Phần 1 của cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trình bày những nội dung: chương I - Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người - Một số vấn đề lý luận chung; chương II - Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 2Chịu trách nhiệm xuất bản:
Q GIÁM ĐỐC - TỔNG BIÊN TẬP
PHẠM CHÍ THÀNH Chịu trách nhiệm nội dung:
ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP - XUẤT BẢN
TS VÕ VĂN BÉ
Trình bày bìa:
Chế bản vi tính:
Đọc sách mẫu:
Số đăng ký kế hoạch xuất bản: 4854-2020/CXBIPH/27-347/CTQG
Số quyết định xuất bản: 5635-QĐ/NXBCTQG, ngày 01/12/2020 Nộp lưu chiểu: tháng 12 năm 2020
Mã số ISBN: 978-604-57-6287-5
Biên tập nội dung: TS LÊ HỒNG SƠN
TS HOÀNG MẠNH THẮNG NGUYỄN THỊ MINH HƯỜNG
PHẠM THỊ NGỌC AN
BÙI BỘI THU PHẠM DUY THÁI NGUYỄN THỊ HẰNG PHẠM THỊ NGỌC AN
VIỆT HÀ
Trang 4Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm cña Th− viÖn Quèc gia ViÖt Nam
Trang 6Biªn môc trªn xuÊt b¶n phÈm cña Th− viÖn Quèc gia ViÖt Nam
Trang 7LỜI NHÀ XUẤT BẢN
hủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc,
nhà văn hóa kiệt xuất, người đã cống hiến cả cuộc đời
cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp, giải
phóng con người
Xuyên suốt tư tưởng cách mạng của Người, chữ “dân” -
con người, luôn được quan tâm và đặt lên hàng đầu, bởi, giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp cuối cùng chính là để giải
phóng con người; và cách mạng chỉ thực sự thành công khi
nhân dân được hưởng những quyền con người tốt đẹp Việc đi
sâu nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền
con người là một nhiệm vụ quan trọng và cần được đặt ra
trong bối cảnh Việt Nam hiện nay
Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu và học tập sâu hơn
về tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh
về quyền con người, của TS Lại Thị Thanh Bình - Trưởng
khoa Kiến thức cơ bản, Trường Đại học Sân khấu điện ảnh
Hà Nội Cuốn sách là nghiên cứu tâm huyết của tác giả về
quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó khẳng định
những giá trị mang tính định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh
trong việc thực thi và bảo vệ quyền con người Việt Nam trong
thời kỳ mới.
C
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng cuốn sách khó tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc
Tháng 6 năm 2020
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Trang 8LỜI NHÀ XUẤT BẢN
hủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc,
nhà văn hóa kiệt xuất, người đã cống hiến cả cuộc đời
cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp, giải
phóng con người
Xuyên suốt tư tưởng cách mạng của Người, chữ “dân” -
con người, luôn được quan tâm và đặt lên hàng đầu, bởi, giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp cuối cùng chính là để giải
phóng con người; và cách mạng chỉ thực sự thành công khi
nhân dân được hưởng những quyền con người tốt đẹp Việc đi
sâu nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền
con người là một nhiệm vụ quan trọng và cần được đặt ra
trong bối cảnh Việt Nam hiện nay
Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu và học tập sâu hơn
về tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh
về quyền con người, của TS Lại Thị Thanh Bình - Trưởng
khoa Kiến thức cơ bản, Trường Đại học Sân khấu điện ảnh
Hà Nội Cuốn sách là nghiên cứu tâm huyết của tác giả về
quyền con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó khẳng định
những giá trị mang tính định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh
trong việc thực thi và bảo vệ quyền con người Việt Nam trong
thời kỳ mới.
C
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng cuốn sách khó tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc
Tháng 6 năm 2020
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Trang 9MỞ ĐẦU
rong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh
luôn đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người Tư
tưởng căn bản, cốt lõi, xuyên suốt hệ thống tư tưởng cũng
như thực tiễn cách mạng của Người, và sự nghiệp cách
mạng của dân tộc Việt Nam do Người khởi xướng và lãnh
đạo, là giải phóng con người khỏi mọi nô dịch, áp bức, bóc
lột, bất công; bảo đảm cho con người được hưởng dụng một
cuộc sống xứng với phẩm giá cao quý của con người; tạo
điều kiện để con người phát huy, phát triển đầy đủ, toàn
diện tiềm năng, thực sự trở thành chủ thể tích cực của
tiến bộ lịch sử Trong tư tưởng và sự nghiệp cách mạng
của Hồ Chí Minh, người ta thấy rõ một lôgíc phát triển
nhất quán, từ giải phóng con người - dân tộc, đến giải
phóng con người - giai cấp và cao nhất là giải phóng con
người - nhân loại Tác phẩm chứa đựng những suy tư
mang tính cách mạng đầu tiên về giải phóng con người
mang tên Vấn đề dân bản xứ, và trong Di chúc thiêng
liêng mà Người để lại cho chúng ta thì “đầu tiên là công
việc đối với con người”1 Hai chữ “con người” trăn đi, trở lại
và bảo đảm cho mọi người được hưởng đầy đủ nhất quyền con người Hồ Chí Minh phê phán chế độ thuộc địa và
rộng hơn là chế độ tư bản chủ nghĩa đã xâm phạm, tướcđoạt trắng trợn ngay cả những quyền con người cơ bảnnhất của người dân bản xứ, của nhân dân lao động ở các nước tư bản Người thấy rõ một cuộc cách mạng chỉ đượccoi là thành công và thành công đến nơi, nếu nó mang lạicho con người, nhất là người lao động, những quyền con người “thật” Người thấy rõ trên thế giới học thuyết nhiều,chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắcchắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin -học thuyết mang lại cho con người những quyền con ngườiđầy đủ và triệt để nhất; và chính trên nền tảng chủ nghĩaMác - Lênin, Hồ Chí Minh đã thâu hóa tinh hoa tư tưởng, văn hóa Đông - Tây, kim - cổ, trong đó có những giá trị tư tưởng, văn hóa về quyền con người, đã phân tích và tổng kết thực tiễn để đúc rút ra những quy luật của lịch sử, từ
đó xây dựng nên và cùng với Đảng Cộng sản và nhân dânViệt Nam thực hiện thành công một hệ thống lý luậnkhoa học, cách mạng và nhân văn về giải phóng con ngườimột cách triệt để nhất, về giành lại và bảo đảm cho con người, trước hết là người Việt Nam, được hưởng đầy đủ mọi quyền con người tốt đẹp Có thể khẳng định, có một
hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người đãđược hình thành và đang từng bước được hiện thực hóa trong thực tiễn cách mạng Việt Nam Trải qua những bước thăng trầm và biến động của lịch sử Việt Nam và
Trang 10MỞ ĐẦU
rong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh
luôn đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người Tư
tưởng căn bản, cốt lõi, xuyên suốt hệ thống tư tưởng cũng
như thực tiễn cách mạng của Người, và sự nghiệp cách
mạng của dân tộc Việt Nam do Người khởi xướng và lãnh
đạo, là giải phóng con người khỏi mọi nô dịch, áp bức, bóc
lột, bất công; bảo đảm cho con người được hưởng dụng một
cuộc sống xứng với phẩm giá cao quý của con người; tạo
điều kiện để con người phát huy, phát triển đầy đủ, toàn
diện tiềm năng, thực sự trở thành chủ thể tích cực của
tiến bộ lịch sử Trong tư tưởng và sự nghiệp cách mạng
của Hồ Chí Minh, người ta thấy rõ một lôgíc phát triển
nhất quán, từ giải phóng con người - dân tộc, đến giải
phóng con người - giai cấp và cao nhất là giải phóng con
người - nhân loại Tác phẩm chứa đựng những suy tư
mang tính cách mạng đầu tiên về giải phóng con người
mang tên Vấn đề dân bản xứ, và trong Di chúc thiêng
liêng mà Người để lại cho chúng ta thì “đầu tiên là công
việc đối với con người”1 Hai chữ “con người” trăn đi, trở lại
và bảo đảm cho mọi người được hưởng đầy đủ nhất quyền con người Hồ Chí Minh phê phán chế độ thuộc địa và
rộng hơn là chế độ tư bản chủ nghĩa đã xâm phạm, tướcđoạt trắng trợn ngay cả những quyền con người cơ bảnnhất của người dân bản xứ, của nhân dân lao động ở các nước tư bản Người thấy rõ một cuộc cách mạng chỉ đượccoi là thành công và thành công đến nơi, nếu nó mang lạicho con người, nhất là người lao động, những quyền con người “thật” Người thấy rõ trên thế giới học thuyết nhiều,chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắcchắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin -học thuyết mang lại cho con người những quyền con ngườiđầy đủ và triệt để nhất; và chính trên nền tảng chủ nghĩaMác - Lênin, Hồ Chí Minh đã thâu hóa tinh hoa tư tưởng, văn hóa Đông - Tây, kim - cổ, trong đó có những giá trị tư tưởng, văn hóa về quyền con người, đã phân tích và tổng kết thực tiễn để đúc rút ra những quy luật của lịch sử, từ
đó xây dựng nên và cùng với Đảng Cộng sản và nhân dânViệt Nam thực hiện thành công một hệ thống lý luậnkhoa học, cách mạng và nhân văn về giải phóng con ngườimột cách triệt để nhất, về giành lại và bảo đảm cho con người, trước hết là người Việt Nam, được hưởng đầy đủ mọi quyền con người tốt đẹp Có thể khẳng định, có một
hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người đãđược hình thành và đang từng bước được hiện thực hóa trong thực tiễn cách mạng Việt Nam Trải qua những bước thăng trầm và biến động của lịch sử Việt Nam và
Trang 11lịch sử thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
đã và đang khẳng định giá trị và sức sống mạnh mẽ của
nó Chính vì thế, việc đi sâu nghiên cứu, vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong lý luận và
thực tiễn là một nhiệm vụ khoa học rất quan trọng, tất
yếu cần phải đặt ra trong nghiên cứu khoa học chính trị ở
Việt Nam
Về mặt lý luận, nghiên cứu lý luận về quyền con
người nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con
người nói riêng, tuy đã được quan tâm triển khai trong
những năm gần đây nhưng cũng như khoa học chính trị
nói chung, những nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về
quyền con người nói riêng, còn khá mới mẻ ở Việt Nam
Đa số những công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh về quyền con người được công bố, còn ở giai đoạn
khai phá hướng đi, cung cấp những nhận thức đầu tiên,
tuy rất quý báu, nhưng cần tiếp tục được đi sâu thêm cho
tương xứng với một đối tượng nghiên cứu vốn ở vị trí
trung tâm, chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa và giá trị trong
di sản Hồ Chí Minh Vì thế, việc triển khai một cuốn
sách mang tính hệ thống, theo hướng vận dụng những
cách tiếp cận hiện đại về quyền con người, đối với tư
tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, là một đòi hỏi
cấp thiết về lý luận hiện nay, góp phần bổ sung những
tri thức khoa học mới, quan trọng cho hệ thống tri thức
của khoa học chính trị ở Việt Nam nói chung và nghiên
cứu về Hồ Chí Minh nói riêng Về mặt thực tiễn, nhận
thức, thể chế hóa và hiện thực hóa quyền con người là một
nhiệm vụ chính trị rất quan trọng, đã được Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định từ rất sớm
Đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giành độc lập vàtiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, v.v., đóchính là những sự nghiệp thực tiễn góp phần thực hiệnmục tiêu hiện thực hóa quyền con người ở Việt Nam Những thành tựu của sự nghiệp giải phóng, đổi mới và phát triển là hết sức to lớn Quyền con người ở Việt Nam ngày càng được nhận thức chính xác hơn, thể chế hóa ngày càng đầy đủ hơn và hiện thực hóa ngày càng toàn diện và thực chất hơn Tuy nhiên, nhận thức là một quátrình, điều kiện chưa đầy đủ và năng lực thực tiễn chưahoàn thiện của các chủ thể chính trị ở Việt Nam, và cácthế lực thù địch vẫn luôn tìm mọi cách lợi dụng, bóp méo,xuyên tạc vấn đề nhân quyền, dân chủ hòng chống phá chế độ ta, tất cả những điều đó khiến cho vấn đề quyềncon người ở Việt Nam cần tiếp tục được đi sâu nhận thức
và giải quyết, đặc biệt là trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Rõ ràng, việc tiếp tục đisâu nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người có ý nghĩa thực tiễn to lớn
Từ lý luận và thực tiễn đó, cuốn sách tập trung làm
rõ một số vấn đề lý luận chung về quyền con ngườitrong tư tưởng Hồ Chí Minh, phân tích các khái niệmcông cụ; quá trình hình thành, phát triển và phươngpháp tiếp cận; hệ thống hóa và phân tích các nội dung
cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người;
từ đó khẳng định những giá trị bền vững của tư tưởng
Hồ Chí Minh về quyền con người góp phần định hướng cho việc thực thi và bảo vệ quyền con người Việt Namtrong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Trang 12lịch sử thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
đã và đang khẳng định giá trị và sức sống mạnh mẽ của
nó Chính vì thế, việc đi sâu nghiên cứu, vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người trong lý luận và
thực tiễn là một nhiệm vụ khoa học rất quan trọng, tất
yếu cần phải đặt ra trong nghiên cứu khoa học chính trị ở
Việt Nam
Về mặt lý luận, nghiên cứu lý luận về quyền con
người nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con
người nói riêng, tuy đã được quan tâm triển khai trong
những năm gần đây nhưng cũng như khoa học chính trị
nói chung, những nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về
quyền con người nói riêng, còn khá mới mẻ ở Việt Nam
