Phần 2 của cuốn sách Hướng dẫn dạy học môn Giáo dục kinh tế và pháp luật theo chương trình giáo dục phổ thông mới tiếp tục cung cấp cho học viên những nội dung: đánh giá kết quả giáo dục; căn cứ xác định đánh giá kết quả giáo dục; đánh giá kết quả giáo dục; câu hỏi kiểm tra, đề đánh giá minh họa;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1PHAN BA DANH GIA KET QUA GIAO DUC
1 CĂN CỨ XÁC ĐỊNH ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC
1 Căn cứ vào đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
~ Nghị quyết 29 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 8 khoá XI:
“Đổi mới căn bản kiểm tra và đánh giá kết quả giáo duc, dao tao, bảo đảm trung thực, khách quan Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kì, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với dánh giá của gia đình và của xã hội”
~ Nghị quyết 88 của Quốc hội: “Đổi mới căn bản phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục theo hướng hỗ trợ phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; phân ánh mức độ đạt chuẩn quy định trong chương trình; cung cấp thông tin chính xác, khách quan, kịp thời cho việc điều chỉnh hoạt động dạy, hướng dẫn hoạt động học nhằm nâng cao dần năng lực học sinh”
Chương trình mới,
sách giáo khoa mới được xây dựng,
thuận lợi thực hiện đổi mới thị, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục; bảo đảm trung thực, khách quan, thiết thực, tiết kiệm, giảm áp lực cho xã hội
và khắc phục bệnh thành tích hình thức, cục bộ Thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục phải dựa vào yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh được quy định trong chương trình; phối hợp đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kì, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình
và của xã hội; thực hiện đánh giá chất lượng giáo dục ở cấp quốc gia địa phương và đánh giá theo chương trình quốc tế để làm căn cứ để xuất chính sách, giải pháp cải thiện chất lượng giáo đục”.
Trang 22 Căn cứ vào định hướng đổi mới đánh giá đã nêu trong Chương
trình giáo dục phổ thông tổng thể
Chương trình môn Giáo dục công dân nói chung, Giáo dục kinh tế và pháp luật nói riêng là một bộ phận hữu cơ của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể nên cần phải tuân thủ các định hướng, trong đó có định hướng về đánh giá kết quả giáo dục Cụ thể là:
~ Mục tiêu đánh giá kết quả giáo dục là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình và
sự tiến bộ của học sinh để hướng dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học, quản lí và phát triển chương trình, bảo đảm sự tiến bộ của từng học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục
~ Căn cứ đánh giá là các yêu cầu cần đạt về phẩm chất va năng lực được quy định trong Chương trình tổng thể và chương trình môn học Đối tượng đánh giá là sản phẩm và quá trình học tập, rèn luyện của học sinh
~ Kết quả giáo dục được đánh giá bằng các hình thức định tính và định lượng thông qua đánh giá thường xuyên, định kì ở cơ sở giáo dục, các kì đánh giá trên diện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương và các kì đánh giá quốc tế
~ Việc đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức, dựa trên kết quả đánh giá của giáo viên, của phụ huynh học sinh, của bản thân học sinh được đánh giá và của các học sinh khác trong tổ, trong lớp
~ Phương thức đánh giá bảo đảm độ tin cậy, khách quan, phù hợp với từng lứa tuổi, không gây áp lực lên học sinh, hạn chế tốn kém cho ngân sách nhà nước, gia đình học sinh và xã hội
~ Nghiên cứu từng bước áp dụng các thành tựu của khoa học đo lường,
đánh giá trong giáo dục và kinh nghiệm quốc tế vào việc nâng cao chất
lượng đánh giá kết quả giáo dục, xếp loại học sinh ở cơ sở giáo dục và sử
dụng kết quả đánh giá trên diện rộng làm công cụ kiểm soát chất lượng
đánh giá ở cơ sở giáo dục
3 Căn cứ vào định hướng đổi mới đánh giá đã nêu trong chương trình môn học
Môn Giáo dục kinh tế và pháp luật thuộc Chương trình môn Giáo dục công dân Chương trình môn Giáo dục công dan đã nêu định hướng đổi mới đánh giá kết quả giáo dục của môn học như sau:
Trang 3
Đánh giá kết quả giáo dục là đánh giá mức độ đạt được của học sinh về
phẩm chất và năng lực so với các yêu cầu cần đạt của mỗi lớp học, cấp học nhằm xác định vị trí và ghỉ nhận sự tiến bộ của mỗi học sinh tại thời điểm nhất định trong quá trình phát triển của bản thân; đồng thời cung cấp thông tin để giáo viên điều chỉnh việc dạy học và cơ quan quản lí giáo dục thực hiện phát triển chương trình Vì thế, đánh giá phải bảo dảm một số yêu cầu sau:
~ _Kết hợp đánh giá thông qua các nhiệm vụ học tập (bài kiểm tra dưới
dạng trắc nghiệm, vấn đáp hoặc tự luận, bài tập thực hành, bài tiểu luận, bài thuyết trình, bài tập nghiên cứu, dự án nghiên cứu ) với đánh giá thông qua quan sát biểu hiện về thái độ, hành vi của học sinh trong quá trình tham gia các hoạt động học tập được tổ chức trên lớp học, hoạt động nhóm, tập thể hay cộng đồng và trong sinh hoạt, giao tiếp hằng ngày Chú trọng sử dụng các bài tập xử lí tình huống được xây dựng trên cơ sở gắn kiến thức của bài học với thực tiễn đời sống, đặc biệt là những tình huống, sự việc, vấn để, hiện tượng của thực tế cuộc sống xung quanh, gần gũi với học sinh Tăng cường các câu hỏi mở gắn với thực tiễn trong các bài tập kiểm tra, đánh giá để học sinh được thể hiện phẩm chất và năng lực Việc đánh giá
