Dễ dàng nhận thấynhững khó khăn điển hình mà doanh nghiệp xây dựng phải đối diện tại thời điểm này là sựcạnh tranh quyết liệt trong ngành, thị trường bất động sản chững lại, sự mất cân đ
TÌNH HÌNH NGHÀNH XÂY DỰNG VÀ THẾ GIỚI
Nghành xây dựng thế giới
Ngành xây dựng năm 2019 đánh dấu sự trưởng thành rõ rệt của ngành, khi một năm được xem là ổn định so với các dự báo trước đây Đến năm 2020, ngành xây dựng trên toàn cầu vẫn trong giai đoạn phục hồi, với điểm nhấn đáng chú ý là Trung Quốc đang trên đường vượt qua Mỹ về quy mô và ảnh hưởng.
Theo nhiều nghiên cứu, ngành xây dựng được dự báo tăng trưởng khoảng 4,5% mỗi năm nếu đà phát triển hiện tại tiếp tục Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ được xem là các thị trường có sức ảnh hưởng lớn nhất Hiện nay, dòng vốn từ Trung Quốc đang tập trung vào các nước ở khu vực châu Á, trong khi châu Phi và Trung Đông lại trở thành mục tiêu hấp dẫn cho nhà đầu tư đến từ châu Mỹ và châu Âu.
Hình 1.1 Sự tăng trưởng trong ngành Xây dựng năm 2014 -2019 (Nguồn Building Radar)
Mặc dù một số nhà đầu tư lớn của châu Âu không thể duy trì sức hút về doanh thu và lợi nhuận, thậm chí rơi vào ngưỡng khủng hoảng, năm 2015 vẫn được xem là một năm tốt cho các công ty xây dựng nhờ mức lãi suất ở mức thấp kỷ lục Các công ty xây dựng đã tận dụng điều này để đẩy mạnh hoạt động và đẩy nhanh quá trình phát triển Dựa trên bối cảnh này, các ước tính cho ngành Xây dựng toàn cầu cho đến năm 2025 cho thấy mức tăng trưởng khoảng 4,5% trong 10 năm tới.
Châu Á đang đối mặt với cuộc cạnh tranh khốc liệt từ nền kinh tế Trung Quốc, được xem như một “con hổ châu Á” đang nổi lên Trong bối cảnh này, các quốc gia nhỏ hơn sẽ trở thành điểm nhấn quan trọng để đầu tư vào ngành xây dựng năm 2020, nhấn mạnh vai trò của cơ sở hạ tầng và đô thị hóa Do đó, dòng vốn và các dự án xây dựng tại khu vực này có xu hướng tập trung vào các thị trường tiềm năng, mở ra cơ hội tăng trưởng và cải thiện chuỗi cung ứng khu vực.
Indonesia, Việt Nam và Philippines là những quốc gia có thể thu hút hơn 50% vốn từ các công ty xây dựng lớn trên thế giới, biến khu vực này thành điểm đến đầu tư đầy tiềm năng cho ngành xây dựng toàn cầu Tuy nhiên, các yếu tố chính trị có thể phần nào ảnh hưởng đến quyết định đầu tư tại một số quốc gia châu Á Dù vậy, ở triển vọng trung hạn, thị trường khu vực được cho là sẽ rất hấp dẫn trong năm 2020 nhờ các ưu đãi về lãi suất.
Nghành xây dựng Việt Nam
Các doanh nghiệp được Chính phủ hỗ trợ và ưu tiên tập trung nguồn lực sẽ bung sức, đẩy nhanh tiến độ và mở ra triển vọng tương đối tích cực cho quý II và quý III tới Nhờ sự hỗ trợ này, kỳ vọng hồi phục và tăng trưởng nhanh nhất sẽ xuất hiện khi nền kinh tế phục hồi sau tác động của virus “trì trệ”.
Trong giai đoạn 2014–2018, sự hồi phục của thị trường bất động sản đã kích hoạt sự phát triển mạnh mẽ của ngành xây dựng, thi công và phát triển hạ tầng Các lĩnh vực này ghi nhận mức tăng trưởng trung bình 9.15% mỗi năm, vượt xa mức 4.75% của giai đoạn trước 2013.
Hình 1.2 Biểu đồ Tăng trưởng doanh thu của một số đơn vị xây dựng 2015-2019 (Nguồn PSI tổng hợp)
Trong khi một số doanh nghiệp vẫn ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực như đã đề cập, thị trường xây dựng toàn ngành hiện lên với những mảng màu xám Sự phân hóa giữa các doanh nghiệp cho thấy mức phục hồi chưa đồng đều, khi chi phí đầu vào tăng và lãi suất leo thang đang gây áp lực lên biên lợi nhuận, đồng thời rủi ro chuỗi cung ứng và biến động thị trường vẫn có thể ảnh hưởng đến tiến độ và kế hoạch dự án.
Theo số liệu của Viện nghiên cứu phát triển hạ tầng và quy hoạch đô thị, từ giữa năm 2018 đến nay, tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực xây dựng, xây lắp và hạ tầng đã giảm mạnh, thể hiện qua mức tăng trưởng 2018–2019 chỉ đạt khoảng 9,2–9,5% Những khó khăn nổi bật mà các doanh nghiệp xây dựng phải đối mặt là cạnh tranh nội ngành rất gay gắt, thị trường bất động sản chững lại và sự mất cân đối giữa tổng nợ và vốn khả dụng, đặc biệt khi khoản phải thu trên tổng tài sản có xu hướng tăng lên Chi phí vốn vay cũng tăng mạnh, bào mòn lợi nhuận và làm giảm hiệu quả kinh doanh Thêm vào đó, đại dịch Covid-19 đã tác động mạnh đến thị trường chứng khoán và làm giá cổ phiếu ngành xây dựng, xây lắp biến động mạnh.
Kể từ tháng 02/2020, VN-Index đã giảm mạnh từ mốc 990 điểm xuống 725 điểm, tương đương mức giảm 27% Vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam bốc hơi hơn 15 tỷ USD, kèm theo diễn biến bán tháo cổ phiếu của khối ngoại với 28.300 tỷ đồng được bán trong tháng 2/2020 và thêm 7.500 tỷ đồng tính đến ngày 19/3 Những biến động này cho thấy tác động tiêu cực tới triển vọng kinh tế vĩ mô Việt Nam, khi tăng trưởng GDP có thể được điều chỉnh giảm từ 0,5–1%/năm.
Trong bối cảnh nhiều cổ phiếu tốt xấu bị bán tháo mạnh, nhóm cổ phiếu ngành xây dựng và xây lắp nhìn chung giảm ít hơn thị trường Theo thống kê, trong 1 tháng vừa qua, thị trường chung giảm hơn 26,7%, còn cổ phiếu ngành xây dựng, xây lắp chỉ giảm khoảng 10–12% Với mức giá hấp dẫn hiện tại, nhà đầu tư có thể xem xét triển khai kế hoạch đầu tư tài chính trong thời gian tới.
Hình 1.3 Biến động giá một số cổ phiếu xây dựng (Nguồn: PSI tổng hợp)
TỔNG QUAN VỀ CTCP TẬP ĐOÀN XÂY DỰNG HÒA BÌNH
Giới thiệu chung
- Tên đầy đủ: CTCP Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình
Công ty cổ phần Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình (HBC) được thành lập vào năm 1987, bắt đầu từ Văn phòng Xây dựng Hòa Bình chuyên thi công các công trình nhà ở dân dụng Quá trình xây dựng và phát triển của Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình được chia thành 6 giai đoạn, cụ thể:
Giai đoạn 1: 1987 – 1993: Xây dựng lực lượng – Xác định phương hướng
Giai đoạn 2: 1993 – 1997: Cải tiến quản lý – Phát huy sở trường
Giai đoạn 3: 1997 – 2000: Tăng cường tiềm lực – Nâng cao chất lượng
Giai đoạn 4: 2000 – 2005: Hoàn thiện tổ chức – Mở rộng thị trường
Giai đoạn 5: 2005 – 2015: Tăng cường hợp lực – Chinh phục đỉnh cao
Giai đoạn 6: 2015 - 2024: Hợp chuẩn quốc tế - Định vị thương hiệu
Với 30 năm kiên trì, hành trình chinh phục đỉnh cao của Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình ghi nhận những bước tiến vượt bậc đồng thời vẫn giữ vững an toàn, uy tín và chất lượng Từ thi công các công trình nhà ở, Hòa Bình dần khẳng định năng lực và vươn lên trở thành một trong những nhà thầu tổng hợp hàng đầu Việt Nam Cam kết an toàn và chất lượng được duy trì xuyên suốt và góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành xây dựng nước nhà.
