LÍ THUYẾT THỐNG TRỊ GIỐNG NHƯ M ỘT HỆ THỐNG TÍN NGƯ ỠNG Steve Keen sinh năm 1953 “Lí thuyết thống trị giống như một hệ thống tín ngưỡng” Từ những xét l ại về mặt lí thuyết trong nhiều th
Trang 1LÍ THUYẾT THỐNG TRỊ GIỐNG NHƯ M ỘT HỆ THỐNG TÍN NGƯ ỠNG
Steve Keen (sinh năm 1953)
“Lí thuyết thống trị giống như một hệ thống tín ngưỡng”
Từ những xét l ại về mặt lí thuyết trong nhiều thập kỉ đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007, dường như không gì có thể làm lung lay niềm tin của lí thuyết tân c ổ điển thống trị
Giáo sư nói rằng về mặt nghiên cứu kinh tế, các nhà kinh tế nào không chấp nhận kinh t ế học tân cổ điển thống trị đều bị thanh tr ừng kh ỏi đại học Việc này xảy ra lúc nào và b ằng cách nào?
Chuyện bắt đầu từ những năm 1960, kh ởi động với cuộc chiến giữa “hai trư ờng đại học Cambridge”, giữa đại học ở Vương quốc Anh và đại học cùng tên ở bang Massachusetts, ở Hoa Kì Đối với người
Trang 2không chuyên, cu ộc tranh luận có vẻ bí hiểm, vì nó nhắm vào cách định nghĩa “tư bản” (xem khung) Lời qua tiếng lại căng thẳng đến mức là sự tức giận của các nhà kinh t ế thống trị đối với những ngư ời phê phán họ gia tăng mạnh mẽ Đến độ là nếu các nhà kinh tế ở bên kia bờ biển Manche đã giành thắng lợi trong cuộc chiến trí tuệ, như nhà kinh t ế Mĩ Paul
Samuelson đã thừa nhận, thì lí thuyết thống trị đã đơn giản không thèm biết đến luận chứng của những người chống đối trong việc xây dựng cách nhìn thế giới của lí thuyết này
Sau này, mọi đề xuất bài nghiên cứu toan nghiêm túc đ ặt lí thuy ết thống trị thành vấn đề lần hồi bị các tạp chí có ảnh hư ởng nhất bác bỏ một cách triệt
để Những người chủ trương các tạp chí này còn không cung cấp những lập luận để phản bác cách ti ếp cận của các bài n ghiên cứu ấy: đơn giản là các bài này không được đưa vào quy trình đánh giá để được gởi đến lấy ý kiến của những chuyên gia khác!
Cuộc tranh lu ận về tư bản
Các nhà tân cổ điển sử dụng
thường xuyên khái niệm tư bản,
một khái ni ệm đư ợc xem là quan
trọng Để sản xuất cần có lao
động và tư bản Robert Solow
khẳng định rằng càng có nhi ều tư
bản trên mỗi đầu người lao động
thì sản lư ợng càng cao Đi ều này
khiến Joan Robinson, ngư ời phản
nặn, như bơ vậy: “Một kho bơ được sử dụng cho một kiểu sản xuất như vậy có thể được rút ra
để khoác một dạng khác mà không t ốn chi phí hay thay đ ổi số lượng”, bà viết như thế Điều phi lí: máy móc không ph ải là bơ!