thông qua quan sát biểu hiện về thái độ, hành vi ứng xử của học sinh trong,
quá trình tham gia vào các hoạt động học tập, sinh hoạt ở trường, ở nhà và ở công đồng cần dựa trên phiếu nhận xét của giáo viên, học sinh, gia đình hoặc các tổ chức xã hội
~ Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng của học sinh, đánh giá của phụ huynh học sinh và đánh giá của cộng đồng, trong đó đánh giá của giáo viên là quan trọng nhất, coi trọng đánh giá sự tiến bộ của học sinh
4 Căn cứ vào xu thế và kết quả nghiên cứu về đánh giá của quốc tế
Do yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu của thị trường lao động hiện đại, việc đánh giá kết quả học tập của các nước đang dần xích lại gần nhau Rat nhiều tổ chức đánh giá quốc gia, quốc tế ra đời (PISA, TIMS, PIRLS 'Kết quả nghiên cứu về đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông đạt được nhiều thành tựu cẩn vận dụng vào giáo dục nhà trường Việt Nam
Xu thé chung là hướng tới đánh giá năng lực người học, giúp người học tiến bộ
Trang 4
chứ không chỉ tập trung vào đánh giá để xếp hạng, phân loại học sinh; chú trọng đánh giá quá trình, giúp học sinh biết tự đánh giá
Trong thời gian qua, ở Việt Nam, để phát huy tác dụng của kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học, việc kiểm tra, đánh giá hoạt động của học sinh trong nhà trường phổ thông đã được đổi mới theo định hướng sau:
~ Chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khoá học (đánh giá tổng kết) nhằm mục đích xếp hạng, phân loại sang sử dụng các loại hình thức đánh giá thường xuyên, đánh giá định kì sau từng chủ dé, từng chương nhằm mục đích phản hồi, diéu chỉnh quá trình dạy học (đánh giá quá trình);
~ Chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kĩ năng sang đánh giá năng lực của người học, tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như
tử duy sáng tạo;
~ Chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình day hoc sang việc tích hợp đánh giá vào quá trình dạy học, xem đánh giá như là một phương pháp dạy học;
~ Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh
sử dụng các phần mềm thẩm định, các đặc tính đo lường của công cụ (độ tin cậy, độ khó, độ phân biệt, độ giá trị) và sử dụng các mô hình thống kê vào xử lí phân tích, lí giải kết quả đánh giá Diéu này được áp dung trong
ki thi trung học phổ thông quốc gia những năm gần đây
5 Một số lưu ý về đánh giá theo tiếp cận năng lực
'Theo quan điểm giáo dục hướng vào người học, đánh giá kết quả giáo dục của môn Giáo dục kinh tế và pháp luật hướng tới việc học sinh có thể vận dụng những gì đã học được ở môn học vào cuộc sống, chứ không phải đánh giá từng đơn vị kiến thức, kĩ năng riêng lẻ Vì thế, cần có cách đánh giá khác, đó là đánh giá theo năng lực
Đánh giá năng lực là đánh giá hướng vào việc xác định học sinh giải quyết nhiệm vụ ở mức độ nào hơn là biết những gì Nói khác di, đánh giá theo năng lực là đánh giá khả năng học sinh áp dụng kiến thức, kĩ năng đã học được vào giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống hằng ngày gắn
bó với các em
Trang 5
Các nghiên cứu về khoa học tâm lí và giáo dục đã chứng minh, năng lực được hình thành và phát triển từ thấp đến cao gắn với sự phát triển qua các giai đoạn lứa tuổi của một đời người; dẫn đến vấn để giáo viên phải xác định xem học sinh đang ở mức độ nào của năng lực để từ đó giúp các em tiến đến những nấc thang cao hơn trong quá trình học tập
tự đánh giá năng lực của mình, trên cơ sở đó có ý hướng phấn đấu và rèn luyện để nâng cao khả năng của chính mình
'Việc phân tích và xử lí kết quả trong đánh giá năng lực, học sinh thực hiện được nhiệm vụ càng khó và phức tạp hơn sẽ được coi là có năng lực cao hơn, nghĩa là kết quả đánh giá phụ thuộc vào độ khó của nhiệm vụ hoàn thành
Để đánh giá được năng lực của học sinh, theo các chuyên gia [Dan theo: Nguyễn Công Khanh (Chủ biên, 2015)], giáo viên/ nhà giáo dục phải tìm cách thu thập được đầy đủ thông tin về khả năng của người học theo các
+ Tầng 4: Kết quả của việc thể hiện năng lực vào giải quyết nhiệm vụ
Trang 6~ Xác định vị trí của mỗi học sinh tại thời điểm nhất định trong quá trình phát triển của bản thân và ghỉ nhận sự tiến bộ của mỗi học sinh
~ Cung cấp thông tin để giáo viên điều chỉnh việc dạy học và cơ quan
quản lí giáo dục thực hiện điều chỉnh chương trình môn học
Việc đánh giá kết quả giáo dục của môn học theo những mục tiêu trên
cuối cùng là để giúp cho:
~ Học sinh tự đánh giá những tiến bộ trong quá trình học của mình;
nhận ra những ưu điểm, nhược điểm của mình; khuyến khích, thúc đầy các
em tự kiểm soát, tự điều chỉnh các hoạt động học tập để từng bước đạt được những yêu cầu cần đạt mà chương trình đã dé ra
~ Giáo viên nhận biết những tiến bộ và hạn chế của học sinh, những nhu cầu cần hỗ trợ của từng học sinh, từ đó tạo động cơ để học sinh học tập tốt hơn theo khả năng của mình, có những hướng dẫn kịp thời cho học sinh trong quá trình đạy học và điều chỉnh hoạt động dạy học sao cho đạt được yêu cầu cần đạt (chẳng hạn như: có thể tạm dừng bài học mới để ôn luyện kiến thức đã học nếu kết quả phản hồi cho thấy các em không hiểu nội dung đang được dạy hoặc thay đổi phương pháp, hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp hơn với học sinh )