Nhờ từng làm thầu phụ cho các tổng thầu nước ngoài như Kumho, Doosan, Posco E&C, Kajima và Taisei, Hòa Bình đã mạnh mẽ vươn lên khẳng định vai trò tổng thầu cho các dự án có quy mô và tầm vóc quốc tế Điển hình là VietinBank Tower ở Hà Nội cao 363m – công trình cao nhất Việt Nam – và Saigon Centre ở TP Hồ Chí Minh với hệ thống tầng hầm sâu 6 tầng, sâu 28m Từ việc chỉ tham gia các công trình trong nước, Hòa Bình nay trở thành nhà thầu Việt Nam đầu tiên ra thị trường quốc tế ở vai trò quản lý dự án tại Malaysia, Myanmar, mở rộng cơ hội hợp tác và khẳng định thương hiệu trên bình diện quốc tế.
Những thành quả đạt được trong chặng đường vừa qua đã trở thành nền tảng vững chắc cho Tập đoàn Xây dựng Hòa Bình bước vào giai đoạn mới đầy triển vọng, hứa hẹn phát triển mạnh mẽ trong tương lai, không chỉ ở thị trường trong nước mà còn đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế đầy tiềm năng.
- Sàn niêm yết: HOSE – ngày giao dịch đầu tiên: 27/12/2006
- Vốn điều lệ: 2,308,753,980,000 (thay đổi ngày 10/9/2019)
- Địa chỉ: 235 Võ Thị Sáu - P.7 - Q.3 - Tp.HCM
- Người công bố thông tin: Mr Nguyễn Văn Tịnh
- Website:http://www.hbcr.vn
Ngành nghề kinh doanh chính của công ty gồm Xây dựng dân dụng và công nghiệp, thi công công trình giao thông, hệ thống thoát nước và san lấp mặt bằng; đồng thời công ty tham gia kinh doanh nhà ở và quản lý bất động sản Chúng tôi cung cấp dịch vụ tư vấn xây dựng (trừ thiết kế công trình) với đội ngũ chuyên gia nhiều năm kinh nghiệm, nhằm tối ưu chi phí, đảm bảo tiến độ và tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật.
Hòa Bình mang lại sự an tâm và lợi ích cộng hưởng cho khách hàng, đồng thời đóng góp tích cực vào việc kiến tạo một xã hội văn minh và phát triển bền vững Với các sản phẩm và dịch vụ ưu việt, chúng tôi tiết kiệm tài nguyên và luôn thân thiện với môi trường.
Người Ả Rập cổ đại từng nói rằng cầu vồng được tạo ra bởi nụ cười của Nữ thần, và từ lâu cầu vồng đã trở thành biểu tượng của sự tinh khiết và thiêng liêng nhất Khi bảy sắc cầu vồng cùng phát sáng, chúng tạo thành ánh sáng trắng thuần khiết, và sự tỏa sáng của Hòa Bình cũng bắt nguồn từ sự giao thoa của bảy giá trị cốt lõi: ứng xử văn minh, hành xử chính trực, thực thi cam kết, tuân thủ kỷ luật, tích hợp tinh hoa, tích cực sáng tạo và chủ động hợp tác.
2.1.2 Lịch sử hình thành, phát triển của doanh nghiệp
1987 – 1993 : Xây dựng lực lượng – Xác định phương hướng
Khởi nghiệp Văn phòng Xây dựng Hòa Bình vào năm 1987 với số lượng nhân viên ít ỏi là
20 người ban đầu chủ yếu nhận thiết kế và thi công công trình nhà ở tư nhân Tuy còn trẻ, đội ngũ nhân sự của Hòa Bình thể hiện sự sáng tạo liên tục, tinh thần cầu tiến và trách nhiệm cao, từ đó công ty dần mở rộng hoạt động sang thi công các công trình thương mại như nhà hàng, khách sạn và văn phòng, khẳng định năng lực thiết kế và thi công đa dạng trên thị trường.
Hòa Bình là một trong những đơn vị tiên phong đầu tư xây dựng nhà xưởng và trang bị máy vi tính cá nhân cho văn phòng nhằm ứng dụng công nghệ tiên tiến vào quản lý xây dựng và chuyên môn Đầu tư này không chỉ tăng hiệu suất công tác mà còn nâng cao sự năng động, sáng tạo và tinh thần đổi mới của cán bộ, công nhân viên.
Trong giai đoạn vừa qua, Hòa Bình đã đạt được nhiều thành công với các dự án lớn như khách sạn Riverside, khách sạn International, Food Center of Saigon và Tecasin Business Center and Serviced Apartments Những dự án này đã giúp thương hiệu Hòa Bình được nhiều nhà đầu tư nước ngoài biết đến và mời tham gia dự thầu các dự án tiếp theo Thành công từ các dự án này cũng tạo điều kiện cho Hòa Bình tập hợp lực lượng đông đảo kỹ sư, kiến trúc sư và công nhân lành nghề, từ đó xác định phương hướng phát triển công ty tập trung vào các công trình kỹ thuật và mỹ thuật cao.
1993 – 1997: Cải tiến quản lý – Phát huy sở trường
Hòa Bình mở rộng đầu tư vào hệ thống xưởng sản xuất, kết hợp máy móc công nghệ hiện đại với dụng cụ giản dị và tay nghề cao của thợ thủ công truyền thống, thành lập hai xưởng Mộc Hòa Bình và Sơn Hòa Bình Đặc biệt, công ty đã đầu tư một dây chuyền sản xuất Sơn đá nhãn hiệu HODASTONE, một loại vật liệu bảo vệ công trình kiến trúc có tuổi thọ và tính thẩm mỹ cao, được nhiều nước trên thế giới sử dụng.
Cũng trong giai đoạn này, công ty bắt đầu nhận thi công các công trình lớn ở xa thành phố
Hồ Chí Minh nổi bật với công trình Cảng cá Cát Lở - Vũng Tàu, một dự án công nghiệp quy mô lớn đòi hỏi trình độ quản lý, phương tiện thi công và năng lực tài chính cao, trong đó bảo lãnh hợp đồng lên tới 300.000 USD Trong quá trình thi công, Hòa Bình đã vượt qua nhiều khó khăn nhưng vẫn đáp ứng đầy đủ các yêu cầu khắt khe của khách hàng và được Nhà Đầu tư, Nhà Thầu Chính, Nhà Tư vấn hài lòng, khen ngợi; bằng khen của Bộ Thủy sản và thư khen từ TOA Corporation, Fisheries Engineering là minh chứng cho năng lực thích ứng cao của Hòa Bình với nhiều loại hình công trình khác nhau.
1997 – 2000 : Tăng cường tiềm lực – Nâng cao chất lượng
Từ năm 1997, bên cạnh việc không ngừng đầu tư nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật theo chiều sâu, Hòa Bình bắt đầu áp dụng quy trình ISO 9000 và quy trình Quản lý Chất lượng toàn diện (TQM) nhằm bảo đảm nâng cao chất lượng công trình.
Năm 1998, công trình khách sạn Tân Sơn Nhất do Hòa Bình thiết kế và thi công đã hoàn thành một cách tốt đẹp, được Bộ Xây dựng trao tặng Huy chương Vàng Công trình Chất lượng cao Năm 1999, Hòa Bình thành công trong việc thực hiện công trình Nhà máy nước ép trái cây Delta (Long An) với trong vai trò nhà thầu chính; công trình được chủ đầu tư và đơn vị tư vấn của Mỹ ngợi khen Qua các công trình này, Hòa Bình càng khẳng định trình độ tổ chức thi công có đẳng cấp quốc tế của mình.
Nhà thầu xây dựng Hòa Bình đã trở thành lựa chọn tin cậy cho nhiều dự án lớn như Saigon Sky Garden Apartments, Stamford Court, Riverside Apartment, Legend Hotel, Melinh Point Tower và Ocean Place (nay là Sheraton Plaza) Với cam kết đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng về chất lượng, tiến độ và an toàn, Hòa Bình luôn được chọn để tiếp tục nhận thêm nhiều hạng mục cho đến khi dự án hoàn tất.
