Các tác gi ả trên có những nguồn gốc trí thức khác nhau, nhưng tất cả họ đều có một điểm chung, theo Galbraith, là có khả năng dự đoán cuộc khủng hoảng tài chính, ho ặc trong trư ờng hợp
Trang 1Hướng tới một sự thay đổi hệ chuẩn trong kinh tế học?
Cyril Hédoin
Hướng tới một sự thay đổi hệ chuẩn trong kinh tế học?
Thư trả lời gửi đến James K Galbraith
Cyril Hédoin, ngày 06 Tháng tư 2010
Sự hồi sinh c ủa lý thuy ết kinh t ế xuất phát từ đâu? Từ vùng biên hay
từ vùng trung tâm c ủa lí thuyết này? Để trả lời tiểu luận của James K Galbraith, Cyril Hédoin cho r ằng kinh t ế học tự thân đã mang trong lòng nó những cách tiếp cận mang tính cách tân ch o phép hi ểu được những hiện tượng như cuộc khủng hoảng tài chính
Trong bài báo của ông "Nhưng những nhà kinh tế đó, họ là ai?", James K Galbraith ti ến hành làm rõ ai là nh ững nhà kinh tế đã có đủ sự sáng suốt để báo trước cuộc khủng hoảng tài chính Galbraith bảo vệ luận thuyết cho rằng các nhà kinh t ế đó không ở nơi mà ngư ời ta mong đợi, có nghĩa là ở vùng trung tâm c ủa kinh t ế học Ngư ợc lại, người ta phải tìm họ ở vùng biên, hoặc thậm chí ở bên ngoài lĩnh v ực kinh tế học hàn lâm
Trang 2Như ông đã giải thích rõ cho đọc giả, danh sách các nhà kinh tế mà ông đưa ra hoàn toàn chưa phải là đầy đủ Dĩ nhiên nó được xác định một phần bởi sự nhạy cảm và sự hiểu biết của tác giả Một cách lộn xộn, Galbraith viện dẫn những cái tên sau đây: Dean Baker, Hyman Minsky, Wynne
Godley hay Gary Dimsky Các tác gi ả trên có những nguồn gốc trí thức khác nhau, nhưng tất cả họ đều có một điểm chung, theo Galbraith, là có khả năng dự đoán cuộc khủng hoảng tài chính, ho ặc trong trư ờng hợp của Minsky (mất năm 1996), đã cung c ấp những công cụ lý thuyết để hiểu đư ợc các cơ chế của sự bất ổn tài chính Các tác giả trên cũng có một điểm
chung khác: h ọ không xu ất phát từ vùng trung tâm c ủa nghề nghiệp, điều
mà một số ngư ời đôi khi còn g ọi là "dòng chính th ống" (“mainstream”) hay một cách vụng về hơn là " lý thuyết tân cổ điển" Nền tảng trong lập luận
của Galbraith là nh ận định trên chỉ cho biết, hoặc làm hiển nhiên hơn, s ự việc cho rằng kinh tế học từ lâu đã đi sai đư ờng Do đó, v ấn đề quan trọng
là nhân cơ hội cuộc khủng hoảng tài chính này mà trở lại đúng đường, thậm chí cho dù phải đoạn tuyệt hoàn toàn v ới khoa h ọc chuẩn định Như
Galbraith đã viết ở phần cuối của bài báo ông: "Do đó, không cần thiết phải giới hạn các cuộc thảo luận trong ph ạm vi hẹp của một môn khoa h ọc kinh tế truyền thống Vấn đề cấp bách ở đây là mở rộng nhiều hơn nữa không gian học thuật và tầm nhìn c ủa công chúng đối với những công trình thực sự hữu ích để đối phó v ới những vấn đề sâu sắc về kinh t ế trong thời đại của chúng ta [ ] Ý tưởng không phải là tranh luận bất tận về vấn
đề kẻ tám lạng và người nửa cân, mà là vượt qua những cuộc tranh cãi về
vỏ dưa và vỏ dừa nằm bên ngoài các cu ộc tranh cãi ấy, nơi có những giải
pháp nhất quyết nằm ở đâu đó, và đúng thực sự đang ở đó."