Đa số những công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh về quyền con người được công bố, còn ở giai đoạn
khai phá hướng đi, cung cấp những nhận thức đầu tiên,
tuy rất quý báu, nhưng cần tiếp tục được đi sâu thêm cho
tương xứng với một đối tượng nghiên cứu vốn ở vị trí
trung tâm, chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa và giá trị trong
di sản Hồ Chí Minh Vì thế, việc triển khai một cuốn
sách mang tính hệ thống, theo hướng vận dụng những
cách tiếp cận hiện đại về quyền con người, đối với tư
tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, là một đòi hỏi
cấp thiết về lý luận hiện nay, góp phần bổ sung những
tri thức khoa học mới, quan trọng cho hệ thống tri thức
của khoa học chính trị ở Việt Nam nói chung và nghiên
cứu về Hồ Chí Minh nói riêng Về mặt thực tiễn, nhận
thức, thể chế hóa và hiện thực hóa quyền con người là một
nhiệm vụ chính trị rất quan trọng, đã được Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định từ rất sớm
Đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giành độc lập vàtiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, v.v., đóchính là những sự nghiệp thực tiễn góp phần thực hiệnmục tiêu hiện thực hóa quyền con người ở Việt Nam Những thành tựu của sự nghiệp giải phóng, đổi mới và phát triển là hết sức to lớn Quyền con người ở Việt Nam ngày càng được nhận thức chính xác hơn, thể chế hóa ngày càng đầy đủ hơn và hiện thực hóa ngày càng toàn diện và thực chất hơn Tuy nhiên, nhận thức là một quátrình, điều kiện chưa đầy đủ và năng lực thực tiễn chưahoàn thiện của các chủ thể chính trị ở Việt Nam, và cácthế lực thù địch vẫn luôn tìm mọi cách lợi dụng, bóp méo,xuyên tạc vấn đề nhân quyền, dân chủ hòng chống phá chế độ ta, tất cả những điều đó khiến cho vấn đề quyềncon người ở Việt Nam cần tiếp tục được đi sâu nhận thức
và giải quyết, đặc biệt là trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Rõ ràng, việc tiếp tục đisâu nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người có ý nghĩa thực tiễn to lớn
Từ lý luận và thực tiễn đó, cuốn sách tập trung làm
rõ một số vấn đề lý luận chung về quyền con ngườitrong tư tưởng Hồ Chí Minh, phân tích các khái niệmcông cụ; quá trình hình thành, phát triển và phươngpháp tiếp cận; hệ thống hóa và phân tích các nội dung
cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người;
từ đó khẳng định những giá trị bền vững của tư tưởng
Hồ Chí Minh về quyền con người góp phần định hướng cho việc thực thi và bảo vệ quyền con người Việt Namtrong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Trang 13Chương I
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI -
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1 Các khái niệm
a) Khái niệm quyền con người
Quyền con người là vấn đề được cả nhân loại quan
tâm sâu sắc, đây cũng là vấn đề rất nhạy cảm, phức
tạp, đa diện, do đó có nhiều khái niệm khác nhau, và
được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, thậm chí đối
lập nhau đã được đề xuất Tuy nhiên, dù được tiếp cận ở
góc độ nào thì quyền con người cũng được xác định như
là những chuẩn mực kết tinh những giá trị nhân văn
của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả
mọi người và được cộng đồng quốc tế thừa nhận, tuân
thủ Cho dù có những cách nhìn nhận khác biệt nhất
định thì có một điều không thể thay đổi về quyền con
người, đó là những giá trị cao cả thuộc về con người, cần
được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi
giai đoạn lịch sử
Theo tài liệu của Liên hợp quốc, cho đến nay, rấtnhiều định nghĩa về quyền con người đã được công bố.Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề quyền con người ở mộtgóc độ nhất định, chưa có định nghĩa nào bao quát đượctất cả các thuộc tính về quyền con người Tính phù hợpcủa các định nghĩa thường được đánh giá bởi mức độ nhận thức của mỗi cá nhân cũng như mục đích sử dụngđịnh nghĩa đó Một số định nghĩa sau được sử dụng khá rộng rãi và rõ ràng, về nội hàm giữa chúng có điểm
chung nhất định như đã nói ở trên: “Quyền con người là
những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các
cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự
bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự đượcphép và tự do cơ bản”1; “Quyền con người là những sự được phép mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xãhội ; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người”2; “Quyền con người là những quyền bẩm sinh,vốn có của con người mà nếu không được hưởng thìchúng ta sẽ không thể sống như một con người”3
_
1 Ohchr: Frequently Asked Questions on a Human Rights
-based Approach to Development Cooperation, New York and
Geneva, 2006, p.1.
2, 3 Leah Levin: Human Rights: Questions and Answers,
UNESCO Publishing, 5 th edition, updated, 2009, p.4.
Trang 14Chương I
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI -
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1 Các khái niệm
a) Khái niệm quyền con người
Quyền con người là vấn đề được cả nhân loại quan
tâm sâu sắc, đây cũng là vấn đề rất nhạy cảm, phức
tạp, đa diện, do đó có nhiều khái niệm khác nhau, và
được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, thậm chí đối
lập nhau đã được đề xuất Tuy nhiên, dù được tiếp cận ở
góc độ nào thì quyền con người cũng được xác định như
là những chuẩn mực kết tinh những giá trị nhân văn
của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả
mọi người và được cộng đồng quốc tế thừa nhận, tuân
thủ Cho dù có những cách nhìn nhận khác biệt nhất
định thì có một điều không thể thay đổi về quyền con
người, đó là những giá trị cao cả thuộc về con người, cần
được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi
giai đoạn lịch sử
Theo tài liệu của Liên hợp quốc, cho đến nay, rấtnhiều định nghĩa về quyền con người đã được công bố.Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề quyền con người ở mộtgóc độ nhất định, chưa có định nghĩa nào bao quát đượctất cả các thuộc tính về quyền con người Tính phù hợpcủa các định nghĩa thường được đánh giá bởi mức độ nhận thức của mỗi cá nhân cũng như mục đích sử dụngđịnh nghĩa đó Một số định nghĩa sau được sử dụng khá rộng rãi và rõ ràng, về nội hàm giữa chúng có điểm
chung nhất định như đã nói ở trên: “Quyền con người là
những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các
cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự
bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự đượcphép và tự do cơ bản”1; “Quyền con người là những sự được phép mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xãhội ; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người”2; “Quyền con người là những quyền bẩm sinh,vốn có của con người mà nếu không được hưởng thìchúng ta sẽ không thể sống như một con người”3
_
1 Ohchr: Frequently Asked Questions on a Human Rights
-based Approach to Development Cooperation, New York and
Geneva, 2006, p.1.
2, 3 Leah Levin: Human Rights: Questions and Answers,
UNESCO Publishing, 5 th edition, updated, 2009, p.4.
Trang 15Theo quan điểm của C.Mác - Ph.Ăngghen, tiền đề
đầu tiên của lịch sử nhân loại là sự tồn tại của
những cá nhân con người sống và hành vi lịch sử đầu
tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn
những nhu cầu ấy và sản xuất ra bản thân đời sống
vật chất Do đó, quyền và tự do cơ bản của con người,
đối với C.Mác - Ph.Ănghen, còn gắn với những điều
kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, với những khát
vọng, nhu cầu và lợi ích cụ thể Đó là những con
người hoạt động thực tiễn, thông qua cải tạo thế giới
mà cải biến chính bản thân mình, thỏa mãn quyền
và lợi ích cho chính mình C.Mác - Ph.Ăngghen đề
cao quyền tự do cá nhân như là điểm xuất phát của
quyền con người, việc bảo đảm quyền và phát triển
quyền tự do của mỗi người là tiền đề cho sự phát
triển tự do của tất cả mọi người trong xã hội Mọi
quyền cá nhân chỉ có thể được coi là hợp lý khi nó
đặt trong mối quan hệ giữa người với người và trong
cộng đồng xã hội Như vậy, việc giải phóng cá nhân
phải gắn liền với giải phóng xã hội, phát triển tự do
của mỗi người phải gắn với sự phát triển một chế độ
nhà nước và xã hội nhất định
Jacques Mourgon, giáo sư thuộc Đại học Khoa học
xã hội Toulouse định nghĩa: Quyền con người là những
đặc quyền được các quy tắc điều khiển mà con người giữ
riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân và với chính quyền1
Trong Đại từ điển tiếng Việt, nhân quyền chính là
quyền con người Với ý nghĩa như vậy, nhân quyền hay quyền con người là hai từ đồng nghĩa, do đó, hoàn toàn
có thể sử dụng hai từ này trong hoạt động nghiên cứu lý luận, giảng dạy và hoạt động thực tiễn về nhân quyền.Tóm lại, có thể thừa nhận và sử dụng định nghĩasau về quyền con người: quyền con người là khái niệmdùng để chỉ những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia, phù hợp với các giá trị pháp lýquốc tế
Phân biệt quyền con người và quyền công dân:
Theo quan điểm của C.Mác - Ph.Ăngghen, quyềncon người (human rights) và quyền công dân (citizensrights) là hai khái niệm có nội dung và ý nghĩa khácnhau, nhưng không đối lập, mà thực chất là thống nhấtvới nhau “Quyền con người phải thu hút được quyềncông dân vào nội dung của nó”, vì chúng nằm trong mộtchỉnh thể thống nhất, phản ánh tổng thể nhu cầu củacon người hiện thực trong điều kiện còn tồn tại nhànước Tuy nhiên, về khái niệm vẫn có sự phân biệttương đối Theo C.Mác: quyền công dân là những quyền _
1 Xem J Mourgon: Quyền con người, Bản dịch, Hà Nội,
1995, tr.12
Trang 16Theo quan điểm của C.Mác - Ph.Ăngghen, tiền đề
đầu tiên của lịch sử nhân loại là sự tồn tại của
những cá nhân con người sống và hành vi lịch sử đầu
tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn
những nhu cầu ấy và sản xuất ra bản thân đời sống
vật chất Do đó, quyền và tự do cơ bản của con người,
đối với C.Mác - Ph.Ănghen, còn gắn với những điều
kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, với những khát
vọng, nhu cầu và lợi ích cụ thể Đó là những con
người hoạt động thực tiễn, thông qua cải tạo thế giới
mà cải biến chính bản thân mình, thỏa mãn quyền
và lợi ích cho chính mình C.Mác - Ph.Ăngghen đề
cao quyền tự do cá nhân như là điểm xuất phát của
quyền con người, việc bảo đảm quyền và phát triển
quyền tự do của mỗi người là tiền đề cho sự phát
triển tự do của tất cả mọi người trong xã hội Mọi
quyền cá nhân chỉ có thể được coi là hợp lý khi nó
đặt trong mối quan hệ giữa người với người và trong
cộng đồng xã hội Như vậy, việc giải phóng cá nhân
phải gắn liền với giải phóng xã hội, phát triển tự do
của mỗi người phải gắn với sự phát triển một chế độ
nhà nước và xã hội nhất định
Jacques Mourgon, giáo sư thuộc Đại học Khoa học
xã hội Toulouse định nghĩa: Quyền con người là những
đặc quyền được các quy tắc điều khiển mà con người giữ
riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân và với chính quyền1
Trong Đại từ điển tiếng Việt, nhân quyền chính là
quyền con người Với ý nghĩa như vậy, nhân quyền hay quyền con người là hai từ đồng nghĩa, do đó, hoàn toàn
có thể sử dụng hai từ này trong hoạt động nghiên cứu lý luận, giảng dạy và hoạt động thực tiễn về nhân quyền.Tóm lại, có thể thừa nhận và sử dụng định nghĩasau về quyền con người: quyền con người là khái niệmdùng để chỉ những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia, phù hợp với các giá trị pháp lýquốc tế
Phân biệt quyền con người và quyền công dân:
Theo quan điểm của C.Mác - Ph.Ăngghen, quyềncon người (human rights) và quyền công dân (citizensrights) là hai khái niệm có nội dung và ý nghĩa khácnhau, nhưng không đối lập, mà thực chất là thống nhấtvới nhau “Quyền con người phải thu hút được quyềncông dân vào nội dung của nó”, vì chúng nằm trong mộtchỉnh thể thống nhất, phản ánh tổng thể nhu cầu củacon người hiện thực trong điều kiện còn tồn tại nhànước Tuy nhiên, về khái niệm vẫn có sự phân biệttương đối Theo C.Mác: quyền công dân là những quyền _
1 Xem J Mourgon: Quyền con người, Bản dịch, Hà Nội,
1995, tr.12
Trang 17chính trị, những quyền cá nhân con người, với tư cách
là thành viên xã hội công dân, còn quyền con người là
những đặc quyền chỉ có con người mới có, với tư cách là
con người1 Theo từ điển Merriam - Webster’s Collegiate
Dictionary, công dân là một thành viên của một nhà
nước mà người đó có nghĩa vụ trung thành và được
hưởng sự bảo vệ2 Quyền công dân cũng được định nghĩa
ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng khái quát nhất, có thể
kể đến định nghĩa: quyền công dân là những lợi ích
pháp lý được các nhà nước thừa nhận và bảo vệ cho
những người có quốc tịch của nước mình
Phân biệt khái niệm quyền con người và quyền công
dân về: nguồn gốc lịch sử, nội hàm khái niệm, ngoại
diên khái niệm, chủ thể và cách thức thực hiện các
quyền mà hai khái niệm đề cập:
Về nguồn gốc lịch sử khái niệm quyền con người,
quyền công dân: Tư tưởng về quyền con người xuất hiện
từ rất sớm trong lịch sử, xuất phát từ việc bảo đảm
nhân phẩm của con người Nếu quyền con người được
luật quốc tế (toàn cầu và khu vực) thừa nhận năm 1945,
chính thức được hợp thức hóa về văn bản và được khẳng
định cùng với Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948)
