Phần 2 của cuốn sách Nghiên cứu và phân tích một số bản án dân sự tiếp tục trình bày những nội dung về: nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng mua bán tài sản; lãi suất trong hợp đồng tín dụng; trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QN
Về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa và mua bán tài sản1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/02/2018, các tài liệu có tại hồ
sơ và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Huỳnh Ngọc A đại diện trình bày:
Xuất phát từ nhu cầu xây dựng nhà ở, xây dựng trang trại chăn nuôi, mua con giống và thức ăn gia súc nên từ tháng 02/2015 đến tháng 6/2017, ông Lê Minh P có mua vật liệu xây dựng (cát,
đá, đất, gạch), con giống, thức ăn chăn nuôi của Cửa hàng Thương mại - Dịch vụ HN (sau đây viết gọn là Cửa hàng HN) do bà Hồ Thị Thu H đứng tên đại diện hộ gia đình với tổng số tiền nợ tính đến tháng 7/2017 là 3.668.974.000 đồng, cụ thể:
1 Tham khảo nội dung vụ việc tại https://congbobanan.toaan.gov vn/2ta262804t1cvn/chi-tiet-ban-an.
Trang 2- Tiền mua vật liệu xây dựng (cát, đá, đất, gạch) tính đến ngày 13/11/2017, hai bên chốt nợ là 278.664.000 đồng
- Tiền thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, con giống tính đến ngày 05/7/2017, hai bên chốt nợ là 3.390.310.000 đồng
Ngoài ra, từ ngày 26/8/2016 đến ngày 15/6/2017, ông Lê Minh
P còn vay của bà Hồ Thị Thu H, ông Nguyễn Ngọc N số tiền 382.240.000 đồng, cụ thể:
- Từ ngày 26/8/2016 đến ngày 27/01/2017 vay 300.000.000 đồng
- Từ ngày 20/02/2017 đến ngày 30/3/2017 vay 50.000.000 đồng
- Ngày 15/6/2017, ông P mượn 32.240.000 đồng trả tiền làm đường bê tông cho Công ty trách nhiệm hữu hạn VA
Số tiền nợ vay, ông P đã trả tiền lãi cho ông N, bà H từ ngày vay đến hết năm 2017 với mức lãi suất 0,83%/tháng
Như vậy, tổng số tiền ông P nợ bà H, ông N là 4.051.214.000 đồng Ông N, bà H đã nhiều lần yêu cầu ông P trả nợ nhưng ông
P không trả
Nay, bà H yêu cầu ông P phải trả cho bà H và ông N số tiền
nợ trên và tiền lãi đối với số tiền nợ mua thức ăn chăn nuôi là 3.390.310.000 đồng từ ngày 05/7/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm (05/11/2018) là 16 tháng với mức lãi suất 0,83%/tháng, thành tiền là 450.233.168 đồng (3.390.310.000 đồng x 0,83%/tháng x
16 tháng), không yêu cầu trả tiền lãi đối với tiền nợ mua vật liệu xây dựng và tiền vay Tổng số tiền ông P phải trả cho bà H, ông
N là 4.501.447.168 đồng Ngoài ra, bà H không yêu cầu gì khác Tại bản tự khai ngày 16/4/2018, các tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là ông Lê Minh P trình bày:
Năm 2015, ông và ông Nguyễn Ngọc N, chồng của bà Hồ Thị Thu H có hợp tác làm ăn chăn nuôi heo và đã bị thua lỗ vì lý do ông N để heo dịch bệnh chết hết Việc hợp tác làm ăn giữa hai bên không lập hợp đồng mà chỉ thỏa thuận miệng Ông thừa nhận
Trang 3dòng chữ và chữ ký đề ngày 05/7/2017 mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án là chữ viết và chữ ký của ông nhưng mục đích không phải để xác nhận còn nợ tiền của Cửa hàng HN Ông cho rằng chữ ký này không có giá trị vì Cửa hàng HN vi phạm cam kết không để cho ông làm ăn mà gây khó khăn
Việc bà Hồ Thị Thu H khởi kiện ông và yêu cầu ông trả nợ thì ông không đồng ý vì không có căn cứ Ông yêu cầu bà H phải cung cấp hợp đồng thỏa thuận như thông báo giá, giấy biên nhận mua hàng và giấy chốt công nợ hằng tháng, giấy ủy quyền quyết định cử người ký nhận
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Ngọc
N trình bày:
Cửa hàng HN do vợ chồng ông đầu tư kinh doanh, vợ ông
là bà Hồ Thị Thu H là người đại diện hộ gia đình nhưng ông là người trực tiếp giúp bà H trong quá trình hoạt động kinh doanh của cửa hàng Ông thống nhất với trình bày và yêu cầu khởi kiện của bà H Ngoài ra, ông không bổ sung và yêu cầu gì thêm Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2018/DS-ST ngày 05/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh QN đã xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Thu H và ông Nguyễn Ngọc N
Buộc ông Lê Minh P phải có nghĩa vụ thanh toán tiền mua bán hàng hóa, tiền mua bán tài sản, nợ vay và lãi chậm thanh toán đối với số tiền mua bán hàng hóa cho bà H và ông N với tổng
số tiền 4.501.447.168 đồng (bốn tỷ năm trăm lẻ một triệu bốn trăm bốn mươi bảy ngàn một trăm sáu mươi tám đồng), trong đó, tiền mua bán hàng hóa là 3.840.543.168 đồng, tiền mua vật liệu xây dựng là 278.664.000 đồng, tiền vay là 382.240.000 đồng Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm
và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật
Trang 4Ngày 14/11/2018, ông Lê Minh P có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không khách quan, vi phạm tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ông yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm số 29/2018/DS-ST ngày 05/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh QN, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phát biểu
ý kiến tranh luận: đầu năm 2015, ông Lê Minh P và ông Nguyễn Ngọc N có thỏa thuận hợp tác làm ăn chung, trong đó ông N chịu trách nhiệm cung cấp thức ăn chăn nuôi và kỹ thuật, ông P chịu trách nhiệm về con giống và chuồng trại với phương thức lời cùng ăn, lỗ cùng chịu Do tin tưởng nhau nên không lập thành văn bản Khi ông N giao thức ăn chăn nuôi cho ông P có nhiều người ký nhận Tại quyển sổ số I và II thể hiện việc giao nhận hàng từ tháng 2/2015 đến tháng 6/2017, không thể hiện giá cám, thuốc tại thời điểm giao hàng mà do ông N tự ghi, tự tính trong quyển sổ số II từ ngày 09/8/2016 đến tháng 6/2017 Nhìn bằng mắt thường cũng có thể nhận biết được là do cùng một người viết ra và viết cùng một thời điểm, không phải viết vào từng thời điểm giao nhận hàng Trong quá trình làm ăn chung, ông P có đưa cho ông N 04 lần tiền sau mỗi đợt bán heo với tổng số tiền 358.000.000 đồng, được thể hiện trong sổ giao nhận hàng Theo các tài liệu có tại hồ sơ thể hiện từ năm 2015 đến năm 2017, hai bên không chốt sổ từng tháng, quý hoặc năm Tại phiên tòa, ông
N thừa nhận có gây áp lực cho ông P nên ông P phải ký chốt nợ vào ngày 05/7/2017 Thực chất đây không phải là việc xác nhận
nợ mà là xác định việc đầu tư của mỗi bên, vì số tiền chốt nợ là 3.390.310.000 đồng do ông N tự tính, trước khi ông P xác nhận vào sổ của ông N, ông N không cung cấp sổ ghi chép theo dõi của ông N, giữa hai bên không có việc đối chiếu sổ trước khi xác nhận
Trang 5nợ nên việc xác nhận của ông P trong sổ do ông N ghi chép là không có căn cứ xác nhận ông P có nợ tiền ông N Đối với số tiền mua vật liệu xây dựng là do ông N tự đổ để đầu tư mở rộng trang trại cùng kinh doanh chung nên ông P không có trách nhiệm phải trả số tiền này cho ông N Đối với số tiền nợ, ông P thừa nhận
có vay 350.000.000 đồng nhưng ông P đã trả 50.000.000 đồng vào ngày 29/5/2017, hiện chỉ còn nợ 300.000.000 đồng Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ cho ông P Ông P không được tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và hòa giải tại Tòa án cấp sơ thẩm Tại biên bản tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện ông P nhận mà không ký biên bản là không đúng Ông P còn cho rằng, tại phiên tòa sơ thẩm ngày 05/11/2018, không có việc hỏi tại phiên tòa và ông P không được tham gia tranh luận nhưng biên bản phiên tòa lại thể hiện có việc hỏi và tranh luận là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng theo quy định tại các điều 285, 286, 287, 290,
294 và 298 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Đối với người tham gia tố tụng từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến thời điểm xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại các điều 70, 71, 72, 73 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015
Trang 6Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Lê Minh P trong hạn luật định và hợp lệ theo quy định tại các điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Về nội dung: Căn cứ Điều 244, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Minh P Sửa bản án sơ thẩm, đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà H về việc buộc ông P phải trả số tiền 32.240.000 đồng làm đường bê tông vào trại heo Buộc ông P phải trả cho bà H, ông N tiền mua bán hàng hóa, tiền mua vật liệu xây dựng, tiền nợ vay và lãi chậm trả đối với số tiền mua bán hàng hóa với tổng số tiền là 4.469.207.168 đồng Ông P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