Quan điểm mà Galbraith bảo vệ là thú vị và, ít nhất, xứng đáng để quan tâm: nó mang tính xây d ựng, theo nghĩa mong mu ốn xuất phát từ, và làm tăng giá trị, những phân tích mặc dầu ở vùng ngoại vi của kinh tế học,
Trang 3nhưng có tham vọng đề xuất một giải pháp thay thế cho cách tiếp cận đang thống trị Như sẽ được nhấn mạnh nhiều hơn ở phần dư ới, nhi ều nhà kinh
tế đã thể hiện sự bất mãn của họ đối với trạng thái kinh tế học hiện nay, và đặc biệt đối với kinh tế học vĩ mô Paul Krugman [2009] là ngư ời nổi tiếng nhất trong số đó, nhưng ông ấy không phải là người duy nhất Chúng tôi đồng tình với quan điểm của Galbraith về điểm này Tuy thế, quan điểm của chúng tôi vẫn khác v ới quan điểm của Galbraith ở chỗ là, nếu chúng ta đồng ý với ý tưởng cho rằng kinh tế học là một khoa học cần phải tiến hóa, thì chúng ta đã không định vị những mầm mống định hướng lại ở trùng một nơi Theo nghĩa trên, chúng tôi bảo vệ quan điểm cho rằng sự tiến hóa của
kinh tế học sẽ diễn ra từ trong nội bộ hơn là s ẽ có một "cuộc cách m ạng khoa học" đư ợc khởi xư ớng vùng ngo ại vi c ủa bộ môn
Một cuộc khủng hoảng "có hệ thống" của kinh tế học?
Paul Krugman không ph ải là nhà kinh t ế duy nhất băn khoăn với tình tr ạng hiện tại của khoa h ọc kinh t ế Chẳng hạn, ngày 22 tháng B ảy 2009, các nhà kinh tế Tim Besley và Peter Hennessy, thu ộc trường London School of Economics, gửi một lá thư cho Nữ hoàng Anh[ 1 ], trong đó các ông đề cập
đến "một sự thất bại của trí tưởng tượng tập thể của nhiều người thông minh, ở đất nước này cũng như trên qu ốc tế, trong việc hiểu được những rủi ro đối với hệ thống như m ột toàn thể" Người ta có th ể xem cách giải
thích trên là không m ấy thỏa đáng và, một vài ngày sau, đ ến lượt một nhóm các nhà kinh t ế Anh l ại gửi một lá thư khác cho Nữ hoàng để giải thích sự thất bại của chuyên ngành c ủa họ trong vi ệc đối phó v ới cuộc khủng hoảng Những phê phán c ủa họ mang tính chính xác hơn và m ạnh mẽ hơn, tập trung vào việc cách thức các nhà kinh t ế được đào tạo, mà theo họ góp
phần đào tạo nên những "nhà bác học ngốc nghếch", đư ợc đào luyện để xây
dựng những mô hình toán h ọc phức tạp nhưng đ ầy những lỗ hổng nghiêm trọng về văn hóa khoa h ọc Một làn sóng phản ứng cuối cùng, có lẽ nổi bật
Trang 4hơn, xuất phát từ một bài vi ết của một nhóm các nhà kinh t ế nổi tiếng, mà một số người trong đó, đã góp công r ất lớn vào vi ệc làm cho kinh t ế học
"chính th ống" tiến hóa (đặc biệt có Alan Kirman và Michael Goldberg) Trong bài viết đó, các tác gi ả phê phán mạnh mẽ kinh tế học vĩ mô, mà theo họ không có khả năng tích h ợp những phát triển gần đây nhất trong một số lĩnh vực cụ thể (phân tích m ạng, kinh tế học về tính phức hợp), những lãnh vực có thể giúp giải thích và nhất là dự đoán cuộc khủng hoảng tài chính Một lần nữa, giới kinh tế là đối tượng bị nhắm tới:
"Chúng tôi tin rằng kinh t ế học đã bị kẹt trong một cân bằng dư ới tối ưu, trong đó nhiều nỗ lực nghiên cứu đã không hướng tới những nhu cầu phổ biến nhất của xã hội Một nghịch lý là những hiệu ứng phản hồi tự gia
cố trong giới kinh t ế có thể đã dẫn đến sự thống trị của một hệ chuẩn
không có cơ sở phương pháp luận vững chắc và những thực hành thực nghiệm, để nói giảm nhẹ đi, mang tính khiêm t ốn Bỏ qua những vấn đề kinh tế phổ biến nhất của các nền kinh tế hiện đại và không truy ền đạt những hạn chế và giả định của các mô hình đư ợc phổ biến rộng rãi, giới kinh tế học chịu một số trách nhiệm đối với cuộc khủng hoảng hiện nay Giới này đã th ất bại trong nhi ệm vụ đối với xã hội nhằm cung c ấp cái nhìn sâu sắc càng nhiều càng tốt về hoạt động của nền kinh tế và trong việc cung cấp những cảnh báo về các công cụ được nó tạo ra Nó cũng miễn cưỡng nhấn mạnh đến những hạn chế trong phân tích của nó Chúng tôi tin rằng sự thất bại, ngay cả trong vi ệc nhìn th ẳng những vấn đề hiện tại của
hệ thống tài chính t hế giới và sự bất lực của các mô hình chu ẩn về kinh tế
vĩ mô và tài chính trong vi ệc cung cấp bất cứ một cái nhìn sâu sắc nào về các sự kiện đang di ễn ra, bu ộc chúng ta phải có một sự định hư ớng lại trọng đại trong các lĩnh v ực trên và xem xét l ại các cơ sở cơ bản của
chúng"
Trang 5Thomas Kuhn (1922 -1996)
Tuy nhiên, bài vi ết trên ch ủ yếu chỉ ra rằng sự thất bại của khoa h ọc kinh
tế là do không có kh ả năng tích h ợp những phát triển mới nhất của bản thân
bộ môn mình đ ể dự đoán cuộc khủng hoảng tài chính Quan đi ểm cuối này đưa chúng ta đi xa với luận thuyết của James Galbraith: vâng, kinh tế học
đã thất bại với cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-2009, cũng giống như
nó đã thất bại với cuộc khủng hoảng tài chính năm 1929-1932 Nhưng, nơi
mà Galbraith nhìn th ấy sự giải thoát n ằm ở vùng ngoại vi của kinh tế học, thì ngược lại các nhà kinh tế khác cho rằng rằng sự hồi sinh đã bắt đầu ngay từ bấy giờ chính từ trong lòng của hệ chuẩn thống trị Sự đối lập trên làm người ta nhớ đến cuộc tranh luận về bản chất của sự tiến hóa của các ý tưởng khoa học, đã từng tiếp thêm sinh lực cho triết học về các khoa học trong những năm 1960 và 1970, đ ặc biệt qua các bài vi ết của Karl Popper
và Thomas Kuhn[ 2 ] Về điểm này, ch úng tôi đ ọc bài vi ết của James
Galbraith như một lời kêu gọi tiến hành một cuộc cách mạng khoa học theo kiểu của Kuhn Thực vậy, mọi yếu tố cấu thành đã hội đủ: một hệ chuẩn thống trị không có khả năng giải thích cuộc khủng hoảng tài chính quan trọng nhất trong g ần tám mươi năm qua, m ột sự bất lực cho thấy sự bất cập của các khái niệm lý thuyết và quan đi ểm mang tính phương pháp lu ận của các nhà kinh t ế khi tham gia vào khoa h ọc chuẩn định Đặc biệt, nếu theo
Trang 6Galbraith, thì hiện có những đối chọn và chúng có thể thay thế hệ chuẩn đang tồn tại Tình huống có vẻ như được thiết lập cho một cuộc cách mạng khoa học thật sự trong kinh tế học
Lý thuyết tân cổ điển đã chết, lý thuyết đa nguyên chính th ống vạn tuế?