thì quyền công dân xuất hiện cùng với cuộc cách mạng
_
1 Xem C.Mác, Ph.Ănghen: Về quyền con người, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.14
2 Xem Merriam - Webster’s Collegiate Dictionary, 2016.
tư sản, xuất phát và bảo đảm mối quan hệ giữa các cá nhân với nhà nước Xét về lịch sử, khái niệm quyềncông dân ra đời sớm hơn khái niệm quyền con người
Về nội hàm của khái niệm quyền con người, quyền công dân: Quyền con người là tập hợp những nhu cầu
và lợi ích tự nhiên được pháp luật quốc tế và pháp luậtcủa từng quốc gia quy định, được áp dụng bình đẳng cho tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, khôngphân biệt dân tộc, quốc tịch, chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo,giới tính, độ tuổi, trình độ, thu nhập, v.v Quyền con người rộng về nội hàm bởi nó không chỉ thể hiện mốiquan hệ giữa công dân với nhà nước, mà nó còn thể hiệnmối quan hệ giữa các nhà nước với các cá nhân khác trong cộng đồng nhân loại, cũng như giữa các nhà nướcvới cộng đồng quốc tế Quyền công dân là tập hợpnhững nhu cầu và lợi ích tự nhiên được pháp luật củamột nước quy định, được áp dụng một cách bình đẳngcho những công dân có quốc tịch của một quốc gia Như vậy, quyền công dân chỉ thể hiện mối quan hệ giữa nhànước với công dân của nhà nước đó Xét về nội dung, khái niệm quyền con người rộng hơn khái niệm quyềncông dân
Về ngoại diên của khái niệm quyền con người, quyền công dân: Nếu coi quyền con người là tập hợp
những nhu cầu và lợi ích tự nhiên, vốn có của con người
dù chưa được thể hiện bằng các quy định cụ thể nhưnglại hàm chứa trong các quy định mang tính nguyên tắc
Trang 18chính trị, những quyền cá nhân con người, với tư cách
là thành viên xã hội công dân, còn quyền con người là
những đặc quyền chỉ có con người mới có, với tư cách là
con người1 Theo từ điển Merriam - Webster’s Collegiate
Dictionary, công dân là một thành viên của một nhà
nước mà người đó có nghĩa vụ trung thành và được
hưởng sự bảo vệ2 Quyền công dân cũng được định nghĩa
ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng khái quát nhất, có thể
kể đến định nghĩa: quyền công dân là những lợi ích
pháp lý được các nhà nước thừa nhận và bảo vệ cho
những người có quốc tịch của nước mình
Phân biệt khái niệm quyền con người và quyền công
dân về: nguồn gốc lịch sử, nội hàm khái niệm, ngoại
diên khái niệm, chủ thể và cách thức thực hiện các
quyền mà hai khái niệm đề cập:
Về nguồn gốc lịch sử khái niệm quyền con người,
quyền công dân: Tư tưởng về quyền con người xuất hiện
từ rất sớm trong lịch sử, xuất phát từ việc bảo đảm
nhân phẩm của con người Nếu quyền con người được
luật quốc tế (toàn cầu và khu vực) thừa nhận năm 1945,
chính thức được hợp thức hóa về văn bản và được khẳng
định cùng với Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948)
thì quyền công dân xuất hiện cùng với cuộc cách mạng
_
1 Xem C.Mác, Ph.Ănghen: Về quyền con người, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.14
2 Xem Merriam - Webster’s Collegiate Dictionary, 2016.
tư sản, xuất phát và bảo đảm mối quan hệ giữa các cá nhân với nhà nước Xét về lịch sử, khái niệm quyềncông dân ra đời sớm hơn khái niệm quyền con người
Về nội hàm của khái niệm quyền con người, quyền công dân: Quyền con người là tập hợp những nhu cầu
và lợi ích tự nhiên được pháp luật quốc tế và pháp luậtcủa từng quốc gia quy định, được áp dụng bình đẳng cho tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, khôngphân biệt dân tộc, quốc tịch, chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo,giới tính, độ tuổi, trình độ, thu nhập, v.v Quyền con người rộng về nội hàm bởi nó không chỉ thể hiện mốiquan hệ giữa công dân với nhà nước, mà nó còn thể hiệnmối quan hệ giữa các nhà nước với các cá nhân khác trong cộng đồng nhân loại, cũng như giữa các nhà nướcvới cộng đồng quốc tế Quyền công dân là tập hợpnhững nhu cầu và lợi ích tự nhiên được pháp luật củamột nước quy định, được áp dụng một cách bình đẳngcho những công dân có quốc tịch của một quốc gia Như vậy, quyền công dân chỉ thể hiện mối quan hệ giữa nhànước với công dân của nhà nước đó Xét về nội dung, khái niệm quyền con người rộng hơn khái niệm quyềncông dân
Về ngoại diên của khái niệm quyền con người, quyền công dân: Nếu coi quyền con người là tập hợp
những nhu cầu và lợi ích tự nhiên, vốn có của con người
dù chưa được thể hiện bằng các quy định cụ thể nhưnglại hàm chứa trong các quy định mang tính nguyên tắc
Trang 19của pháp luật quốc tế thì quyền công dân chỉ là sự cụ
thể hóa các nguyên tắc và quy định về quyền con người
chứ không vượt ra ngoài khuôn khổ của quyền con
người Ngoại diên quyền con người rộng hơn ngoại diên
quyền công dân
Về chủ thể thực hiện quyền con người, quyền công
dân: Ở quyền con người, chủ thể thực hiện quyền con
người chính là con người, không phân biệt quốc tịch, độ
tuổi, giới tính, dân tộc, sắc tộc, vị trí, tài sản, huyết
thống Với quyền công dân, chủ thể thực hiện là công
dân, là người thuộc về một nhà nước nhất định mà
người này mang quốc tịch
Về cách thức thực hiện quyền con người, quyền công
dân: Quyền con người được bảo đảm bằng pháp luật và
cơ chế của quốc gia và quốc tế: diễn đàn, thủ tục điều
tra, giải quyết, khiếu nại, tố cáo vi phạm nhân quyền
của Liên hợp quốc và một số tổ chức liên chính phủ và
khu vực Là quyền vốn có, không do chủ thể nào ban
phát Thể hiện vị thế của mỗi cá nhân trong quan hệ
với quốc gia của họ và quan hệ với cộng đồng nhân loại
Quyền công dân được bảo đảm bằng pháp luật và cơ chế
quốc gia: tòa án và một số chế tài ở mỗi quốc gia Thể
hiện vị thế của mỗi cá nhân với tư cách là công dân
trong quốc gia đó Trường hợp phức tạp mới có thể nối
tiếp bằng cơ chế quốc tế Hai cơ chế này có thể tác động
qua lại, đôi khi lại có sự chuyển hóa khi một vấn đề về
công dân ở một quốc gia có thể trở thành một vấn đề về
quyền con người và được giải quyết thông qua các quyđịnh pháp luật và cơ chế quốc tế
Từ sự so sánh này, có thể nói rằng quyền công dân
và quyền con người là hai phạm trù có mối liên hệ chặtchẽ, tác động và bổ sung với nhau Tuy vậy, đối tượng
và phạm vi điều chỉnh, thực thi của quyền công dân vàquyền con người lại không tương đồng Và vì vậy, haiphạm trù này vẫn sẽ song hành cùng nhau
b) Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người có tính toàn diện, tiến bộ và đi tiên phong trong việc giải phóng con người, làm tiền đề cho sự phát triển toàn diện củacon người Điều này thể hiện nội hàm khái niệm, phươngthức thực thi và mục đích thực hiện quyền con người
Hồ Chí Minh có quan điểm riêng của mình về quyềncon người Đối tượng mà Hồ Chí Minh nói đến trongphạm trù quyền con người là tất cả mọi người mà nổibật là những con người xuất phát từ các dân tộc thuộcđịa, những dân tộc nghèo nàn, kém phát triển Đặc biệt
là nhóm người cần sự quan tâm đặc biệt như phụ nữ,trẻ em, người khuyết tật, v.v
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, sinh thời Người mongước: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, làlàm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta đượchoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc,
Trang 20của pháp luật quốc tế thì quyền công dân chỉ là sự cụ
thể hóa các nguyên tắc và quy định về quyền con người
chứ không vượt ra ngoài khuôn khổ của quyền con
người Ngoại diên quyền con người rộng hơn ngoại diên
quyền công dân
Về chủ thể thực hiện quyền con người, quyền công
dân: Ở quyền con người, chủ thể thực hiện quyền con
người chính là con người, không phân biệt quốc tịch, độ
tuổi, giới tính, dân tộc, sắc tộc, vị trí, tài sản, huyết
thống Với quyền công dân, chủ thể thực hiện là công
dân, là người thuộc về một nhà nước nhất định mà
người này mang quốc tịch
Về cách thức thực hiện quyền con người, quyền công
dân: Quyền con người được bảo đảm bằng pháp luật và
cơ chế của quốc gia và quốc tế: diễn đàn, thủ tục điều
tra, giải quyết, khiếu nại, tố cáo vi phạm nhân quyền
của Liên hợp quốc và một số tổ chức liên chính phủ và
khu vực Là quyền vốn có, không do chủ thể nào ban
phát Thể hiện vị thế của mỗi cá nhân trong quan hệ
với quốc gia của họ và quan hệ với cộng đồng nhân loại
Quyền công dân được bảo đảm bằng pháp luật và cơ chế
quốc gia: tòa án và một số chế tài ở mỗi quốc gia Thể
hiện vị thế của mỗi cá nhân với tư cách là công dân
trong quốc gia đó Trường hợp phức tạp mới có thể nối
tiếp bằng cơ chế quốc tế Hai cơ chế này có thể tác động
qua lại, đôi khi lại có sự chuyển hóa khi một vấn đề về
công dân ở một quốc gia có thể trở thành một vấn đề về
quyền con người và được giải quyết thông qua các quyđịnh pháp luật và cơ chế quốc tế
Từ sự so sánh này, có thể nói rằng quyền công dân
và quyền con người là hai phạm trù có mối liên hệ chặtchẽ, tác động và bổ sung với nhau Tuy vậy, đối tượng
và phạm vi điều chỉnh, thực thi của quyền công dân vàquyền con người lại không tương đồng Và vì vậy, haiphạm trù này vẫn sẽ song hành cùng nhau
b) Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người có tính toàn diện, tiến bộ và đi tiên phong trong việc giải phóng con người, làm tiền đề cho sự phát triển toàn diện củacon người Điều này thể hiện nội hàm khái niệm, phươngthức thực thi và mục đích thực hiện quyền con người
Hồ Chí Minh có quan điểm riêng của mình về quyềncon người Đối tượng mà Hồ Chí Minh nói đến trongphạm trù quyền con người là tất cả mọi người mà nổibật là những con người xuất phát từ các dân tộc thuộcđịa, những dân tộc nghèo nàn, kém phát triển Đặc biệt
là nhóm người cần sự quan tâm đặc biệt như phụ nữ,trẻ em, người khuyết tật, v.v
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, sinh thời Người mongước: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, làlàm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta đượchoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc,
Trang 21ai cũng được học hành”1 Mong ước đó chính là lý tưởng
chính trị, lý tưởng đạo đức chứa đựng giá trị nhân văn
của Người Để thực hiện được lý tưởng đó, cả cuộc đời
Người đã đấu tranh vì quyền độc lập tự do, quyền sống,
quyền hạnh phúc của nhân dân Hiếm có nhà chính trị
cách mạng nào trên thế giới lại nung nấu ý chí, kiên trì
và quyết tâm đấu tranh cho lý tưởng nhân quyền như
Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh tiếp cận quyền con người từ
quan điểm thực tiễn, quan điểm toàn diện của chủ nghĩa
Mác - Lênin, nhưng trước tiên và chủ yếu là từ thân
phận của người dân mất nước đang tìm con đường đấu
tranh, giành lại chủ quyền cho dân tộc, trong đó có các
quyền cơ bản của con người Thấm nhuần những giá trị
truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh ra đi tìm đường
cứu nước, bôn ba khắp năm châu bốn bể Người nghiên
cứu cách mạng tư sản, cách mạng Pháp; tìm hiểu tư
tưởng của G.G Rútxô, S.Đ Môngtexkiơ; tiếp cận Tuyên
ngôn độc lập của Mỹ (1776), Tuyên ngôn nhân quyền và
dân quyền của cách mạng Pháp (cuối thế kỷ XVIII); theo
dõi thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga (1917); đọc
Khổng Tử, hiểu giáo lý Phật giáo, Thiên Chúa giáo,
nghiên cứu tư tưởng Tôn Trung Sơn, thấm nhuần chủ
nghĩa Mác - Lênin về quyền con người, v.v Tư tưởng
Hồ Chí Minh về quyền con người đã kế thừa, phát triển,
vượt lên các giá trị của dân tộc và thời đại về quyền
_
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.627.
