NGUYÊN NHÂN VÀ KINH T Ế VIỆT NAM TRONG B ỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TH Ế GIỚI 2008 Kinh tế thế giới năm 2008 đã tác đ ộng rõ nét tới nền kinh tế nước ta.. Chúng ta đã phải đối mặt với
Trang 1NGUYÊN NHÂN VÀ KINH T Ế VIỆT NAM TRONG B ỐI CẢNH KHỦNG
HOẢNG TÀI CHÍNH TH Ế GIỚI 2008
Kinh tế thế giới năm 2008 đã tác đ ộng rõ nét tới nền kinh tế nước ta
Chúng ta đã phải đối mặt với những khó khăn về vấn đề thanh khoản của
hệ thống tín dụng, lãi su ất ngân hàng cao, nh ững cơn s ốt giá lương thực
và năng lượng, thị trường chứng khoán tiếp tục bị sụt giảm… Dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và Chính phủ, hệ thống kinh tế Việt Nam
đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực từ thị trường Đến nay có thể nhìn lại những khó khăn đã vư ợt qua, đánh giá m ức độ tác động của các yếu tố bên ngoài và xác định những thách thức sẽ phải đương đầu trong năm 2009
Nguyên nhân kh ủng hoảng kinh tế 2008
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 (GFC) bắt nguồn từ sự khủng hoảng trong lĩnh v ực tài chính, bao g ồm bảo hiểm, tín dụng, chứng
khoán diễn ra từ năm 2007 cho tới năm 2008, kh ởi nguồn từ Mỹ
Trang 2Nguyên nhân gây ra cu ộc khủng hoảng kinh t ế thế giới 2008 đư ợc cho rằng là liên quan t ới việc các tổ chức tài chính trong th ị trư ờng bất động sản tại Mỹ khi họ bắt đầu đưa ra các kho ản vay th ế chấp mạo hiểm nhằm giải cứu ngư ời mua bất động sản Hình thức vay thế chấp nhắm vào những ngư ời mua nhà có thu nhập thấp, rủi ro cho vay rất cao cùng v ới sự bùng nổ bong bóng nhà đ ất tại Hoa Kỳ
Yếu tố chủ chốt gây ra cu ộc khủng hoảng kinh tế 2008 chính là do s ự phát triển nhanh chóng c ủa các sản phẩm tài chính ki ểu săn mồi, nhằm vào những đối tượng người mua nhà có thu nhập thấp, kém hiểu biết, ít thông tin Đứng đầu những tổ chức cho vay tài chính đó phải kể đến ngân hàng Lehman
Brothers – sự sụp đổ của ngân hàng này đánh d ấu cho sự bắt đầu của cuộc khủng hoảng
Sau khi cuộc khủng hoảng tài chính n ổ ra, chính phủ Hoa Kỳ đã triển khai các khoản cứu trợ đối với các tổ chức tài chính cũng như áp d ụng chính sách tài khóa và chính sách ti ền tệ để ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống tài chính toàn cầu
Nền kinh tế Việt Nam năm 2008
Trong hình ảnh “Cơn sóng th ần thế kỷ” đư ợc ông Ây -lan Grin -spen (Alan Greenspan), cựu Chủ tịch Cục dự trữ liên bang M ỹ sử dụng để nói về cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, có th ể thấy được sức mạnh “siêu nhiên” không gì cản nổi của cơn bão tài chính này Nhân loại có thể quan sát nó, đưa
ra những cảnh báo về nó, gắng sức chống đỡ nó, nhưng kết cục nền kinh t ế của hàng loạt các quốc gia trên thế giới đã bị tàn phá mạnh mẽ, khốc liệt Các định chế tài chính, dù khổng lồ tới đâu, vẫn bỗng chốc trở nên nhỏ nhoi trước những khoản thua l ỗ tín dụng đổ ụp xuống, như những cột nư ớc cao hàng trăm mét ập vào bờ
