động xâm phạm an

ninh quốc gia sẽ bị xử lý theo pháp luật

b) Đối với các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội

Trong luật quốc tế về nhân quyền, quyền dân sự,

chính trị và quyền kinh tế, văn hóa, xã hội là hai nhóm

quyền bình đẳng với nhau về vai trò cũng như giá trị,

nhưng trên thực tế, quyền dân sự, chính trị là nhóm

quyền đòi hỏi phải được đáp ứng ngay, không có sự

chênh lệch lớn trong việc giải quyết ở các nước thì nhóm

quyền kinh tế, văn hóa, xã hội ở các quốc gia khác nhau

có thể thực hiện từng bước một, tùy vào điều kiện, hoàn

cảnh và mức độ phát triển kinh tế, xã hội, sự ổn định về

chính trị ở quốc gia đó Nhóm quyền về kinh tế, văn

hóa, xã hội đã được tập trung chủ yếu từ Điều 33 đến

Điều 46 tại Chương II Hiến pháp năm 2013

Quyền hưởng thụ các thành tựu phát triển kinh tế:

Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những

thành tựu đáng kể trong công cuộc phát triển kinh tế -

xã hội Tốc độ phát triển kinh tế khá cao, ổn định, đạt

bình quân 7,5%/năm; cơ cấu kinh tế từng bước chuyển

dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ và công

nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp Các thành phần

kinh tế được khuyến khích phát triển, đời sống người

dân được cải thiện rõ rệt

Quyền sở hữu: Điều 51, Chương III, Hiến pháp năm

2013 quy định: Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức

sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Các thành phần kinh tế đều là bộ phậncấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợptác và cạnh tranh theo pháp luật Riêng đối với quyềnkinh tế gắn với quyền sử dụng đất, người sử dụng đấtđược chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền vànghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật Nhà nướcchỉ thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trongtrường hợp cần thiết do luật định, vì mục đích quốcphòng an ninh hoặc phát triển kinh tế - xã hội vì lợi íchcủa quốc gia, lợi ích công cộng Việc thu hồi đất phảibảo đảm công khai, minh bạch và được Nhà nước bồithường theo đúng quy định của pháp luật

Quyền tự do kinh doanh: Điều 33 Hiến pháp năm

2013 quy định quyền kinh tế được Hiến định và bảo đảmtrên thực tế bởi quyền tự do kinh doanh trong nhữngngành nghề mà pháp luật không cấm Đây có thể coi là một hướng mở, tạo điều kiện về đối tượng và ngành nghề kinh doanh để tất cả mọi người đều có cơ hội làm giàu chính đáng, góp phần làm giàu cho nền kinh tế - xã hội Điều 32 quy định quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa

kế thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệusinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần góp vốn trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; quyền bình đẳng hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật giữa các chủ

Trang 38

thể thành phần kinh tế Theo đó, tài sản hợp pháp của

cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp

luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa

Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,

Hiến pháp năm 2013 khẳng định vai trò của Nhà nước

là: Khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh

nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh

doanh, phát triển bền vững các ngành kinh tế, điều tiết

nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật của thị

trường; thực hiện sự phân công, phân cấp, phân quyền

trong quản lý nhà nước, thúc đẩy liên kết kinh tế vùng,

bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân;

Nhà nước còn có chức năng đại diện chủ sở hữu và

thống nhất quản lý đối với các loại tài nguyên thiên

nhiên, tài sản thuộc sở hữu toàn dân để các loại tài

nguyên, tài sản này được sử dụng vì lợi ích của nhân

dân (Điều 51, 52, 53)

Điều 57 Hiến pháp năm 2013 quy định Nhà nước có

trách nhiệm trong việc khuyến khích, tạo điều kiện để

tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động và bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động và tạo

điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và

ổn định

Bên cạnh vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm

quyền kinh tế của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, Hiến

pháp còn đề cập đến những quy định, nhiệm vụ, quyền hạn

trong ứng cử Quốc hội, Chính phủ, Kiểm toán nhà nước,

từ trung ương đến địa phương Hiến pháp năm 2013 nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tạo điều kiệntối đa cho sự phát triển quyền kinh tế của cá nhân, tậpthể, trong đó, vai trò của Nhà nước như là sự hậuthuẫn, tạo đà cho các cá nhân, doanh nghiệp có thể phát triển hết khả năng của mình, nhằm thu về lợi ích kinh tế lớn nhất Cùng với Hiến pháp năm 2013 về quyền kinh tế, nhiều văn bản pháp luật khác như LuậtDoanh nghiệp năm 2014, các nghị định, thông tư liên quan đến lĩnh vực kinh tế đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam đạt tới ngưỡng tích cực

Quyền con người trong lĩnh vực văn hóa: Trong xu

thế hội nhập nhưng vẫn đòi hỏi giữ gìn bản sắc vănhóa dân tộc, Hiến pháp năm 2013, ở nội dung văn hóa,

đã có những bước tiến bộ đáng kể, là nguồn sức mạnh

to lớn, cổ vũ sự phát triển những giá trị vật thể, phivật thể, góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Các quyền về văn hóa được quy định rõ tại Điều 39,

40, 41, 42, v.v Điều 41 Hiến pháp năm 2013 quy định:

Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ

sở văn hóa Ở Điều này, quyền văn hóa bao trùm bốn

nội dung:

- Quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa;

- Quyền tham gia vào đời sống văn hóa;

- Quyền sử dụng các cơ sở văn hóa;