con người Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là sự phản ánh thành tựu tư duy về nhân quyền ở thời đại các dân tộc thuộc địa, nô lệ bị ápbức, bóc lột vùng lên đấu tranh giành lại quyền sống,quyền làm người của con người, phù hợp với truyền
thống lịch sử, văn hóa, chính trị của dân tộc mình.
Từ thực tế đó, căn cứ trên định nghĩa về quyền con người ở trên, có thể định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh
về quyền con người là hệ thống quan điểm toàn diện
và sâu sắc về những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có
và khách quan mà con người xứng đáng được hưởng,được bảo đảm, được thực thi bằng pháp luật Việt Nam,phù hợp với thực tiễn Việt Nam và các giá trị pháp lý quốc tế
Theo ý nghĩa như vậy, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người bao gồm: quyền dân sự, chính trị; quyền kinh tế, xã hội; quyền của nhóm người cầnđược quan tâm đặc biệt như: phụ nữ, trẻ em, người già; quyền của người dân tộc thiểu số trong cộng đồng dântộc Việt Nam; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Về nội hàm khái niệm: Trong sự nghiệp đấu tranh
giành độc lập và giải phóng con người của Hồ Chí Minh,Người không trực tiếp sử dụng khái niệm hay đưa ra định nghĩa nào cho khái niệm quyền con người, nhưngNgười lại nhiều lần đề cập tới nội hàm của khái niệm,
đó chính là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có,khách quan mà con người được hưởng, được bảo đảm,
Trang 22ai cũng được học hành”1 Mong ước đó chính là lý tưởng
chính trị, lý tưởng đạo đức chứa đựng giá trị nhân văn
của Người Để thực hiện được lý tưởng đó, cả cuộc đời
Người đã đấu tranh vì quyền độc lập tự do, quyền sống,
quyền hạnh phúc của nhân dân Hiếm có nhà chính trị
cách mạng nào trên thế giới lại nung nấu ý chí, kiên trì
và quyết tâm đấu tranh cho lý tưởng nhân quyền như
Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh tiếp cận quyền con người từ
quan điểm thực tiễn, quan điểm toàn diện của chủ nghĩa
Mác - Lênin, nhưng trước tiên và chủ yếu là từ thân
phận của người dân mất nước đang tìm con đường đấu
tranh, giành lại chủ quyền cho dân tộc, trong đó có các
quyền cơ bản của con người Thấm nhuần những giá trị
truyền thống của dân tộc, Hồ Chí Minh ra đi tìm đường
cứu nước, bôn ba khắp năm châu bốn bể Người nghiên
cứu cách mạng tư sản, cách mạng Pháp; tìm hiểu tư
tưởng của G.G Rútxô, S.Đ Môngtexkiơ; tiếp cận Tuyên
ngôn độc lập của Mỹ (1776), Tuyên ngôn nhân quyền và
dân quyền của cách mạng Pháp (cuối thế kỷ XVIII); theo
dõi thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga (1917); đọc
Khổng Tử, hiểu giáo lý Phật giáo, Thiên Chúa giáo,
nghiên cứu tư tưởng Tôn Trung Sơn, thấm nhuần chủ
nghĩa Mác - Lênin về quyền con người, v.v Tư tưởng
Hồ Chí Minh về quyền con người đã kế thừa, phát triển,
vượt lên các giá trị của dân tộc và thời đại về quyền
_
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.627.
con người Nói cách khác, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người là sự phản ánh thành tựu tư duy về nhân quyền ở thời đại các dân tộc thuộc địa, nô lệ bị ápbức, bóc lột vùng lên đấu tranh giành lại quyền sống,quyền làm người của con người, phù hợp với truyền
thống lịch sử, văn hóa, chính trị của dân tộc mình.
Từ thực tế đó, căn cứ trên định nghĩa về quyền con người ở trên, có thể định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh
về quyền con người là hệ thống quan điểm toàn diện
và sâu sắc về những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có
và khách quan mà con người xứng đáng được hưởng,được bảo đảm, được thực thi bằng pháp luật Việt Nam,phù hợp với thực tiễn Việt Nam và các giá trị pháp lý quốc tế
Theo ý nghĩa như vậy, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người bao gồm: quyền dân sự, chính trị; quyền kinh tế, xã hội; quyền của nhóm người cầnđược quan tâm đặc biệt như: phụ nữ, trẻ em, người già; quyền của người dân tộc thiểu số trong cộng đồng dântộc Việt Nam; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Về nội hàm khái niệm: Trong sự nghiệp đấu tranh
giành độc lập và giải phóng con người của Hồ Chí Minh,Người không trực tiếp sử dụng khái niệm hay đưa ra định nghĩa nào cho khái niệm quyền con người, nhưngNgười lại nhiều lần đề cập tới nội hàm của khái niệm,
đó chính là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có,khách quan mà con người được hưởng, được bảo đảm,
Trang 23được thực thi bằng pháp luật của quốc gia, phù hợp với
thực tiễn của quốc gia và các giá trị pháp lý quốc tế
Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, nhà hoạt động cách mạng
bắt đầu từ con người và tất cả đều vì con người Người
là nhà tư tưởng, nhà cách mạng hành động mà xuất
phát điểm của toàn bộ tư tưởng cũng như thực tiễn của
Người bắt đầu từ con người và mục đích cuối cùng cũng
là hướng tới con người
Hồ Chí Minh không tiếp cận quyền con người như
quyền tự nhiên mà trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, Hồ Chí Minh tiếp cận quyền con người
trên cơ sở thực tiễn ở các nước thuộc địa Nếu coi
quyền con người là quyền tự nhiên, sinh ra đã có thì
điều này không thể giải thích được với đối tượng là
các nhóm người cần sự quan tâm đặc biệt trong xã
hội Vì trên thực tế, phụ nữ, trẻ em chính là những
đối tượng dễ bị vi phạm quyền con người
Về chủ thể thực hiện: Với Hồ Chí Minh, xuất phát
điểm là một người dân thuộc địa, Người sớm xác định
rõ hoàn cảnh nước mất, nhà tan, người dân thuộc địa
bị chà đạp, quyền con người mà Hồ Chí Minh đề cập
trước hết là quyền dân tộc Nước có độc lập thì dân
mới được tự do Quá trình giành độc lập dân tộc thực
chất là quá trình tiến hành cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc, giải phóng con người Trong cuộc cách
mạng đó, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến việc con người
phải tự giải phóng mình Vì con người là đối tượngchính của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ ChíMinh có cách quan niệm rất riêng về con người: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầubạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là cả loài người”1 Cách hiểu này nhấn mạnh đến vai trò xã hội của con người, trong đó con người tồn tại với tư cách là thành viên của một cộng đồng xã hội nhấtđịnh Cộng đồng đó là gia đình, họ tộc, làng xóm, dântộc, đất nước và rộng hơn nữa, con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nhân loại Với Hồ ChíMinh, con người không phải là những cá thể biệt lập Chỉ có trong quan hệ xã hội, trong hoạt động thựctiễn xã hội, con người mới có lao động, ngôn ngữ, tư duy, chế tạo công cụ lao động , mới thực sự trở thànhcon người để phân biệt với mọi loài động vật khác Những quan hệ xã hội mà Hồ Chí Minh quan tâmtrước hết là những quan hệ gắn bó giữa người vớingười thành tập thể, cộng đồng từ nhỏ đến lớn, từ hẹpđến rộng Chính từ cách định nghĩa này, Hồ Chí Minh
đã đi từ quyền tự nhiên của con người phát triển lên thành quyền đấu tranh chống áp bức của các dân tộcthuộc địa; phát triển lên thành quyền làm người vàquyền tự quyết của các dân tộc; trong đó có các dân _
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.130.
Trang 24được thực thi bằng pháp luật của quốc gia, phù hợp với
thực tiễn của quốc gia và các giá trị pháp lý quốc tế
Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, nhà hoạt động cách mạng
bắt đầu từ con người và tất cả đều vì con người Người
là nhà tư tưởng, nhà cách mạng hành động mà xuất
phát điểm của toàn bộ tư tưởng cũng như thực tiễn của
Người bắt đầu từ con người và mục đích cuối cùng cũng
là hướng tới con người
Hồ Chí Minh không tiếp cận quyền con người như
quyền tự nhiên mà trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, Hồ Chí Minh tiếp cận quyền con người
trên cơ sở thực tiễn ở các nước thuộc địa Nếu coi
quyền con người là quyền tự nhiên, sinh ra đã có thì
điều này không thể giải thích được với đối tượng là
các nhóm người cần sự quan tâm đặc biệt trong xã
hội Vì trên thực tế, phụ nữ, trẻ em chính là những
đối tượng dễ bị vi phạm quyền con người
Về chủ thể thực hiện: Với Hồ Chí Minh, xuất phát
điểm là một người dân thuộc địa, Người sớm xác định
rõ hoàn cảnh nước mất, nhà tan, người dân thuộc địa
bị chà đạp, quyền con người mà Hồ Chí Minh đề cập
trước hết là quyền dân tộc Nước có độc lập thì dân
mới được tự do Quá trình giành độc lập dân tộc thực
chất là quá trình tiến hành cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc, giải phóng con người Trong cuộc cách
mạng đó, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến việc con người
phải tự giải phóng mình Vì con người là đối tượngchính của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Hồ ChíMinh có cách quan niệm rất riêng về con người: “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầubạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là cả loài người”1 Cách hiểu này nhấn mạnh đến vai trò xã hội của con người, trong đó con người tồn tại với tư cách là thành viên của một cộng đồng xã hội nhấtđịnh Cộng đồng đó là gia đình, họ tộc, làng xóm, dântộc, đất nước và rộng hơn nữa, con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nhân loại Với Hồ ChíMinh, con người không phải là những cá thể biệt lập Chỉ có trong quan hệ xã hội, trong hoạt động thựctiễn xã hội, con người mới có lao động, ngôn ngữ, tư duy, chế tạo công cụ lao động , mới thực sự trở thànhcon người để phân biệt với mọi loài động vật khác Những quan hệ xã hội mà Hồ Chí Minh quan tâmtrước hết là những quan hệ gắn bó giữa người vớingười thành tập thể, cộng đồng từ nhỏ đến lớn, từ hẹpđến rộng Chính từ cách định nghĩa này, Hồ Chí Minh
đã đi từ quyền tự nhiên của con người phát triển lên thành quyền đấu tranh chống áp bức của các dân tộcthuộc địa; phát triển lên thành quyền làm người vàquyền tự quyết của các dân tộc; trong đó có các dân _
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.130.