Kinh tế Việt Nam k ết thúc năm 2007 v ới mức thu hút v ốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt kỷ lục 17,8 tỉ USD và tăng trưởng kinh tế đạt 8,4% Thị trường chứng khoán có cả một năm thăng hoa với chỉ số Vn-Index thường
Trang 3xuyên ở trên ngư ỡng 1.000 điểm kể từ nửa cuối tháng 1-2007 cho đ ến giữa tháng 11-2007, xen giữa là giai đoạn giảm nhẹ trong tháng 8 và 9 -2007 Đến cuối 2007, Vn -Index v ẫn đạt trên 900 điểm Tâm lý chung là l ạc quan và ph ấn khởi Bởi vậy, mức nhập siêu tăng gấp gần 2,5 lần so với năm 2006( 1 ) và chỉ
số lạm phát lần đầu trở lại với 2 con s ố sau hơn một thập kỷ kể từ 1995( 2 ) đã không thực sự khiến nhiều nhà kinh t ế và giới kinh doanh lo âu
Vào thời điểm đó, biến cố đã xảy ra trên th ị
trường tín dụng bất động sản của Mỹ Theo
một dây chuyền trong sự liên thông gi ữa thị
trường bất động sản - tiền tệ - chứng khoán,
biến cố này đẩy nhi ều ngân hàng và đ ịnh chế
tài chính M ỹ nói riêng và th ế giới nói chung
tới tình trạng thua l ỗ nặng, mất tính thanh
khoản, đối diện với nguy cơ phá sản cao hoặc
bị thâu tóm b ởi các tổ chức khác, kể từ tháng
8-2007
Chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn
hơn nữa khi bước vào năm 2009 Nhưng
trước hết, hãy cùng nhìn nhận về những khó
khăn đã phải trải qua trong năm 2008 để nhận
diện những vấn đề cần quan tâm và t ập trung
nguồn lực giải quyết trong năm t ới
Tín dụng và vấn đề thanh kho ản của hệ
thống ngân hàng
Trước những dấu hiệu gia tăng lạm phát xuất hiện từ cuối năm 2007, ngay từ đầu năm 2008, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt Những động thái đ ầu tiên đư ợc thực thi trong quí I -2008 gồm: (I)
Thực tế là, rủi ro của các khoản tín d ụng bất động sản, của khủng hoảng tài chính mới chỉ bộc lộ một phần, do được bao bọc trong nhiều lớp công cụ tài chính phái sinh Quá trình s ụp đổ lan truyền rất khó dự báo đầy đủ về quy
mô và tính phức tạp Thị trường tín dụng Mỹ vẫn tiếp tục trạng thái “co rút.” Đây cũng là dấu hiệu cảnh báo rủi
ro tín dụng xuất phát từ quan
hệ liên thông giữa các thị trường chứng khoán - tiền tệ - bất động sản đang biểu hiện ngày một rõ hơn t ại Việt Nam( 3 )
Trang 4quy định tỷ lệ dư nợ cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán không vư ợt quá 20% vốn điều lệ của tổ chức tín
dụng; ( 4 ) (II) tăng lãi su ất cơ bản lên mức 8,75%/năm (+ 0,5%); và (III), phát hành 20.300 t ỉ đồng tín phi ếu bắt buộc Những liệu pháp này đã gây “cú s ốc” với nền kinh tế