1 Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông Lê Minh
P trả số tiền 32.240.000 đồng làm đường bê tông Ông Nguyễn Ngọc N và ông Lê Minh P đồng ý với việc rút một phần yêu cầu của nguyên đơn Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu nguyên đơn đã rút
2 Xét kháng cáo của ông Lê Minh P thì thấy rằng:
2.1 Đối với số tiền nợ vật liệu xây dựng 278.664.000 đồng: theo tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện ông P có
ký xác nhận số tiền trên vào ngày 13/11/2017 (Bút lục 75) Ông P thừa nhận chữ viết, chữ ký xác nhận là của ông, tuy nhiên, ông P
Trang 7cho rằng do hai bên hợp tác làm ăn chung nên ông N tự nguyện
đổ vật liệu xây dựng để đầu tư xây dựng mở rộng chuồng trại cùng kinh doanh chung, nên ông P không có trách nhiệm phải thanh toán số tiền này cho bà H, ông N nhưng ông P không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh giữa ông và ông N có sự hợp tác kinh doanh và không được bà H, ông N thừa nhận nên không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của ông P
2.2 Đối với số tiền nợ mua thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, con giống 3.390.310.000 đồng: theo tài liệu do nguyên đơn cung cấp thể hiện ngày 05/7/2017, ông P xác nhận còn nợ Cửa hàng
HN số tiền nợ trên (các bút lục 81, 82) Ông P thừa nhận chữ viết,
chữ ký là của ông, trừ chữ: “Em đồng ý ”
Tại phiên tòa, ông P cho rằng ông viết xác nhận nợ là do bị lừa, bị ép buộc và trong lúc ông đang có men rượu, không làm
chủ hành vi của mình Ông P cho rằng, lời xác nhận: Em đồng
ý số tiền như trên em nợ Cửa hàng HN là do ông N đọc cho ông
viết, ông không đồng ý viết như vậy vì sau này ông N sẽ sử dụng tài liệu này khởi kiện ông, trong khi giữa ông và ông N hợp tác làm ăn chung chứ không có việc mua bán nên không có việc nợ,
do đó ông mới viết thêm: Em hứa có trách nhiệm trả số tiền trên
và Cửa hàng HN phải tạo điều kiện cho em không gây khó khăn khi chưa có khả năng chi trả, để em trả nợ dần theo điều kiện có lợi nhuận theo quá trình hoạt động sản xuất trại Theo lời ông P
trình bày, chứng tỏ tại thời điểm ông P xác nhận nợ, ông P hoàn toàn minh mẫn sáng suốt, bởi lẽ nếu ông P không làm chủ được hành vi của mình, thì ông P sẽ không nhận thức được nếu viết xác nhận theo yêu cầu của ông N, ông N sẽ sử dụng chứng cứ này để khởi kiện ông nên việc ông P cho rằng khi ông viết xác nhận nợ, ông không làm chủ được hành vi của mình, bị ông N ép buộc, lừa dối như ông P trình bày tại phiên tòa là không có cơ sở chấp nhận
Trang 8Mặt khác, người làm chứng do ông P cung cấp là ông Trương
K xác định: Vào đầu giờ chiều ngày 05/7/2017, ông có thấy ông N,
bà H xuống nhà ông P để chốt sổ, sau đó ông xuống trại heo làm việc chứ không chứng kiến việc tính toán, chốt sổ nợ giữa hai bên
Từ chỗ ông làm việc đến chỗ ông N, bà H, ông P nói chuyện cách nhau khoảng 30 m nên ông không biết giữa họ nói gì nhưng ông không nghe có việc to tiếng giữa họ và ông N, bà H đi về lúc nào, ông cũng không biết
Ngoài ra, ông P cho rằng giữa ông và ông N, bà H có việc hợp tác làm ăn chung, hai bên thỏa thuận ông N chịu trách nhiệm cung cấp thức ăn chăn nuôi và kỹ thuật, ông chịu con giống, chuồng trại và công chăm sóc với phương thức lời cùng hưởng,
lỗ cùng chịu Tuy nhiên, ông P cũng thừa nhận việc hợp tác kinh doanh chung không lập hợp đồng mà chỉ thỏa thuận bằng miệng Tại phiên tòa, ông P cho rằng từ ngày 19/4/2016 đến ngày 29/7/2016, ông đã đưa cho ông N số tiền 358.000.000 đồng tiền ăn chia lợi nhuận, tuy nhiên, ông N không thừa nhận có việc làm ăn chung nên không thừa nhận số tiền 358.000.000 đồng là tiền ăn chia lợi nhuận mà đây là tiền ông P trả tiền mua thức ăn chăn nuôi được thể hiện trong sổ theo dõi mua thức ăn chăn nuôi và số tiền này ông P đưa cho ông N trước khi ông N với ông P chốt nợ vào ngày 05/7/2017 Mặt khác, ông P cho rằng giữa ông và ông
N, bà H có việc làm ăn chung nhưng ông P cũng thừa nhận, bản thân ông cũng không mở sổ theo dõi chi phí mà ông đầu tư con giống, xây dựng trang trại, ông cũng không xác định được tỷ lệ phân chia lợi nhuận và việc phân chia lợi nhuận trong thời gian kinh doanh chung nên không có căn cứ xác định giữa ông P và ông N, bà H có việc hợp tác kinh doanh chung
Tại phiên tòa, ông N cho rằng trước khi chốt sổ xác nhận
nợ giữa hai bên, trước đó ông đã photocopy sổ ghi chép thể hiện
Trang 9việc mua bán thức ăn chăn nuôi giữa hai bên giao cho ông P xem trước, đến ngày 05/7/2017, giữa hai bên mới đối chiếu xác nhận
nợ Ông N không thừa nhận có việc gây áp lực cho ông P khi ông
P xác nhận nợ như phát biểu ý kiến tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, nhưng ông N thừa nhận có chặn xe cám của ông P sau khi ông P xác nhận nợ để yêu cầu ông
P trả nợ do ông không đồng ý với lời xác nhận viết thêm của ông
P như ông P trình bày là: Cửa hàng HN phải tạo điều kiện cho
em (tức ông P) không gây khó khăn khi chưa có khả năng chi trả,
để em (P) trả nợ dần theo điều kiện có lợi nhuận theo quá trình hoạt động sản xuất trại và sau đó, ngày 06/02/2018, bà H đã có
đơn khởi kiện ông P tại Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh QN
Về phía ông P, không thừa nhận với lời trình bày của ông N
và cho rằng ông N sao chép sổ ghi chép theo dõi việc giao thức ăn chăn nuôi giữa hai bên cho ông trước khi ông xác nhận nợ, ông P chỉ thừa nhận khi ông N, bà H đến nhà ông chốt nợ, khi về ông
N và bà H có để lại bản sao chép các quyển sổ do ông N ghi chép
mà ông đã cung cấp cho Tòa án tại cấp phúc thẩm, trong đó, có quyển sổ thể hiện số tiền chốt sổ 3.390.310.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy: mặc dù, hai bên đều không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ
và không được phía bên kia thừa nhận, nhưng thực tế ông P đã nhận được các sổ photocopy do ông N ghi chép thể hiện việc giao nhận thức ăn chăn nuôi giữa hai bên, trong đó, có quyển sổ mà ông P xác nhận nợ và ông P cũng thừa nhận, sau khi xác nhận
nợ, ông không đến nhà ông N, bà H khiếu nại, thắc mắc về việc xác nhận số tiền nợ trên, nên việc xác định ông N giao sổ ghi chép cho ông P trước hay tại thời điểm xác nhận nợ là không cần thiết Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị đơn cho rằng, ông P không được tham gia phiên họp kiểm tra
Trang 10việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Tại phiên tòa ngày 05/11/2018, không có việc hỏi và tranh luận nhưng vẫn được thể hiện tại biên bản phiên tòa là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm Tuy nhiên, theo các tài liệu có tại hồ sơ thể hiện Tòa án cấp sơ thẩm có tống đạt Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông P không nhận, có xác nhận của Công an xã P (các bút lục 54, 56, 63); Biên bản phiên tòa có thể hiện việc Hội đồng xét xử hỏi các đương sự và tại bài phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa hoàn toàn không
có ý kiến cho rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử vi phạm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
Trong thời gian Hội đồng xét xử nghị án, ông P có nộp Đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ, xác minh thực tế những người dân ở thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh QN để làm sáng tỏ việc hợp tác làm ăn chung giữa ông và ông N Ông P cũng cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm không triệu tập ông tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đối chất
để làm sáng tỏ nội dung vụ án Tòa án chỉ căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là không khách quan, không đúng sự thật, vi phạm tố tụng Ngoài ra, ông P còn cho rằng vào lúc 08h30’ ngày 09/8/2018 và lúc 10h00’ ngày 10/8/2018, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đ và Công an xã P không đến nhà ông giao Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng tại biên bản tống đạt lại thể hiện ông nhận nhưng không
