Là giảng viên và nhà văn, Say còn là một chính trị gia và doanh nhân, điều không phải phổ biến ở các nhà kinh tế học.. Phát triển kinh tế là một điều kiện cần thiết cho sự tiến bộ của xã
Trang 1NGƯỜI TIÊN PHONG CỦA KINH TẾ HỌC TRỌNG CUNG
Jean–Baptiste Say (1767 –1832)
Say, người tiên phong của kinh tế học trọng cung
Jean–Baptiste Say cho r ằng cung tạo ra cầu riêng của chính nó Một quan niệm đã gây ra, và s ẽ còn gây ra nhiều tranh luận nữa
Là giáo sư đ ầu tiên ở Pháp của bộ môn kinh tế học chính tr ị, Jean –Baptiste Say (1767 –1832), trong ph ần lớn thế kỷ XIX, là nhà kinh t ế học nổi tiếng nhất và có ảnh hư ởng nh ất của nư ớc Pháp Là giảng viên và nhà văn, Say còn là một chính trị gia và doanh nhân, điều không phải phổ biến ở các nhà kinh tế học Gần gũi v ới nhóm Girondins trong cu ộc Cách mạng Pháp, ông ủng hộ cuộc đảo chính Bonaparte, nhưng từ chối việc đăng quang của
Hoàng đế Napoleon
Từ góc nhìn con ngư ời và xã hội, ông xây cho mình m ột tầm nhìn đ ịnh hướng những bài viết và hành động của ông Tầm nhìn đó là tầm nhìn của
cái gọi là nhóm những "nhà tư tưởng", tri ết gia và nhà tư tư ởng chính trị tự
do, những ngư ời đóng m ột vai trò quan tr ọng vào đầu thế kỷ XIX Trong nhóm đó có thể kể đến Destutt Tracy, Cabanis, và Volney Daunou
Trang 2Chủ nghĩa tự do của họ, lấy cảm hứng từ Smith, mà h ọ đã phổ biến các luận đề[ 1 ], không mang tính c ực đoan Vai trò c ủa Nhà nư ớc nên đư ợc hạn chế, trước tiên trong lĩnh vực kinh t ế, nhưng vẫn cần thiết để duy trì m ột
sự gắn kết xã hội luôn bị đe dọa bởi những xung đ ột lợi ích Say tin r ằng con người được thúc đẩy bởi tính kiêu căng và lợi ích cá nhân, nhưng lại thường không thấy được lợi ích đó ở đâu Từ đó nảy sinh sự cần thiết phải
có một công luận khai sáng để kiểm tra nhà c ầm quyền
Một kinh tế học tự chủ
Sự hình thành một công lu ận khai sáng qua c ải cách giáo dục công
cộng được sự tham gia chặt chẽ của các “nhà tư tư ởng” Các ngành khoa học đạo đức và chính tr ị phải chiếm vị trí hàng đầu trong công cu ộc hoàn thiện bản chất con ngư ời và xã hội Phát triển kinh tế là một điều kiện cần thiết cho sự tiến bộ của xã hội, và để đạt được điều này, việc phổ biến kiến thức về những quy luật của kinh tế học chính trị là điều thiết yếu Say dạy học và viết sách không ph ải cho các chuyên gia, mà là cho c ộng đồng dân
chúng, đặc biệt cho những ngư ời mà ông gọi là "tầng lớp trung lưu "
Những cuốn sách c ủa ông là sách giáo khoa, m ột số trong đó thậm chí được viết dưới hình thức sách giáo lý
Say là một trong nh ững người đầu tiên tuyên b ố nguyên tắc tự chủ của khoa học kinh tế đối với các khoa h ọc nhân văn khác, đ ặc biệt là khoa học chính tr ị, mà m ục đích là t ổ chức xã hội Kinh tế học chính tr ị nghiên cứu sự hình thành, phân ph ối và tiêu thụ của cải Đối với Say, những định luật liên quan đ ến sự giàu có mang tính đ ộc lập với tổ chức chính tr ị Tầm
nhìn đó, vào cuối thế kỷ XIX, dẫn đến việc thay đổi thuật ngữ kinh tế học chính trị thành kinh tế học (tiếng Anh, political economy bằng economics )