~ Cơ quan quản lí giáo dục ở cấp học hiểu rõ chất lượng dạy học của nhà trường và có những biện pháp điều chỉnh phù hợp, kịp thời để nâng cao chất lượng giáo dục (lập kế hoạch để nâng cao chất lượng giảng dạy, điều chỉnh hoạt động chuyên môn và các hỗ trợ khác cho việc dạy va hoc )
~ Phụ huynh nhận rõ những điểm mạnh, điểm yếu của con em minh dé
có biện pháp giáo dục phối hợp với giáo viên (giám sát, động viên con em mình học tập, có kế hoạch giúp con em mình nâng cao kết quả học tập
~ Các cơ sở giáo dục và giáo viên môn học có căn cứ để phát triển chương trình môn học (điều chỉnh kế hoạch dạy học; lựa chọn, bổ sung nội dung dạy học, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá phù hợp với tâm lí lứa tuổi, điều kiện học tập của học sinh và đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hoá của từng địa phương
2 Nội dung đánh giá
Nội dung đánh giá của Chương trình môn Giáo dục công dân nói chung, Giáo dục kinh tế và pháp luật nói riêng là các năng lực và phẩm chất
Trang 7đã được xác định ở mục tiêu, yêu cầu cần đạt trong chương trình môn học 'Các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm của học sinh được đánh giá chủ yếu bằng định tính, thông qua quan sát, ghi chép, nhận xét về hành vi, cách ứng xử, các biểu hiện về thái độ, tình cảm của học sinh khi đọc, viết, nói và nghe văn bản Đánh giá các năng lực chung và năng lực đặc thù của môn học cần kết hợp cả định tính và dịnh lượng, thông qua các bài kiểm tra, bài tập giải quyết tình huống, dự án nghiên cứu với nhiều hình thức và mức độ khác nhau, dựa trên yêu cầu cần dạt về năng lực đối với mỗi cấp lớp Cụ thể:
~ Đối với kĩ năng đọc, phân tích thông tin, tình huống: đánh giá khả năng đọc và nắm bắt thông tin của học sinh; khả năng phân tích thông tin; khả năng trả lời các câu hỏi theo những cấp độ tư duy khác nhau trong thang nhận thức Bloom cải tiến (phiên bản 2001); kha năng lập luận, giải thích cho cách hiểu của mình; khả năng nhận xét, đánh giá về giá trị và sự tác động của thông tin, tinh huống đối với bản thân; khả năng thể hiện cảm xúc đối với những vấn để được đặt ra trong thông tin, tình huống; khả năng, liên hệ những vấn đề mà thông tỉn, tình huống đặt ra với thực tế nói chung,
và với cuộc sống của học sinh nói riêng
~ Đánh giá kĩ năng viết của học sinh là đánh giá dựa vào các tiêu chí như: ¡) nội dung; ii) kết cấu; iii) khả năng biểu đạt và lập luận; iv) hình thức ngôn ngữ và cách trình bày Các tiêu chí này phải thể hiện được đặc điểm của thể loại để bài yêu cầu Việc đánh giá dựa trên tiêu chí sẽ hạn chế được tình trạng đếm ý chấm điểm mà không chấm được khả năng trình bày, sử lôg¡c trong sắp xếp, trình bày các luận điểm, luận chứng, đồng thời đánh giá được khả năng sáng tạo của học sinh Các tiêu chí này cũng chính là công cụ hướng dẫn học sinh cách tạo lập văn bản sao cho đáp ứng tiêu chí, tự đánh giá bài viết của bản thân, qua đó hình thành khả năng tự kiểm soát và điểu chỉnh bài viết của bản thân Tiêu chí này còn là công cụ để học sinh đánh giá lẫn nhau
~ Đánh giá kĩ năng thuyết trình và giao tiếp của học sinh là đánh giá khả năng tập trung vào chủ để và mục tiêu cần thuyết trình; sự tự tin, năng,
động của người nói; khả năng chú ý đến người nghe; khả năng tranh luận và
thuyết phục Đánh giá kĩ năng thuyết trình còn là đánh giá kĩ thuật nói thích hợp, khả năng sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ và
Trang 8phương tiện công nghệ hỗ trợ của học sinh trong quá trình nói Điều này
không chỉ thể hiện năng lực tư duy của học sinh mà còn đánh giá được khả năng học sinh nhận biết đối tượng người nghe, hiểu cảm xúc, thái độ của
người nghe để có những phản hồi phù hợp Điều đó có nghĩa là khi giao
tiếp, học sinh có khả năng trả lời được các câu hỏi: Đối tượng giao tiếp là ai? Mục tiêu, nội dung giao tiếp là gì? Cách thức giao tiếp như thế nào?
~ Đánh giá kĩ năng nghe, phản hồi, hợp tác nhóm của học sinh là đánh giá khả năng nắm bắt nội dung do người khác nói; khả năng nắm bắt va đánh giá được quan điểm, ý định của người nói, khả năng kết nối của cá
nhân với các thành viên trong nhóm Điều này giúp giáo viên đánh giá được
mức độ tập trung, khả năng tư duy, khả năng suy luận, khả năng hợp tác của học sinh Đánh giá kĩ năng nghe, phản hồi, hợp tác còn là đánh giá khả năng đặt câu hỏi, nêu vấn đề, trao đổi để kiểm tra những thông tin chưa rõ;
có thái độ nghe tích cực và tôn trọng người nói; khả năng lắng nghe và tôn trọng những ý kiến khác biệt, khả năng hợp tác trong công việc Qua đó,
giáo viên đánh giá được kĩ năng tương tác của học sinh trong quá trình giao
tiếp với những người khác và văn hoá giao tiếp của học sinh
Đối tượng đánh giá là các sản phẩm thể hiện những cố gắng của học sinh trong suốt quá trình học tập, rèn luyện, bao gồm các câu trả lời, các bài
tập, bài nghiên cứu, bài viết, các tư liệu học sinh thu thập được, các tranh vẽ,
kịch bản, video clip mà học sinh thực hiện trong suốt năm học Đối tượng đánh giá còn là các hành vi, ứng xử của học sinh (ví dụ như sự hợp tác với
các thành viên trong nhóm, thái độ tích cực tham gia vào các hoạt động
Trang 9~ Bước 1: Xây dựng kế hoạch đánh giá