Chưa kể tới sự sụt giảm của thị trường chứng khoán, phản ứng của thị trường tín dụng Việt Nam khá tiêu c ực Trước tiên là khan hi ếm nguồn tín dụng Dù NHNN có “bơm” trở lại lưu thông 33.000 tỉ đồng ngay trong tháng 3-2008, nhưng trong quá trình tái cơ cấu các khoản tín dụng và đáp ứng yêu cầu tham gia mua tín phiếu bắt buộc, các ngân hàng thương m ại (NHTM) khư ớc từ phần lớn các yêu c ầu tín dụng của doanh nghiệp Thêm vào đó, l ạm phát gia tăng cũng đẩy mặt bằng lãi suất lên cao theo nguyên lý “lãi su ất dương” Liên tiếp trong tháng 5 và 6 -2008, lãi su ất cơ bản đư ợc nâng lên 12%, r ồi 14% Với biên độ dao động cho phép là 150% Có th ời điểm, lãi suất huy động vượt trên 20%/năm Với đầu vào như vậy, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng vốn phải chấp nhận mức lãi suất rất cao đ ể tồn tại Không ít đơn v ị sản xuất kinh doanh ch ấp nhận dùng “thuốc độc tín dụng” để tồn tại
Giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 7-2008 cũng chứng kiến sự biến động mạnh
mẽ trong tương quan giữa đồng Việt Nam và đô la M ỹ (USD) Tỷ giá trên thị trường tự do và tỷ giá bình quân ngân hàng có mức chênh lệch rất lớn
Khoảng cuối tháng 3 đ ầu tháng 4-2008, nhu c ầu sử dụng USD rất thấp Tỷ giá
tự do thấp hơn t ỷ giá niêm yết chính th ức Sang tháng 5, đặc biệt vào nửa cuối tháng 6-2008, giá USD trên th ị trường tự do có những lúc tăng cao đ ột biến Khoảng cách giữa hai hình thức tỷ giá dao đ ộng từ 3.000 đồng đến
3.500 đồng/USD
Mặc dù, tới cuối tháng 10-2008 mức lãi suất trần mới dần được hạ xuống, nhưng với các can thiệp cương quyết bình ổn thị trường của Chính phủ và áp lực thanh khoản giảm đáng kể của hệ thống NHTM, m ặt bằng lãi suất đã bắt đầu giảm từ nửa cuối tháng 7-2008 Trong quý IV-2008, chính sách tiền tệ
Trang 5được NHNN nới lỏng Lãi suất cơ bản được điều chỉnh giảm đều đặn mỗi tháng 1% Từ ngày 5-12-2008, lãi suất cơ bản ở mức 10%/năm
Bước sang những ngày cuối năm 2008, cuộc đua trên chính trường Hoa Kỳ đã kết thúc với phần thắng thuộc về đại diện của Đảng Dân chủ nhưng hệ thống tài chính - tín dụng quốc tế vẫn chưa tìm l ại đư ợc sự ổn định Ông Ba-rắc Ô-ba-ma (Barack Obama), ngư ời đư ợc giới tài phiệt phố Wall ủng hộ, đang tích cực xây dựng bộ khung điều hành m ới “Thay đổi” (Change) là đi ều đư ợc người ta kỳ vọng nhiều nhất trong các chính sách bình ổn và khôi phục kinh
tế sắp được thi hành Tuy v ậy, những chuyển biến tích cực khó mà xảy ra tức thì trong đầu năm 2009, bởi cần có thời gian để ông chủ mới tiếp quản Nhà Trắng và các điều chỉnh chính sách phát huy tác d ụng
Do đó, và cùng với nhiều nguyên nhân khác nữa, bài toán nguồn vốn tín dụng còn tiếp tục gây đau đ ầu không chỉ với nhà qu ản trị kinh doanh, mà còn c ả với các ngân hàng nư ớc ta Câu chuyện này nhi ều khả năng kéo dài trong su ốt
cả năm 2009 Tăng trư ởng tín d ụng sau khi tăng cao t ới 54% tro ng năm 2007
đã giảm xuống còn 24% trong năm 2008 Tuy lãi su ất đi xuống từ tháng
7-2008, nhưng tăng trưởng tín dụng giảm mạnh trong nửa cuối năm Nếu trong nửa đầu năm 2008, tăng trư ởng tín dụng hằng tháng luôn dao đ ộng từ 2% - 5% thì tốc độ tăng của tháng 7 chỉ còn 0,7% và tiếp tục giảm xuống 0,56% trong tháng 8-2008