ký vào biên bản là không đúng và cung cấp cho Tòa án 01 USB Theo ông P, USB ghi âm nội dung cuộc nói chuyện giữa ông và ông Trần Ngọc T - Công an xã P Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cho nghe thiết bị ghi âm do ông P cung cấp, tuy nhiên nội dung
Trang 11thiết bị ghi âm chỉ thể hiện ông P hỏi một người đàn ông tên T về việc ông T có cùng cán bộ Tòa án đến nhà ông P không thì người đàn ông đó trả lời không nhớ Khi ông P hỏi ký ở đâu thì người đàn ông tên T trả lời tại cơ quan, ông P hỏi người đàn ông có xác nhận trong biên bản không thì người đàn ông trả lời không nhớ Tại phiên tòa, ông P còn mở nội dung ghi âm cuộc nói chuyện trong điện thoại của ông Theo ông P, đây là cuộc nói chuyện giữa ông với ông V, cán bộ địa chính của Ủy ban nhân dân xã P, huyện
Đ, tỉnh QN Theo nội dung ghi âm mà ông P mở nghe tại phiên tòa thể hiện cuộc nói chuyện giữa ông P với người đàn ông tên
V xác nhận về việc ông L không cùng cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đ đến nhà ông P tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án và không ghi lời xác nhận trong biên bản tống đạt Tuy nhiên, ông
P không cung cấp băng, đĩa ghi âm, hoặc thiết bị chứa âm thanh kèm theo văn bản trình bày về xuất xứ của tài liệu mà ông P tự thu âm hoặc văn bản có xác nhận của người đàn ông nói chuyện với ông P mà ông P thu âm trong điện thoại về xuất xứ của tài liệu hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm cho Hội đồng xét xử
Hội đồng xét xử nhận thấy, với nội dung của thiết bị ghi âm
do ông P cung cấp, nội dung cuộc nói chuyện mà ông P thu âm
và mở nghe tại phiên tòa vẫn chưa có cơ sở xác định lời trình bày của ông P về việc cán bộ Tòa án và Công an xã P không đến nhà ông giao văn bản tố tụng của Tòa án là có căn cứ
Đối với việc ông P cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm không triệu tập ông tham gia đối chất là không chính xác, bởi lẽ tại phiên tòa ông P thừa nhận chữ ký trong biên bản tống đạt Giấy triệu tập số 158/GTT-TA ngày 02/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ triệu tập ông đối chất vào lúc 08h00’ ngày 16/5/2018 là của ông
Trang 12Mặt khác, trường hợp có căn cứ xác định Tòa án cấp sơ thẩm không triệu tập ông P tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và không thông báo kết quả phiên họp cho ông P là vi phạm khoản 1 Điều 209 và khoản 3 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tuy nhiên,
vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông P, bởi lẽ: ngày 04/7/2018, ông P có đơn xin sao chụp toàn bộ tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn khởi kiện ông trả số tiền 4.051.214.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 05/02/2018 là 256.828.000 đồng Ông P đã được Tòa án giao các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp cho Tòa án vào ngày 09/7/2018 Ngoài ra, tại phiên tòa, ông P cũng thừa nhận khi ông N, bà H đến nhà ông chốt nợ khi về có để lại một số quyển
sổ photocopy do ông N ghi chép việc theo dõi giao thức ăn chăn nuôi giữa hai bên mà ông P đã cung cấp cho Tòa án tại giai đoạn phúc thẩm Điều đó, chứng tỏ ông P cũng có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp cho Tòa án khi khởi kiện ông P Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã giao Thông báo số 211/TB-TA ngày 17/6/2018 cho ông P về việc yêu cầu ông P cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh ông không nợ nguyên đơn các khoản tiền mà nguyên đơn yêu cầu ông P trả vào ngày 28/6/2018 (các bút lục 40, 41) nhưng ông P cũng không cung cấp được
Như nhận định trên, từ khi ông P xác nhận nợ vào ngày 05/7/2017 đến khi nguyên đơn khởi kiện ông P thì ông P hoàn toàn không khiếu nại hay thắc mắc về việc ông xác nhận nợ trong
sổ của ông N là không đúng Ông P cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh ông và ông N hợp tác làm ăn chung, bản thân ông cũng không hề mở sổ theo dõi chi phí mà ông đầu
tư để làm ăn chung với ông N và ông P cũng không xác định được
Trang 13tỷ lệ phân chia lợi nhuận, nếu có Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải ngừng phiên tòa để thu thập chứng cứ theo yêu cầu của ông P
Đối với số tiền lãi chậm thanh toán của số tiền 3.390.310.000 đồng, bà H yêu cầu ông P phải trả từ ngày 05/7/2017 đến ngày 05/11/2018 là 16 tháng với mức lãi suất 0,83%, thành tiền là 450.233.168 đồng (3.390.310.000 đồng x 0,83%/tháng x 16 tháng), tổng cộng là 3.840.543.168 đồng (3.390.310.000 đồng + 450.233.168 đồng) là hoàn toàn phù hợp
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc ông P có trách nhiệm trả cho ông N, bà H số tiền nợ thức ăn chăn nuôi là 3.390.310.000 đồng và 450.233.168 đồng tiền lãi chậm thanh toán là hoàn toàn
có căn cứ
2.3 Đối với số tiền nợ vay 350.000.000 đồng: ông P thừa nhận
từ ngày 26/8/2016 đến ngày 30/3/2017, ông có vay của ông N nhiều lần với tổng số tiền 350.000.000 đồng nhưng ngày 29/5/2017, ông
đã trả cho ông N 50.000.000 đồng, hiện ông chỉ còn nợ ông N số tiền 300.000.000 đồng, nhưng ông N cho rằng số tiền 50.000.000 đồng mà ông P trả là trả tiền mua thức ăn chăn nuôi được thể hiện trong sổ theo dõi mua thức ăn, còn việc ông P vay mượn tiền được thể hiện ở sổ khác (các bút lục 110, 111) mà ông đã cung cấp cho Tòa án Ông P không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc ông trả cho ông N 50.000.000 đồng tiền vay nên không được chấp nhận
Như vậy, ông P phải có trách nhiệm trả cho bà H, ông N số tiền mua vật liệu xây dựng, tiền vay, tiền mua thức ăn chăn nuôi
và tiền lãi chậm thanh toán đối với số tiền mua thức ăn chăn nuôi tổng số tiền 4.469.207.168 đồng
Từ những nhận định trên, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông P
Trang 143 Về án phí: Bà H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho bà H
Ông P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm của số tiền 4.469.207.168 đồng là 112.469.200 đồng (112.000.000 đồng + (469.207.168 đồng
x 0,1%) = 112.000.000 đồng + 469.207 đồng) và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp
4 Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị đơn không phù hợp với nhận định trên, nên không được chấp nhận
5 Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN phù hợp với nhận định trên, được chấp nhận
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Minh P
Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 29/2018/DS-ST ngày 05/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh QN
1 Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu của bà Hồ Thị Thu H về việc yêu cầu ông Lê Minh P trả số tiền 32.240.000 đồng làm đường bê tông
Trang 152 Buộc ông Lê Minh P phải trả cho bà Hồ Thị Thu H và ông Nguyễn Ngọc N tổng số tiền 4.469.207.168 đồng (bốn tỷ bốn trăm sáu mươi chín triệu hai trăm lẻ bảy nghìn một trăm sáu mươi tám đồng), trong đó, tiền nợ mua vật liệu xây dựng là 278.664.000 đồng, tiền vay là 350.000.000 đồng, tiền nợ thức ăn chăn nuôi và tiền lãi chậm thanh toán là 3.840.543.168 đồng
3 Về án phí
Trang 16Bản án thứ hai:
BẢN ÁN SỐ 11/2020/DS-PT NGÀY 24/02/2020
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BL
Về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, người đại diện hợp pháp của Hộ kinh doanh T là ông Nguyễn Duy M; người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Nguyễn Duy M là chị
Lê Thị Thu H trình bày: Ngày 03/6/2015, Hộ kinh doanh T do ông Nguyễn Duy M làm chủ đã thỏa thuận với ông Trần Văn B, bà Trần Thị Cẩm L về việc mua bán thức ăn thủy sản Do tin tưởng ông B, bà L, nên Hộ kinh doanh T chỉ giao kết hợp đồng bằng lời nói mà không lập thành văn bản Theo thỏa thuận, Hộ kinh doanh T bán thức ăn cho ông Trần Văn B và bà Trần Thị Cẩm L khi vợ chồng ông B và bà L đặt hàng, hàng hóa được nhân viên giao hàng chở tận nơi tại kho của ông B, bà L và vợ chồng ông
B phải ký nhận vào sổ theo dõi giao nhận hàng Cuối kỳ thanh toán, Hộ kinh doanh T sẽ gửi bảng đối chiếu công nợ cho ông B
và bà L kiểm tra và ký xác nhận Cuối mỗi vụ thu tôm ông B và
bà L phải thanh toán dứt điểm hết công nợ còn tồn đọng cho Hộ kinh doanh T
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán thức ăn cho tôm và các loại thuốc thủy sản, phía ông B và bà L không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán của mình, để công nợ lên quá cao,