Trang 25tộc bị áp bức Từ đó, Hồ Chí Minh đi đến khẳng định:
“Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc”1 và
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”2 Với Hồ Chí Minh,
đấu tranh cho độc lập và tự do là “lý tưởng cao quý
nhất của loài người”3
Về phương thức thực hiện: Để quyền con người có
thể thực thi ở một nước thuộc địa, với Hồ Chí Minh, là
phải sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đuổi chế độ
áp bức, bóc lột con người Người cho rằng, trong cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc, cần dùng bạo lực cách
mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, phải giành
lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền đó Con đường
cách mạng chuyên chính vô sản dưới ánh sáng của
chủ nghĩa Mác - Lênin và sự giúp đỡ của bạn bè quốc
tế là con đường cách mạng được Hồ Chí Minh lựa
chọn Tuy nhiên, gốc rễ của cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc được Hồ Chí Minh nhấn mạnh: con
người phải tự giải phóng mình Một xã hội chỉ thực sự
được giải phóng, một dân tộc thực sự độc lập, và
quyền con người thực sự được thực thi khi con người
vừa là chủ thể của công cuộc giải phóng, vừa là đối
tượng trực tiếp xây dựng, xác lập và thực thi quyền
lợi cho chính bản thân mình
vụ Có như vậy mới có thể lãnh đạo nhân dân, để họ phát huy hết năng lực, góp phần vào sự nghiệp cáchmạng nước nhà
Tiến hành cuộc cách mạng trong xã hội để giành độc lập dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp,
Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến cuộc cách mạng giảiphóng con người, mà trước hết là giải phóng chính mình Giải phóng chính mình là cuộc cách mạng khó, đòi hỏi mỗi người, mà trước hết là những cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng, rèn giũa, tự chủ vươn lên và tự hoàn thiện mình để xứng đáng với quyền con người màmình được hưởng Để làm được điều đó, Hồ Chí Minh
nhấn mạnh đến đức và tài Chỉ có những người đủ đức
và tài mới có thể hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giaophó và hoàn thành nhiệm vụ giải phóng chính mình
Trong đó, đức là cội nguồn sức mạnh, giúp con người vượt
qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành trách nhiệm
Trang 26tộc bị áp bức Từ đó, Hồ Chí Minh đi đến khẳng định:
“Tự do độc lập là quyền trời cho của mỗi dân tộc”1 và
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”2 Với Hồ Chí Minh,
đấu tranh cho độc lập và tự do là “lý tưởng cao quý
nhất của loài người”3
Về phương thức thực hiện: Để quyền con người có
thể thực thi ở một nước thuộc địa, với Hồ Chí Minh, là
phải sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đuổi chế độ
áp bức, bóc lột con người Người cho rằng, trong cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc, cần dùng bạo lực cách
mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, phải giành
lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền đó Con đường
cách mạng chuyên chính vô sản dưới ánh sáng của
chủ nghĩa Mác - Lênin và sự giúp đỡ của bạn bè quốc
tế là con đường cách mạng được Hồ Chí Minh lựa
chọn Tuy nhiên, gốc rễ của cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc được Hồ Chí Minh nhấn mạnh: con
người phải tự giải phóng mình Một xã hội chỉ thực sự
được giải phóng, một dân tộc thực sự độc lập, và
quyền con người thực sự được thực thi khi con người
vừa là chủ thể của công cuộc giải phóng, vừa là đối
tượng trực tiếp xây dựng, xác lập và thực thi quyền
lợi cho chính bản thân mình
vụ Có như vậy mới có thể lãnh đạo nhân dân, để họ phát huy hết năng lực, góp phần vào sự nghiệp cáchmạng nước nhà
Tiến hành cuộc cách mạng trong xã hội để giành độc lập dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp,
Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến cuộc cách mạng giảiphóng con người, mà trước hết là giải phóng chính mình Giải phóng chính mình là cuộc cách mạng khó, đòi hỏi mỗi người, mà trước hết là những cán bộ, đảng viên phải tu dưỡng, rèn giũa, tự chủ vươn lên và tự hoàn thiện mình để xứng đáng với quyền con người màmình được hưởng Để làm được điều đó, Hồ Chí Minh
nhấn mạnh đến đức và tài Chỉ có những người đủ đức
và tài mới có thể hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giaophó và hoàn thành nhiệm vụ giải phóng chính mình
Trong đó, đức là cội nguồn sức mạnh, giúp con người vượt
qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành trách nhiệm
Trang 27nặng nề, thậm chí sẵn sàng hy sinh bản thân mình để
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Tài của người cán
bộ, đảng viên là năng lực, trình độ chuyên môn, là
phương pháp tư duy hành động Để lôi kéo quần chúng
làm cách mạng xã hội, cách mạng trong chính mình thì
người cán bộ đảng viên phải có đủ đức và tài Với ý
nghĩa như vậy, cách mạng xã hội chủ nghĩa chính là
cuộc cách mạng trong chính bản thân mình
Hồ Chí Minh còn cho rằng, quyền con người gắn với
quốc gia độc lập, nền chính trị dân chủ, pháp luật văn
minh, trên nền tảng của sự phát triển toàn diện về kinh
tế, văn hóa, xã hội, trong đó, cái gốc chính là sự phát
triển con người một cách toàn diện
c) Khái niệm giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về
quyền con người
Hiện nay, quan niệm về khái niệm giá trị vẫn còn
nhiều tranh cãi và còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng
tựu trung lại có ba loại ý kiến:
- Loại ý kiến thứ nhất, giá trị là cái làm cho một vật
có ích lợi, có ý nghĩa, là đáng quý về một mặt nào đó,
tác dụng, hiệu lực, lao động xã hội của những người sản
xuất hàng hóa kết tinh trong sản phẩm hàng hóa, có
nghĩa là giá trị là cái làm nên lợi ích của sự vật, hiện
tượng, cái thuộc về bản thân sự vật, hiện tượng
- Loại ý kiến thứ hai, giá trị là một khái niệm trừu
tượng, là ý nghĩa của sự vật trên phương diện phù hợp
với nhu cầu của con người Các sự vật có khả năng thỏamãn nhu cầu con người ở dạng đơn lẻ, riêng biệt, nhưnggiá trị của chúng được liên kết lại thành hệ thống thông qua sự tương tác của các nhu cầu chính yếu nói trên
- Loại ý kiến thứ ba, giá trị là tổng hòa giữa cái
thuộc tính bên trong làm nên lợi ích của sự vật và ýnghĩa của sự vật trên phương diện phù hợp với nhu cầucủa con người
Tác giả thống nhất với loại ý kiến thứ ba, cho rằng,
giá trị là tổng hòa giữa cái làm nên lợi ích và cái làm nên ý nghĩa của sự vật, hiện tượng
Từ đó, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con
người là khái niệm để chỉ tính đúng đắn và ý nghĩa của
hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc của Hồ ChíMinh về nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan
mà con người xứng đáng được hưởng, được bảo đảm,được thực thi bằng pháp luật Việt Nam, phù hợp vớithực tiễn Việt Nam và các chuẩn mực quốc tế Nói cách khác, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
là tính đúng đắn và ý nghĩa của hệ thống những quan điểm của Hồ Chí Minh về quyền con người, phản ánh sự trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và sự phù hợpvới chuẩn mực Việt Nam và quốc tế về quyền con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người nói riêng là tài sản tinh thần
vô giá của dân tộc Việt Nam Giải phóng con người - dân tộc, đến giải phóng con người - giai cấp và cao nhất
là giải phóng con người - nhân loại kết tinh thành giá
Trang 28nặng nề, thậm chí sẵn sàng hy sinh bản thân mình để
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Tài của người cán
bộ, đảng viên là năng lực, trình độ chuyên môn, là
phương pháp tư duy hành động Để lôi kéo quần chúng
làm cách mạng xã hội, cách mạng trong chính mình thì
người cán bộ đảng viên phải có đủ đức và tài Với ý
nghĩa như vậy, cách mạng xã hội chủ nghĩa chính là
cuộc cách mạng trong chính bản thân mình
Hồ Chí Minh còn cho rằng, quyền con người gắn với
quốc gia độc lập, nền chính trị dân chủ, pháp luật văn
minh, trên nền tảng của sự phát triển toàn diện về kinh
tế, văn hóa, xã hội, trong đó, cái gốc chính là sự phát
triển con người một cách toàn diện
c) Khái niệm giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về
quyền con người
Hiện nay, quan niệm về khái niệm giá trị vẫn còn
nhiều tranh cãi và còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng
tựu trung lại có ba loại ý kiến:
- Loại ý kiến thứ nhất, giá trị là cái làm cho một vật
có ích lợi, có ý nghĩa, là đáng quý về một mặt nào đó,
tác dụng, hiệu lực, lao động xã hội của những người sản
xuất hàng hóa kết tinh trong sản phẩm hàng hóa, có
nghĩa là giá trị là cái làm nên lợi ích của sự vật, hiện
tượng, cái thuộc về bản thân sự vật, hiện tượng
- Loại ý kiến thứ hai, giá trị là một khái niệm trừu
tượng, là ý nghĩa của sự vật trên phương diện phù hợp
với nhu cầu của con người Các sự vật có khả năng thỏamãn nhu cầu con người ở dạng đơn lẻ, riêng biệt, nhưnggiá trị của chúng được liên kết lại thành hệ thống thông qua sự tương tác của các nhu cầu chính yếu nói trên
- Loại ý kiến thứ ba, giá trị là tổng hòa giữa cái
thuộc tính bên trong làm nên lợi ích của sự vật và ýnghĩa của sự vật trên phương diện phù hợp với nhu cầucủa con người
Tác giả thống nhất với loại ý kiến thứ ba, cho rằng,
giá trị là tổng hòa giữa cái làm nên lợi ích và cái làm nên ý nghĩa của sự vật, hiện tượng
Từ đó, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con
người là khái niệm để chỉ tính đúng đắn và ý nghĩa của
hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc của Hồ ChíMinh về nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan
mà con người xứng đáng được hưởng, được bảo đảm,được thực thi bằng pháp luật Việt Nam, phù hợp vớithực tiễn Việt Nam và các chuẩn mực quốc tế Nói cách khác, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
là tính đúng đắn và ý nghĩa của hệ thống những quan điểm của Hồ Chí Minh về quyền con người, phản ánh sự trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và sự phù hợpvới chuẩn mực Việt Nam và quốc tế về quyền con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người nói riêng là tài sản tinh thần
vô giá của dân tộc Việt Nam Giải phóng con người - dân tộc, đến giải phóng con người - giai cấp và cao nhất
là giải phóng con người - nhân loại kết tinh thành giá
Trang 29trị tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người Giá trị
tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người đã khẳng
định trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, nó còn
nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã
hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh của nhân dân ta ngày nay
Đồng thời, nghiên cứu giá trị tư tưởng đó còn cho thấy