Đầu tiên, để có thể thực hiện được việc đánh giá, giáo viên cần xây dựng một kế hoạch đánh giá nhằm xác định rõ vấn để đánh giá, bao gồm các công việc:
+ Xác định mục đích đánh giá: Cần xác định rõ mục đích của việc đánh giá này là gì? Đánh giá cái gì? Đánh giá đối tượng nào? Vì sao phải đánh giá? + Xác định nội dung đánh giá: Tức là xác định xem “dấu hiệu” được đánh giá thuộc năng lực nào, phẩm chất nào đã được quy định trong mục tiêu, yêu cầu cần đạt của chương trình môn học Nói cụ thể hơn, nội dung đánh giá ở đây được hiểu là: Đánh giá kiến thức môn học, kĩ năng môn học, thành tích học tập; đánh giá năng lực thực hiện nhiệm vụ học tập; Đánh giá năng lực nhận thức, năng lực giải quyết vấn để, năng lực hợp tác và giao tiếp, năng lực tư duy phê phán hay năng lực sáng tạo ; đánh giá sự vượt khó,
sự đam mê, tỉnh thần tích cực, thái độ hợp tác và chia sẻ ; đánh giá sự tiến bộ + Xác định phương pháp và hình thức đánh giá:
Để đánh giá năng lực/ phẩm chất học sinh, các phương pháp sử dụng, thường là bằng quan sát; đánh giá bằng phỏng vấn/ toạ dàm/ thảo luận; đánh giá bằng vấn đáp; đánh giá bằng các bài tập, bài viết tự luận, trắc nghiệm khách quan
Hình thức đánh giá thường được sử dụng là: Đánh giá tổng kết, đánh giá quá trình (đánh giá thường xuyên); đánh giá dựa theo chuẩn, đánh giá dựa theo tiêu chí; đánh giá trên lớp học, đánh giá dựa vào nhà trường, đánh giá trên diện rộng; đánh giá cá nhân, đánh giá nhóm; tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng
+ Thời gian và địa điểm đánh giá: Việc xác định thời điểm đánh giá cần trả lời cho những câu hỏi như: dánh giá ở đâu? Vào thời gian nào? Việc xác định thời điểm đánh giá sẽ giúp cho việc lựa chọn và sử dụng phương pháp/ phương tiện/ công cụ để đánh giá một cách phù hợp và hiệu quả, đáp ứng được mục tiêu đánh giá
~ Bước 2: Xây dựng, lựa chọn công cụ đánh giá
Xây dựng công cụ đánh giá phẩm chất/ năng lực là một việc khó, nhưng,
lại rất quan trọng, vì nó đáp ứng được mục tiêu giáo dục Công cụ đánh giá phải phù hợp với đặc điểm của các yếu tố đã được xác định trong kế hoạch
Trang 10
đánh giá Giáo viên có thể xây dựng hoặc lựa chọn các công cụ đánh giá đã
có sẵn nhưng phải đảm bảo tính phù hợp, độ tin cậy, độ giá trị, nếu không kết quả sẽ không chính xác
Có rất nhiều loại công cụ dùng để đánh giá năng lực/ phẩm chất hoc sinh, có thể kể đến một số công cụ phù hợp cho giáo viên sử dụng như: Câu hỏi tự luận, câu hỏi trắc nghiệm, bài viết luận của học sinh, sản phẩm của dự
án học tập, trình diễn của học sinh, bài thuyết trình của học sinh, phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí
~ Bước 3: Thực hiện đánh giá
Mục đích của việc tổ chức thực hiện đánh giá nhằm giúp cho giáo viên thu thập thông tin về quá trình và kết quả học tập của học sinh
Khi thực hiện đánh giá, giáo viên cần lưu ý tới tính khách quan, chính xác trong quá trình đánh giá Tuỳ thuộc vào phương pháp hay hình thức đánh giá, để lựa chọn người đánh giá cho phù hợp (không nhất thiết phải là giáo viên đánh giá, mà có thể người đánh giá là chính học sinh, học sinh đánh giá lẫn nhau hoặc phụ huynh đánh giá ) Đặc biệt, hoạt động day hoc đưới dạng tình huống có vấn để là nét đặc trưng trong môn Giáo dục kinh tế
và pháp luật, đánh giá năng lực thực hành, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đánh giá bằng phương pháp quan sát, đánh giá dựa trên sản phẩm thì người đánh giá không đơn thuần chỉ là giáo viên, mà còn là các lực lượng khác có đủ năng lực và kinh nghiệm
~ Bước 4: Xử l, phân tích kết quả đánh giá
'Việc xử lí các thông tin, dữ liệu đánh giá thu thập được có thể bằng các cách khác nhau vừa phù hợp với các điều kiện, mục tiêu, yêu cầu đánh giá vừa phù hợp với khả năng của người thực hiện xử lí thông tin đánh
Đó là:
+ Phương pháp định tính hoặc định lượng
+ Theo lí thuyết đo lường truyền thống hoặc hiện đại
+ Áp dụng các mô hình đánh giá hoặc phương pháp thống kê
+ Sử dụng các phần mềm xử lí thống kê
~ Bước 5: Tổng hợp kết quả và viết báo cáo kết quả đánh giá
Kết quả sau khi được tổng hợp sẽ được viết thành báo cáo để đưa ra:
Trang 11
+ Nhận định dựa theo mục tiêu, chuẩn đầu ra (yêu cầu cần dat về phẩm chất và năng lực)
+ Nhận định dựa theo tiêu chí đánh giá
+ Nhận định dựa theo chuẩn lứa tuổi hoặc chuẩn lớp hoc
oa
- Buéc 6: Xéc dinh cach thifc công bố và phản hồi kết quả cho những
đối tượng được đánh giá hoặc đối tượng có liên quan
Việc xác định cách thức công bố và phản hồi kết quả đánh giá cẩn lưu ý
đến sự phù hợp với điều kiện/ hoàn cảnh và nhất là đặc điểm của đối tượng
Đây là khâu quan trọng, đối với đánh giá phẩm chất/ năng lực học sinh, việc phản hồi kết quả không đơn thuần là công bố điểm hay mức độ học sinh đạt được mà giáo viên phải chỉ ra cho người học những điểm phát huy hay những điểm cần khắc phục và cách khắc phục Đây chính là đánh giá vì sự tiến bộ của người học Vì thế, giáo viên cần lưu ý khi phản hồi thông tin cho
học sinh, hoặc những đối tượng có liên quan đến học sinh cẩn phải
+ Cung cấp thông tin phản hồi phải chính xác, đúng thời điểm
+ Đưa ra nhận xét và sử dụng kết quả đánh giá một cách chính xác
4 Cách thức đánh giá
Đánh giá trong môn Giáo dục kinh tế và pháp luật được thực hiện theo
định hướng phát triển năng lực người học Việc lựa chọn và sử dụng cách