Trang 6
Đầu cơ và biến động giá cả
Bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động đã tạo môi trư ờng thuận lợi cho các hoạt động đầu cơ quốc tế Các nhà ngân hàng và t ập đoàn đa qu ốc gia với tài sản hàng nghìn t ỉ USD đang thao túng th ị trường giao dịch hàng hóa thi ết yếu
và đầu vào sản xuất quan trọng Lần lượt dầu thô, lương thực, và vàng trở thành đối tượng tập trung đầu cơ cao Tiền tệ và tài sản tài chính của các quốc gia sẽ trở thành mục tiêu kế tiếp, theo một kịch bản xấu Tình trạng này
đã dẫn đến những hệ lụy sau:
Diễn biến phức tạp của giá d ầu mỏ: Mâu thuẫn địa - chính trị ở một số khu
vực dầu mỏ nhạy cảm trên th ế giới và hoạt động tích cực của các nhà đ ầu cơ
đã đẩy giá dầu thô tăng mạnh trong suốt 6 tháng đầu năm 2008, lên mức đỉnh cao, lần đầu tiên trong l ịch sử kinh tế thế giới, dầu thô đư ợc giao d ịch với giá
147 USD/thùng vào ngày 11 -7-2008 Giá nhiên li ệu tăng cao đặt các nền kinh
tế toàn cầu trong tình tr ạng báo đ ộng đỏ về khủng hoảng năng lư ợng
Trang 7Xăng dầu là vật tư thiết yếu của sản xuất và hàng hóa quan trọng trong đời sống Chính phủ Việt Nam từ lâu vẫn duy trì sự điều tiết chặt chẽ thông qua thuế và quy đ ịnh giá Đến ngày 21-7-2008, trư ớc áp lực giá tăng kỷ lục của thị trường thế giới, giá bán lẻ xăng A92 t ại Việt Nam có s ự điều chỉnh lớn, tăng tới trên 30%, từ 14.500 đồng/lít lên mức 19.000 đồng/lít Thời kỳ tiêu dùng xăng giá cao dần qua đi kể từ nửa sau tháng 8-2008 Giá xăng bán lẻ được điều chỉnh giảm từ từ qua nhiều lần Từ ngày 21-8 đến 8-12-2008 có 10 lần điều chỉnh giảm giá xăng trên th ị trường, và dừng ở mức 11.000 đồng/lít (xăng A92) Thời điểm này, giá dầu thô thế giới dao động quanh mức 40 USD/thùng
Quan hệ cùng chi ều giữa giá dầu mỏ thế giới và giá xăng bán l ẻ tại Việt Nam
là rõ ràng Điểm đáng chú ý là trong th ời kỳ tăng giá, tốc độ biến thiên giữa giá nội địa và quốc tế tương đ ối đồng đều Nhưng bư ớc sang giai đo ạn điều chỉnh giảm, khoảng cách này n ới rộng nhanh chóng Đây là nguyên nhân d ẫn tới nhiều bức xúc c ủa ngư ời tiêu dùng với các đơn v ị cung cấp xăng dầu bán
lẻ vì cho rằng, giá thế giới giảm lớn hơn nhi ều so với mức điều chỉnh trong nước
Giá vàng lên xu ống thất thường: Ở Việt Nam, vàng là hàng hóa đ ặc biệt, vừa
là hình thức tiết kiệm được ưa thích, v ừa là phương ti ện thanh toán ph ổ biến Năm 2008, mức độ tăng giảm của giá vàng tương đối lớn Trong tháng 2 và
3-2008, chỉ số giá vàng liên ti ếp tăng 11 và 13 đi ểm phần trăm Hai tháng ti ếp theo, chỉ số giá vàng giảm tổng cộng 13 điểm phần trăm Tháng 7 -2008, chỉ
số giá vàng tăng cao nh ất trong 10 tháng đ ầu năm, ở mức 220,46 đi ểm phần trăm Nhưng đến hết tháng 9-2008, chỉ số giá vàng lại tụt xuống 200 điểm Các sàn giao d ịch vàng ra đời bổ sung thêm một kênh đ ầu tư mới Theo ghi nhận chung từ các kênh truy ền thông, đây là lo ại hình đ ầu tư ẩn chứa nhiều rủi ro bởi chỉ trong m ột khoảng thời gian ngắn, thua lỗ có thể đạt tới quy mô rất lớn Điều thú vị là, trong lúc nhi ều hàng hóa ch ịu sự kiểm soát chặt chẽ