Đó là “cuộc tranh luận giữa hai trường đại học Cambridge” (một
ở Vương quốc Anh, nơi Joan
Trang 3bác ý tưởng này trong những năm
1960, bực mình
Bà khẳng định tư b ản là toàn bộ
những máy móc Không th ể nào
ước lượng tư bản được do điều
này phụ thuộc vào kì vọng lợi
nhuận của mỗi một cỗ máy, và kì
vọng này lại phụ thuộc vào tuổi
và hiệu suất của máy, vào kĩ năng
của người sử dụng máy, v.v Và
Joan Robinson k ết luận là không
thể đo đại lượng tư bản hay giả
định rằng, như các nhà tân cổ
điển, tư bản có thể dịch chuyển từ
ngành này sang ngành khác:
không thể tái chế một máy tính
thành máy làm carton Tr ừ phi
tưởng tượng rằng đó là một vật
thể dễ nhào
Robinson gi ảng dạy, và một ở Massachussetts, nơi Paul Samuelson và Robert Solow giảng dạy) Các nhà tân c ổ điển, tuy thừa nhận rõ ràng là Joan Robinson có lí, hoàn toàn không màng đến: các hàm sản xuất vẫn luôn có nhân tố “tư bản”, mà không có bất kì chỉ định nàoi Dominique Charpentier
_
i Xem “La macroéconomie des
n0 52, Alternatives économiques, janvier 2002
Do những nghiên c ứu hình thức hóa ngày càng chi ếm nhiều thời lư ợng, người ta cũng giảm dần các bộ môn giảng dạy lịch sử kinh tế và lịch sử tư tưởng kinh tế để nhường chỗ cho những vấn đề kĩ thuật và công cụ toán học Cuộc thanh trừng không nh ắm vào vi ệc loại trừ người này hay ngư ời khác mà đó là một cuộc thanh trừng ý thức hệ
Vì sao sinh viên ph ải học lịch sử kinh tế và lịch sử tư tư ởng kinh t ế?
Trang 4Schumpeter (1883-1950)
Vì suy tưởng kinh tế phong phú hơn những gì mà giáo phái hạn hẹp của những nhà kinh t ế thống trị đề nghị Ví dụ, không gi ảng dạy Hyman
Minsky và vai trò c ủa nợ tư nhân quá cao đã khi ến kinh t ế học thống trị dự báo là không thể nào có những bong bong tài chính! Tôi nghĩ là nh ững tác giả như Karl Marx, Thorsein Veblen, Joseph Schumpeter hay nhi ều tác gi ả khác nữa có thể đóng góp nhiều điều để chúng ta hiểu được chủ nghĩa tư bản ngày nay Đi ều này cho phép tư duy cơ năng c ủa các nền kinh t ế khi
mà lí thuyết thống trị lí luận như th ể chúng ta v ẫn còn ở thế cân bằng để rồi cuối cùng tin rằng hiện thực tương ứng với mô hình của lí thuy ết ấy Điều này cũng cho phép suy nghĩ về vai trò của tiền tệ để không còn coi nó như đơn giản là một tấm màn không có vai trò gì cả Và cũng cho phép ta
tư duy thế giới thực tế vốn không đơn giản và tuyến tính như quan niệm của các nhà tân cổ điển
Trang 5Minsky (1919-1996)
Veblen (1875-1929)
Trang 6Theo giáo sư những nhà kinh tế như Paul Krugman hay Joseph Stiglitz có khả năng đặt lại kinh t ế học trên những cơ s ở tốt hơn không?
Paul Krugman (sinh năm 1953)
Không Đặc biệt là Paul Krugman Ông tìm cách làm cho ý tư ởng theo đó
ta có thể đạt đến những kết luận triệt để trên cơ s ở một khoa học kinh tế bảo thủ Ví dụ, khi ông trình bày nh ững mô hình đư ợc xem là trình bày ch ủ nghĩa tư bản đương đại thì ông vẫn lập luận trong khuôn khổ tân cổ điển truyền thống, với nền kinh t ế ở thế cân bằng theo định nghĩa và ta chuy ển
từ cân bằng này sang cân b ằng khác Làm sao t in được rằng vào năm 2007 các thị trường đang ở thế cân bằng?