2000 – 2005: Hoàn thiện tổ chức – Mở rộng thị trường
Cơ cấu tổ chức
KHỒỐI ĐẤỒU ĐẠI HỘI ĐỒỒNG CỔ ĐỒNG
P.PHÁP CHẾẾ P.MUA HÀNG PQL.TIẾU THỤ CÔNG TY MATEC
PHÒNG ERP PHÒNG CNTT PHÒNG QA/QC PHÒNG CMD
2.2.2 Danh sách các công ty thành viên/công ty liên kết/công ty con
Tên công ty Vốn điều lệ(triệu) % sở hữu
• Công ty TNHH MTV Máy xây dựng Matec 10,000 (VND) 100.00
• CT TNHH Sơn Hòa Bình 7,000 (VND) 100.00
• Công ty TNHH Hòa Bình Myanmar - 100.00
• CTCP Nhà Hòa Bình 295,000 (VND) 99.93
• CTCP Đầu tư Địa ốc Tiến Phát 152,000 (VND) 98.93
• Công ty TNHH Bất động sản Pax Land 3,000 (VND) 98.93
• CTCP Đầu tư Xây dựng hạ tầng Hòa Bình 150,000 (VND) 97.97
• CTCP Đầu tư và Phát triển Hòa Yên - 97.30
• Công ty TNHH Tư vấn Thiết kế Hòa Bình 2,000 (VND) 75.00
• CTCP Đầu tư và Năng lượng Tái tạo Hòa Bình - 57.02
• CTCP Okamura Home Vietnam 7,000 (VND) 50.54
• CTCP Tiến Phát Sanyo Homes - 49.95
• CTCP Tiến Phát Tân Thuận - 49.95
2.2.3 Cơ cấu vốn cổ phần
2.2.4 Danh sách các cổ đông lớn
Tên Vị trí Số cổ phần Tỷ lệ sở hữu
Lê Viết Hải Chủ tịch HĐQT 37.060.706 16,05%
KIM Vietnam Growth Equity Fund - 10.921.118 4,73%
PYN Elite Fund (Non-Ucits) - 9.139.402 3,96%
Họ và tên Chức vụ Năm sinh Cổ phần nắm T/G giữ
• Ông Lê Viết Hải CTHĐQT/TGĐ 1958 36,060,706 1987
• Ông Trương Quang Nhật TVHĐQT/Phó 1973 999,320 1996
• Ông Lê Quốc Duy TVHĐQT/Phó 1981 1,197,533 2007
• Ông Phan Ngọc Thạnh TVHĐQT/GĐ 1969 648,394 1992
• Ông Phương Công Thắng TVHĐQT 1981 2,171,925 N/A
• Ông Đặng Doãn Kiên TVHĐQT 1971 - Độc lập
• Ông Park Seok Bae TVHĐQT N/A - Độc lập
• Bà Đặng Hồng Anh TVHĐQT N/A - Độc lập
• Ông Nguyễn Văn Tịnh Phó TGĐ 1955 142,882 1993
• Ông Nguyễn Tấn Thọ Phó TGĐ 1965 34,224 1995
• Ông Dương Đình Thanh Phó TGĐ 1956 - 2015
• Ông Lê Văn Nam Phó TGĐ 1976 491,117 2001
• Ông Trần Trí Gia Nguyễn Phó TGĐ 1970 - 2013
• Ông Lê Viết Hiếu Phó TGĐ N/A - N/A
• Ông Nguyễn Hùng Cường Phó TGĐ N/A 47 N/A
• Bà Nguyễn Thị Nguyên KTT N/A 115,259 N/A
Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh
2.3.1 Các nhóm sản phẩm chính; hoặc các thị trường tiêu thụ chính hiện nay
-Lĩnh vực hoạt động chính của Công Ty Cổ Phần Xây Dựng và Kinh Doanh Địa ốc
Hòa Bình thi công xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp với doanh thu từ hoạt động này chiếm trên 80%, trong khi 20% còn lại đến từ sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, hàng trang trí nội thất, dịch vụ sửa chữa nhà và trang trí nội thất; công ty còn tham gia trồng rừng cao su, xà cừ, tràm và bạch đàn Trong vài năm gần đây, cơ cấu lợi nhuận có sự dịch chuyển đáng kể khi mảng sản xuất, thi công và kinh doanh thành phẩm mộc, trang trí nội thất và các hoạt động tài chính đóng góp tỷ trọng khá cao Công ty đã mở rộng phạm vi hoạt động trên toàn quốc, tuy nhiên vẫn tập trung chủ yếu tại một khu vực nhất định.
TP Hồ Chí Mình và các vùng phụ cận.
Hiện nay, công ty Hòa Bình có mặt tại 45/63 tỉnh thành và 4 quốc gia, thể hiện quy mô và sự hiện diện mạnh mẽ trên thị trường Chiến lược phát triển thị trường nước ngoài của Hòa Bình hướng tới Đông Nam Á, Trung Đông và thị trường Mỹ, Canada, nhằm mở rộng mạng lưới khách hàng và tăng trưởng doanh thu toàn cầu.
2.3.2 Tình hình sản xuất kinh doanh trong 5 năm gần nhất
Kết quả kinh doanh (Đã kiểm (Đã kiểm toán) (Đã kiểm (Đã kiểm toán) toán) toán)
Doanh thu bán hàng 5,132,816,942 10,787,641,014 16,048,373,21 18,299,333,668 và CCDV 3
4 Lợi nhuận gộp về BH 295,691,719 1,232,444,359 1,686,366,683 1,687,040,969 và CCDV
Tổng lợi nhuận trước 120,466,489 715,272,085 1,073,726,541 794,883,163 thuế
Lợi nhuận sau thuế 83,473,545 567,045,987 859,188,706 629,872,883 của công ty mẹ
Đối thủ cạnh tranh
2.4.1 Đối thủ cạnh tranh trực tiếp (về sản phẩm, về địa bàn kinh doanh, về chiến lược kinh doanh, tiếp thị)
*Công ty CP xây dựng COTECONS (lên sàn 20/01/2010-HOSE)
-Quy mô: là doanh nghiệp có quy mô lớn
- Thị phần của Doanh nghiệp: Coteccons chiếm lĩnh thị phần lớn nhất trong thị phần xây dựng ngoài quốc doanh.
-Vốn điều lệ: 783.550.000.000 (bảy trăm tám mươi ba tỷ năm trăm năm mươi triệu đồng) Lĩnh vực hoạt động chính:
Chúng tôi cung cấp dịch vụ xây dựng và lắp đặt các công trình dân dụng và công nghiệp; thi công công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị và khu công nghiệp; xây dựng và triển khai các công trình giao thông và công trình thủy lợi, nhằm nâng cao chất lượng hạ tầng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an toàn, hiệu quả cho người dân và doanh nghiệp.
Hoạt động kiến trúc và tư vấn kỹ thuật liên quan bao gồm thiết kế tổng mặt bằng xây dựng công trình; thiết kế kiến trúc công trình dân dụng và công nghiệp; thiết kế nội thất và ngoại thất công trình; thiết kế cấp nhiệt, thông hơi, thông gió và điều hòa không khí cho công trình dân dụng và công nghiệp; thiết kế phần cơ điện công trình; thiết kế xây dựng công trình dân dụng – công nghiệp; và thiết kế hạ tầng kỹ thuật đô thị.
Xây dựng công trình cấp thoát nước, xử lý môi trường.
Kinh doanh, môi giới, tư vấn bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu Lắp đặt hệ thống cơ – điện – lạnh.
Chúng tôi là đơn vị chuyên kinh doanh xuất khẩu và nhập khẩu với quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu các mặt hàng: sắt, thép, kết cấu xây dựng, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng, vật tư – máy móc – thiết bị – phụ tùng thay thế, dây chuyền công nghệ ngành xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng; đồng thời cung cấp máy móc, thiết bị xây dựng nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của ngành xây dựng và công nghiệp.
*Công ty CP FECON(lên sàn 24/07/2012-HOSE)
-Quy mô:quy mô doanh nghiệp lớn
-Lĩnh vực hoạt động chính:
Thi công xây dựng nền móng và công trình ngầm phục vụ xây dựng nhà cao tầng, công trình công nghiệp, công trình giao thông, công trình thủy lợi;
Thi công hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp và khu đô thị;
Thí nghiệm khả năng chịu tải nền móng công trình bằng phương pháp nén tải trọng tĩnh và thí nghiệm tải trọng động biến dạng lớn (PDA);
Đề tài tiến hành thí nghiệm kiểm tra tính nguyên dạng và tính đồng nhất của cọc móng và các cấu kiện bê tông cốt thép bằng hai phương pháp chính là siêu âm (SONIC) và va đập biến dạng nhỏ (PIT) Mục tiêu của nghiên cứu là xác định mức độ sai lệch hình học, độ méo và độ đồng nhất của vật liệu, từ đó đánh giá chất lượng liên kết giữa cọc và cấu kiện bê tông, nhằm đảm bảo an toàn, hiệu quả chịu tải và tăng tuổi thọ cho công trình.
Khảo sát địa chất công trình, khảo sát địa hình, khảo sát địa chất thủy văn công trình;
Thực hiện thí nghiệm địa kỹ thuật nhằm phục vụ khảo sát thiết kế, quản lý chất lượng và quan trắc trong thi công nền móng và công trình ngầm Dịch vụ tập trung phân tích đặc tính đất, đánh giá điều kiện nền móng và cung cấp dữ liệu phục vụ quyết định kỹ thuật, đồng thời bảo đảm quan trắc liên tục trong suốt quá trình thi công, nhưng không bao gồm dịch vụ thiết kế công trình.
Sản xuất và buôn bán các loại cấu kiện bê tông cốt thép, thép, phục vụ xây dựng nền móng và công trình ngầm;
*Tổng Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam
(Ngày 5/9/2008 Cổ phiếu Tổng Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam chính thức giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà NộI)
+Quy mô: doanh nghiệp có quy mô lớn
+ Lĩnh vực kinh doanh chính: xây lắp công trình; kinh doanh bất động sản; tư vấn thiết kế và sản xuất công nghiệp.
Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông và thủy lợi, đóng vai trò then chốt trong phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống Đồng thời triển khai các dự án năng lượng gồm thủy điện, nhiệt điện, điện gió và điện hạt nhân, bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật cao và vận hành an toàn Hệ thống truyền tải được tăng cường với đường dây và trạm biến áp điện đến 500 kV, tăng khả năng truyền tải, ổn định lưới điện và đáp ứng nhu cầu điện lực ngày càng lớn Tất cả hoạt động được quản lý chặt chẽ về chất lượng, tiến độ và chi phí, hướng tới tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và sự an toàn của người dân và doanh nghiệp.