sự đóng góp vô giá của tư tưởng Hồ Chí Minh về
quyền con người vào việc phát triển tư tưởng nhân
quyền của nhân loại
2 Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh về quyền con người
a) Hình thành các quan niệm đầu tiên của
Hồ Chí Minh về quyền con người
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt
Nam Sự chống trả yếu ớt của triều đình phong kiến Việt
Nam đã không gây ra nhiều khó khăn cho mục đích xâm
lược của thực dân Pháp Việt Nam trở thành một quốc
gia mất chủ quyền Ách thống trị của thực dân Pháp,
phong kiến tay sai đè nặng lên dân tộc Việt Nam Nhiều
phong trào khởi nghĩa của các tầng lớp nhân dân yêu
nước Việt Nam đã nổ ra, nhưng lần lượt đều thất bại
Hồ Chí Minh sinh ra trong hoàn cảnh nước Việt Nam đã
là một nước thuộc địa nửa phong kiến
Khi niên thiếu, Nguyễn Tất Thành đã tận mắt
chứng kiến những nghịch cảnh trong xã hội đương thời,
xã hội mà ở đó những người dân thuộc địa tuy khác nhau ít nhiều về địa vị xã hội, nhưng đều có chung mộtthân phận - thân phận của người dân mất nước, củacon người mất tự do, nhiều người bị tra tấn, bị chà đạp,
bị áp bức bởi một số người khác Những người đi phu cho các đồn điền của Pháp không được đối xử như những con người, ăn uống kham khổ, không trạm nghỉ chân, chết vì kiệt sức trên đường không có manh chiếuchôn thân, v.v Hiện thực ấy đã làm xuất hiện và nuôidưỡng những trăn trở của Nguyễn Tất Thành về bảnchất của chế độ thuộc địa
Năm 1905, Nguyễn Tất Thành theo học lớp dự bị của Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh Tại môi trường này, lần đầu tiên Người biết đến khẩu hiệu: Tự do -Bình đẳng - Bác ái Sau này, Người đã kể lại: Khi tôi độ
13 tuổi, lần đầu tiên tôi đã được nghe ba chữ Pháp: tự
do - bình đẳng - bác ái Và thuở ấy, tôi rất muốn làmquen với nền văn minh Pháp
Trong 2 năm (1906-1907), Nguyễn Tất Thành đãtheo học hai ngôi trường: Trường Tiểu học Pháp - ViệtĐông Ba ở Huế (9/1906) và Trường Quốc học Huế (9/1907) Tại Trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thànhđược tiếp xúc nhiều hơn với khẩu hiệu tự do - bình đẳng - bác ái, khẩu hiệu này đều được treo ở mỗi lớp học trong trường Những trăn trở của Nguyễn Tất Thành đã trở nên rõ ràng hơn: những điều mà mắt thấy, tai nghetrong xã hội lúc bấy giờ hoàn toàn trái ngược với những
Trang 30trị tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người Giá trị
tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người đã khẳng
định trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, nó còn
nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã
hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh của nhân dân ta ngày nay
Đồng thời, nghiên cứu giá trị tư tưởng đó còn cho thấy
sự đóng góp vô giá của tư tưởng Hồ Chí Minh về
quyền con người vào việc phát triển tư tưởng nhân
quyền của nhân loại
2 Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh về quyền con người
a) Hình thành các quan niệm đầu tiên của
Hồ Chí Minh về quyền con người
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt
Nam Sự chống trả yếu ớt của triều đình phong kiến Việt
Nam đã không gây ra nhiều khó khăn cho mục đích xâm
lược của thực dân Pháp Việt Nam trở thành một quốc
gia mất chủ quyền Ách thống trị của thực dân Pháp,
phong kiến tay sai đè nặng lên dân tộc Việt Nam Nhiều
phong trào khởi nghĩa của các tầng lớp nhân dân yêu
nước Việt Nam đã nổ ra, nhưng lần lượt đều thất bại
Hồ Chí Minh sinh ra trong hoàn cảnh nước Việt Nam đã
là một nước thuộc địa nửa phong kiến
Khi niên thiếu, Nguyễn Tất Thành đã tận mắt
chứng kiến những nghịch cảnh trong xã hội đương thời,
xã hội mà ở đó những người dân thuộc địa tuy khác nhau ít nhiều về địa vị xã hội, nhưng đều có chung mộtthân phận - thân phận của người dân mất nước, củacon người mất tự do, nhiều người bị tra tấn, bị chà đạp,
bị áp bức bởi một số người khác Những người đi phu cho các đồn điền của Pháp không được đối xử như những con người, ăn uống kham khổ, không trạm nghỉ chân, chết vì kiệt sức trên đường không có manh chiếuchôn thân, v.v Hiện thực ấy đã làm xuất hiện và nuôidưỡng những trăn trở của Nguyễn Tất Thành về bảnchất của chế độ thuộc địa
Năm 1905, Nguyễn Tất Thành theo học lớp dự bị của Trường Tiểu học Pháp - Việt ở Vinh Tại môi trường này, lần đầu tiên Người biết đến khẩu hiệu: Tự do -Bình đẳng - Bác ái Sau này, Người đã kể lại: Khi tôi độ
13 tuổi, lần đầu tiên tôi đã được nghe ba chữ Pháp: tự
do - bình đẳng - bác ái Và thuở ấy, tôi rất muốn làmquen với nền văn minh Pháp
Trong 2 năm (1906-1907), Nguyễn Tất Thành đãtheo học hai ngôi trường: Trường Tiểu học Pháp - ViệtĐông Ba ở Huế (9/1906) và Trường Quốc học Huế (9/1907) Tại Trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thànhđược tiếp xúc nhiều hơn với khẩu hiệu tự do - bình đẳng - bác ái, khẩu hiệu này đều được treo ở mỗi lớp học trong trường Những trăn trở của Nguyễn Tất Thành đã trở nên rõ ràng hơn: những điều mà mắt thấy, tai nghetrong xã hội lúc bấy giờ hoàn toàn trái ngược với những
Trang 31khẩu hiệu trong Trường Quốc học Huế Thực dân Pháp
không đúng như những lời lẽ hoa mỹ, mị dân của họ
Nhưng bản chất thật sự của người Pháp là gì? Những
câu hỏi đó đã thôi thúc bước chân của người thanh niên
Nguyễn Tất Thành, phải đi, phải tìm ra được bản chất
của chủ nghĩa thực dân Nhưng tìm ở đâu? Chắc chắn
không thể ở các thuộc địa, vì thuộc địa chỉ là hình thức
thể hiện của thực dân Vậy là, chỉ có thể ở nơi duy nhất -
quê hương của thực dân Việc tìm hiểu bản chất của chủ
nghĩa thực dân đóng vai trò quan trọng bậc nhất, phải
hiểu thực dân mới có thể đánh đuổi được thực dân ở Việt
Nam và các nước thuộc địa
Tháng 6/1909, Nguyễn Tất Thành theo cha vào
Nam Ngày 05/6/1911, Người rời bến cảng Sài Gòn lên
đường sang Pháp Khoảng thời gian từ năm 1911-1917
là khoảng thời gian mà Người đặt chân lên Pháp, Mỹ,
Anh và một số nước thuộc địa Trên hành trình của con
tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin, Nguyễn Tất Thành làm
phụ bếp cho tàu, dừng chân ở cảng Mácxây, cảng Lơ
Havrơ Tháng 5/1912, Nguyễn Tất Thành làm thuê cho
chiếc tàu mang tên Sácgiơ Rêuyni để được đi vòng
quanh châu Phi, trên chuyến đi, tàu đã dừng ở Tây
Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi, Cônggô,
Xênêgan, v.v Người đã chứng kiến những cảnh tượng
hung ác, vô nhân đạo của thực dân đối với người da
đen Cảnh tượng đầu tiên Nguyễn Tất Thành chứng
kiến khi đến Đaca là: Bể nổi sóng rất dữ Tàu không
thể vào bờ Cũng không thể thả canô xuống vì sóng rất
to Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi ra chiếc tàu Một, hai, ba, bốnngười da đen nhảy xuống nước Người này đến ngườikia, họ bị sóng bể cuốn đi Đi đến đâu, Người cũng bắtgặp người nghèo khổ Những người, những cảnh tượng
mà Hồ Chí Minh thấy nhiều, nước nào cũng có, đó là cảnh người lao động bị bóc lột dã man, đối xử tàn bạodưới ách thống trị của chủ nghĩa tư bản, của thực dân.Đau xót chứng kiến những cảnh tượng ấy, Nguyễn TấtThành liên tưởng đến thân phận của người Việt Nam ở nước nhà: “Ở đâu chúng nó cũng thế Đối với bọn thựcdân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu”1 Cuối năm 1912, theo chuyến tàu, Nguyễn Tất Thành sang Mỹ Tại Mỹ,Người làm thuê kiếm sống để tìm hiểu đời sống củanhững người lao động, với thân phận làm thuê, lương tháng 40 đôla Đến Harlem, chứng kiến cảnh phân biệtchủng tộc của người da trắng đối với người da đen,Nguyễn Tất Thành đã tham gia tích cực vào cuộc đấutranh chống phân biệt chủng tộc Nhận ra bản chấtcủa dân chủ, nhân quyền kiểu Mỹ, đến thành phố NewYork, thăm tượng Nữ thần tự do, Người đã để lạinhững dòng cảm tưởng thể hiện rõ tư tưởng về quyền _
1 Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của
Hồ Chủ tịch, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001, tr.25.
Trang 32khẩu hiệu trong Trường Quốc học Huế Thực dân Pháp
không đúng như những lời lẽ hoa mỹ, mị dân của họ
Nhưng bản chất thật sự của người Pháp là gì? Những
câu hỏi đó đã thôi thúc bước chân của người thanh niên
Nguyễn Tất Thành, phải đi, phải tìm ra được bản chất
của chủ nghĩa thực dân Nhưng tìm ở đâu? Chắc chắn
không thể ở các thuộc địa, vì thuộc địa chỉ là hình thức
thể hiện của thực dân Vậy là, chỉ có thể ở nơi duy nhất -
quê hương của thực dân Việc tìm hiểu bản chất của chủ
nghĩa thực dân đóng vai trò quan trọng bậc nhất, phải
hiểu thực dân mới có thể đánh đuổi được thực dân ở Việt
Nam và các nước thuộc địa
Tháng 6/1909, Nguyễn Tất Thành theo cha vào
Nam Ngày 05/6/1911, Người rời bến cảng Sài Gòn lên
đường sang Pháp Khoảng thời gian từ năm 1911-1917
là khoảng thời gian mà Người đặt chân lên Pháp, Mỹ,
Anh và một số nước thuộc địa Trên hành trình của con
tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin, Nguyễn Tất Thành làm
phụ bếp cho tàu, dừng chân ở cảng Mácxây, cảng Lơ
Havrơ Tháng 5/1912, Nguyễn Tất Thành làm thuê cho
chiếc tàu mang tên Sácgiơ Rêuyni để được đi vòng
quanh châu Phi, trên chuyến đi, tàu đã dừng ở Tây
Ban Nha, Bồ Đào Nha, Angiêri, Tuynidi, Cônggô,
Xênêgan, v.v Người đã chứng kiến những cảnh tượng
hung ác, vô nhân đạo của thực dân đối với người da
đen Cảnh tượng đầu tiên Nguyễn Tất Thành chứng
kiến khi đến Đaca là: Bể nổi sóng rất dữ Tàu không
thể vào bờ Cũng không thể thả canô xuống vì sóng rất
to Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi ra chiếc tàu Một, hai, ba, bốnngười da đen nhảy xuống nước Người này đến ngườikia, họ bị sóng bể cuốn đi Đi đến đâu, Người cũng bắtgặp người nghèo khổ Những người, những cảnh tượng
mà Hồ Chí Minh thấy nhiều, nước nào cũng có, đó là cảnh người lao động bị bóc lột dã man, đối xử tàn bạodưới ách thống trị của chủ nghĩa tư bản, của thực dân.Đau xót chứng kiến những cảnh tượng ấy, Nguyễn TấtThành liên tưởng đến thân phận của người Việt Nam ở nước nhà: “Ở đâu chúng nó cũng thế Đối với bọn thựcdân, tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu”1 Cuối năm 1912, theo chuyến tàu, Nguyễn Tất Thành sang Mỹ Tại Mỹ,Người làm thuê kiếm sống để tìm hiểu đời sống củanhững người lao động, với thân phận làm thuê, lương tháng 40 đôla Đến Harlem, chứng kiến cảnh phân biệtchủng tộc của người da trắng đối với người da đen,Nguyễn Tất Thành đã tham gia tích cực vào cuộc đấutranh chống phân biệt chủng tộc Nhận ra bản chấtcủa dân chủ, nhân quyền kiểu Mỹ, đến thành phố NewYork, thăm tượng Nữ thần tự do, Người đã để lạinhững dòng cảm tưởng thể hiện rõ tư tưởng về quyền _
1 Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của
Hồ Chủ tịch, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001, tr.25.