Trong thực tế, Paul Krugman chi ếm giữ không gian đáng lí ra ph ải do
những đối chọn thật sự của tư duy th ống trị chiếm lĩnh Trong nh ững năm
1930, khi John Hicks trình bày m ột phiên b ản mô hình h óa Lí thuy ết tổng quát của John Maynard Keynes ông đã đ ổi mới tư tưởng Keynesian b ằng
một trình bày rất quy ư ớc Ngày nay, Krugman cũng làm như th ế: cho dù tôi chia s ẻ hầu như những khuyến nghị của ông về chính sách kinh t ế, cho
dù tôi thích cách vi ết của ông, tôi vẫn nhìn ông đúng ra như m ột trở lực cho một sự đổi mới thật sự của tư tưởng kinh tế
Trang 7Joseph Stiglitz (sinh năm 1943)
Còn Stiglitz nghĩ là có thể mang đến vài đổi thay cho suy tưởng kinh tế thống trị và làm biến đổi nó Minsky đã gi ải thích r ằng vấn đề không ph ải
là do mỗi tác nhân kinh t ế không có cùng m ột mức thông tin gi ống nhau – những thông tin không đ ối xứng này n ằm ở trung tâm của tư tưởng của Joe Stiglitz –, mà do chúng ta hoàn toàn không b iết gì hết về tương lai[ 1 ]
Trong thời kì kinh t ế bùng nổ, ngư ời cho vay và ngư ời đi vay đ ặt cư ợc rằng tương lai sẽ rạng rỡ, điều này gây nên những bong bóng nợ nần Đây không phải là một vấn đề thông tin mà là v ấn đề những dự kiến được chia sẻ
John Maynard Keynes (1883 -1946)
Một số phê phán đ ối với lí thuyết thống trị được trình bày trong quy ển sách của giáo sư[ 2 ] đã có từ ba mươi đ ến năm mươi năm nay Hơn n ữa, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ năm 2007 đã cho th ấy rằng những tiền giả định và kết luận của cách ti ếp cận này là sai l ầm biết bao Tuy nhiên, dư ờng như
Trang 8các ý tưởng lẫn các sự kiện đều không đặt lại lí thuyết này thành vấn đề Giáo sư giải thích thế nào hiện tượng này?
Vì lí thuyết thống trị giống như m ột hệ thống tín ngư ỡng Khi tôn giáo c ủa bạn dạy bạn rằng không th ể nào một thiên th ạch va chạm trái đất đư ợc và điều này xảy ra thì các vị giáo chủ giải thích cho bạn rằng quả thật cái gì
đó đã va chạm trái đất nhưng không thể gọi nó là một thiên thạch! Các nhà tân cổ điển từng giải thích cho chúng ta r ằng không thể nào xảy ra một cuộc khủng hoảng tài chính và khi cu ộc khủng hoảng nổ ra dư ới mắt chúng
ta, họ bảo rằng đó chỉ là một cú sốc, chứ không ph ải là một bong bóng H ọ giải thích rằng cú s ốc này là ngoại sinh, ở bên ngoài sự vận hành c ủa nền tài chính và kinh t ế, đến từ những thay đổi công ngh ệ và sở thích c ủa các tác nhân kinh tế Cú s ốc này có quy mô l ớn hơn và kéo dài hơn nh ững gì ta
có thể dự kiến, nhưng đã không có bong bóng tài chính n ội tại nào cả Chấm hết!
John Hicks (1904 -1989)
Tiếc rằng tôi nghĩ là ch ỉ một cuộc khủng hoảng duy nh ất chưa phải là một biến cố quan trọng dưới mắt các pháp sư tân c ổ điển để họ đặt lại vấn đề niềm tin của họ Các nhà kinh t ế thống trị tiếp tục tin rằng cuộc khủng hoảng của chúng ta là m ột cú sốc ngoại sinh không th ể dự kiến đư ợc Nếu trong vòng năm năm tới nổ ra một cuộc khủng hoảng khác nữa thì họ buộc
Trang 9phải chấp nhận rằng một biến cố được cho là không th ể xảy ra mà l ại đã xảy ra trong m ột khoảng thời gian ngắn đặt thành v ấn đề cách tiếp cận của
họ
Ngày nay nhìn l ại, tôi nghĩ r ằng thành công c ủa Keynes là do r ất nhiều nhà kinh tế tưởng rằng đã chiến thắng cuộc Đại suy thoái kho ảng 1935 -1936
Việc nền kinh tế Mĩ rơi l ại vào suy thoái năm 1937, m ột năm sau khi Lí thuyết tổng quát được xuất bản, đã tước bỏ tính đáng tin c ủa diễn ngôn tân
cổ điển thời bấy giờ, góp ph ần đặt diễn ngôn này thành v ấn đề Làm cho lí thuyết thống trị lung lay và đề xuất một đối chọn được xây dựng là điều thiết yếu nếu chúng ta muốn thật sự hiểu cách ho ạt động của chủ nghĩa tư bản
Phỏng vấn Steve Keen
Giáo sư kinh tế học và tài chính,
Giám đốc Khoa Kinh tế học, lịch sử và chính trị của Đại học Kingston, London
do Christian Chavagneux ghi chép