về giá cả như chứng khoán (qua gi ới hạn biên đ ộ dao động giá c ổ phiểu), tiền
Trang 8tệ (qua cơ chế lãi suất cơ bản và biên độ dao động), xăng dầu (qua quy định giá bán lẻ) thì giá vàng trên th ị trường gần như được thả nổi
“Sốt”giá lương thực: Nạn đầu cơ cũng khiến giá lương thực tăng nhanh từ
tháng 4 đến tháng 6-2008 Trong ba tháng, giá g ạo xuất khẩu của Việt Nam lần lư ợt tăng 23,6%, 40,4% và 26, 7% So v ới tháng 1, giá g ạo xuất khẩu của tháng 4-2008 đã tăng g ấp hơn hai lần Giá g ạo xuất khẩu của tháng 6-2008 tăng cao nhất, có lúc lên đến 1.005 USD/tấn
Trước tình hình giá lương thực tăng cao, nhiều nước xuất khẩu gạo chủ chốt (trong đó có Việt Nam) đã lựa chọn giải pháp tạm ngừng xuất khẩu để quan sát Trong khi đó, các quốc gia nhập khẩu nỗ lực tích lũy lương thực để duy trì ổn định giá cả và bảo đảm an ninh lương th ực Thực tế này dẫn tới hai hiệu ứng đồng th ời: (I) giá lương th ực tiếp tục bị đẩy lên cao; và (II) hành động “bơm” thêm tiền để mua lương thực của các chính phủ khiến tình hình lạm phát ở nhiều quốc gia càng thêm tr ầm trọng
Bảng 1: Tình hình xu ất khẩu gạo qua 7 tháng đ ầu năm 2008
Tháng
Quy mô Xuất khẩu gạo
Việt Nam
Giá bình quân thế giới
(1.000 tấn) (USD/tấn) (USD/tấn)
Trang 9Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát tri ển nông thôn
Hiện tượng đầu cơ, tạo khan hiếm giả tạo mặt hàng g ạo đã xu ất hiện trên th ị trường Việt Nam vào cuối tháng 4-2008 Chính phủ đã có những chỉ đạo kiên quyết hư ớng tới bình ổn giá cả và trấn an tâm lý Sang tháng 6-2008, xu ất khẩu gạo đã đư ợc phục hồi Trong hai tháng 6 và 7 -2008, giá g ạo xuất khẩu của Việt Nam còn cao hơn m ức giá bình quân th ế giới
Lạm phát và tăng trư ởng
Năm 2008 chứng kiến “căn bệnh” lạm phát hoành hành ở nhiều quốc gia Trường hợp Dim-ba-bu-ê là điển hình của lạm phát cao Lạm phát của nước này vào tháng 11 -2007 là 24.470%, t ới tháng 10 -2008 tăng lên t ới
219.800.000%
Để ứng phó với lạm phát, nhiều tổ chức quốc tế khuyến nghị các chính phủ thực thi triệt để chính sách c ắt giảm chi tiêu công, c ải thiện hiệu suất đầu tư, thắt chặt tiền tệ và tín d ụng bằng biện pháp nâng cao lãi su ất và dự trữ bắt buộc Đây là những liệu pháp phù h ợp với lý thuyết kinh tế, nhưng vi ệc áp dụng luôn t ạo ra các hiệu ứng phụ tiêu cực, nên c ần có sự cân nhắc thấu đáo
về thời điểm vận dụng và mức độ phù hợp
Vận hành kinh t ế không ch ỉ cần chú ý đến các biến số kinh t ế vĩ mô như đầu
tư, tiết kiệm, xuất và nhập khẩu , mà còn phải hòa hợp tác động của các yếu