Trang 33con người, đặc biệt là quyền của những nhóm người
yếu thế Nhà sử học J Stendo đã cho chúng ta biết nội
dung của những dòng cảm tưởng này như sau: Ánh
sáng trên đầu Thần tự do rộng khắp trời xanh, còn
dưới chân Thần tự do thì người da đen đang bị chà
đạp Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da
trắng? Bao giờ phụ nữ được bình đẳng với nam giới?
Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành nhìn xuống chân
tượng thần tự do và ghi lại ý kiến trên1 Có thể thấy,
từ trước khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, với lòng
nhân ái sâu sắc, những nhận thức cơ bản và rất đúng
đắn đầu tiên của Hồ Chí Minh về quyền con người đã
hình thành
Đầu năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời Mỹ, về qua
Pháp, rồi đến Anh Tại đây, Nguyễn Tất Thành tích
cực tham gia những cuộc diễn thuyết chính trị, triết
học của nhiều chính trị gia, triết gia Người tham gia
vào Hội những người lao động ở hải ngoại, chứng kiến
sự hy sinh bất khuất của thị trưởng thành phố Coóc
vì nền độc lập của Ailen, tinh thần đấu tranh cho độc
lập dân tộc để giành quyền làm chủ cho nhân dân
Việt Nam trong Nguyễn Tất Thành càng có thêm
động lực
_
1 Dẫn theo Trần Đình Huỳnh, Hoàng Chí Bảo, Đặng Quốc
Bảo: Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân
văn hóa thế giới, Nxb Hà Nội, 2013
Cuối năm 1917, trong lúc Chiến tranh thế giới thứ nhất đang diễn ra, tình hình Đông Dương có nhữngbiến động nhất định, Nguyễn Ái Quốc - Nguyễn TấtThành đã từ Anh trở lại Pháp, sống và hoạt động trongkhoảng thời gian 1917-1923 Tại đây, Người làm thuê,viết báo, phát truyền đơn, v.v., và cũng tại nước Pháp,Nguyễn Ái Quốc đã tìm hiểu về nước Nga, về V.I Lêninvới tư cách là người lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sáng lập nên nhà nướccông nông đầu tiên trên thế giới - nhà nước bảo vệ cho quyền lợi của đại đa số nhân dân lao động
Tháng 11/1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kếtthúc Đầu năm 1919, các nước thắng trận họp Hộinghị ở Vécxây (Pháp) Thay mặt những người ViệtNam yêu nước, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người đã
gửi tới Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam
gồm 8 điểm, phản ánh những quyền cơ bản của conngười, như quyền ân xá cho tù nhân chính trị, quyềnbảo đảm về pháp luật, quyền tự do báo chí và tự dongôn luận, quyền lập hội và hội họp, quyền tự do cư trú ở nước ngoài, quyền tự do học hành, v.v Lần đầutiên, tiếng nói chính nghĩa về quyền con người đượcthành văn trước diễn đàn quốc tế Tiếng nói ấy thể hiện khát vọng chính đáng của toàn thể dân tộc ViệtNam, một dân tộc thuộc địa đang bị nô dịch, một dântộc đang bị tước mất quyền con người Bản yêu sách
là cột mốc quan trọng đầu tiên trong quá trình hình
Trang 34con người, đặc biệt là quyền của những nhóm người
yếu thế Nhà sử học J Stendo đã cho chúng ta biết nội
dung của những dòng cảm tưởng này như sau: Ánh
sáng trên đầu Thần tự do rộng khắp trời xanh, còn
dưới chân Thần tự do thì người da đen đang bị chà
đạp Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da
trắng? Bao giờ phụ nữ được bình đẳng với nam giới?
Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành nhìn xuống chân
tượng thần tự do và ghi lại ý kiến trên1 Có thể thấy,
từ trước khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, với lòng
nhân ái sâu sắc, những nhận thức cơ bản và rất đúng
đắn đầu tiên của Hồ Chí Minh về quyền con người đã
hình thành
Đầu năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời Mỹ, về qua
Pháp, rồi đến Anh Tại đây, Nguyễn Tất Thành tích
cực tham gia những cuộc diễn thuyết chính trị, triết
học của nhiều chính trị gia, triết gia Người tham gia
vào Hội những người lao động ở hải ngoại, chứng kiến
sự hy sinh bất khuất của thị trưởng thành phố Coóc
vì nền độc lập của Ailen, tinh thần đấu tranh cho độc
lập dân tộc để giành quyền làm chủ cho nhân dân
Việt Nam trong Nguyễn Tất Thành càng có thêm
động lực
_
1 Dẫn theo Trần Đình Huỳnh, Hoàng Chí Bảo, Đặng Quốc
Bảo: Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân
văn hóa thế giới, Nxb Hà Nội, 2013
Cuối năm 1917, trong lúc Chiến tranh thế giới thứ nhất đang diễn ra, tình hình Đông Dương có nhữngbiến động nhất định, Nguyễn Ái Quốc - Nguyễn TấtThành đã từ Anh trở lại Pháp, sống và hoạt động trongkhoảng thời gian 1917-1923 Tại đây, Người làm thuê,viết báo, phát truyền đơn, v.v., và cũng tại nước Pháp,Nguyễn Ái Quốc đã tìm hiểu về nước Nga, về V.I Lêninvới tư cách là người lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và sáng lập nên nhà nướccông nông đầu tiên trên thế giới - nhà nước bảo vệ cho quyền lợi của đại đa số nhân dân lao động
Tháng 11/1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất kếtthúc Đầu năm 1919, các nước thắng trận họp Hộinghị ở Vécxây (Pháp) Thay mặt những người ViệtNam yêu nước, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người đã
gửi tới Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam
gồm 8 điểm, phản ánh những quyền cơ bản của conngười, như quyền ân xá cho tù nhân chính trị, quyềnbảo đảm về pháp luật, quyền tự do báo chí và tự dongôn luận, quyền lập hội và hội họp, quyền tự do cư trú ở nước ngoài, quyền tự do học hành, v.v Lần đầutiên, tiếng nói chính nghĩa về quyền con người đượcthành văn trước diễn đàn quốc tế Tiếng nói ấy thể hiện khát vọng chính đáng của toàn thể dân tộc ViệtNam, một dân tộc thuộc địa đang bị nô dịch, một dântộc đang bị tước mất quyền con người Bản yêu sách
là cột mốc quan trọng đầu tiên trong quá trình hình
Trang 35thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền
con người Mặc dù bản yêu sách không được chấp
nhận, nhưng thực dân Pháp ở Paris lồng lộn tức tối
và chúng âm mưu trả đũa bằng việc tiếp tục đàn áp
người dân thuộc địa Chỉ sau đó vài tháng, trên tờ báo
bản địa Courrier Colonial số ra ngày 27/6/1919 đã
đăng tải bài “GIỜ PHÚT NGHIÊM TRỌNG” của
Camilơ Đơvila để chỉ trích bản yêu sách, với những
phát ngôn bất chấp chính nghĩa: “Làm sao một người
dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân
dân để công kích Chính phủ Pháp Thật là quá quắt
Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang
hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông
chủ của chúng ta Không được, phải kìm giữ chúng
mãi mãi trong vòng nô lệ”1 Vậy là, trong suy nghĩ và
hành động của thực dân, người dân thuộc địa chỉ là
nô lệ, không được coi như con người, thực dân đã bộc
lộ bản chất của chính mình Mặc dù những điều trong
bản yêu sách không được chấp nhận, nhưng đó là hồi
chuông cảnh báo tới chủ nghĩa đế quốc rằng, dân tộc
Việt Nam dù đang bị chìm trong ách áp bức, nô lệ của
thực dân nhưng là một dân tộc bất khuất, một dân tộc
không chịu khuất phục trước sức mạnh phi nghĩa của
thực dân Dân tộc đó sẽ đấu tranh để đòi lại quyền
độc lập, tự do cho mình
_
1 Dẫn theo Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.523
Khoảng đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã gia nhập Đảng Xã hội Pháp - chính đảng lớn nhất ở Pháplúc bấy giờ, mà hoạt động của tổ chức này lấy lý tưởng
Tự do - Bình đẳng - Bác ái của đại cách mạng Pháplàm tôn chỉ Đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vựccho quyền lợi của các dân tộc bị áp bức, trong đó có Việt Nam Ở tổ chức này, Nguyễn Ái Quốc đã có dịpgần gũi và hoạt động cùng với các nhà hoạt động chính trị như Mácxen Casanh, Raymông Lơphevrơ, GaxtôngMôngmútxô, v.v Nguyễn Ái Quốc đã tham gia tích cựctrong Ủy ban Quốc tế III của Đảng Xã hội Pháp Tháng3/1919, V.I Lênin và những người theo chủ nghĩa Mácủng hộ lập trường của Lênin họp đại hội ở Mátxcơva,thành lập Quốc tế III - Quốc tế Cộng sản với tôn chỉ là kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc thuộcđịa Tổ chức này ra đời đã củng cố niềm tin vững chắccho các dân tộc đang mất quyền tự do Cũng trong năm
1919, Nguyễn Ái Quốc đã viết bài Tâm địa thực dân, Vấn đề dân bản xứ, v.v nhằm phản ánh tình trạng vi
phạm quyền con người của chủ nghĩa thực dân ở cácnước thuộc địa
Tóm lại, giai đoạn từ năm 1920 trở về trước, mặc dùchưa đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng với vốn trithức Đông, Tây, cổ, kim sâu sắc, với kinh nghiệm hoạtđộng thực tiễn phong phú, và đặc biệt với trái tim nhân
ái và tình yêu thương con người, nhất là với nhữngngười bản xứ, người cùng khổ, ở Nguyễn Tất Thành -
Trang 36thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền
con người Mặc dù bản yêu sách không được chấp
nhận, nhưng thực dân Pháp ở Paris lồng lộn tức tối
và chúng âm mưu trả đũa bằng việc tiếp tục đàn áp
người dân thuộc địa Chỉ sau đó vài tháng, trên tờ báo
bản địa Courrier Colonial số ra ngày 27/6/1919 đã
đăng tải bài “GIỜ PHÚT NGHIÊM TRỌNG” của
Camilơ Đơvila để chỉ trích bản yêu sách, với những
phát ngôn bất chấp chính nghĩa: “Làm sao một người
dân thuộc địa lại có thể dùng bản yêu sách của nhân
dân để công kích Chính phủ Pháp Thật là quá quắt
Cứ theo đà này thì bọn dân thuộc địa sẽ lên ngang
hàng với người Pháp chúng ta và sớm trở thành ông
chủ của chúng ta Không được, phải kìm giữ chúng
mãi mãi trong vòng nô lệ”1 Vậy là, trong suy nghĩ và
hành động của thực dân, người dân thuộc địa chỉ là
nô lệ, không được coi như con người, thực dân đã bộc
lộ bản chất của chính mình Mặc dù những điều trong
bản yêu sách không được chấp nhận, nhưng đó là hồi
chuông cảnh báo tới chủ nghĩa đế quốc rằng, dân tộc
Việt Nam dù đang bị chìm trong ách áp bức, nô lệ của
thực dân nhưng là một dân tộc bất khuất, một dân tộc
không chịu khuất phục trước sức mạnh phi nghĩa của
thực dân Dân tộc đó sẽ đấu tranh để đòi lại quyền
độc lập, tự do cho mình
_
1 Dẫn theo Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.523
Khoảng đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã gia nhập Đảng Xã hội Pháp - chính đảng lớn nhất ở Pháplúc bấy giờ, mà hoạt động của tổ chức này lấy lý tưởng
Tự do - Bình đẳng - Bác ái của đại cách mạng Pháplàm tôn chỉ Đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vựccho quyền lợi của các dân tộc bị áp bức, trong đó có Việt Nam Ở tổ chức này, Nguyễn Ái Quốc đã có dịpgần gũi và hoạt động cùng với các nhà hoạt động chính trị như Mácxen Casanh, Raymông Lơphevrơ, GaxtôngMôngmútxô, v.v Nguyễn Ái Quốc đã tham gia tích cựctrong Ủy ban Quốc tế III của Đảng Xã hội Pháp Tháng3/1919, V.I Lênin và những người theo chủ nghĩa Mácủng hộ lập trường của Lênin họp đại hội ở Mátxcơva,thành lập Quốc tế III - Quốc tế Cộng sản với tôn chỉ là kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc thuộcđịa Tổ chức này ra đời đã củng cố niềm tin vững chắccho các dân tộc đang mất quyền tự do Cũng trong năm
1919, Nguyễn Ái Quốc đã viết bài Tâm địa thực dân, Vấn đề dân bản xứ, v.v nhằm phản ánh tình trạng vi
phạm quyền con người của chủ nghĩa thực dân ở cácnước thuộc địa
Tóm lại, giai đoạn từ năm 1920 trở về trước, mặc dùchưa đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng với vốn trithức Đông, Tây, cổ, kim sâu sắc, với kinh nghiệm hoạtđộng thực tiễn phong phú, và đặc biệt với trái tim nhân
ái và tình yêu thương con người, nhất là với nhữngngười bản xứ, người cùng khổ, ở Nguyễn Tất Thành -
Trang 37Nguyễn Ái Quốc đã hình thành nên những quan điểm
đầu tiên, tuy còn chưa hệ thống, nhưng đã rất đúng
đắn, về quyền con người - bao gồm cả những quyền
thiêng liêng nhất mà con người, không phân biệt dân
tộc, giai cấp, màu da, một khi đã sinh ra trên đời đều
được hưởng dụng, tôn trọng, bảo vệ; và cả những quyền
chính trị - xã hội, mà với tư cách là công dân của những
quốc gia, con người cũng cần được hưởng dụng, tôn
trọng, bảo vệ Chính sự hình thành những quan điểm
đầu tiên này là điều kiện hết sức quan trọng để đưa
Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm
thấy ở đó một thế giới quan mới đủ sức lý giải một cách
khoa học về quyền con người và vạch ra con đường đấu
tranh đầy tính hiện thực và khoa học để giành lại và
thực hiện một cách đầy đủ, toàn diện những quyền của
con người
b) Thời kỳ định hình những nhận thức mang
tính khoa học, cách mạng và nhân văn trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Có thể khẳng định, giai đoạn 1920-1945 là giai
đoạn quan trọng nhất, hình thành những nhận thức
mang tính khoa học, cách mạng và nhân văn trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Khi còn ở Pháp, những thông tin về V.I Lênin và
thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã
khích lệ niềm tin cho Nguyễn Ái Quốc về công lý và
chính nghĩa Nhưng vẫn chưa hình thành thế giới quanmột cách rõ ràng, vì thực tế Nguyễn Ái Quốc chưa tiếpcận trực diện những tác phẩm của V.I Lênin, cho đến
năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, trên báo Nhân đạo Sau này Người có thuật
lại tâm trạng của mình: “Luận cương của Lênin làm chotôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao!Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trongbuồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúngđông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cáicần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!””1 Từ đây, thế giới quan của Hồ Chí Minh đãđược định hình dưới ánh sáng tư tưởng của Quốc tế III,của V.I Lênin
Cuối năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lầnthứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours, bỏ phiếu tán thành việc Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) và trở thành một trong những ngườisáng lập Đảng Cộng sản Pháp Trên diễn đàn các đại hội, Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương, kêu gọi giai cấp công nhân, nhân dân Phápyêu chuộng hòa bình ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dânViệt Nam và nhân dân các nước thuộc địa chống lại áchthực dân, giải phóng cho dân tộc mình
_
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.562.