KV bao gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội, khu đô thị, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, công trình ngầm, và các loại công trình văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí, du lịch, khách sạn cùng các công trình công cộng khác; đồng thời hoạt động đầu tư xây dựng và kinh doanh bất động sản, không bao gồm tư vấn về giá đất.
Sản xuất kinh doanh điện thương phẩm;
Khai thác, sản xuất kinh doanh nước sạch, các sản phẩm phục vụ cho xử lý nước thải, chất thải, bảo vệ môi trường;
Chúng tôi khai thác, sản xuất, chế biến và kinh doanh các loại cấu kiện và vật liệu xây dựng, bao gồm đá, cát, sỏi, gạch, ngói, xi măng, kính, tấm lợp, nhựa đường, các loại cấu kiện bê tông, đá nhân tạo và các vật liệu xây dựng khác.
2.4.2 Đối thủ cạnh tranh gián tiếp; đối thủ ở nước ngoài (về sản phẩm, địa bàn kinh doanh) Đến nay, thị trường Việt đã chứng kiến nhiều tên tuổi, thương hiệu có bề dày kinh nghiệm từ các nước phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, châu Âu… Họ tham gia sâu rộng vào mọi hoạt động như tư vấn, thiết kế, đầu tư, xây dựng Ngoài ra, những thương hiệu này còn hợp tác với doanh nghiệp Việt cùng thực hiện, cung cấp dịch vụ, thậm chí trở thành nhà thầu chính của các công trình hạ tầng lớn quốc gia.
Trong lĩnh vực xây dựng, Lotte E&C (thuộc Tập đoàn Lotte Hàn Quốc) là một trong 10 nhà thầu xây dựng hàng đầu Hàn Quốc và là đối tác quen thuộc với giới đầu tư bất động sản Việt Nam Sau thành công với tòa nhà 65 tầng Lotte Center Hà Nội và Lotte Mart TP.HCM, Lotte E&C đã ký kết chiến lược hợp tác với Tập đoàn Novaland và trở thành nhà thầu chính cho tổ hợp căn hộ - thương mại dịch vụ hạng sang tại trung tâm quận 1, TP.HCM.
Lotte E&C hiện diện tại 21 quốc gia và quản lý hơn 107 công ty con, khẳng định quy mô và năng lực toàn cầu của tập đoàn Nhắc tới Lotte E&C trong ngành bất động sản, giới chuyên môn nghĩ ngay tới Lotte World Tower – cao ốc chọc trời 123 tầng, khánh thành năm 2017, tòa nhà cao nhất Hàn Quốc và thứ 5 toàn cầu Nhờ áp dụng nhiều công nghệ xây dựng tiên tiến, Lotte World Tower đã trở thành đầu tàu về tòa nhà cao tầng, an toàn và xanh.
Phân tích SWOT
Với chủ trương tích cực tham gia các hiệp định kinh tế với nước ngoài và ảnh hưởng của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đã thúc đẩy sự dịch chuyển nguồn vốn đầu tư sang Việt Nam Trong bối cảnh này, bất động sản khu công nghiệp (KCN) được dự báo là một trong những lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất từ phía nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸Khám phá Pollinations.AI với API văn bản miễn phí hỗ trợ bạn tối ưu SEO cho nội dung bất động sản KCN! [Ủng hộ chúng tôi](https://pollinations.ai/redirect/kofi) để AI luôn dễ tiếp cận cho mọi người.
Về sản phẩm, KCN Hòa Bình đang thể hiện sức cạnh tranh so với các KCN lân cận nhờ môi trường làm việc trong lành, hạ tầng thông thoáng và đồng bộ, cùng mức giá thuê linh hoạt phù hợp với nhiều mô hình đầu tư Vị trí của KCN rất gần TP.HCM và có hệ thống đường dẫn tới các tuyến cao tốc trọng yếu miền Nam, giúp tối ưu logistics và vận chuyển cho doanh nghiệp.
Về hợp tác đầu tư, nhờ kinh nghiệm đầu tư thành công tại KCN Hòa Bình, HBI có nhiều cơ hội để giành các dự án KCN mới và thiết lập các hình thức hợp tác đầu tư với các chủ đầu tư khác Điều này giúp HBI mở rộng quy mô danh mục dự án, tận dụng mạng lưới đối tác và nguồn lực sẵn có để đẩy nhanh tiến độ và tối ưu hiệu quả đầu tư Nhờ đó, vị thế của HBI trên thị trường khu công nghiệp được củng cố và cơ hội hợp tác với các bên liên quan ngày càng rộng mở.
Về kinh doanh, HBI có nhiều lợi thế để mở rộng sang các mảng liên quan đến KCN như đầu tư hệ thống pin năng lượng mặt trời áp mái nhà xưởng, suất ăn công nghiệp, chăm sóc mảng xanh, thi công nhà xưởng và hạ tầng công nghiệp Điểm mạnh của HBI nằm ở khả năng tích hợp và tối ưu chuỗi giá trị từ thiết kế, thi công đến vận hành các hệ thống năng lượng mặt trời trên mái nhà và dịch vụ hạ tầng công nghiệp, giúp giảm chi phí vận hành cho khách hàng khu công nghiệp và nâng cao cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
• Về kinh nghiệm: Đã triển khai đầu tư và kinh doanh hiệu quả khu dân cư (KDC), khu công nghiệp (KCN) Hòa Bình.
• Về tài chính: Vẫn còn nguồn thu trong tương lai, nên HBI vẫn tự chủ được nguồn tài chính cho hoạt động trong các năm sau.
• Về nhân sự: Cấp quản lý nhiều kinh nghiệm về đầu tư KCN và nhân sự tinh gọn.
Về thương hiệu, HBI được khách hàng và đối tác đánh giá cao nhờ đầu tư môi trường, dịch vụ và hạ tầng đồng bộ; đồng thời HBI là thành viên của Tập đoàn Hoà Bình, với thương hiệu Hoà Bình là một trong những thương hiệu lớn và có uy tín trên thị trường.
Về sản phẩm, KCN Hòa Bình đang thể hiện tính cạnh tranh so với các KCN lân cận nhờ môi trường làm việc xanh và sạch, hạ tầng khu công nghiệp thoáng đãng, đồng bộ và giá cả linh động phù hợp với nhiều mô hình đầu tư Vị trí của KCN Hòa Bình rất gần TP.HCM, thuận tiện di chuyển và logistics, đồng thời có các tuyến đường dẫn lên các tuyến cao tốc trọng yếu ở khu vực miền Nam, mang lại lợi thế vận chuyển và tiếp cận thị trường nhanh chóng cho doanh nghiệp.
Về hợp tác đầu tư, với kinh nghiệm đầu tư thành công tại KCN Hòa Bình, HBI sẽ có nhiều cơ hội giành được các dự án KCN mới và tăng cường hợp tác đầu tư với các chủ đầu tư khác, từ đó tối ưu hóa nguồn lực, mở rộng mạng lưới đối tác và thúc đẩy lợi ích bền vững cho mọi bên liên quan.
Với lợi thế cạnh tranh vững chắc từ lĩnh vực khu công nghiệp (KCN), HBI đang mở rộng sang một số mảng kinh doanh liên quan nhằm cung cấp giải pháp tổng thể cho KCN và tối ưu chuỗi cung ứng Các lĩnh vực tiềm năng bao gồm đầu tư hệ thống pin năng lượng mặt trời áp mái nhà xưởng, suất ăn công nghiệp, chăm sóc mảng xanh, thi công nhà xưởng và hạ tầng công nghiệp, giúp HBI tăng trưởng bền vững, nâng cao hiệu quả vận hành và đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng doanh nghiệp trong KCN.
Về đầu tư, tiến độ GPMB và bàn giao đất từ CQNN chưa được hoàn thành đúng như quy hoạch và chủ trương đã duyệt, dẫn đến HBI phải tăng chi phí đầu tư so với kế hoạch ban đầu và kéo dài thời gian triển khai kế hoạch kinh doanh, hoặc có thể mất một phần đất kinh doanh.
Về phía khách hàng, sự phát triển của xã hội chưa đồng bộ với nhịp độ tăng trưởng của khu công nghiệp (KCN), dẫn đến nguồn lao động hiện có chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu tuyển dụng Sự lệch pha này làm giảm hiệu quả hoạt động và đặt ra nhu cầu điều chỉnh chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nâng cao kỹ năng và cách thức kết nối giữa xã hội và KCN để đáp ứng mục tiêu phát triển.