tố hành vi nhân dân như tinh th ần đoàn kết dân tộc, truyền thống đùm bọc và chia sẻ khó khăn, quy ết định lựa chọn đáp ứng nhu cầu theo học thuyết Ma-xlâu (Maslow), l ợi ích đầu tư, thương mại cộng đồng M ục tiêu cu ối cùng của mọi nhà nư ớc là ổn định đời sống kinh tế, xã hội, chính tr ị Lạm phát là một cản trở lớn trên con đư ờng đi t ới mục tiêu này Và vì th ế, chấp nhận bất
ổn và đời sống dân cư khó khăn để đánh đổi lấy lạm phát thấp, trên thực tế, thường đẩy các quyết sách điều hành vĩ mô đi xa khỏi mục tiêu
Lạm phát tại Việt Nam tăng mạnh trong nửa đầu năm 2008 Cu ối tháng
6-2008, chỉ số giá so với kỳ gốc 2005 là 144,30% Trong quý III -6-2008, tốc độ tăng CPI giảm dần Tính cả quý, CPI chỉ tăng 4,18 điểm phần trăm Từ tháng
Trang 1010-2008, xu ất hiện dấu hiệu giảm phát khi CPI gi ảm xuống 148,2% so v ới mức 148,48% của tháng trước
Dấu hiệu kinh tế đình đốn và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng ngay t ại các nền kinh
tế phát triển khiến nhiều chính phủ lo ngại Trong dài hạn, nền kinh t ế Mỹ chưa xuất hiện dấu hiệu tăng trưởng tích cực Nền kinh tế đầu tầu thế giới này đã ghi nhận tỷ lệ thất nghiệp 6,1% vào tháng 8-2008, mức cao nhất trong
5 năm trở lại đây Nhiều khả năng, vấn đề thất nghiệp tại Mỹ sẽ còn trầm trọng hơn nữa Từ tháng 11 -2008, lãnh đạo các nền kinh t ế thuộc khu vực châu Âu đã nhiều lần nhóm họp, tìm tiếng nói chung cho các giải pháp kích thích kinh tế
Với Việt Nam, những tháng bi ến động vừa qua là m ột thời kỳ phân hóa mạnh giữa các doanh nghi ệp dựa trên tiêu chí cơ b ản nhất: năng lực cạnh tranh Tình hình s ản xuất trì trệ, khó khăn trong thanh toán và tín d ụng bộc lộ
những điểm yếu cần khắc phục: (I) năng lực quản lý hạn chế, (II) thiếu chiến lược và tầm nhìn kinh doanh, (III) đầu tư kém hiệu quả và thiếu cẩn trọng, (IV) hàm lượng giá trị gia tăng nhỏ bé Nguyên nhân quan trọng, góp phần làm trầm trọng thêm các điểm yếu này là sự “hào hứng” quá mức với thị
trường chứng khoán kéo dài từ năm 2006 đến hết năm 2007 Nguồn vốn được huy động dễ dàng đã tạo tâm lý chủ quan và hưởng thụ trong một bộ phận không nhỏ của cộng đồng doanh nghi ệp
Vụ Tín dụng thu ộc Ngân hàng Nhà nư ớc cho biết, tỷ lệ nợ xấu (cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay) của hệ thống ngân hàng tính đ ến 31-7-2008 là 3,64% (số tuyệt đối là 10.886 t ỉ đồng), tăng 1% so v ới 2007 Nếu đánh giá trên năng lực trả nợ đúng hạn, phần đông doanh nghiệp hoạt động ở mức trung bình, tỷ
lệ gặp khó khăn gần 4%, trong đó kho ảng 1,5% có nguy cơ m ất vốn
Tại phiên h ọp thường kỳ của Chính ph ủ diễn ra trong hai ngày đ ầu tháng
12-2008, Thủ tướng Chính ph ủ đã đồng ý dành khoản tài chính 1 t ỉ USD để thực hiện các giải pháp trọng tâm nh ằm kích cầu đầu tư và tiêu dùng Chính ph ủ cũng nhấn mạnh cần tập trung giải ngân và giải ngân hết các dự án có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, trái phi ếu chính ph ủ và vốn ODA Gói kích c ầu