thức đánh giá sẽ phụ thuộc vào mục đích của đánh giá và điều kiện đánh giá Khi thực hiện đánh giá, không chỉ sử dụng một cách thức nhất định nào đó,
mà còn có thể sử dụng kết hợp các loại cách thức đánh giá khác nhau sao
cho phù hợp và hiệu quả với đối tượng được đánh giá Học sinh được đánh
giá dựa trên khả năng bộc lộ sự hiểu biết về những nguyên tắc và tiêu chuẩn
ứng xử đạo đức và khả năng áp dụng các phương thức thích hợp với chuẩn mực đạo đức, đưa ra quyết định và giải quyết vấn đề có trách nhiệm Do đó,
đánh giá nên khách quan và đa chiều, đồng thời nên được thiết kế theo
những nhu cầu phát triển và trình độ của học sinh
4.1 Hình thức đánh gid
Dưới đây là một số loại hình đánh giá giáo dục nhằm giúp cho giáo viên
có căn cứ để thực hiện đánh giá học sinh
Trang 12
4.1.1 Đánh giá quá trình
~ Đánh giá quá trình còn được gọi là đánh giá thường xuyên, là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện hoạt động dạy học môn học
~ Mục đích: Cung cấp thông tin cho người dạy (giáo viên) và người học
(học sinh) để người dạy có sự điều chỉnh hoạt động dạy và hoạt động học kịp thời, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy và học
~ Phạm vi áp dụng/ Cách thức thực hiện:
+ Đánh giá quá trình có thể tiến hành thường xuyên (hằng ngày) hoặc
định kì (kết thúc một phần của môn học: bài học, chương học hoặc học kì)
Đánh giá thường xuyên được tích hợp vào trong quá trình dạy học,
thông qua việc trả lời những câu hỏi, qua các ý kiến phát biểu, tranh luận,
thảo luận của học sinh, các bài tập, bài thuyết trình, bài viết, các video clip,
tranh vẽ do học sinh sáng tạo, các tư liệu mà học sinh sưu tầm
+ Đánh giá thường xuyên trong suốt tiến trình học tập nhằm giúp học
sinh kịp thời phát hiện những sai sót của bản thân, từ đó tự điểu chỉnh các
hoạt động học tập để từng bước đạt được những yêu cầu cần đạt về phẩm
chất và năng lực mà chương trình đã để ra; giúp giáo viên kịp thời điều chỉnh phương pháp dạy học
+ Việc đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức, dựa trên kết quả đánh giá của giáo viên, của phụ huynh học sinh, của bản thân học sinh được đánh giá và của các học sinh khác trong tổ, trong lớp + Việc đánh giá định kì do cơ sở giáo dục tổ chức để phục vụ công tác quản lí các hoạt động dạy học, bảo đảm chất lượng ở cơ sở giáo dục và phục
vụ công tác phát triển chương trình
4.1.2 Đánh giá tổng kết
~ Đánh giá tổng kết còn được gọi là đánh giá kết quả
~ Mục đích: Cung cấp thông tin về mức độ đạt được của học sinh ở các mặt nội dung kiến thức, kĩ năng sau khi kết thúc một môn học, khoá học hoặc cấp học nhằm giúp nhà trường hoặc các cấp có thẩm quyền xem xét xếp loại, xét lên lớp, xét tốt nghiệp, Qua đó, có thể để xuất những biện pháp
để điều chỉnh quá trình dạy học tiếp theo
Trang 13~ Phạm vi áp dụng/ Cách thức thực hiện: Đánh giá tổng kết thường được tiến hành khi kết thúc môn học, học kì hoặc năm học, cấp học Đánh giá cuối kì, cuối lớp, cuối cấp học chủ yếu bằng các bài kiểm tra viết 'Qua các bài kiểm tra, học sinh, giáo viên, phụ huynh và nhà quản lí biết được mức độ đạt được các phẩm chất và năng lực của học sinh ở cuối mỗi học kì, mỗi năm học, cấp học Các câu hỏi, bài tập được sử dụng trong các giờ học và các để kiểm tra, để thi cuối kì, cuối cấp cần được xây dựng dựa trên các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực chung cũng như chuyên môn đã được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và Chương trình giáo dục phổ thông môn Giáo dục công dân 2018 Noi dung các câu hỏi, bài tập, các đề thi, kiểm tra (cuối kì, cuối cấp) cẩn yêu cầu học sinh vận dụng, thực hành với tình huống và ngữ liệu mới, tránh sử dụng các tình huống và ngữ liệu đã có trong sách giáo khoa, nhưng tương đương về
độ khó, về thể loại Có như thế mới đảm bảo đo lường được chính xác việc học sinh có đạt được các yêu cầu cần đạt đối với mỗi năm học mà chương trình đã đề ra hay không
4.1.3 Đánh giá theo chuẩn
~ Đánh giá theo chuẩn là đánh giá dựa theo một quy định, yêu cầu được đặt ra, hay là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu
~ Mục đích: So sánh thành tích học tập của các đối tượng học sinh cùng, được đánh giá với nhau
~ Phạm vi áp dụng/ Cách thức thực hiện: Được sử dụng trong những kì đánh giá quan trọng như thi tuyển, tốt nghiệp nên đòi hỏi công cụ đánh giá phải đáp ứng được yêu cầu, có độ tin cậy và độ giá trị
4.14 Đánh giá theo tiêu chí
~ Đánh giá theo tiêu chí thực chất là sự cụ thể hoá của tiêu chuẩn, chỉ ra những căn cứ để đánh giá chất lượng Đây là loại đánh giá người học dựa
trên tiêu chí đã được xác định
~ Mục đích: Xác định mức độ học sinh đạt được so với tiêu chí đặt ra, qua đó đánh giá sự thành công và tiến bộ của học sinh so với mục tiêu học tập
— Phạm vi áp dụng/ Cách thức thực hiện: Được sử dụng trong quá trình dạy học bất cứ lúc nào, khi giáo viên cần xác định mức độ đạt được về phẩm chấU năng lực của học sinh, nhất là để đánh giá sự tiến bộ của học sinh
Trang 14
Dù đánh giá theo tiêu chí nào cũng đều phải bảo đảm nguyên tắc học sinh
được bộc lộ, thể hiện phẩm chất, năng lực và tư duy của chính các em,
khuyến khích tính sáng tạo Các bài thuyết trình, bài viết, video clip, bài
nghiên cứu của học sinh cần được đánh giá dựa trên những tiêu chí cụ thể