Nhu cầu thuê đất tại khu công nghiệp (KCN) của khách hàng ngày càng tăng đang tác động trực tiếp đến kế hoạch kinh doanh của họ và gián tiếp ảnh hưởng đến nguồn thu tương lai của HBI Khi khách hàng mở rộng hoặc điều chỉnh diện tích thuê đất tại KCN, chiến lược sản phẩm, hoạt động vận hành và biên lợi nhuận của họ sẽ thay đổi, từ đó ảnh hưởng đến doanh thu dự kiến và triển vọng tài chính của HBI Việc theo dõi động thái thuê đất KCN và dự báo xu hướng này sẽ cho phép HBI điều chỉnh kế hoạch doanh thu, tối ưu hoá chuỗi cung ứng và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Chính sách – luật: Các quy định pháp lý hiện hành đang tạo ra nhiều thách thức cho HBI trong việc xin chủ trương, huy động đầu tư và triển khai các dự án KCN mới Thủ tục phê duyệt còn rườm rà, thời gian cấp phép kéo dài và yêu cầu tuân thủ nhiều điều kiện khiến việc đầu tư và triển khai dự án gặp khó khăn, gia tăng chi phí và rủi ro cho dự án.
Về nhân sự, HBI đang đối mặt với nguy cơ chảy máu các nhân sự nòng cốt và những người có nhiều kinh nghiệm nếu tiến độ giải phóng mặt bằng (GPMB) không được hoàn tất hoặc công ty không có các dự án mới để thu hút và giữ chân nguồn lực Việc GPMB được hoàn thành đúng kế hoạch sẽ giúp ổn định đội ngũ, duy trì sự gắn kết của nhân sự chủ chốt và bảo đảm hiệu suất làm việc, đồng thời cần triển khai các dự án mới để kích hoạt dòng chảy cơ hội phát triển cho đội ngũ và đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của doanh nghiệp.
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CTCP XÂY DỰNG HÒA BÌNH
Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn
TÀI SẢN Tỷ Tỷ Tỷ Tỷ Tỷ trọng trọng trọng trọng trọng
I Tiền và các khoản tương 3,43% 1,98% 3,54% 5,00% 2,04% đương tiền
II Đầu tư tài chính ngắn hạn 0,10% 0,68% 4,98% 10,46% 10,97%
III Các khoản phải thu ngắn 70,50% 69,74% 65,66% 59,17% 57,77% hạn
V Tài sản ngắn hạn khác 0,81% 1,07% 0,93% 1,10% 0,85%
I Các khoản phải thu dài hạn 0,52% 0,35% 0,25% 0,33% 0,13%
II Tài sản cố định 8,06% 8,93% 10,15% 9,49% 8,75%
III Bất động sản đầu tư 0,22% 0,32%
IV Tài sản dở dang dài hạn 0,22% 0,26% 0,39% 0,22% 0,57%
V Đầu tư tài chính dài hạn 2,05% 2,28% 2,75% 1,55% 3,79%
VI Tài sản dài hạn khác 2,44% 2,52% 2,57% 1,45% 2,46%
VII Lợi thế thương mại 0,23% 0,29% 0,37% 0,50%
II Nguồn kinh phí và quỹ khác
C LỢI ÍCH CỔ ĐÔNG THIỂU
Bảng 3 – Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của HBC 2016-2019
Tại thời điểm tháng 12 năm 2019 thì tổng tài sản của tập đoàn HBC đạt là 16.721 tỷ đồng.
Tổng tài sản của tập đoàn có xu hướng tăng theo từng năm, từ 7.291 tỷ đồng năm 2015 đến năm 2019 tăng gấp 2.3 lần Tuy nhiên, khi xét cơ cấu tài sản ở năm 2019, sự chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn là khá lớn, với tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn tài sản dài hạn.
Trong cơ cấu tài sản, tỷ lệ tài sản ngắn hạn luôn chiếm phần lớn; cụ thể năm 2019 tài sản dài hạn chỉ đạt tối đa 13.75% trong khi tài sản ngắn hạn lên tới 86.25% Tình trạng này không chỉ xảy ra ở năm 2019 mà còn kéo dài từ năm 2015, khi tỷ trọng tài sản ngắn hạn lên trên 83% và tài sản dài hạn chỉ cao nhất là 16.47%.
Qua bảng so sánh cơ cấu tài sản và nguồn vốn, ta thấy tỷ trọng tài sản ngắn hạn tăng đều theo từng năm, cho thấy xu hướng tích cực của cơ cấu tài sản Chỉ năm 2017 có sự sụt giảm so với năm 2016, nhưng mức giảm 2,9% được xem là không đáng kể và không làm thay đổi bức tranh tổng thể về tài sản ngắn hạn.
Tiềền và các kho ản t ương đ ương tềền Đầều t ưtài chính ngắắn hạn Các kho ản ph ải thu nhắắn hạn Hàng tồền kho
Tài s ản ngắắn hạn khác
Biểu đồ 4 – Cơ cấu tài sản ngắn hạn của HBC từ năm 2015-2019
Nhìn vào biểu đồ cơ cấu tài sản ngắn hạn trong 5 năm, các khoản mục có sự biến đổi đáng kể: các khoản phải thu ngắn hạn tăng đều theo từng năm, trong khi đầu tư tài chính ngắn hạn giảm mạnh từ 10,97% năm 2015 xuống còn 0,10% năm 2019 Khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền chiếm tỷ trọng cao nhất ở mức 5% vào năm 2016 và thấp nhất 1,98% vào năm 2018; đến năm 2019, khoản mục này đã tăng lên 3,43% với số tiền khoảng 574 tỷ đồng Tình trạng tiền mặt ở mức thấp như vậy khiến công ty gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dự án mới và triển khai các dự án hiện tại, từ đó đẩy nhu cầu vay nợ lên để có thể đầu tư.
Trong giai đoạn 2015–2019, tỷ trọng các khoản phải thu ngắn hạn của HBC tăng từ 57,77% lên 70,50%, cho thấy công ty đã giảm cơ cấu vốn đầu tư ngắn hạn và tồn kho để thực hiện chính sách bán chịu nhằm tăng doanh thu Việc tăng các khoản phải thu ngắn hạn đồng nghĩa với giảm khả năng thanh toán và tăng chi phí thu hồi nợ cho công ty Các khoản phải thu của HBC chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tài sản, chủ yếu là phải thu ngắn hạn khách hàng và phải thu theo tiến độ hợp đồng xây dựng; nguyên nhân chính là các khoản phải thu đến từ công ty mẹ và chịu ảnh hưởng bởi địa bàn hoạt động, loại hình xây dựng và vai trò thi công Khu vực miền Nam được đánh giá là nơi quản lý phải thu tốt nhất, trong khi xây dựng nhà ở là loại hình giúp HBC thu nợ hiệu quả nhất Việc tỷ trọng phải thu ngắn hạn chiếm phần lớn trong cơ cấu tài sản là đặc thù chung của ngành xây dựng; tuy vậy, nếu tình trạng này kéo dài sẽ tạo rủi ro cho cơ cấu tổng tài sản của tập đoàn HBC.
Tỷ trọng tài sản dài hạn trên tổng tài sản có xu hướng giảm qua các năm, nhưng ở giai đoạn 2016–2017 lại tăng nhẹ với mức 2,93% Từ cuối năm 2015, công ty đã đẩy mạnh mở rộng quy mô và đầu tư sản xuất, kinh doanh, đồng thời triển khai các chính sách tài chính như tăng mua chịu và bán chịu nhờ nguồn vốn từ phát hành cổ phiếu và vay ngắn hạn Đến năm 2017, tỷ trọng tài sản dài hạn tăng mạnh so với năm trước, cho thấy sự dịch chuyển cơ cấu tài sản theo hướng dài hạn nhiều hơn.
Trong cơ cấu tài sản của Hòa Bình, tỷ trọng tài sản dài hạn năm 2015 đạt 16,45%, giảm xuống 14,95% vào năm 2018 so với năm 2017 và tiếp tục ở mức 13,75% vào năm 2019; Khoản mục tài sản cố định là phần chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tài sản dài hạn, nhưng lại thể hiện hai xu hướng rõ rệt: từ 2015 đến 2017 tăng dần tỷ trọng do Hòa Bình đầu tư nhiều vào máy móc thiết bị và bộ máy quản lý; từ 2017 đến 2019 lại có xu hướng giảm, và năm 2019 tỷ lệ này chỉ còn 8,06%; Khoản mục bất động sản đầu tư bắt đầu được ghi nhận từ năm 2018 khi Hòa Bình tham gia vào lĩnh vực bất động sản đầu tư, tuy nhiên tỷ trọng này vẫn ở mức rất thấp khi chỉ chiếm 0,32% tổng tài sản năm 2018 và đã giảm tiếp.
VCSH N ợvay ngắắn hạn Nợ vay dài hạn
Trong giai đoạn 2015–2019, giá trị các khoản mục lợi thế thương mại của Hòa Bình có xu hướng giảm và xuống còn 0,22% vào năm 2019 Khoản mục lợi thế thương mại bắt đầu được ghi nhận từ năm 2016, song vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản của doanh nghiệp, với mức cao nhất được ghi nhận vào năm 2016.
0.5% nhưng lại giảm theo từng năm và đến năm 2019 chỉ còn đạt 0.23%.