Kinh tế học chính trị là một khoa h ọc thực nghiệm, dựa trên vi ệc quan sát các sự kiện, cũng giống như các ngành khoa h ọc nghiên c ứu thế giới vật lí
Trang 3Tuy nhiên, Say ph ản đối việc áp dụng toán học vào kinh t ế học chính tr ị, cũng như việc sử dụng các lập luận trừu tượng, như trong các tác phẩm
kinh tế học bắt đầu đi theo hư ớng bị Say lên án Nhưng, sự lên án đó s ẽ đóng một vai trò quan trọng trong sự thù địch được duy trì lâu dài bởi các nhà kinh tế học Pháp đ ối với kinh tế toán
Là người ngưỡng mộ Smith, người đã dẫn nhập ông vào kinh tế học, Say vẫn coi các tác phẩm của Smith là l ộn xộn, thiếu chặt chẽ và thư ờng sai
lầm Khi bác bỏ một số luận đề chính của ông ấy, ông báo trư ớc lý thuyết tân cổ điển, cái lí thuyết sẽ thắng thế trong thế kỷ XX Điều đó b ắt đầu với
lý thuyết về giá trị, trong đó Say thay th ế nền tảng lao động bằng lợi ích
Sự khác biệt giữa giá tr ị sử dụng và giá trị trao đổi không còn có ý nghĩa đối với ông Từ đó, Say bác bỏ sự phân biệt của Smith giữa lao động sản xuất và lao động phi s ản xuất Mọi lao động mà dẫn đến một lợi ích đều có tính sản xuất, bất luận bản chất, hữu hình hay vô hình, c ủa sản phẩm Như vậy, hoạt động thương mại hay tài chính cũng như lao đ ộng khoa h ọc cũng
có tính s ản xuất như lao động của ngư ời nông dân hay của ngư ời công nhân
Lao động – cái mà Say gọi là sự khéo léo – không phải là nguồn duy nhất tạo ra giá trị, trái v ới tầm nhìn c ủa Smith Mọi của cải, chuyển tải lợi ích, đều là kết quả của sự kết hợp của cái mà Say gọi là dịch vụ sản xuất kinh doanh – lao động, v ốn và các tác nhân t ự nhiên Một nhân vật mới, doanh nhân, có chức năng kết hợp các dịch vụ sản xuất kinh doanh đó đ ể tạo ra sản phẩm, vật chất hay phi vật chất, trên th ị trường Giá trị được trao đổi của sản phẩm đó là kết quả đối chiếu giữa cung và cầu sản phẩm, cầu do nhu cầu của người mua xác đ ịnh
Tương tự, giá trị của dịch vụ sản xuất kinh doanh – tiền lương trả cho lao động, tiền lãi trả cho tư bản, tiền thuê đất hay thuê nhà trả các tác nhân tự
Trang 4nhiên – được xác định bởi cung và cầu Giá cả và thu nhập đư ợc xác
định đồng thời trên thị trường hàng hóa và dịch vụ sản xuất kinh doanh Nền kinh tế được coi là m ột tập hợp những cá nhân có cung và c ầu Những tầng lớp xã hội, với lợi ích xung đ ột, biến mất
Bảy mươi năm sau, Léon Walras diễn dịch theo toán học tầm nhìn
đó bằng mô hình cân bằng chung mà sự phát triển của nó sẽ là một phần
quan trọng của kinh tế học trong th ế kỷ XX với những công trình nhận được nhiều "giải thưởng tưởng nhớ Alfred Nobel c ủa Ngân hàng Trung
Định luật tiêu trường
Định luật luật tiêu trường là di sản nổi tiếng nhất của Jean–Baptiste Say Người ta còn gọi đó là Định luật Say và, tiếng Anh, Định luật thị trường của Say Vào thời của Say, người ta lý giải các cuộc khủng ho ảng do sự
khan hiếm tiền tệ Một số người cho rằng chi tiêu, đặc biệt là chi tiêu c ủa người giàu, là điều rất cần cho sự thịnh vượng Say phát triển lý thuyết của ông dựa trên quan điểm chống lại suy nghĩ đó Cụ thể, ông dựa vào một
khái niệm đặc biệt xem tiền tệ như là một "cỗ xe giá trị." Tiền tệ