Các tiêu chí này cần được công bố trước cho học sinh, nhằm định hướng
cho học sinh cách làm, giúp học sinh có thể tự đánh giá sản phẩm của chính
mình, từ đó điểu chỉnh Đồng thời, học sinh có thể sử dụng các tiêu chí để
đánh giá lẫn nhau
4.1.5 Đánh giá trên lớp học
~ Đánh giá trên lớp học là loại hình đánh giá được tiến hành ngay trong
một lớp học, là hình thức đánh giá diễn ra trong suốt giờ học đưới nhiều
dạng khác nhau, như: hỏi ~ đáp, phiếu ghỉ ý kiến, bài kiểm tra tự luận (kiểm
tra nhanh 15 phút, 1 tiết ), trắc nghiệm
~ Mục đích: Nhằm thu thập thông tin ở học sinh về việc đạt các mục
tiêu của từng bài học, từ đó giáo viên điều chỉnh hoạt động giảng dạy và
hoạt dộng học tập của học sinh để nâng cao kết quả học tập cho mỗi học
sinh đáp ứng mục tiêu bài học đặt ra Đánh giá này không nhằm mục đích
cho diểm hoặc đánh giá thành tích học tập của học sinh Với loại hình đánh
giá này, học sinh không chỉ là người bị đánh giá, mà còn là người cùng tham
gia đánh giá với giáo viên qua việc các em tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau
~ Phạm vi áp dụng/ Cách thức thực hiện: Đánh giá trên lớp học được sử
dụng trong quá trình day học bất cứ lúc nào, khi giáo viên cần xác định mức
độ đạt được về phẩm chất/ năng lực của học sinh, nhất là để đánh giá sự tiến
bộ của học sinh Thông thường, sau mỗi tiết học, giáo viên sẽ quan tâm tới
việc học sinh còn thắc mắc gì về nội dung bài học, các em có cần giải đáp
của giáo viên hay không? Giáo viên khó có thể biết được những thắc mắc
hay khó khăn mà học sinh gặp phải nếu không tạo cơ hội cho học sinh được
bày tỏ Muốn vậy, giáo viên phải sử dụng các cách thức khác nhau để thu
thập thông tin phản hồi từ học sinh một cách kịp thời để điều chỉnh cách
dạy và định hướng cách học cho học sinh đạt kết quả tốt nhất Vì thế, khi
thực hiện loại hình đánh giá này, giáo viên cần:
+ Xác định mục đích đánh gid
+ Xác định mục tiêu học tập sẽ đánh giá
+ Thiết kế hoặc lựa chọn công cụ đánh giá
+ Phản hồi thông tin tới học sinh
Trang 15
= Pham vi 4p dụng/ Cách thức thực hiện: Học sinh dùng phiếu hoặc tự ghỉ lại nhật kí, cảm nghĩ, suy ngắm của bản thân về những gì dã đạt được sau quá trình học tập theo sự yêu cầu và hướng dẫn của giáo viên
4.1.7 Đánh giá đồng đằng
— Đánh giá đồng đẳng là mỗi học sinh tham gia vào việc đánh giá sin phẩm, công việc của những bạn cùng học khác Đây chính là quá trình từng học sinh trong lớp cùng tham gia một hoạt động học tập đánh giá lẫn nhau
~ Mục đích: Giúp học sinh học hỏi được những điểm tốt của nhau hoặc xút kinh nghiệm từ những điểm chưa tốt của bạn Mặt khác, cũng giúp giáo viên thu thập được thông tin từ chính người học để có thêm căn cứ đáng tin cậy, qua đó xác định được kết quả giáo dục, nhằm điểu chỉnh hoạt động, giảng dạy và hoạt động học sao cho học sinh có được điều kiện học tập, tốt nhất phù hợp với khả năng của các em
= Pham vi áp dụng/ Cách thức thực hiện: Học sinh quan sát lẫn nhau trong quá trình học tập; học sinh dùng phiếu hoặc viết những cảm nhận, suy ngắm về bạn Học sinh sẽ đánh giá lẫn nhau dựa trên các tiêu chí đã được định sẵn trước Các tiêu chí đó sẽ do giáo viên tự xác định, hoặc giáo viên thống nhất với học sinh cùng xác định
4.2 Phương pháp đánh giá
'Trong dạy học môn Giáo dục kinh tế và pháp luật, để đánh giá học sinh, giáo viên có thể và cần sử dụng nhiều loại phương pháp đánh giá khác nhau Dưới đây là một số phương pháp phù hợp với đánh giá mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực được quy định trong môn học
Trang 164.2.1 Nhóm phương pháp kiểm tra viết
Kiểm tra viết là phương pháp đánh giá mà ở đó học sinh viết các câu trả lời cho câu hỏi hoặc vấn đề vào giấy Đây là phương pháp được giáo viên sử dụng phổ biến hiện nay Kiểm tra viết thường dưới dạng các bài viết luận của học sinh, học sinh điển vào một ma trận ghi nhớ Kĩ thuật của phương, pháp này là trắc nghiệm và bài luận
4.2.2 Nhóm phương pháp quan sát
Quan sát cũng là một trong những phương pháp giáo viên sử dụng nhiều để thu thập dữ liệu đánh giá học sinh Hiện nay, theo hướng tiếp cận đánh giá năng lực người học được để cập trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, phương pháp này sẽ còn được giáo viên sử dụng nhiều hơn nữa cho việc đánh giá năng lực và phẩm chất học sinh Khi nói đến quan sát, là nói đến việc “nhìn” hành vi, cử chỉ, ứng xử của học sinh với nhiệm vụ học tập, với quan hệ với người khác trong các hoạt động gắn liền với học sinh khi được quan sát Thông thường, trong quan sát, giáo viên có thể sử dụng,
cách thức là ghi chép sự kiện thường nhật, hoặc dùng phiếu quan sát cũng
có điều kiện hiểu thêm và xác định được khả năng của học sinh
Để học sinh phát huy được tính tích cực và trả lời đúng, giáo viên khi sử
dụng phương pháp này cần lưu ý:
+ Chuẩn bị tốt những câu hỏi sẽ đặt ra cho học sinh, xác định rõ mục dích, yêu cẩu của vấn đáp, nội dung câu hỏi, dự kiến đáp án, đối tượng,
được hỏi
+ Nội dung câu hỏi phải chính xác với “cái định hỏi”; câu hỏi phải
sát với trình độ của học sinh được hỏi; hình thức câu hỏi phải ngắn gọn,
dễ hiểu
+ Hướng dẫn học sinh trả lời tốt: bình tĩnh lắng nghe và theo doi câu trả
lời của học sinh, chú ý động viên, khích lệ học sinh khi có những câu trả lời
chưa tốt, chưa đúng.