Biểu đồ 5 – Vốn chủ sở hữu và nợ vay ngắn hạn, dài hạn của HBC từ năm 2015-2019
Về phần nguồn vốn, các khoản nợ phải trả giảm đều và năm 2016 giảm ít nhất so với các năm còn lại; riêng đối với nợ dài hạn chỉ duy nhất năm 2016 tăng nhẹ từ 5,64% lên mức cao hơn trước, cho thấy sự dịch chuyển nhỏ trong cơ cấu nợ dài hạn.
Trong giai đoạn 2016–2019, tỷ lệ liên quan đến khoản mục này có xu hướng giảm, từ 6,41% xuống còn 4,29% vào năm 2019 Nguyên nhân chính là từ năm 2016 HBC đã dùng nợ ngắn hạn chủ yếu cho hoạt động xây dựng để bổ sung vốn lưu động, trong khi thời gian thực hiện dự án thường kéo dài 2–3 năm, dẫn đến áp lực trả lãi tăng lên trong suốt giai đoạn vay và sau đó được giảm dần ở các năm tiếp theo khi các dự án hoàn tất và nợ được cân đối lại.
2017 giảm còn 4,47% và đến năm 2019 giảm còn 4,29%.
Khoản mục nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nợ phải trả của HBC, chủ yếu do lượng phải thu từ khách hàng rất lớn kéo theo các khoản dự phòng phải thu tăng lên; tuy nhiên, đây chỉ là một phần nhỏ trong các khoản nợ khó đòi của HBC, đồng nghĩa với việc phần nợ đọng từ phía khách hàng tương đương một khoản nợ vay lớn từ công ty Tuy vậy, tỷ lệ nợ ngắn hạn của tập đoàn đã có xu hướng giảm từ năm 2015 đến 2019; trong giai đoạn 2016-2018, tỷ lệ này quanh mức 77%, nhưng đến năm 2019 lại giảm mạnh còn 72.03% Việc vay nợ mang lại đòn bẩy tài chính và lá chắn thuế cho doanh nghiệp, nhưng tăng nợ, đặc biệt nợ ngắn hạn, sẽ làm tăng rủi ro cho cấu trúc nguồn vốn do gánh nặng lãi phải trả ngày càng lớn; do đó công ty có xu hướng thu nhỏ tỷ trọng nợ vay ngắn hạn về mức an toàn hơn.
Trong giai đoạn 2015–2019, tỷ trọng vốn chủ sở hữu của HBC tăng từ 14,74% lên 23,68%, gần như tăng gấp đôi qua 5 năm HBC đã thực hiện tốt các chủ trương sử dụng nợ vay để tài trợ cho hoạt động kinh doanh, giúp công ty tận dụng cơ hội tăng trưởng doanh thu và tối ưu nguồn vốn chủ sở hữu, đồng thời tìm kiếm nguồn vốn vay dài hạn để giảm đòn bẩy tài chính Bên cạnh đó, HBC phát hành một lượng cổ phiếu lớn cho Hyundai Elevator Co., Ltd để tăng vốn chủ sở hữu và sau đó thông qua phát hành trái phiếu chuyển đổi trị giá bằng USD Tuy rủi ro vay nợ quá mức có thể làm tăng gánh nặng trả lãi, tập đoàn đã điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn bằng cách tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu và sử dụng nguồn vốn tự có cho đầu tư thay vì dựa vào nợ vay nhiều như trước Mặc dù tăng vốn chủ sở hữu, việc sử dụng đòn bẩy tài chính vẫn ở mức hiệu quả và ổn định trong 5 năm được phân tích.
Phân tích Vốn lưu động và tính thanh khoản
Vốn lưu động (WC) = TSNH (Current Asset) – Nợ NH (Current Liabilities)
Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Bảng 1 – Vốn lưu động của HBC từ năm 2015-2019
Nhận xét : Có thể thấy nguồn vốn lưu động tăng mạnh theo từng năm cụ thể là 2017-
Vốn lưu động của công ty đã tăng mạnh từ 340,666,882 đồng vào giai đoạn 2015-2016 lên 1,014,379,382 đồng, cho thấy xu hướng tăng trưởng đáng kể ở thời kỳ này; năm 2017 ghi nhận sự sụt giảm 22,33% so với năm 2016, thể hiện sự biến động của dòng vốn lưu động Đến 2018 và đặc biệt là năm 2019, vốn lưu động có sự đột phá khi tăng lên lên tới 1,209,516,335 đồng Bạn có thể xem sự biến động được thể hiện rõ qua bảng chênh lệch tỷ trọng dưới đây.
Chênh lệch % Chênh lệch % Chênh lệch % Chênh lệch % của 2015/2016 của 2016/2017 của 2017/2018 của 2018/2019
Bảng 2 – Độ chênh lệch tỷ trọng vốn lưu động của HBC từ 2015-2019
Trong năm 2017, doanh thu tăng trưởng nóng đã đẩy các khoản phải thu tăng mạnh, trong khi các khoản phải trả không tăng tương ứng, gây áp lực lên vốn lưu động và buộc doanh nghiệp phải bổ sung bằng vay nợ ngắn hạn Độ chênh lệch về tỷ trọng vốn lưu động năm 2017 cho thấy sự lệch phân bổ giữa các thành phần nguồn vốn và sự phụ thuộc nhiều vào vốn ngắn hạn để duy trì hoạt động, làm nổi bật nguy cơ thiếu hụt dòng tiền và sự cần thiết của quản trị vốn lưu động hiệu quả.
Trong giai đoạn 2015–2017, vốn lưu động thể hiện biến động với mức tăng 5.24% từ 2015 sang 2016 và độ chênh lệch giữa 2016 và 2017 là -3,76%, cho thấy vốn lưu động giảm mạnh vào năm 2017 Đây là một đặc điểm chung ở nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vực thầu xây dựng, khi các khoản phải thu ngắn hạn thường ở mức lớn, và công ty HBC cũng nằm trong số ấy Tình trạng này gây gánh nặng tài chính khi quá trình thu hồi công nợ diễn ra chậm, làm tăng áp lực lên dòng tiền và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.
Sau khi giảm tỷ trọng vốn lưu động năm 2017 thì qua năm 2018 vốn lưu động ổn định lại và tăng mạnh vào năm 2019
3.2.2 Chỉ số thanh khoản a.Chỉ số thanh toán hiện hành
Current ratio = Current assets / Current Liabilities
Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Tỷ số thanh toán hiện hành là chỉ số tài chính dùng để đo lường năng lực thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp; tại HBC, tỷ số thanh khoản qua 5 năm liên tục duy trì ở mức ổn định và luôn lớn hơn 1, cho thấy khả năng thanh toán nợ ngắn hạn được duy trì tốt, trong đó năm 2019 đạt 1.20 là cao nhất và năm 2015 đạt 1.06 là thấp nhất Điều này cho thấy hàng tồn kho của HBC đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì thanh khoản cho công ty Bên cạnh đó, chỉ số thanh khoản nhanh sẽ được xem xét như một thước đo bổ sung cho khả năng thanh toán ngắn hạn của HBC.
Quick ratio/ Acid ratio = Highly-liquid assets/ Current Liabilities
Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Bảng 4 Chỉ số thanh khoản nhanh của HBC từ năm 2015-2019
Dựa trên số liệu được trình bày, chỉ số thanh khoản của công ty duy trì ở mức trên 0,5 mỗi năm, cho thấy HBC có khả năng thanh toán nợ ngắn hạn tốt Điểm tích cực là số trích lập dự phòng cho khoản phải thu của công ty giảm xuống cả về tuyệt đối lẫn tương đối, đồng thời số thực thu hàng năm tăng lên, do đó chỉ số thanh khoản nhanh của HBC tăng đều và ổn định, không có dấu hiệu sụt giảm Mức thấp nhất là 0,9 năm vào năm 2015 và cao nhất là 1,04 năm vào năm 2019.
. c Chỉ số thanh khoản bằng tiền
Cash ratio = Cash/ Current Liabilities
Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Tiền và 148,979,584 572,302,158 494,960,804 314,605,675 574,331,813 các khoản tương đương tiền
Bảng 5 Chỉ số thanh khoản bằng tiền của HBC từ năm 2015-2019
Chỉ số tiền mặt cho biết lượng tiền mặt và chứng khoán khả mại mà một doanh nghiệp có để đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn Nói cách khác, chỉ số tiền mặt cho biết cứ một đồng nợ ngắn hạn thì có bao nhiêu tiền mặt và chứng khoán khả mại để chi trả, từ đó phản ánh khả năng thanh khoản và tình hình chi trả ngắn hạn của doanh nghiệp.
Trong giai đoạn 2015–2016, chỉ số tiền mặt của công ty tăng lên 0.06; sang năm 2017, chỉ số này bắt đầu giảm và đến 2018 giảm mạnh xuống còn 0.03 do công ty chi trả cổ tức bằng tiền mặt cho cổ đông ở mức 5% mệnh giá cổ phần và cổ tức bằng cổ phiếu ở 50%, dẫn tới sự suy giảm của chỉ số tiền mặt Tuy nhiên năm 2019, chỉ số tiền mặt đã phục hồi và ổn định ở mức 0.05, cho thấy sự phục hồi của dòng tiền và sự thanh toán bằng dòng tiền được duy trì ở mức ổn định, phản ánh xu hướng tích cực của chỉ số thanh toán bằng dòng tiền.