Trang 39

thể thành phần kinh tế Theo đó, tài sản hợp pháp của

cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp

luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa

Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,

Hiến pháp năm 2013 khẳng định vai trò của Nhà nước

là: Khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh

nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh

doanh, phát triển bền vững các ngành kinh tế, điều tiết

nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật của thị

trường; thực hiện sự phân công, phân cấp, phân quyền

trong quản lý nhà nước, thúc đẩy liên kết kinh tế vùng,

bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân;

Nhà nước còn có chức năng đại diện chủ sở hữu và

thống nhất quản lý đối với các loại tài nguyên thiên

nhiên, tài sản thuộc sở hữu toàn dân để các loại tài

nguyên, tài sản này được sử dụng vì lợi ích của nhân

dân (Điều 51, 52, 53)

Điều 57 Hiến pháp năm 2013 quy định Nhà nước có

trách nhiệm trong việc khuyến khích, tạo điều kiện để

tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động và bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động và tạo

điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và

ổn định

Bên cạnh vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm

quyền kinh tế của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, Hiến

pháp còn đề cập đến những quy định, nhiệm vụ, quyền hạn

trong ứng cử Quốc hội, Chính phủ, Kiểm toán nhà nước,

từ trung ương đến địa phương Hiến pháp năm 2013 nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tạo điều kiệntối đa cho sự phát triển quyền kinh tế của cá nhân, tậpthể, trong đó, vai trò của Nhà nước như là sự hậuthuẫn, tạo đà cho các cá nhân, doanh nghiệp có thể phát triển hết khả năng của mình, nhằm thu về lợi ích kinh tế lớn nhất Cùng với Hiến pháp năm 2013 về quyền kinh tế, nhiều văn bản pháp luật khác như LuậtDoanh nghiệp năm 2014, các nghị định, thông tư liên quan đến lĩnh vực kinh tế đã góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam đạt tới ngưỡng tích cực

Quyền con người trong lĩnh vực văn hóa: Trong xu

thế hội nhập nhưng vẫn đòi hỏi giữ gìn bản sắc vănhóa dân tộc, Hiến pháp năm 2013, ở nội dung văn hóa,

đã có những bước tiến bộ đáng kể, là nguồn sức mạnh

to lớn, cổ vũ sự phát triển những giá trị vật thể, phivật thể, góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Các quyền về văn hóa được quy định rõ tại Điều 39,

40, 41, 42, v.v Điều 41 Hiến pháp năm 2013 quy định:

Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ

sở văn hóa Ở Điều này, quyền văn hóa bao trùm bốn

nội dung:

- Quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa;

- Quyền tham gia vào đời sống văn hóa;

- Quyền sử dụng các cơ sở văn hóa;

Trang 40

- Quyền tiếp cận các giá trị văn hóa

Các nội dung này đều quán triệt ở một điểm, văn

hóa không chỉ thu hẹp trong đối tượng văn nghệ sĩ và

những người liên quan, làm, thuộc công tác quản lý văn

hóa, văn nghệ mà tất cả người dân Việt Nam đều thuộc

đối tượng được hưởng thụ những quyền trên Điều này

không chỉ mở rộng đối tượng hưởng quyền văn hóa, mà

còn xác lập quyền sở hữu toàn dân về văn hóa (bao gồm

cơ sở, thiết chế văn hóa do Nhà nước, xã hội, cộng đồng

xây dựng), đồng thời còn thúc đẩy việc học tập, nghiên

cứu, tiếp cận các giá trị văn hóa dân tộc, nhân loại, làm

cho con người ngày càng nhân văn, tiến bộ hơn

Chương III, Điều 60, 61, 62 Hiến pháp năm 2013

tiếp tục khẳng định vai trò của Nhà nước và xã hội

chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam

tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn

hóa nhân loại; phát triển văn học, nghệ thuật; phát

triển các phương tiện thông tin đại chúng; tạo môi

trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc,

tiến bộ; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn

hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức

làm chủ và trách nhiệm công dân Hiến pháp năm 2013

phần về quyền văn hóa của con người đã chứng tỏ sự

quan tâm nhất quán của Đảng và Nhà nước, xác định

văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, là sức mạnh nội

sinh và là động lực phát triển của đất nước Điều đó

cũng chứng tỏ quan điểm “văn hóa soi đường cho quốc dânđi” của Hồ Chí Minh đã thấm nhuần trong quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa

Quyền được giáo dục: Ngay từ Hiến pháp năm 1946,

quyền được giáo dục đã được Hồ Chí Minh đặc biệt coitrọng và khẳng định tại Điều thứ 15 Trải qua các bảnHiến pháp năm 1980, năm 1992 và nay là Hiến phápnăm 2013, quyền được giáo dục quy định tại Điều 39 và Điều 61 Theo đó, công dân có quyền và nghĩa vụ họctập; phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằmnâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡngnhân tài, Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồnđầu tư khác cho giáo dục, chăm lo giáo dục mầm non;bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước khôngthu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; pháttriển giáo dục đại học, giáo dục chuyên nghiệp; thựchiện chính sách học bổng, học phí hợp lý Nhà nước ưutiên phát triển giáo dục vùng miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế -

xã hội đặc biệt khó khăn

Những nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân trong việchiện thực hóa quyền con người trên lĩnh vực văn hóa đãđược thế giới ghi nhận Ngày 19/11/2013, trong khuônkhổ Đại hội đồng UNESCO lần thứ 37, Việt Nam đãchính thức được Đại hội đồng lần thứ 19 các quốc gia thành viên Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên

Ngày đăng: 30/12/2022, 15:58

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w