Trang 174.2.4 Phương pháp trắc nghiệm
'Trắc nghiệm hiểu theo nghĩa rộng là một phép lượng giá cụ thể mức độ, khả năng thể hiện hành vi trong lĩnh vực nào đó của một người cụ thể Phương pháp trắc nghiệm khách quan là một trong những dạng trắc nghiệm viết, kĩ thuật trắc nghiệm này được dùng phổ biến để đo lường năng lực của con người trong nhận thức, hoạt động và cảm xúc Trong lĩnh vực giáo dục, trắc nghiệm khách quan đã được sử dụng trong các kì thi để đánh giá năng lực nhận thức của người học
4.2.5 Phương pháp phân tích sản phẩm
Phân tích sản phẩm hay còn gọi là phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động là phương pháp mà thông qua các sản phẩm hoạt động của đối tượng được đánh giá để tìm hiểu đặc điểm, tính chất của con người và hoạt động tạo ra sản phẩm đó Giáo viên có thể sử dụng các sản phẩm hoạt động
của học sinh làm tài liệu để phân tích những đặc điểm về phẩm chất và năng,
lực của học sinh Tuy nhiên, khi sử dụng giáo viên cũng cần lưu ý: Sản phẩm
hoạt động chỉ cho biết kết quả cuối cùng, không cho biết quá trình tạo ra sản
phẩm và đôi khi qua sản phẩm không xác định được một cách chính xác
chiểu hướng phát triển của người tạo ra sản phẩm
4.3 Công cụ đánh giá
Trong dạy học môn Giáo dục kinh tế và pháp luật, để đánh giá học sinh,
giáo viên có thể và cần sử dụng nhiều loại công cụ đánh giá khác nhau Dưới đây là một số loại công cụ phù hợp với đánh giá mục tiêu, yêu cầu cần đạt về
phẩm chất và năng lực được quy định trong môn học
4.3.1 Phiếu đánh giá
Phiếu đánh giá là một loại công cụ đánh giá phổ biến mà giáo viên vẫn thường sử dụng để thu thập thông tin và đánh giá Phiếu đánh giá là loại
công cụ đánh giá thích hợp với các cách thức đánh giá quá trình nêu trên
Phiếu đánh giá cũng có thể được làm trực tiếp trên lớp qua ý kiến phản hồi
của giáo viên, các để mục và bảng liệt kê các mục đánh giá Phiếu đánh giá
niên được làm liên tục, từng ngày bằng những phương pháp khác nhau để khuyến khích và hướng dẫn học sinh tham gia thảo luận những vấn để khó khăn và phức tạp, từ đó giúp tăng cường mối liên kết gữa đánh giá và học tập
Trang 18Phiếu đánh giá được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, ví dụ, ở cách thức đánh giá bằng quan sát thường sử dung: các loại bản ghi chép sự kiện, diễn biến thường ngày của học sinh; bằng kiểm/ phiếu quan sát các hoạt động thực hành, các sản phẩm của học sinh
Các phiếu bài tập hay phiếu trả lời câu hỏi, phiếu hướng dẫn trả lời theo tiêu chí (ngoài thang do mà trắc nghiệm khách quan được chuẩn hoá thường sử dụng trong đánh giá nhân cách) thường được sử dụng cho đánh giá bằng các bài tập, trắc nghiệm khách quan
Định hướng thiết kế phiếu đánh giá theo tiêu chí
Sử dụng kĩ thuật Rubric để thiết kế phiếu đánh giá
~ Rubric là một cách thức, thang chấm điểm học sinh; là bảng mô tả chỉ tiết có tính hệ thống theo tiêu chuẩn/ tiêu chí/ chỉ báo và mức những kết
quả mà người học cẩn phải làm để đạt được mục tiêu cuối cùng khi thực
hiện một nhiệm vụ cụ thể Thường Rubric xác định các mức độ thành tích
mà giáo viên mong đợi học sinh đạt được ở một số mức độ chất lượng
‘Cac mức độ chất lượng này có thể được mô tả bằng cách thứ hạng khác nhau (ví dụ như xuất sắc, tốt, trung bình, cần cố gắng ) hay các điểm số (ví dụ
như 4, 3, 2, 1) để sau đó được tính thành tổng điểm và được kết hợp với một
điểm cuối cùng (ví dụ như A, B, C ) Có thể sử dụng kĩ thuật này trong suốt quá trình giáo dục, trước, trong và sau khi học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập như một bảng kiểm mục các hoạt động đặc thù của chủ để/ bài học
Rubric có thể được sử dụng linh hoạt trong các hình thức tổ chức hoạt động
giáo dục đa dạng như làm việc nhóm, giờ thực hành, dạy học dự án, tự học
~ Nguyên tắc thiết kế phiếu đánh giá theo Rubric:
+ Các mô tả tiêu chí và mức cần phải được diễn đạt theo phổ (độ dài) đi
từ mức thấp nhất đến cao nhất, hoặc ngược lại; đây được gọi là nguyên tắc
“lí tường hoá”;
+ Các mô tả tiêu chí và mức cẩn phải chỉ ra ranh giới, tức là sự khác biệt
giữa các mức/ cấp độ hoàn thành đối với từng học sinh và giữa các học sinh với nhau; đây được gọi là nguyên tắc “phân hoá”
+ Các mô tả tiêu chí và mức cần phải thể hiện được hết các đặc tính hay
khía cạnh của hoạt động hoặc kết quả sản phẩm thực hiện (theo mục tiêu),
bởi về bản chất, tiêu chí/ chỉ báo và mức là “sự diễn đạt lại” mục tiều một
cách cụ thể; đây được gọi là nguyên tắc “khách quan hoá”;
Trang 19
+ Các mô tả tiêu chí và mức cần phải chỉ ra được những dịnh hướng mà hoc sinh/ giáo viên cần hướng tới để thực hiện mục tiêu, giúp cho học sinh/ giáo viên tự đánh giá, đánh giá và cùng đánh gid
~ Quy trình thiết kế phiếu đánh giá theo Rubric:
+ Xác định được chuẩn (yêu cầu cần đạt) về phẩm chất và năng lực + Xác định mục tiêu cụ thể của chủ để học/ bài học/ nhiệm vụ công việc + Xác định được nhiệm vụ đánh giá và đối tượng đánh giá
+ Xác định các tiêu chí (mô tả lại mục tiêu một cách chỉ tiết): Đầu tiên
là liệt kê các tiêu chí và thảo luận để lựa chọn, phân loại tiéu chí, từ đó xác định các tiêu chí cần thiết; tiếp theo là bổ sung thông tin cho từng tiêu chí + Xác định mức độ đạt được mục tiêu (xếp hạng các tiêu chí và mức): Đầu tiên là phân chia mức độ của từng tiêu chí và mô tả chính xác mức độ chất lượng tương ứng; tiếp theo là gán điểm cho mỗi mức độ, diểm cao nhất gán với mức độ cao nhất, điểm thấp nhất gán với mức dộ thấp nhất; cuối cling la lap bang Rubric,
+ Ấp dụng thử: Cho học sinh thử nghiệm Rubric đối với các bài làm mẫu do giáo viên cung cấp Phần thực hành này có thể tạo sự tự tin ở học sinh bằng cách chỉ cho học sinh cách giáo viên sử dụng Rubric để đánh giá bài làm của các em như thế nào, đồng thời nó cũng thúc đẩy sự thống nhất giữa học sinh và giáo viên về độ tin cậy của Rubric
+ Điều chỉnh Rubric cho phù hợp dựa trên thông tỉn phản hồi từ việc áp dụng thử
+ Sử dụng Rubric cho hoạt động đánh giá của giáo viên và tự đánh giá hoặc đánh giá đồng đẳng đối với học sinh
~ Ý nghĩa của việc sử dụng kĩ thuật Rubric để thiết kế phiếu đánh giá: + Đối với học sinh: Nhờ có sự mô tả cụ thể, chỉ tiết theo các mức độ cần đạt và thông qua việc phản hồi nhiều lần, học sinh có thể luôn tự theo dõi sự tiến bộ của bản thân, bạn cùng học hay nhóm cùng học Bên cạch đó, học sinh sẽ có động cơ học tập nhiều hơn, do có thể hình dung rõ ràng hơn các mong đợi của giáo viên/ nhà trường về việc học tập đối với bản thân Các
em trở nên độc lập hơn, nhận thức tốt hơn, có trách nhiệm hơn, có thể tự mình giám sát việc học tập và công việc học tập của mình
Trang 20
+ Đối với giáo viên: Làm cho công việc trở nên nhẹ nhàng hơn do có thể
giảm thiểu thời gian dành để cho điểm Công việc cho điểm cũng sẽ được
cải tiến, do giúp giáo viên nhất quán hơn và tiết kiệm thời gian cho việc giải
thích lí do tại sao cho điểm như vậy đối với các thắc mắc từ nhiều phía và có
thể dành nhiều thời gian hơn cho việc giúp học sinh cải tiến việc học Giáo
viên có được những thông tin đánh giá khách quan, chính xác, đảm bảo độ
tin cậy giúp cho việc đánh giá sẽ khoa học, minh bạch và thuyết phục hơn
Bên cạnh đó, cũng giúp giáo viên kiểm soát chặt chẽ sự tiến bộ của học sinh
để có các biện pháp hỗ trợ kịp thời
~ Một Rubric đủ tiêu chuẩn, đáp ứng được mục tiêu đánh giá phải đáp
ứng được những vấn để sau đây:
+ Phạm vi đánh giá: Các tiêu chí đánh giá có phản ánh đầy đủ nội dung,
mục tiêu học tập không?