CF coverage ratio = CFs from operating activities/ Average Current Liabilities
Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019
Bảng 6 Chỉ số thanh khoản bằng dòng tiền của HBC từ năm 2014-2019
Chỉ số thanh toán bằng dòng tiền đánh giá tình hình dòng tiền thực có của doanh nghiệp đủ đảm bảo cho việc thanh toán nợ ngắn hạn.
Chỉ số thanh khoản dựa trên dòng tiền của HBC vẫn ở mức thấp, cho thấy khả năng thanh toán ngắn hạn còn yếu Trong năm 2019, công ty đã đề ra một số chỉ tiêu nhằm bảo đảm khả năng trả nợ vay và lãi vay, cùng với cơ cấu nguồn vốn được định hướng giảm nợ phải trả ngắn hạn, tăng nợ dài hạn và tăng vốn chủ sở hữu Công ty cũng đặt mục tiêu giảm chi phí tài chính thông qua các biện pháp như phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ, đồng thời cải thiện dòng tiền hoạt động và tăng cường quản lý khoản phải thu Mục tiêu tỷ lệ phải thu trên doanh thu tối đa 35% được kỳ vọng hỗ trợ dòng tiền và thanh khoản Dù mức cải thiện chưa quá lớn, đến năm 2019 tình hình đã ổn định và khởi sắc hơn so với mức sụt giảm năm 2017.
3.2.3 Khả năng thanh toán dài hạn a Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu (D/E)
N ợtrền vồắn chủ sở hữu
Tỷ số này sẽ được tính theo công thức:
Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu=
Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu (DER – Debt to Equity ratio) là tỷ lệ giữa vốn huy động bằng cách đi vay và vốn chủ sở hữu, phản ánh năng lực quản lý nợ và quy mô tài chính của doanh nghiệp Việc tính toán DER cho ta thấy mức độ độc lập hay phụ thuộc của doanh nghiệp đối với chủ nợ, đồng thời là thước đo quan trọng để đánh giá đòn bẩy tài chính của công ty Chỉ số này giúp nhà quản trị và nhà đầu tư hiểu rõ khả năng huy động vốn, mức rủi ro tài chính và hiệu quả sử dụng nợ để tăng trưởng doanh nghiệp.
Biểu đồ tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (D/E) của công ty trong 5 năm cho thấy xu hướng giảm dần theo từng năm, với mức cao nhất 5.79 vào năm 2015 và thấp nhất 3.22 vào năm 2019 Năm 2015 cho thấy mức nợ để đầu tư và phát triển vượt quá vốn chủ sở hữu, tuy nhiên các năm gần đây cho thấy công ty đã điều chỉnh chính sách tài chính bằng cách giảm đòn bẩy và phát hành cổ phiếu để tăng vốn chủ sở hữu Việc tăng nợ đồng nghĩa với rủi ro tài chính tăng lên, vì vậy công ty đã điều chỉnh chiến lược tài chính trong những năm gần đây Hệ số nợ trên tổng tài sản cũng được theo dõi như một chỉ số bổ sung cho đánh giá mức độ rủi ro và mức độ sử dụng đòn bẩy của công ty.
Nợ trền tổ ng tài sản
Tỷ số này sẽ được tính theo công thức:
Hệ số nợ trên tổng tài sản =
Tỷ số nợ trên tổng tài sản (nợ phải trả chia cho tổng tài sản) cho biết bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ nợ vay Đây là thước đo quan trọng để đánh giá khả năng tự chủ tài chính và mức độ phụ thuộc vào vốn vay của doanh nghiệp Một tỷ số cao cho thấy doanh nghiệp đang gánh nợ nhiều và đối mặt với rủi ro tài chính, trong khi tỷ số thấp cho thấy nguồn vốn chủ yếu từ vốn chủ sở hữu và thanh khoản tốt hơn Việc theo dõi tỷ số nợ trên tổng tài sản giúp quản trị rủi ro, lên kế hoạch trả nợ và tối ưu cấu trúc nguồn vốn.
Nhìn chung trong 5 năm qua, tỷ lệ nợ trên tài sản của HBC luôn ở dưới mức 1, cho thấy mức độ đòn bẩy tài chính được duy trì ở mức an toàn Cao nhất trong giai đoạn này là năm 2015 với tỷ lệ 0,85 Tỷ lệ nợ trên tài sản của HBC có xu hướng giảm dần theo từng năm, cho thấy sự cải thiện về cấu trúc vốn và quản lý nợ của doanh nghiệp.
Trong năm 2019, tỷ lệ an toàn ở mức thấp nhất là 0.76, cho thấy các tổ chức tín dụng vẫn đánh giá cao công ty khi hạn mức tín dụng của HBC tăng dần theo từng năm nhờ khả năng trả nợ tương đối tốt Tỷ lệ này ngày càng giảm chứng tỏ doanh nghiệp vay vốn ít hơn và tự chủ tài chính được cải thiện, nhưng HBC vẫn sử dụng đòn bẩy tài chính một cách hiệu quả vì mức giảm qua các năm không chênh lệch quá lớn Khả năng trả lãi vay của HBC được duy trì ở mức ổn định, cho thấy công ty có thể thanh toán lãi vay dù nguồn vốn có sự biến động.
Khả năng trả lãi vay 1.93 5.93 5.04 3.59 2.63
Tỷ số này sẽ được tính theo công thức:
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Tỷ số khả năng trả lãi =
Tỷ số khả năng trả lãi cho biết khả năng chi trả phần lãi của khoản vay, nhưng không cho biết khả năng trả cả phần gốc lẫn phần lãi Hệ số thu nhập trả lãi định kỳ càng cao thì khả năng thanh toán lãi của công ty cho các chủ nợ càng lớn.
Nhìn vào bảng số liệu phía trên, khả năng trả lãi vay của HBC tổng quan vẫn lớn hơn 1, cho thấy công ty có khả năng thanh toán chi phí lãi vay Năm 2016 là đỉnh với tỷ lệ trả lãi lên tới 5.93 lần, cho thấy lợi nhuận trước thuế và lãi vay vượt chi phí lãi vay gấp 5.93 lần Dù năm 2015 là năm tỷ lệ này thấp nhất nhưng vẫn ở mức 1.93, phản ánh mức an toàn tài chính cao cho HBC Tuy nhiên từ năm 2017 trở đi tỷ lệ này giảm dần và đến năm 2019 đạt 2.63, vẫn ở mức lý tưởng cho khả năng trả lãi và đảm bảo thanh toán cho chủ nợ Nguyên nhân chính là chi phí lãi vay tiếp tục tăng theo từng năm trong khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay lại suy giảm kể từ 2017, một phần do hoạt động kinh doanh chưa tối ưu và áp lực tăng chi phí nguyên vật liệu và nhân công trên thị trường.
Phân tích hiệu suất hoạt động
3.3.1 Vòng quay tổng tài sản (Assets turnover)
Vòng quay tổng tài sản
Tỷ số này sẽ được tính theo công thức:
Doanh thu thuần Vòng quay tổng tài sản =
Hệ số vòng quay tổng tài sản là thước đo cho biết mức độ hiệu quả mà doanh nghiệp tận dụng tài sản để tạo ra doanh thu Qua chỉ số này, ta có thể xác định mỗi đồng tài sản mang về bao nhiêu đồng doanh thu, từ đó so sánh hiệu quả hoạt động theo thời gian và giữa các doanh nghiệp cùng ngành, hỗ trợ quyết định đầu tư và tối ưu hóa quản trị tài sản.
Trong 5 năm từ 2015 – 2019 thì năm 2015 có chỉ số thấp nhất là 0.78 còn năm 2017 cho thấy công ty sử dụng tài sản của mình vào hoạt động sản xuất kinh doanh là hiệu quả nhất trong 5 năm khi 1 đồng tài sản tạo ra 1.26 đồng doanh thu Nhưng từ năm 2017 – 2019, vòng quay tổng tài sản giảm dần có nghĩa là công ty đầu tư không hiệu quả vào tổng tài sản và thể hiện sự giảm lợi nhuận từ tài sản Do tổng tài sản từ 2017 – 2019 tăng nhiều hơn so với doanh thu thuần hàng năm.
3.3.2 Vòng quay hàng tồn kho (Inventory Turnover)
Days’ sales in inventory - DSI 56.64 41.19 30.63 33.18 39.41
Tỷ số này sẽ được tính theo công thức:
Giá vốn hàng bán Vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho BQ Vòng quay tổng tài sản = 365
Hệ số vòng quay hàng tồn kho là thước đo cho hiệu quả quản trị tồn kho của doanh nghiệp, cho biết tốc độ luân chuyển hàng hóa tồn kho trong kỳ báo cáo Vòng quay tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân được luân chuyển hoặc bán hết trong một kỳ, giúp đánh giá mức độ nhanh chậm của việc xử lý tồn kho và tác động đến chi phí lưu kho và chu trình cung ứng.