Hộ kinh doanh T đã nhiều lần yêu cầu ông B và bà L thanh toán
1 Tham khảo nội dung vụ việc tại https://congbobanan.toaan.gov vn/2ta465162t1cvn/chi-tiet-ban-an.
Trang 17tiền hàng, nếu không thanh toán, Hộ kinh doanh T sẽ cắt hàng Đến ngày 15/12/2017, hai bên tiến hành ký bảng đối chiếu xác nhận công nợ, theo đó ông B đã ký xác nhận tổng số tiền hàng
mà vợ chồng ông B nợ Hộ kinh doanh T là 1.878.434.000 đồng Tuy nhiên, đến ngày 15/12/2017, ông B và bà L đã trả cho Hộ kinh doanh T số tiền 50.000.000 đồng, đến ngày 16/12/2017, ông
B và bà L tiếp tục trả cho Hộ kinh doanh T số tiền 50.000.000 đồng Ngày 18/12/2017, ông B và bà L lấy đơn hàng cuối cùng với
số tiền 5.984.000 đồng Vậy, tổng số tiền ông B còn nợ Hộ kinh doanh T tính đến ngày 18/12/2017 là 1.784.418.000 đồng
Việc ông B và bà L cố tình không trả tiền nợ cho Hộ kinh doanh
T đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của
Hộ kinh doanh T Do vậy, Hộ kinh doanh T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn B và bà Trần Thị Cẩm L liên đới trả
nợ cho Hộ kinh doanh T số tiền gồm: Tiền nợ gốc: 1.784.418.000 đồng; Tiền lãi chậm trả theo quy định của pháp luật là 10%/năm tương đương 0.83%/tháng kể từ ngày 20/12/2017 đến ngày 20/10/2018 (10 tháng) là: 1.784.418.000 đồng x 0.83% x 10 tháng
= 148.106.694 đồng Vậy tổng số tiền ông B và bà L phải trả cho
Hộ kinh doanh T tạm tính đến ngày 20/10/2018 là: 1.932.524.694 đồng Và tiền lãi chậm trả 10%/năm từ ngày 21/10/2018 đến ngày bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật
Bị đơn ông Trần Văn B trình bày: Vợ chồng ông không có giao dịch gì với Hộ kinh doanh T Thực tế, con gái ông là chị Trần Thị Mỹ X và chị Trần Thị Diễm M (tên gọi khác: L) giao dịch với
Hộ kinh doanh T Mỗi khi Hộ kinh doanh T giao thức ăn cho con ông, con ông không có nhà và ông ký nhận thay Vì vậy, vào ngày 15/12/2017, ông đã ký tên và ghi rõ họ tên tại bảng đối chiếu xác nhận công nợ mà Hộ kinh doanh T cung cấp cho Tòa án
Trang 18Tuy nhiên, ông nghĩ ký thay cho con mình nên khi ký ông không đọc nội dung và nhân viên cũng không đọc nội dung cho ông nghe
Số tiền 1.932.524.694 đồng mua bán thức ăn tôm, thuốc thủy sản mà Hộ kinh doanh T khởi kiện vợ chồng ông, ông nhận hàng thay và ký thay cho hai người con gái là chị X và chị M, không có lần nào ông nhận hàng và ký nhận hàng để phục vụ cho việc nuôi tôm của vợ chồng ông nên vợ chồng ông không đồng ý thanh toán
nợ theo yêu cầu của Hộ kinh doanh T
Bị đơn bà Trần Thị Cẩm L là vợ ông Trần Văn B, nhiều lần bị Tòa án triệu tập đến làm việc nhưng bà L không đến nên Tòa án
có xuống trực tiếp nhà bà để ghi nhận ý kiến nhưng bà L không
có nhà do vậy không có lời khai của bà L trong hồ sơ vụ án Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị Diễm
M trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 20/12/2018: Vào năm
2015, chị có giao dịch mua thức ăn cho tôm và thuốc thủy sản với
Hộ kinh doanh T, chị nuôi tổng cộng 16 công Khi giao dịch thì
Hộ kinh doanh T có lập hợp đồng mua bán (không nhớ thời gian), hợp đồng này Hộ kinh doanh T giữ, và chị không giữ nên không cung cấp được cho Tòa án Tính đến nay, chị M xác định chị còn
nợ Hộ kinh doanh T số tiền mua thức ăn tôm và thuốc thủy sản
là 965.693.000 đồng Chị M xác định cha mẹ chị là ông B và bà L không có giao dịch mua bán thức ăn cho tôm và thuốc thủy sản với Hộ kinh doanh T, việc cha chị là ông B ký tên vào bản đối chiếu công nợ ngày 15/12/2017 là do cha chị ký thay cho chị và chị X Nay, chị đồng ý thanh toán số tiền 965.693.000 đồng cho
Hộ kinh doanh T
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị Mỹ X trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 16/9/2019: Từ năm 2015 đến năm 2017, chị có mua thuốc thủy sản và thức ăn cho tôm của Hộ kinh doanh T, hiện chị còn nợ số tiền 431.863.000 đồng
Trang 19Khi giao dịch thì Hộ kinh doanh T có lập hợp đồng mua bán (không nhớ thời gian), hợp đồng này Hộ kinh doanh T giữ chứ chị không giữ Chị xác định cha mẹ chị là ông B và bà L không
có giao dịch mua bán thức ăn cho tôm và thuốc thủy sản với Hộ kinh doanh T, việc cha chị là ông B ký bản đối chiếu công nợ ngày 15/12/2017 là do cha chị ký thay cho chị và chị M Nay, chị đồng ý thanh toán số tiền 431.863.000 đồng cho Hộ kinh doanh T Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Thái Thị Siếu
K trình bày: Chị là vợ anh Nguyễn Duy M, việc kinh doanh của
Hộ kinh doanh T do anh M trực tiếp quản lý và quyết định mọi việc kinh doanh Bản thân chị bận công việc nên không đến Tòa
án làm việc nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt chị, mọi vấn đề quyết định của anh M chị K đều thống nhất
Từ những nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2019/DS-ST ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện V
đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Hộ kinh doanh T đối với ông Trần Văn B và bà Trần Thị Cẩm L về hợp đồng mua bán tài sản
Buộc ông Trần Văn B và bà Trần Thị Cẩm L có nghĩa vụ thanh toán cho Hộ kinh doanh T số tiền mua bán còn nợ 2.011.021.242 đồng Trong đó, nợ gốc 1.784.418.000 đồng, nợ lãi 226.603.242 đồng
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, luật thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự
Ngày 10/12/2019, ông Trần Văn B kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của hộ kinh doanh T
về việc buộc ông và bà Trần Thị Cẩm L trả số tiền 2.011.021.242 đồng theo quy định pháp luật
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn B vẫn giữ nguyên kháng cáo
Trang 20Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BL phát biểu ý kiến:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn B, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2019/DS-
ST ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh BL
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1 Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
2 Xét đơn kháng cáo của ông Trần Văn B nộp trong hạn luật định và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đúng quy định Căn