+ Mức độ: Hướng dẫn có các mức độ khác nhau được đặt tên và giá trị
điểm số phù hợp không?
+ Tiêu chí: Các thông tin có mô tả rõ ràng, thể hiện theo một chuỗi liên
kết và đảm bảo cho sự phát triển của học sinh không?
+ Phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh: Ngôn ngữ có rõ ràng,
dễ hiểu đối với học sinh không?
+ Phù hợp với trình độ của giáo viên: Có dễ sử dụng với giáo viên không?
+ Tính phù hợp với yêu cầu đánh giá: Có thể đánh giá sản phẩm công
việc được không? Nó có thể được dùng để đánh giá nhu cầu không? Học
sinh có thể xác định dễ dàng những lĩnh vực phát triển cần thiết không?
Vi dy: Xây dựng đánh giá theo tiêu chí yêu cầu cần đạt trong nội dung
“Lập kế hoạch tài chính cá nhân” thuộc môn Giáo dục kinh tế va pháp luật
cá nhân, các loại kế | Chưa nêu được _ [Nêu được Nêu được
hoạch tài chính cá _ | khái niệm kế ˆ Í nhưng còn thiếu | chính xác và
nhân và tâm quan _ | hoạchtàichính | vếkháiniệm ˆ | đây đủkhái
trọng của việc lập | cá nhân, các loại_ | kế hoạch ˆ niệm kế hoạch
Trang 21
kế hoạch tài chính _ | kế hoạch tài tài chính cá tài chính cá
cá nhân chính cá nhân và | nhân, các loại nhân, các loại
tấm quantrọng |kếhoạchti — | kếhoạchtài
của việc lập kế chính cánhân | chính cá nhân
hoạch tài chính _ | vàtẩm quan _ | vàtâm quan
cá nhân trọng của việc _ | trọng của việc
lập kế hoạch tài | lập kế hoạch chính cá nhân | tài chính
cá nhân
Chưa nhận biết | Nhận biết được | Nhận biết day
Nhận biết được các ecg các bước , any on ch cn
bước lập kế hoạch lập kế hoạch tài | thiếu về các xác các bước
tài chính cá nhân, — | Chính cá nhân _ | bướclập kế lập kế hoạch
hoạch tài chính | tài chính
cá nhân cá nhân
Mức độ thực hiện
Chưa đạt Chưa hoàn toàn | Hoàn toàn đạt
Chưa thựchiện | Làm được Làm đúng và
Lập được kế hoạch | được các thao tác | nhúng chứa đây đủ các
Tớ lập được kế thực hiện đúng | thao tác lập
ce, hoạch tàichính | và đẩy đủ các | dugc ké hoach
của cá nhân thao tác lập tài chính của
được kế hoạch _| cá nhân
tài chính của cá
nhân
3.2 Ghi chép sự kiện thường nhật:
Ghi chép sự kiện thường nhật là sự việc diễn ra hằng ngày trên lớp học
khi giáo viên làm việc với học sinh hoặc trong các hoạt động do giáo viên
tổ chức có sự tham gia của học sinh Bằng cách này, giáo viên quan sát được trực tiếp học sinh va ghi nhận được nhiều thông tin về các hoạt động của
Trang 22
học sinh như: hoạt động học tập, hoạt động giao tiếp Những sự kiện như
vậy có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá học sinh, giúp cho giáo viên dự
đoán được khả năng và cách ứng xử của học sinh trong những tình huống, hoàn cảnh khác nhau hoặc giải thích cho kết quả thu được từ những sản phẩm khác của học sinh, từ đó có nhận định về các mức độ biểu hiện của năng lực/ phẩm chất học sinh
"Tuy nhiên, khi sử dụng cách thức này, giáo viên cần lưu ý phân biệt giữa việc ghỉ chép “trung thực” các thông tin, vấn để của học sinh với phần nhận xét của giáo viên Sổ ghi chép mặc dù giúp giáo viên thu thập nhiều thông tin và kết quả học tập, nhiều mặt của nhân cách và hoạt động xã hội của học sinh, nhưng thực sự cũng là khó cho giáo viên khi không có thời gian để quan sát và ghỉ chép được tất cả các sự kiện của học sinh dù có thể chúng
đều là những thông tin có giá trị Vì thế, giáo viên sẽ phải có sự lựa chọn
trong quan sát
'Để việc quan sát, ghi chép có tính hiệu quả, giáo viên cần:
+ Hướng quan sát, ghỉ chép vào những sự kiện của học sinh mà phương pháp khác không đánh giá được
+ Giới hạn việc quan sát và ghỉ chép vào một vài lời nói, hành vi, ứng xử nào đó của học sinh tuỳ theo mục đích của giáo viên
"Mẫu ghi chép sự kiện thường nhật của học sinh
~ Bảng kiểm khác với ghi chép thường nhật là có tiêu chí đánh giá cụ thể, rõ ràng của người sit dung
~ Khi quan sát một hoạt động hay đánh giá một sản phẩm của học sinh, giáo viên sẽ quyết định xem hoạt động hay sản phẩm đó có đáp ứng tiêu chí