Trang 38Nguyễn Ái Quốc đã hình thành nên những quan điểm
đầu tiên, tuy còn chưa hệ thống, nhưng đã rất đúng
đắn, về quyền con người - bao gồm cả những quyền
thiêng liêng nhất mà con người, không phân biệt dân
tộc, giai cấp, màu da, một khi đã sinh ra trên đời đều
được hưởng dụng, tôn trọng, bảo vệ; và cả những quyền
chính trị - xã hội, mà với tư cách là công dân của những
quốc gia, con người cũng cần được hưởng dụng, tôn
trọng, bảo vệ Chính sự hình thành những quan điểm
đầu tiên này là điều kiện hết sức quan trọng để đưa
Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm
thấy ở đó một thế giới quan mới đủ sức lý giải một cách
khoa học về quyền con người và vạch ra con đường đấu
tranh đầy tính hiện thực và khoa học để giành lại và
thực hiện một cách đầy đủ, toàn diện những quyền của
con người
b) Thời kỳ định hình những nhận thức mang
tính khoa học, cách mạng và nhân văn trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Có thể khẳng định, giai đoạn 1920-1945 là giai
đoạn quan trọng nhất, hình thành những nhận thức
mang tính khoa học, cách mạng và nhân văn trong tư
tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
Khi còn ở Pháp, những thông tin về V.I Lênin và
thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã
khích lệ niềm tin cho Nguyễn Ái Quốc về công lý và
chính nghĩa Nhưng vẫn chưa hình thành thế giới quanmột cách rõ ràng, vì thực tế Nguyễn Ái Quốc chưa tiếpcận trực diện những tác phẩm của V.I Lênin, cho đến
năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, trên báo Nhân đạo Sau này Người có thuật
lại tâm trạng của mình: “Luận cương của Lênin làm chotôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao!Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trongbuồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúngđông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cáicần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!””1 Từ đây, thế giới quan của Hồ Chí Minh đãđược định hình dưới ánh sáng tư tưởng của Quốc tế III,của V.I Lênin
Cuối năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lầnthứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tours, bỏ phiếu tán thành việc Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) và trở thành một trong những ngườisáng lập Đảng Cộng sản Pháp Trên diễn đàn các đại hội, Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương, kêu gọi giai cấp công nhân, nhân dân Phápyêu chuộng hòa bình ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dânViệt Nam và nhân dân các nước thuộc địa chống lại áchthực dân, giải phóng cho dân tộc mình
_
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.562.
Trang 39Trong khoảng thời gian từ năm 1921 đến năm 1927,
Nguyễn Ái Quốc hoạt động chủ yếu ở ba nước Pháp,
Liên Xô và Trung Quốc Từ thực tiễn phong trào yêu
nước Việt Nam, những tri thức có được qua việc gặp gỡ
với các nhà hoạt động văn hóa chính trị cùng với quyết
tâm, nỗ lực bảo vệ và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin
về Việt Nam, có thể nói, phác đồ điều trị cho căn bệnh
thực dân ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam
đang dần được hình thành
Không thể kể hết những tội ác mà thực dân đã
gây ra dưới chế độ thuộc địa Ở An Nam hay bất cứ
một mảnh đất thuộc địa nào, công lý chỉ dành cho
thực dân Công lý đó đã thể hiện rõ bản chất thực sự
của công bằng - bình đẳng - bác ái mà chúng rêu rao,
nhưng đồng thời cũng cho thấy sự tha hóa khỏi bản
chất người, khỏi quyền làm người của bè lũ thực dân
cho dù pháp luật có công nhận nhân quyền cho riêng
chúng Nguyễn Ái Quốc viết: “Tất cả những điều mà
người ta đã có thể nói ra vẫn còn ở dưới mức sự thật
Chưa có bao giờ, ở một nước nào mà người ta lại vi
phạm mọi quyền làm người một cách dã man, độc ác,
trắng trợn đến thế”1
Tội ác của bè lũ thực dân với nhân dân các nước
thuộc địa khiến người ta rùng mình và sợ hãi Tội ác
của con người đối với con người quá lớn, không một
_
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.121
bản án cụ thể nào ngoài Bản án chế độ thực dân Pháp ở
thuộc địa đủ để kết tội thực dân
Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc rời Pháp sang Liên
Xô Tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, khi phát biểutại đây, một mặt Nguyễn Ái Quốc tố cáo những tội ác của chủ nghĩa thực dân, việc vi phạm quyền con ngườimột cách trắng trợn, mặt khác, Người đã có những đề nghị chính thức với Quốc tế Cộng sản phải có nhữnggiải pháp đúng đắn trong việc giải quyết vấn đề thuộcđịa, vấn đề quyền con người Bên cạnh đó, Nguyễn ÁiQuốc cũng đưa ra những biện pháp cụ thể đối với Quốc
tế Cộng sản, như mở thêm một mục trên báo
L’Humanité để một tuần ít nhất dành hai cột cho các
bài viết về vấn đề thuộc địa
Dành sự quan tâm đặc biệt tới tình cảnh của ngườinông dân trong các nước thuộc địa, tại Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế nông dân, tháng 10/1923, Nguyễn Ái Quốcđược bầu vào Hội đồng quốc tế nông dân và được cử vào đoàn Chủ tịch Hội đồng và chuẩn bị một số nội dung liên quan đến vấn đề thuộc địa Trong bài phát biểu tạiHội nghị, Nguyễn Ái Quốc cũng đã tố cáo hành độngcủa thực dân khi đưa nông dân vào đường cùng Vậy là,dưới đế chế của thực dân, tất cả mọi người ở các nướcthuộc địa, hoặc là bị chúng mua chuộc để trở thành những kẻ tha hóa với bản chất của con người, hoặc là bị chúng tước hết quyền tự do, quyền sống Nguyễn ÁiQuốc nhấn mạnh, tất cả đều là lực lượng cách mạng
Trang 40Trong khoảng thời gian từ năm 1921 đến năm 1927,
Nguyễn Ái Quốc hoạt động chủ yếu ở ba nước Pháp,
Liên Xô và Trung Quốc Từ thực tiễn phong trào yêu
nước Việt Nam, những tri thức có được qua việc gặp gỡ
với các nhà hoạt động văn hóa chính trị cùng với quyết
tâm, nỗ lực bảo vệ và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin
về Việt Nam, có thể nói, phác đồ điều trị cho căn bệnh
thực dân ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam
đang dần được hình thành
Không thể kể hết những tội ác mà thực dân đã
gây ra dưới chế độ thuộc địa Ở An Nam hay bất cứ
một mảnh đất thuộc địa nào, công lý chỉ dành cho
thực dân Công lý đó đã thể hiện rõ bản chất thực sự
của công bằng - bình đẳng - bác ái mà chúng rêu rao,
nhưng đồng thời cũng cho thấy sự tha hóa khỏi bản
chất người, khỏi quyền làm người của bè lũ thực dân
cho dù pháp luật có công nhận nhân quyền cho riêng
chúng Nguyễn Ái Quốc viết: “Tất cả những điều mà
người ta đã có thể nói ra vẫn còn ở dưới mức sự thật
Chưa có bao giờ, ở một nước nào mà người ta lại vi
phạm mọi quyền làm người một cách dã man, độc ác,
trắng trợn đến thế”1
Tội ác của bè lũ thực dân với nhân dân các nước
thuộc địa khiến người ta rùng mình và sợ hãi Tội ác
của con người đối với con người quá lớn, không một
_
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.121
bản án cụ thể nào ngoài Bản án chế độ thực dân Pháp ở
thuộc địa đủ để kết tội thực dân
Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc rời Pháp sang Liên
Xô Tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, khi phát biểutại đây, một mặt Nguyễn Ái Quốc tố cáo những tội ác của chủ nghĩa thực dân, việc vi phạm quyền con ngườimột cách trắng trợn, mặt khác, Người đã có những đề nghị chính thức với Quốc tế Cộng sản phải có nhữnggiải pháp đúng đắn trong việc giải quyết vấn đề thuộcđịa, vấn đề quyền con người Bên cạnh đó, Nguyễn ÁiQuốc cũng đưa ra những biện pháp cụ thể đối với Quốc
tế Cộng sản, như mở thêm một mục trên báo
L’Humanité để một tuần ít nhất dành hai cột cho các
bài viết về vấn đề thuộc địa
Dành sự quan tâm đặc biệt tới tình cảnh của ngườinông dân trong các nước thuộc địa, tại Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế nông dân, tháng 10/1923, Nguyễn Ái Quốcđược bầu vào Hội đồng quốc tế nông dân và được cử vào đoàn Chủ tịch Hội đồng và chuẩn bị một số nội dung liên quan đến vấn đề thuộc địa Trong bài phát biểu tạiHội nghị, Nguyễn Ái Quốc cũng đã tố cáo hành độngcủa thực dân khi đưa nông dân vào đường cùng Vậy là,dưới đế chế của thực dân, tất cả mọi người ở các nướcthuộc địa, hoặc là bị chúng mua chuộc để trở thành những kẻ tha hóa với bản chất của con người, hoặc là bị chúng tước hết quyền tự do, quyền sống Nguyễn ÁiQuốc nhấn mạnh, tất cả đều là lực lượng cách mạng