cứ vào Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015, vụ án được chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm
3 Xét kháng cáo của ông Trần Văn B không đồng ý trả số tiền 2.011.021.242 đồng cho Hộ kinh doanh T Hội đồng xét xử thấy rằng:
3.1 Người đại diện của Hộ kinh doanh T xác định: Từ tháng 6/2015 đến tháng 12/2017, Hộ kinh doanh T có thực hiện giao dịch mua bán thức ăn tôm và thuốc thủy sản cho ông Trần Văn
B và bà Trần Thị Cẩm L Qua nhiều lần mua hàng, đến ngày 15/12/2017, ông B, bà L đã trả 50.000.000 đồng và hai bên chốt công nợ là 1.828.434.000 đồng; vào ngày 16/12/2017, ông B thanh toán cho Hộ kinh doanh T số tiền 50.000.000 đồng Sau đó, ngày 18/12/2017, ông B đặt đơn hàng giá trị là 5.984.000 đồng, tổng số tiền ông B còn nợ Hộ kinh doanh T là 1.784.418.000 đồng Đến ngày 09/8/2018, Hộ kinh doanh T đã làm việc và lập biên bản làm việc về việc xác nhận công nợ và ông Trần Văn B cam kết thanh toán về số tiền nợ 1.784.418.000 đồng
Trang 213.2 Ông B thừa nhận có ký tên vào sổ theo dõi nhận hàng
mà Hộ kinh doanh T cung cấp cho Tòa án và có ghi rõ họ tên vào bảng đối chiếu công nợ ngày 15/12/2017 và biên bản làm việc về việc cam kết trả nợ lập ngày 09/8/2018 Tuy nhiên, ông B không thừa nhận có giao dịch mua bán thức ăn cho tôm và thuốc thủy sản với Hộ kinh doanh T, ông cho rằng ký tên vào sổ mua bán hàng, xác nhận công nợ của Hộ kinh doanh T là ký thay cho hai người con của ông là chị Trần Thị Mỹ X và chị Trần Thị Diễm M 3.3 Chị Trần Thị Mỹ X và chị Trần Thị Diễm M xác định: Chị
X còn nợ tiền mua bán thức ăn cho tôm và thuốc thủy sản tại Hộ kinh doanh T với số tiền 431.863.000 đồng, chị L nợ 965.693.000 đồng; chị X, chị M đồng ý thanh toán số tiền này cho Hộ kinh doanh T Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của chị X, chị M là không có cơ sở chấp nhận Bởi lẽ, quá trình làm việc tại Tòa án cấp sơ thẩm, cả chị X và chị M không cung cấp cho Tòa án bất kỳ văn bản nào chứng minh có việc chị X và chị M có mua thuốc thủy sản và thức ăn cho tôm tại Hộ kinh doanh T Đồng thời, căn cứ vào bảng đối chiếu công nợ các ngày 30/5/2017, 23/7/2017, 10/11/2017, 13/12/2017, 15/12/2017 và biên bản làm việc về việc xác nhận công nợ và cam kết thanh toán ngày 09/8/2018 đều do ông B ký tên
3.4 Phía Hộ kinh doanh T xác định không có bất kỳ giao dịch mua bán nào với chị M và chị X Sở dĩ quá trình giao dịch
mở sổ mua bán hàng ghi tên chị L, chị X là do ông B đề xuất,
Hộ kinh doanh T cũng chưa từng ký bất kỳ bảng đối chiếu xác nhận công nợ với chị M, chị X, các bảng đối chiếu công nợ đều do ông B thực hiện và có xảy ra trên thực tế, nên Tòa cấp sơ thẩm buộc ông B và bà L có nghĩa vụ thanh toán cho Hộ kinh doanh
T số tiền 1.784.418.000 đồng, nợ lãi 226.603.242 đồng là có căn
cứ chấp nhận
Trang 224 Như đã phân tích trên, do Tòa cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hộ kinh doanh T đối với ông B và bà L
Hộ kinh doanh T yêu cầu ông B, bà L phải chịu số tiền lãi chậm trả kể từ ngày 09/8/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 18/11/2019 đối với số tiền nợ gốc 1.784.418.000 đồng, nên được chấp nhận, số tiền lãi ông B và bà L phải trả cho Hộ kinh doanh
T là 226.603.242 đồng Như vậy, ông Trần Văn B và bà Trần Thị Cẩm L có nghĩa vụ thanh toán cho Hộ kinh doanh T tổng số tiền
nợ là 2.011.021.242 (trong đó, nợ gốc 1.784.418.000 đồng, nợ lãi 226.603.242 đồng)
5 Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn B, có căn cứ chấp nhận toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BL tại phiên tòa, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 77/2019/DS-ST ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh BL
6 Các phần khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị được giữ nguyên và đã có hiệu lực pháp luật
7 Án phí dân sự phúc thẩm ông B phải chịu theo quy định của pháp luật
Trang 2330/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn B, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 77/2019/DS-ST ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh BL
Tuyên xử:
1 Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Hộ kinh doanh T đối với ông Trần Văn B và bà Trần Thị Cẩm L về hợp đồng mua bán tài sản
Buộc ông Trần Văn B và bà Trần Thị Cẩm L có nghĩa vụ thanh toán cho Hộ kinh doanh T số tiền mua bán còn nợ 2.011.021.242 đồng (trong đó, nợ gốc 1.784.418.000 đồng, nợ lãi 226.603.242 đồng)
2 Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hằng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015
3 Về án phí:
Trang 24Bản án thứ ba:
BẢN ÁN SỐ 03/2020/DS-ST NGÀY 25/02/2020
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VC, TỈNH ST
Về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 18/9/2019 của nguyên đơn là ông Nguyễn Duy M cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại theo
ủy quyền của ông M là chị Lê Thị Thu H trình bày:
Ngày 20/3/2018, ông Nguyễn Duy M là chủ Hộ kinh doanh T
có ký hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm với anh Phan Thành
N và chị Phạm Ngọc H Theo hợp đồng, ông M bán thức ăn nuôi tôm phục vụ nuôi tôm cho vợ chồng anh N, chị H; thời hạn thanh toán là đến cuối vụ nuôi tôm, chậm nhất là ngày 20/12/2018 phải thanh toán dứt điểm công nợ
Thực hiện hợp đồng, ông M giao thức ăn nuôi tôm cho vợ chồng anh N, chị H đúng, đầy đủ và có ghi vào sổ theo dõi; vợ chồng anh N, chị H không có phản đối về chất lượng, chủng loại hàng hóa được giao Tuy nhiên, đến hạn thanh toán thì vợ chồng anh N, chị H không trả nợ như cam kết Đến ngày 22/12/2018, hai bên đối chiếu công nợ thì vợ chồng anh N, chị H còn nợ tiền mua thức ăn nuôi tôm là 970.812.000 đồng (chín trăm bảy mươi triệu tám trăm mười hai nghìn đồng) Do anh N, chị H chậm thanh toán theo thỏa thuận hợp đồng nên những khoản chiết khấu cho vợ chồng anh N, chị H sẽ không còn Nay, ông M yêu cầu vợ chồng anh N, chị H phải thanh toán cho ông M toàn bộ