không được mong ư ớc vì chính nó; nó ch ỉ được sử dụng để giúp cho sản phẩm lưu thông Người ta lao đ ộng không ph ải vì tiền, mà là vì hàng hoá, trực tiếp hoặc gián tiếp, bằng cách sản xuất ra những hàng hoá khác
Do tiền có được từ việc bán sản phẩm được sử dụng để mua lại các sản
phẩm khác, Say kết luận rằng "sản xuất mở cửa thị trường cho sản phẩm" (Traité, trang 138, xem m ục "để tìm hiểu thêm") Đó là m ột trong nhiều báo cáo c ủa định lu ật này, trong đó công th ức phổ biến nhất là "cung tạo ra cầu của chính nó." Điều đó có nghĩa là, trong m ột nền kinh t ế, không thể
có sản xuất dư thừa Say không ph ủ nhận sự tồn tại của những cuộc khủng hoảng kinh tế, nhưng ông quy trách nhiệm của điều này cho những mất cân
Trang 5bằng cục bộ (của các ngành – ND) và cho những sự can thiệp yếu kém của Nhà nước và của các ngân hàng Sự thịnh vượng của một quốc gia không đến từ sự kích thích tiêu dùng, mà là t ừ sản xuất
Có những dấu vết về một quan ni ệm như th ế trước Say, trong đó có m ột số nằm trong các tác ph ẩm trước của Smith Nó đã xu ất hiện kín đáo và m ột
cách mơ hồ năm 1803 trong lần xuất bản đầu tiên của Chuyên luận về kinh
tế học chính trị James Mill trình bày tinh t ế hơn quan ni ệm này trong cu ốn Commerce Defended ( Bảo hộ thương m ại), năm 1808, trư ớc khi chính bản thân Say phát triển nó trong những lần tái b ản liên tiếp của cuốn Traité khi
cuộc tranh luận mà nó khơi lên ngày càn g gay gắt Cuộc tranh luận này gắn chặt với các cuộc khủng hoảng kinh t ế mà người ta tìm cách lý gi ải và phòng ngừa
Định luật Say đã được diễn giải theo nhiều cách khác nhau và dẫn đến
nhiều cuộc tranh lu ận dữ dội cho đến ngày nay Ricardo và nh ững ngư ời theo ông đã ủng hộ định luật này, mặc dù họ bác bỏ khái niệm giá trị và phân phối của Say Malthus và Sismondi tại thời điểm đó là những đối thủ cương quyết chống nó Vào cuối thế kỷ XIX, Walras trình bày l ại một cách tinh vi và ph ức tạp hơn quan điểm ấy trong lúc Marx l ại bác bỏ nó Vào thế kỷ XX, Keynes là đ ối thủ nổi tiếng nhất của định luật Khi trao cho tiền tệ một vai trò tích c ực hơn, m ột tiền tệ được mong mu ốn vì chính bản thân nó, các nhà phê phán đ ịnh luật Say bác b ỏ ý tư ởng cho r ằng một
Trang 6khi một sản phẩm được bán ra thì tự động sẽ có một sản phẩm khác đư ợc mua vào, và mọi khoản tiết kiệm sẽ được chuyển thành khoản đầu
tư Ngược lại, theo các phê phán này, tiết kiệm và tích trữ có thể trở thành rào cản kiềm hãm s ản xuất, và không t ự động tạo ra thị trường Keynes, cũng như Malthus trước ông, coi việc phải có trước một cầu thực tế là điều cần thiết để thúc đẩy sản xuất và đảm bảo toàn d ụng lao đ ộng
Trong s ố các nhà phê bình h ọc thuyết Keynes, nhi ều nhất kể từ cuối những năm 1970, các nhà kinh tế học trọng cung đã rõ rệt đối lập nguyên lí ưu tiên cho c ầu với cách nhìn c ủa Say Cuộc tranh lu ận này còn lâu m ới chấm dứt: nó luôn là trung tâm c ủa những vấn đề cấp bách nh ất của nền kinh t ế đương đại
Jean-Baptiste Say qua vài năm tháng
1767: sinh ra ở Lyon, trong một gia đình theo đ ạo Tin Lành
1782: sau khi cơ nghi ệp của ngư ời cha thất bại, ông bắt đầu đi làm cho một văn phòng kinh doanh thương m ại ở Paris