Tuy nhiên, lu ận điểm của James Galbraith không nh ững dựa trên một tầm nhìn chọn lọc và hạn chế về những phát tri ển lý thuyết gần đây trong lòng kinh tế học, mà còn dựa trên một quan niệm về dòng chính th ống, có thể được mô tả như hơi lỗi thời Luận điểm đó được triển khai từ sự đối lập giữa một bên là một hệ chuẩn thống trị, mà phương pháp lu ận chủ yếu dựa trên việc sử dụng các mô hình toán h ọc, được thống nhất bên ngoài các cuộc thảo luận nội bộ riêng biệt trong mọi khoa học chuẩn định, và một bên là một tập hợp các cách tiếp cận ở vùng ngoại vi hoặc thậm chí ở bên ngoài kinh tế học, mà Galbraith nghĩ r ằng ngày nay chúng ph ải trở thành là vùng trung tâm c ủa bộ môn Tuy nhiên, s ự mô tả trên bỏ qua ph ần lớn
những tiến hóa nội tại đã từng tác đ ộng đến hệ chuẩn thống tr ị từ hơn hai mươi lăm năm qua và làm thay đ ổi đáng kể bộ mặt của nó
Đầu những năm 2000, nhà sử học về tư tưởng kinh tế David Colander thông báo cái ch ết của kinh tế học tân cổ điển [Colander, 2002], dòng tư tư ởng này được sinh ra vào những năm cuối thế kỷ XIX và làm cơ sở cho cốt lõi của những nghiên c ứu về kinh tế học trong g ần một thế kỷ Colander chứng
Trang 7minh một cách thuy ết phục rằng nội dung của thuật ngữ "tân cổ điển", có
niên đại từ đầu thế kỷ XX và đã được hồi sinh bằng những cuộc tranh luận trong những năm 1970, không còn phù h ợp với những gì mà các nhà kinh t ế đang thực sự làm trong nhiều thập kỷ qua Gần đây hơn, Colander và các nhà quan sát quan tâm khác đã nhấn mạnh đến sự biến đổi quan điểm lý thuyết của các nhà kinh t ế và đặc biệt là sự gia tăng nhanh các cách ti ếp cận mới từ chính vùng trung tâm c ủa ngành kinh tế học Như vậy, David Colander, Richard Holt và Barkley Rosser Jr [2004] g ợi lên “b ộ mặt thay
đổi của dòng chính thống" Đặc biệt, họ nhấn mạnh đến sự chênh lệch ngày
càng lớn giữa, một bên là các thực hành hiệu quả của những nhà kinh t ế thường xuyên viện dẫn đến việc sử dụng những cách tiếp cận mới (kinh tế học thực nghiệm, lý thuy ết trò chơi tiến hóa, kinh tế học về tính phức hợp)
và, một bên là n ội dung môn học đư ợc giảng dạy trong trường đại học, vẫn còn thấm đậm những ý tư ởng và lý thuyết cũ xưa hơn John B Davis, giáo
sư triết học kinh tế tại Đại học Rotterdam, gần đây đã lưu ý đến sự nổi lên của một hình thức chủ nghĩa đa nguyên phương pháp lu ận trong lòng c ủa dòng tư tưởng chính thống [Davis, 2006] Chủ nghĩa đa nguyên mới này được cụ thể hóa trong thực tế bằng việc là các nguyên lý phương pháp lu ận
và lý thuyết vốn trư ớc đây đư ợc coi là những yếu tố cấu thành c ủa mọi hình thức phân tích kinh t ế (lý luận bằng khái niệm cân bằng chung, giả thuyết về tính duy lý hoàn h ảo) thì nay có xu hư ớng trở thành không có tính bắt buộc Ngày càng có nhi ều những công trình, đư ợc cộng đồng các nhà kinh tế công nhận và chấp nhận, tự giải phóng khỏi những giả thuyết hạn chế đã từng một thời đặc trưng cho hệ chuẩn tân cổ điển
Sự tiến hóa trên, như nó đư ợc một số nhà quan sát tái hi ện lại, mâu thuẫn với tầm nhìn "Kuhnian" v ề cơ năng khoa học như là một chuỗi các cuộc cách mạng Thật vậy, đó là một quá trình sắp xếp lại nội bộ mà chúng ta đang chứng kiến ngày nay, một quá trình dẫn hệ chuẩn thống trị đến một sự
Trang 8biến đổi để rồi cuối cùng thành m ột hình thức mới, hoặc thậm chí b ị vỡ vụn Điều này không có nghĩa là các cách tiếp cận ở vùng ngoại vi không
có vai trò gì trong quá trình trên; trái l ại, có m ột thực tế được cách đi ệu hóa trong l ịch sử tư tư ởng kinh tế là xu hư ớng của hệ chuẩn thống trị để tích hợp các ý tư ởng và đóng góp c ủa các lý thuyết cạnh tranh và, dư ới tác động của các ý tưởng và đóng góp này, thì b ản thân hệ chuẩn cũng biến đổi theo Nhưng điều này lại dẫn chúng ta nghĩ rằng, giống như nhiều nhà bình luận phê phán khác đ ối với kinh tế học, James Galbraith đánh giá th ấp sự biến đổi của lĩnh v ực học thuật này