1 Tham khảo nội dung vụ việc tại https://congbobanan.toaan.gov vn/2ta474351t1cvn/chi-tiet-ban-an.
Trang 25số nợ nêu trên và tính lãi suất 10%/năm đối với số nợ này kể
từ ngày vi phạm cho đến khi Tòa án giải quyết kết thúc vụ án, tính đến ngày 25/02/2020 là 14 tháng 02 ngày với số tiền lãi là 113.345.000 đồng (một trăm mười ba triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn đồng), tổng cộng là 1.084.157.000 đồng (một tỷ không trăm tám mươi bốn triệu một trăm năm mươi bảy nghìn đồng)
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp là: Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký Hộ kinh doanh T; Bản sao Giấy chứng minh nhân dân của ông Nguyễn Duy M; Giấy ủy quyền đề ngày 14/01/2019; Hợp đồng đại lý đề ngày 20/3/2018; Bảng đối chiếu xác nhận công nợ ngày 22/12/2018; Đơn yêu cầu xác nhận nơi cư trú và địa chỉ không có số nhà đề ngày 02/01/2019; 06 cuốn hóa đơn ghi tên “ĐL Anh N ”
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn, anh Phan Thành N trình bày: Bắt đầu từ năm 2014, anh N có mua bán thức ăn nuôi tôm với Hộ kinh doanh T do ông M làm chủ, việc mua bán thông qua nhân viên của ông M là anh V Ban đầu, anh N tìm mối cho anh V bán thức ăn nuôi tôm và anh V có chiết khấu từng chuyến hàng cho anh N Sau đó, khoảng 3 - 4 tháng hai bên ký hợp đồng và sau khi ký hợp đồng thì bên ông M giao trực tiếp thức ăn nuôi tôm cho anh N và anh N tự tìm mối bán, anh V là người trực tiếp gặp những người mua thức ăn nuôi tôm
đó để hỗ trợ thêm Thời điểm đầu, chuyến hàng nào chiết khấu ngay chuyến hàng đó và cuối mỗi năm đều còn tồn đọng nợ để dồn sang năm sau, riêng năm 2017, tiền chiết khấu được tính cuối năm
Cuối năm 2017, sau khi chiết khấu, anh N còn nợ lại là 566.000.000 đồng (năm trăm sáu mươi sáu triệu đồng), chuyển công nợ sang năm 2018 Công nợ năm 2018 đến ngày 05/12/2018
Trang 26là 965.184.000 đồng (chín trăm sáu mươi lăm triệu một trăm tám mươi bốn nghìn đồng)
Tuy nhiên, tại phiên tòa, anh N xác nhận lại là vào ngày 18/12/2018, anh N có đặt một đơn hàng với số tiền là 5.628.000 đồng (năm triệu sáu trăm hai mươi tám nghìn đồng) và số nợ còn lại đúng như nguyên đơn trình bày là 970.812.000 đồng (chín trăm bảy mươi triệu tám trăm mười hai nghìn đồng) nhưng sản lượng thức ăn năm 2018, ông M chưa trừ chiết khấu cho anh N Anh N thừa nhận còn nợ ông M số tiền mua thức ăn nuôi tôm là 970.812.000 đồng (chín trăm bảy mươi triệu tám trăm mười hai nghìn đồng) nhưng anh N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do: nguyên đơn chưa chiết khấu cho anh N; đồng thời năm 2018, nguyên đơn không có thông báo trước nhưng tự ý cắt ngang không giao hàng nên những người mua thức ăn của anh N phải đổi mua thức ăn nuôi tôm của người khác, do đó hiện nay anh N cũng không thu được các khoản nợ đó; anh N không đồng ý việc nguyên đơn tính lãi chậm trả Sau khi nguyên đơn trừ chiết khấu xong thì còn lại bao nhiêu anh N
sẽ thanh toán mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) cho đến khi dứt nợ
Đối với bị đơn Phạm Ngọc H: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của ông M nhưng chị
H không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình Đồng thời, chị H cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 16/12/2019, ngày 07/01/2020 Tòa án
đã thông báo kết quả phiên họp trên cho chị H và đưa vụ án ra xét xử Phiên tòa ngày 10/02/2020, bị đơn H vẫn vắng mặt và
Trang 27không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định Tài liệu, chứng cứ do bị đơn giao nộp là: Bản tự khai và trình bày ý kiến của anh Phan Thành N và chị Phạm Ngọc H đề ngày 18/11/2019; Bản photocopy “Danh sách người mua thức ăn thiếu”
đề ngày 18/11/2019; 01 cuốn tập học sinh ghi công nợ giữa anh Võ Văn V với anh Phan Thành N; 01 hợp đồng đại lý tháng 01/2017 (không có ghi ngày); 01 cuốn tập học sinh ngoài bìa ghi bằng mực bút bi “2018”, nội dung bên trong ghi ngày, tháng và số lượng thức ăn
Chứng cứ Tòa án thu thập được là Biên bản ghi lời khai của anh Phan Thành N, Biên bản ghi lời khai của chị Lê Thị Thu H Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét
xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chứng cứ được thu thập đầy đủ bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho các đương sự Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn Phan Thành N đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật; riêng
bị đơn Phạm Ngọc H vắng mặt không có lý do, không có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa
vụ của mình Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét
xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp là “hợp đồng mua bán tài sản” Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn anh Phan Thành N và chị Phạm Ngọc H phải trả nguyên đơn số nợ còn thiếu là 970.812.000 đồng (chín trăm bảy mươi triệu tám trăm mười hai nghìn đồng) và tiền lãi theo yêu cầu của nguyên
Trang 28đơn, quyết định về nghĩa vụ chịu án phí đối với đương sự theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1 Về áp dụng pháp luật tố tụng:
1.1 Về tố tụng: Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ
án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Xét hợp đồng mua bán tài sản được giao kết giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Duy M và bị đơn là anh Phan Thành N - chị Phạm Ngọc H là thực tế và là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên Đây là giao dịch dân sự được quy định tại Điều 430 Bộ luật Dân
sự năm 2015 Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã VC theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
1.2 Bị đơn Phạm Ngọc H đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử
vụ án vắng mặt chị H
1.3 Việc tham gia phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã VC: Trong vụ án này, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã VC tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
2 Về nội dung giải quyết:
2.1 Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Duy
M yêu cầu bị đơn Phan Thành N và Phạm Ngọc H thanh toán
Trang 29970.812.000 đồng (chín trăm bảy mươi triệu tám trăm mười hai nghìn đồng) phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán giữa ông M với vợ chồng anh N, chị H, thấy: Căn cứ hợp đồng hai bên đã ký kết, Sổ giao nhận hàng, Bảng đối chiếu công nợ của hai bên; đối chiếu với quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015 có cơ sở khách quan để kết luận việc mua bán thức ăn nuôi tôm giữa nguyên đơn là Hộ kinh doanh
T do ông Nguyễn Duy M làm chủ với anh Phan Thành N và chị Phạm Ngọc H và vợ chồng anh N, chị H còn nợ của nguyên đơn
số tiền là 970.812.000 đồng (chín trăm bảy mươi triệu tám trăm mười hai nghìn đồng) là sự thật
Anh N cho rằng, việc mua bán chỉ thực hiện một mình, tuy nhiên đối với việc mua bán, tiền lãi kiếm được, anh dùng cho việc nuôi tôm, phục vụ cho mục đích chi tiêu chung trong gia đình Tòa án đã triệu tập chị Phạm Ngọc H tham gia tố tụng và có thông báo cho chị H các kết quả làm việc của Tòa án nhưng chị H không chấp hành và cũng không có ý kiến phản đối Anh N và chị
H là vợ chồng, cùng chung sống một nhà, cùng thực hiện các công việc gia đình với nhau Cho nên, xét thấy, số tiền lãi từ việc mua bán của anh N nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nên chị H phải có nghĩa vụ liên đới cùng anh N trả các khoản nợ nêu trên cho ông M
2.2 Xét ý kiến của bị đơn đối với việc chiết khấu theo hợp đồng, thấy: Tại Hợp đồng đại lý do hai bên ký kết vào ngày 20/3/2018 nguyên đơn nộp, thể hiện rõ giới hạn mức nợ và thanh toán thì các bên có quy định sản lượng và mức chiết khấu cụ thể, chỉ chiết khấu cho bên B nếu bên B thanh toán dứt điểm công nợ trong năm ký hợp đồng, còn nếu không thanh toán thì
sẽ mất hoàn toàn chiết khấu Khi giao kết hợp đồng đại lý giữa nguyên đơn là Hộ kinh doanh T và anh Phan Thành N thì các
Trang 30bên đương sự là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân
sự, giao kết hợp đồng dựa trên cơ sở tự nguyện của hai bên được pháp luật quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 Tại phiên tòa, chị H không đồng ý trừ chiết khấu cho bị đơn căn cứ vào hợp đồng đại lý hai bên đã ký kết vào ngày 20/3/2018 Do đó, không chấp nhận yêu cầu của bị đơn đối với việc trừ chiết khấu hàng hóa
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông M có đơn yêu cầu thi hành án, anh N và chị H phải trả lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả
2.3 Xét yêu cầu trả tiền lãi 10%/năm do bị đơn chậm thanh toán trên số tiền 970.812.000 đồng (chín trăm bảy mươi triệu tám trăm mười hai nghìn đồng) tính từ ngày vi phạm đến khi xét xử với thời hạn là 14 tháng 02 ngày, xét thấy: Trong hợp đồng mua bán thức ăn nuôi tôm mà hai bên đã ký kết mặc dù không thỏa thuận về lãi suất khi chậm thanh toán theo hợp đồng, tuy nhiên, tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu trả lãi phát sinh kể từ ngày vi phạm là 23/12/2018 Theo quy định tại khoản 3 Điều 440
Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp bên mua chậm trả tiền sẽ phải trả lãi đối với số tiền chậm trả Ngày 22/12/2018, hai bên thực hiện đối chiếu công nợ, do đó kể từ ngày 23/12/2018, anh N, chị H không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi tương ứng với thời gian vi phạm Vì vậy, cần phải tính lãi suất khi chậm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 23/12/2018 đến thời điểm xét xử
là 14 tháng 02 ngày với mức lãi suất là 10%/năm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015
3 Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã VC là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã
Trang 31nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu
4 Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn Phan Thành N và Phạm Ngọc H phải liên đới chịu toàn bộ án phí có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định
về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 288, Điều 430, Điều 440, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 27, khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Duy
M đối với bị đơn Phan Thành N và Phạm Ngọc H, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”
Trang 32Buộc Phan Thành N và Phạm Ngọc H có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông M số tiền nợ là 970.812.000 đồng (chín trăm bảy mươi triệu tám trăm mười hai nghìn đồng) và tiền lãi phát sinh theo yêu cầu của nguyên đơn là 14 tháng 02 ngày là 113.345.000 đồng (một trăm mười ba triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn đồng), tổng cộng là 1.084.157.000 đồng (một tỷ không trăm tám mươi bốn triệu một trăm năm mươi bảy nghìn đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông M có đơn yêu cầu thi hành án, anh Phan Thành N và chị Phạm Ngọc H phải trả lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả
2 Án phí dân sự sơ thẩm
Trang 33NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH
1 Khái quát về hợp đồng mua bán tài sản
Chương XVI Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận 13 loại hợp đồng thông dụng bao gồm: hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng về quyền
sử dụng đất, hợp đồng hợp tác, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng gia công, hợp đồng gửi giữ và ủy quyền; trong
đó, phù hợp với tính chất phổ biến trong thực tiễn giao dịch, hợp đồng mua bán tài sản được quy định đầu tiên tại Mục 1 với khái
niệm như sau: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán” (Điều 430 Bộ luật Dân sự
năm 2015) Đồng thời, với tinh thần bảo đảm sự ổn định trong quy định của Bộ luật Dân sự, tránh chồng chéo, trùng lặp với quy định của các luật khác có liên quan về hợp đồng trong lĩnh vực
cụ thể và để bảo đảm sự bao quát, phù hợp hơn với thực tiễn hợp đồng nên các hợp đồng liên quan về nhà ở nói chung, trong đó, có hợp đồng mua bán nhà không được quy định cụ thể trong Bộ luật
Dân sự năm 2015 mà chỉ ghi nhận nguyên tắc: “Hợp đồng mua
bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật Nhà ở và luật khác có
liên quan” (Điều 430 Bộ luật Dân sự năm 2015)
2 Phân biệt hợp đồng mua bán tài sản với một số hợp đồng thông dụng khác
Bộ luật Dân sự năm 2015 phân chia các loại hợp đồng thông dụng thành 13 loại, được ghi nhận với những quy định điều chỉnh
Trang 34riêng, theo đó, về nguyên tắc, mỗi loại hợp đồng có những dấu hiệu nhận diện như là đối tượng, tính chất, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, Vì vậy, “một khi có tranh chấp liên quan đến hợp đồng, thì công việc đầu tiên của Thẩm phán bao giờ cũng là xác định tính chất của hợp đồng và xem lại cách đặt tên hợp đồng của các bên trong mối quan hệ với tính chất đó Nếu tên gọi của hợp đồng do các bên lựa chọn không phù hợp với tính chất của hợp đồng, thì Thẩm phán phải đặt tên lại cho hợp đồng, trước khi áp dụng các quy tắc thuộc chế độ pháp lý của hợp đồng được đặt tên lại đó để giải quyết tranh chấp”1 Đối với hợp đồng mua bán tài sản, một trong những dấu hiệu đặc trưng
là phải đồng thời có sự chuyển giao tài sản và quyền sở hữu từ bên bán sang bên mua; ngược lại, bên mua phải có nghĩa vụ trả cho bên bán một khoản tiền tương đương với giá trị tài sản mua bán Nếu thiếu dấu hiệu này thì chưa tồn tại hợp đồng mua bán Nghiên cứu từ thực tiễn xét xử cho thấy, về nguyên tắc, trong quá trình giải quyết các tranh chấp phát sinh về hợp đồng, nhiệm vụ đầu tiên các Tòa án thường thực hiện là xác định hợp đồng đang tranh chấp là loại hợp đồng nào để lựa chọn những quy định
pháp luật tương ứng cho phù hợp Bản án thứ nhất là một ví dụ
cụ thể2: bà Hồ Thị Thu H khởi kiện ông Lê Minh P vì “ông Lê Minh P có mua vật liệu xây dựng (cát, đá, đất, gạch), con giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y của Cửa hàng HN do bà Hồ Thị Thu H đứng tên đại diện hộ gia đình với tổng số tiền nợ tính đến tháng 7/2017 là 3.668.974.000 đồng, cụ thể:
1. Nguyễn Ngọc Điện: Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật dân sự Việt Nam, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, 2005, tr.8.
2 Bản án số 18/2019/DS-PT ngày 27/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh
QN về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hóa và mua bán tài sản, https://congbobanan.toaan.gov vn/2ta262804t1cvn/chi-tiet-ban-an.
Trang 35- Tiền mua vật liệu (cát, đá, đất, gạch) tính đến ngày 13/11/2017, hai bên chốt nợ là 278.664.000 đồng
- Tiền thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, con giống tính đến ngày 05/7/2017, hai bên chốt nợ là 3.390.310.000 đồng
Ngoài ra, từ ngày 26/8/2016 đến ngày 15/6/2017, ông Lê Minh P còn vay của bà Hồ Thị Thu H, ông Nguyễn Ngọc N số tiền 382.240.000 đồng
Số tiền nợ vay, ông P đã trả tiền lãi cho ông N, bà H từ ngày vay đến hết năm 2017 với mức lãi suất 0,83%/tháng
Như vậy, tổng số tiền ông P nợ bà H, ông N là 4.051.214.000 đồng Ông N, bà H đã nhiều lần yêu cầu ông P trả nợ nhưng ông
P không trả
Nay, bà H yêu cầu ông P phải trả cho bà H và ông N số tiền
nợ trên và tiền lãi đối với số tiền nợ mua thức ăn chăn nuôi là 3.390.310.000 đồng từ ngày 05/7/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm (05/11/2018) là 16 tháng với mức lãi suất 0,83%/tháng, thành tiền là 450.233.168 đồng (3.390.310.000 đồng x 0,83%/tháng x
16 tháng), không yêu cầu trả tiền lãi đối với tiền nợ mua vật liệu xây dựng và tiền vay Tổng số tiền ông P phải trả cho bà H, ông
N là 4.501.447.168 đồng Ngoài ra, bà H không yêu cầu gì khác” Tuy nhiên, theo bị đơn là ông Lê Minh P, các bên có thỏa thuận hợp tác làm ăn chung và thông tin này được người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: “Đầu năm 2015, ông Lê Minh P và ông Nguyễn Ngọc N có thỏa thuận hợp tác làm ăn chung, trong đó, ông N chịu trách nhiệm cung cấp thức
ăn chăn nuôi và kỹ thuật, ông P chịu con giống và chuồng trại với phương thức lời cùng ăn, lỗ cùng chịu Do tin tưởng nhau nên không lập thành văn bản Khi ông N giao thức ăn chăn nuôi cho ông P có nhiều người ký nhận Tại quyển sổ số I và II thể hiện việc giao nhận hàng từ tháng 02/2015 đến tháng 6/2017, không
Trang 36thể hiện giá cám, thuốc tại thời điểm giao hàng mà do ông N tự ghi, tự tính trong quyển sổ số II từ ngày 09/8/2016 đến tháng 6/2017 Nhìn bằng mắt thường cũng có thể nhận biết được là do cùng một người viết ra và viết cùng một thời điểm, không phải viết vào từng thời điểm giao nhận hàng Trong quá trình làm ăn chung, ông P có đưa cho ông N 04 lần tiền sau mỗi đợt bán heo với tổng số tiền 358.000.000 đồng, được thể hiện trong sổ giao nhận hàng Theo các tài liệu có tại hồ sơ thể hiện từ năm 2015 đến năm 2017, hai bên không chốt sổ từng tháng, quý hoặc năm Tại phiên tòa, ông N thừa nhận có gây áp lực cho ông P nên ông
P phải ký chốt nợ vào ngày 05/7/2017 Thực chất đây không phải
là việc xác nhận nợ mà là xác định việc đầu tư của mỗi bên, vì số tiền 3.390.310.000 đồng là do ông N tự tính, trước khi ông P xác nhận vào sổ của ông N, ông N không cung cấp sổ ghi chép theo dõi của ông N, giữa hai bên không có việc đối chiếu sổ trước khi xác nhận nợ nên việc xác nhận của ông P trong sổ do ông N ghi chép là không có căn cứ xác nhận ông P có nợ tiền ông N Đối với