1785: nhân viên văn phòng ở Anh trong hai năm
1787: làm việc cho một công ty b ảo hiểm nhân th ọ ở Paris Ông đọc tác
phẩm Richesse des nations (Sự giàu có của các quốc gia) của Adam Smith 1789: làm việc ở tòa báo Courrier de Provence , Mirabeau
1792: tình nguy ện đi quân đ ội
1793: cùng với những cộng tác viên khác, ông thành l ập tổ chức Le décade philosophique, littéraire et politique (Thập kỷ triết học, văn học và chính
trị), cơ quan của những nhà tư tư ởng
1799: Say, gi ống như các nhà tư tư ởng khác, ủng hộ cuộc đảo chính 18 Brumaire (ngày 09 tháng 11), theo đó Napoleon Bonaparte l ật đổ chế độ
Trang 7đốc chính (Directoire), chính phủ cuối cùng từ cuộc cách mạng, và thiết lập chế độ tổng tài (Consulat), bư ớc đệm cho ch ế độ đế chế Cùng v ới những nhà tư tưởng khác, ông tham gia vào vi ện dự luật (Tribunat), cơ quan quốc hội theo hi ến pháp mới
1800: tác phẩm Olbie ou Essai sur les moyens d’améliorer les mœurs d’une nation (Olbie hay ti ểu luận về những phương ti ện để cải thiện tập quán của
một quốc gia)
1803: tác phẩm Traité d’économie politique (Chuyên luận về kinh tế học chính trị)
1804: phản đối việc Napoleon tổng tài đầu tiên tuyên b ố làm hoàng đ ế vào ngày 18, Say được loại bỏ khỏi viện dự luật (Tribunat) và cấm xuất bản sách báo
1806-1812: ông thành lập và điều hành m ột nhà máy bông ở Auchy, Pas-de-Calais
1814: sau sự phục hồi của chế độ quân chủ, tiếp sau sự thoái vị của
Napoleon, ông được chính phủ lâm thời giao nhiệm vụ thu thập thông tin ở Anh Ông đã gặp Mill, Ricardo, Malthus và Bentham
1815: tác phẩm De l’Angleterre et des Anglais Catéchisme d’économie politique (Từ nước Anh và ngư ời Anh Giáo lý kinh tế học chính trị)
1816: Ông giảng kinh tế học chính tr ị ở trư ờng Athénée Royal ở Paris 1817: tác phẩm Petit volume contenant quelques aperçus des hommes et de
hội)
Trang 81819: thành l ập cho Say một ghế giáo sư kinh t ế học công nghiệp ở Học viện Nghệ thuật và Nghề nghiệp
1820: tác phẩm Lettres à M Malthus (Những bức thư gửi cho ông
Malthus)
1828-1829: tác phẩm Cours complet d’économie politique pratique (Toàn
bộ giáo trình về kinh t ế học chính trị thực hành)
1831: sau cuộc Cách m ạng Tháng bảy, ngư ời ta thành l ập cho Say m ột ghế giáo sư kinh tế học chính tr ị ở trường College de France
1832: qua đời ở Paris
Để tìm hiểu thêm
Những tác ph ẩm của Jean-Baptiste Say
• Traité d’économie politique (Chuyên luận về kinh tế học chính trị),
Calmann-Lévy, 1972
Trang 9• Cours d’économie politique et autres essais (Giáo trình kinh tế học
chính trị và các ti ểu luận khác), coll GF, Flammarion, 1996
• “Manuscrits sur la monnaie, la banque et la finance (1767-1832)” (Bản
thảo về tiền tệ, ngân hàng và tài chính), In Cahiers Monnaie et
Financement , Université Lumière -Lyon 2, 1995
Những tác ph ẩm viết về Jean-Baptiste Say
• La “loi de Say” sera-t-elle enfin rejetée? Une nouvelle approche de la surproduction (Định luật Say cuối cùng có bị bác bỏ không? M ột cách ti ếp
cận mới về sản xuất thừa), par Henri Denis, Economica, 1999
• La loi de Say (Định luật Say), par Thomas Sowell, Litec, 1991
Gilles Dostaler