Tương lai của kinh tế học
Vậy các cách tiếp cận mới góp ph ần hình thành nên b ộ mặt mới của kinh tế học là gì? Chúng ta s ẽ nêu lên một số cách tiếp cận, nhưng sự lựa chọn của chúng tôi không h ề có tham v ọng là đầy đủ
George Akerlof (1940 -)
Quan điểm đầu tiên hứa hẹn là quan điểm của kinh tế học thực nghiệm
(kinh tế học hành v i) James Galbraith lư ớt nhanh quan đi ểm trên ở phần
cuối bài viết của ông, nhưng ch ỉ để chê bai Đây là m ột sự lựa chọn võ đoán và không thể biện minh Được khởi xướng bởi các công trình của
Trang 9những tác gi ả như Daniel Kahneman (gi ải Nobel kinh tế năm 2002) và Richard Thaler, kinh t ế học thực nghiệm đã đóng m ột vai trò then ch ốt
trong việc đặt lại câu hỏi về nhân vật truy ền thống của homo economicus
Từ những thí nghi ệm được kiểm soát trong phòng thí nghi ệm, các nhà kinh
tế làm việc theo quan đi ểm này đã có khả năng làm bộc lộ một số hành vi thiên lệch (ví d ụ như sự không thích m ất mát) hoặc một số sở thích nào đó (ví dụ như việc đi tìm sự công bằng) dẫn đến những hành vi thực tế mâu thuẫn có hệ thống với các dự đoán của phân tích chuẩn Bác b ỏ kinh tế học hành vi càng gây tranh cãi hơn khi cách ti ếp cận này trực tiếp thích đáng cho kinh tế học tài chính và cho vi ệc thông hi ểu các cuộc khủng hoảng tài chính, như cuốn sách gần đây của George Akerlof và Robert Shiller [2009]
đã chứng minh Lấy lại công thức nổi tiếng của Keynes, hai tác giả trên phát triển luận điểm cho r ằng các chu kỳ kinh tế (bị gây ra, trong s ố nhiều nguyên nhân khác, b ởi các cuộc khủng hoảng tài chính) có ngu ồn gốc từ
"bản năng đ ộng vật" của mỗi cá nhân Thuật ngữ bản năng động vật đư ợc
dùng để chỉ chính xác một số độ chênh hành vi dẫn đến sự lạc quan thái quá trong những thời kỳ hưng phấn, tiếp theo sau là sự bi quan thái quá trong những thời kỳ khủng hoảng Nói chung, kinh t ế học thực nghiệm cung cấp, đặc biệt chung quanh các công trình c ủa Richard Thaler, m ột đối chọn thực sự cho kinh tế học tài chính so v ới những cách tiếp cận dựa trên những giả thuyết về sự kỳ vọng duy lý và v ề thị trường hiệu quả, như
chúng từng đư ợc phát triển trong hơn ba mươi năm đ ặc biệt bởi "trường phái Chicago"[ 3 ] Nhân v ật homo œconomicus không còn là d ấu hiệu phân
biệt của khoa học kinh t ế, và kinh tế học thực nghiệm đã góp phần rất lớn làm nổi bật tác động của sự thay đổi này để hiểu các hiện tư ợng kinh tế
Trang 10Robert Shiller (1946 -)
Một tập hợp thứ hai các nghiên c ứu sáng t ạo là tập hợp các nghiên cứu về vai trò và sự tiến hóa của các thể chế Thể chế là các chuẩn mực, quy đ ịnh
và quy ước điều tiết các mối quan hệ tương tác kinh tế và xã hội Mặc dù một số nhà kinh tế (Schmoller, Veblen, Commons) đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của chúng từ cuối thế kỷ XIX, nhưng ph ải đợi đến tương đối khá muộn, bắt đầu từ những năm 1980, kinh t ế học mới bắt đầu tích h ợp chúng vào phân tích và xem xét chúng m ột cách có h ệ thống Cái mà ngư ời
ta gọi là kinh tế học thể chế ngày nay là một lĩnh vực nghiên cứu đang phát triển mạnh và sử dụng nhiều công c ụ phương pháp lu ận đa dạng Trên thực
tế tất cả các nhà kinh tế đều đồng ý rằng ngư ời ta không thể giải thích các hiện tượng kinh tế mà không xét đ ến các th ể chế Thể chế đóng m ột vai trò đặc biệt mang tính quyết định khi có những thông tin bất đối xứng (có nghĩa là, trong khuôn khổ của một giao dịch kinh tế, một tác nhân có nhiều thông tin hơn một tác nhân khác), và có những lý do vững chắc để tin rằng cuộc khủng hoảng tài chính b ắt nguồn một phần từ những thông tin b ất đối xứng như trên, giữa các thể chế tài chính và các cơ quan đi ều tiết cũng như trong chính các định chế tài chính (làm thế nào các nhà lãnh đạo ngân hàng biết được nghề của các nhân viên kinh d oanh chứng khoán trong ngân hàng họ?) Trong m ột động tác tương tự, ngay từ năm 2005, nhà kinh t ế