số tiền mua vật liệu xây dựng là do ông N tự đổ để đầu tư mở rộng trang trại cùng kinh doanh chung nên ông P không có trách nhiệm phải trả số tiền này cho ông N ” Và theo ông Lê Minh P: việc hợp tác làm ăn chăn nuôi heo đã bị thua lỗ vì lý do ông N để heo dịch bệnh chết hết
Như vậy, trong vụ việc này, giữa nguyên đơn và bị đơn không
có sự thống nhất trong quan hệ hợp đồng hai bên đã xác lập đối với số thức ăn chăn nuôi và tiền vật liệu xây dựng: theo nguyên đơn, hợp đồng giữa hai bên là hợp đồng mua bán những tài sản nói trên nên khi bên mua không trả tiền thì nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết; ngược lại, theo bị đơn, hợp đồng giữa hai bên là hợp đồng hợp tác làm ăn chung với phương thức lời cùng ăn, lỗ cùng chịu và vì việc hợp tác làm ăn chăn nuôi
Trang 37heo đã bị thua lỗ nên bị đơn không chấp nhận yêu cầu trả tiền
cho nguyên đơn Rõ ràng là, hai hợp đồng này có tính chất khác nhau, được điều chỉnh bởi những quy định tương ứng cho riêng từng loại, quyền và nghĩa vụ của các bên theo đó cũng khác nhau nên việc xác định hợp đồng hai bên đã xác lập đối với số thức
ăn chăn nuôi và tiền vật liệu xây dựng là vô cùng cần thiết, có ý nghĩa quyết định đối với kết quả giải quyết vụ việc
Vì vậy, trong quá trình giải quyết, Tòa án nhận định:
“2.1 Đối với số tiền nợ vật liệu xây dựng 278.664.000 đồng:
Theo tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện ông P có
ký xác nhận số tiền trên vào ngày 13/11/2017 (Bút lục 75) Ông P thừa nhận chữ viết, chữ ký xác nhận là của ông, tuy nhiên, ông P cho rằng do hai bên hợp tác làm ăn chung nên ông N tự nguyện
đổ vật liệu xây dựng để đầu tư xây dựng mở rộng chuồng trại cùng kinh doanh chung, nên ông P không có trách nhiệm phải thanh toán số tiền này cho bà H, ông N nhưng ông P không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh giữa ông và ông N có sự hợp tác kinh doanh và không được bà H, ông N thừa nhận nên không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của ông P
2.2 Đối với số tiền nợ mua thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, con giống 3.390.310.000 đồng: Theo tài liệu do nguyên đơn cung
cấp thể hiện ngày 05/7/2017, ông P xác nhận còn nợ cửa hàng HN
số tiền nợ trên (các bút lục 81, 82) Ông P thừa nhận chữ viết, chữ
ký là của ông, trừ chữ: “Em đồng ý ”
Ngoài ra, ông P cho rằng giữa ông và ông N, bà H có việc hợp tác làm ăn chung, hai bên thỏa thuận ông N chịu trách nhiệm cung cấp thức ăn chăn nuôi và kỹ thuật, ông chịu con giống, chuồng trại và công chăm sóc với phương thức lời cùng hưởng,
lỗ cùng chịu Tuy nhiên, ông P cũng thừa nhận việc hợp tác kinh doanh chung không lập hợp đồng mà chỉ thỏa thuận miệng
Trang 38Tại phiên tòa, ông P cho rằng, từ ngày 19/4/2016 đến ngày 29/7/2016, ông đã đưa cho ông N số tiền 358.000.000 đồng tiền
ăn chia lợi nhuận, tuy nhiên, ông N không thừa nhận có việc làm
ăn chung nên không thừa nhận số tiền 358.000.000 đồng là tiền
ăn chia lợi nhuận mà đây là tiền ông P trả tiền mua thức ăn chăn nuôi được thể hiện trong sổ theo dõi mua thức ăn chăn nuôi và số tiền này ông P đưa cho ông N trước khi ông N với ông P chốt nợ vào ngày 05/7/2017 Mặt khác, ông P cho rằng giữa ông và ông
N, bà H có việc làm ăn chung nhưng ông P cũng thừa nhận, bản thân ông cũng không mở sổ theo dõi chi phí mà ông đầu tư con giống, xây dựng trang trại, ông cũng không xác định được tỷ lệ phân chia lợi nhuận và việc phân chia lợi nhuận trong thời gian kinh doanh chung nên không có căn cứ xác định giữa ông P và ông N, bà H có việc hợp tác kinh doanh chung
Như nhận định trên, từ khi ông P xác nhận nợ vào ngày 05/7/2017 đến khi nguyên đơn khởi kiện ông P thì ông P hoàn toàn không khiếu nại hay thắc mắc về việc ông xác nhận nợ trong
sổ của ông N là không đúng Ông P cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh có việc giữa ông và ông N có việc hợp tác làm ăn chung, bản thân ông cũng không hề mở sổ theo dõi chi phí mà ông đầu tư để làm ăn chung với ông N và ông P cũng không xác định được tỷ lệ phân chia lợi nhuận, nếu có ”
Theo tác giả, dựa vào những thông tin trong bản án, kết luận của Tòa án “không có căn cứ xác định giữa ông P và ông N, bà H
có việc hợp tác kinh doanh chung” là hoàn toàn có cơ sở vì: Thứ nhất, không có văn bản, tài liệu nào ghi nhận việc hợp tác kinh doanh chung giữa nguyên đơn và bị đơn; Thứ hai, nguyên đơn
không thừa nhận có việc hợp tác giữa hai bên trong khi bị đơn không chứng minh được có tồn tại việc hợp tác, nội dung hợp tác, cách thức phân chia lợi nhuận, Thực tế, nguyên đơn chứng
Trang 39minh được đã giao cho bị đơn một số hàng hóa có giá trị là vật liệu xây dựng (cát, đá, đất, gạch); thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, con giống và bị đơn cũng không chứng minh được đã thanh toán cho nguyên đơn đối với giá trị hàng hóa này nên Tòa án đã buộc
bị đơn là ông P có trách nhiệm trả cho nguyên đơn là ông N, bà
H số tiền nợ thức ăn chăn nuôi và vật liệu xây dựng Tuy nhiên, theo tác giả, bản án sẽ rõ ràng và thuyết phục hơn nếu sau khi kết luận “không có căn cứ xác định giữa ông P và ông N, bà H có việc hợp tác kinh doanh chung” Tòa án bổ sung thêm khẳng định
“thực chất việc giao nhận vật liệu xây dựng, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, con giống giữa các bên là thực hiện các hợp đồng mua bán các tài sản này”.
Trong bản án thứ nhất, trước khi giải quyết về nội dung vụ việc, Tòa án đã xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên để lựa chọn các quy định pháp luật phù hợp Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, Tòa án chưa xác định rõ quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là loại hợp đồng nào, điều này làm giảm tính thuyết
phục đối với kết quả giải quyết của Tòa án Ví dụ, trong một bản
ánkhác: “Ông Võ Thành L bán thức ăn chăn nuôi cho gia đình
ông Phạm Văn L nhiều lần với tổng số tiền hiện nay gia đình ông Phạm Văn L còn nợ là 136.815.000 đồng, theo giấy ghi nợ ngày 04/02/2017 và ngày 27/3/2017 (âm lịch) Các bên có thỏa thuận thời hạn trả vào ngày 04/4/2017 (âm lịch), lãi suất tính theo lãi suất của Ngân hàng Tuy nhiên đến nay, gia đình ông Phạm Văn
L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận nên ông Võ Thành L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết”1 “Ông Phạm Văn
L thừa nhận: “trước đây vợ chồng ông có nhận đầu tư bằng thức
1 Bản án số 36/2018/DS-ST ngày 14/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện MĐ, tỉnh ĐL về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, https:// congbobanan.toaan.gov.vn/2ta227532t1cvn/chi-tiet-ban-an.
Trang 40ăn chăn nuôi từ ông Võ Thành L, do heo chết vì dịch bệnh, giá bán thấp nên không có khả năng trả nợ tiền đầu tư cho ông Võ Thành L Tính đến nay gia đình ông Phạm Văn L còn nợ 136.815.000 đồng như nguyên đơn trình bày
Giấy nợ ngày 04/02/2017 (âm lịch) đối với số tiền 124.960.000 đồng mà nguyên đơn cung cấp là không đúng, ông Phạm Văn L thừa nhận nợ cũ tính đến ngày 04/02/2017 là 124.960.000 đồng nhưng không có thỏa thuận đó là tiền vay, không thỏa thuận thời hạn trả và lãi suất Số nợ trên là tiền nợ do đầu tư thức ăn chăn nuôi, nên ông Phạm Văn L không chấp nhận số tiền lãi mà nguyên đơn yêu cầu”
Trong quá trình giải quyết vụ án này, Tòa án nhận định: “Các bên đều thừa nhận vợ chồng ông Phạm Văn L, bà Dương Thị N có nhận đầu tư thức ăn chăn nuôi từ ông Võ Thành L Tổng số tiền đầu tư vợ chồng ông Phạm Văn L còn nợ là 136.815.000 đồng, gồm 124.960.000 đồng; 4.480.000 đồng theo giấy ghi nợ ngày 04/02/2017 và 7.375.000 đồng theo giấy ghi nợ ngày 27/3/2017 Các bên giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội ” Mặc dù, nhận định bị đơn “có nhận đầu tư thức ăn chăn nuôi” từ nguyên đơn nhưng khi giải quyết vụ án, Tòa án áp dụng các điều 357, 430, 434, 440,
468 Bộ luật Dân sự năm 2015 (là những quy định trong hợp đồng mua bán và trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng mua bán) mà không làm rõ nội dung thỏa thuận của các bên
về việc “đầu tư chăn nuôi” trong đó một bên cung cấp thức ăn, bên còn lại (theo suy luận của tác giả vì thông tin này không được làm rõ trong bản án) cung cấp con giống, thực hiện nuôi, chăm sóc, vì bản án không làm rõ thỏa thuận của các bên trong hợp đồng này nên lời trình bày của bị đơn (người chăn nuôi trực tiếp,