Trong giai đoạn 2016–2019 tại Tập đoàn Hòa Bình, vòng quay hàng tồn kho dao động từ 7–12 lần mỗi năm, với thời gian tồn kho từ 31 đến 57 ngày Nhờ tốc độ quay vòng nhanh của nguyên vật liệu, doanh nghiệp nhận được nhiều công trình xây dựng và tồn kho không bị ứ đọng Xét trên 5 năm, năm 2017 có vòng quay hàng tồn kho cao nhất với thời gian tồn kho chỉ hơn 30 ngày và cũng là năm Hòa Bình nhận được nhiều công trình xây dựng nhất; ngược lại, năm 2015 ghi nhận vòng quay thấp nhất gần 7 lần mỗi năm và 57 ngày tồn kho, cho thấy công ty dự trữ nhiều nguyên vật liệu nhưng nhận được ít công trình xây dựng nhất trong giai đoạn này.
3.3.3 Vòng quay khoản phải thu (AR Turnover_ART)
Days in AR Collection - DAR 65.31 55.93 62.46 93.72 120.74
Tỷ số này sẽ được tính theo công thức:
Doanh thu thuần Vòng quay khoản phải thu =
Vòng quay khoản phải thu phản ánh khả năng quản lý các khoản công nợ phải thu và khả năng thu hồi vốn trên các khoản nợ này Chỉ số này cho thấy mức độ thanh khoản của danh mục phải thu, từ đó đánh giá hiệu quả quản trị tín dụng và quá trình thu hồi nợ của doanh nghiệp Nếu vòng quay cao, doanh nghiệp thu hồi nợ nhanh, cải thiện dòng tiền và tối ưu hoạt động kinh doanh; nếu thấp, cần xem xét lại chính sách cấp tín dụng, quy trình thu nợ và kiểm soát công nợ Việc tối ưu vòng quay khoản phải thu giúp tăng hiệu quả vận hành và gia tăng lợi nhuận thông qua quản trị nợ khách hàng hiệu quả.
Trong giai đoạn 2015–2017, chỉ số vòng quay khoản phải thu của Hòa Phát ở mức ổn định khoảng 6–7 lần/năm, trong khi kỳ thu tiền dao động từ 56–66 ngày Do đặc thù của ngành xây dựng và các chính sách của tập đoàn, việc thu hồi nợ từ các khách hàng của Hòa Bình diễn ra khá tốt và công ty có các đối tác làm ăn chất lượng có khả năng trả nợ nhanh chóng Tuy nhiên, chỉ số này đã bắt đầu giảm dần từ năm 2018.
Trong năm 2019, có thể thấy việc thu tiền của HBC đang gặp vấn đề hoặc các đối tác của tập đoàn đang gặp khó khăn về tài chính Vấn đề nổi bật ở đây là chính sách thu tiền của tập đoàn quá thoải mái, thiếu quyết liệt và thường nhận các công trình xây dựng lớn với giá đấu thầu cao.
3.3.4 Vòng quay khoản phải trả (AP Turnover_APT)
Days in payment of AP - DAP
Tỷ số này sẽ được tính theo công thức:
Doanh thu thuần Vòng quay khoản phải trả =
Chỉ số vòng quay các khoản phải trả phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp từ nguồn tín dụng của nhà cung cấp, cho thấy mức độ hiệu quả trong quản lý thanh toán và chu kỳ thanh toán với đối tác Chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá thấp có thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp.
Nhìn tổng quan số liệu vòng quay phải trả trong 5 năm 2015–2019 cho thấy chỉ số này ổn định ở mức 5–7 lần mỗi năm, tương ứng với kỳ phải trả nợ ở mức trung bình và không có biến động lớn theo từng năm.
82 ngày Vào năm 2019 là có chỉ số khoản phải trả nhỏ nhất đồng nghĩa với việc là tập đoàn chiếm dụng vốn và thanh toán các khoản nợ chậm hơn so với các năm còn lại nhưng việc chiếm dụng khoản vốn này có thể sẽ giúp được doanh nghiệp giảm được khá nhiều chi phí về vốn Năm 2016 là năm có chỉ số này cao nhất 6.57 vòng tương đương với việc trả nợ trong 56 ngày, lúc này tình hình doanh thu của tập đoàn khá ổn định và nợ phải trả cũng thấp hơn so với những năm sau đó nên tập đoàn trả tiền cho người bán trong thời gian ngắn sau khi nhận được hàng hóa.
3.3.5 Vòng quay của vốn bằng tiền (Operating Cash Cycle)
Biểu đồ : Bảng vòng quay vốn bằng tiền giai đoạn 2015 - 2019
Vòng quay vốốn bằằng tềằn từ 2015 - 2019
2015 Days’ sales in inventory - DSI Days in AR Collecton - DAR Days in payment of AP - DAP Operatng Cash Cycle
Tỷ số này sẽ được tính theo công thức:
Vòng quay của vốn bằng tiền = DI + DAR – DAP
Vòng quay tiền mặt biểu thị thời gian (tính bằng ngày) để một công ty chuyển đổi các khoản đầu tư từ hàng tồn kho và các nguồn lực khác thành dòng tiền từ bán hàng.
Nhìn vào bảng ta thấy vòng quay vốn bằng tiền của năm 2017 là nhỏ nhất, tức từ ngày tập đoàn phải trả tiền hàng hóa và nguyên vật liệu cho đến khi nhận được tiền từ khách hàng tồn tại ở trên 31 ngày; nguyên nhân là tồn kho hàng hóa năm đó ở mức thấp nhất và số ngày thu và trả nợ khách hàng ở mức trung bình Ngược lại, năm 2019 là năm có mức vòng quay vốn bằng tiền cao nhất, xấp xỉ 79 ngày, chủ yếu do số ngày phải thu khách hàng lên tới hơn 120 ngày; nguyên nhân căn bản là chính sách của tập đoàn nới lỏng hơn cho đối tác, làm kéo dài chu kỳ thanh toán và vòng quay vốn.
Phân tích khả năng sinh lời
3.4.1 Biên lợi nhuận gộp (Gross Profit Margin)
Tỷ số này sẽ được tính theo công thức:
Lợi nhuận gộp Biên lợi nhuận gộp =
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng doanh thu thuần từ bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận khi bỏ qua chi phí tài chính, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Nói cách khác, đây là biên lợi nhuận ở mức cơ bản trước các chi phí này, hữu ích trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động và so sánh giữa các kỳ hoặc giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành về khả năng sinh lời.
Qua bảng số liệu, biên lợi nhuận gộp của tập đoàn tăng mạnh từ 5.82% năm 2015 lên 11.45% năm 2016, tương đương mức tăng 96.59%, và năm 2016 là năm có biên lợi nhuận gộp cao nhất với 11.45%, nghĩa là mỗi đồng doanh thu bán hàng đem lại khoảng 0.11 đồng lợi nhuận gộp Tuy nhiên, từ năm 2016 đến 2019, biên lợi nhuận gộp liên tục sụt giảm; năm 2019 đạt 6.69%, giảm 4.76 điểm phần trăm so với 2016, cho thấy rủi ro trong hoạt động kinh doanh Dù doanh thu thuần vẫn tăng qua các năm, lợi nhuận gộp lại tăng ở mức khiêm tốn, chủ yếu do giá vốn hàng bán tăng mạnh trong khi doanh thu thuần tăng không đáng kể Nguyên nhân chính là giá nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh, và một số dự án được lên kế hoạch, chuẩn bị triển khai nhưng chủ đầu tư ngừng thi công khiến chi phí phía quản lý đã phát sinh nhưng chưa ghi nhận doanh thu cho tập đoàn.
3.4.2 Biên lợi nhuận ròng (ROS: Return on Sales)
Tỷ số này sẽ được tính theo công thức:
Lợi nhuận sau thuế Biên lợi nhuận ròng =
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng doanh thu thuần từ bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng Biên lợi nhuận ròng cho thấy khả năng sinh lời của doanh nghiệp sau khi loại bỏ toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng sinh lời và hiệu quả quản lý chi phí của doanh nghiệp.
Biên lợi nhuận ròng của HBC đạt mức cao nhất vào năm 2017 Mỗi đồng doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ tạo ra 0.05 đồng lợi nhuận, cho thấy biên lợi nhuận vẫn ở mức khả quan dù doanh thu thuần tăng 48.96% so với năm trước Với mức lợi nhuận sau thuế tốt nhất trong 5 năm, năm 2017 cho thấy năng lực quản lý chi phí của HBC được cải thiện đáng kể.
Sau năm 2017, biên lợi nhuận ròng của doanh nghiệp giảm mạnh và đến năm 2019, mỗi đồng doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ chỉ tạo ra 0.02 đồng lợi nhuận Nguyên nhân chủ yếu là cạnh tranh khốc liệt về giá dự thầu, khi ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh trong ngành trên thị trường nội địa, cùng với chi phí nguyên vật liệu tăng trong những năm gần đây Bên cạnh đó, chi phí bảo hiểm xã hội tăng do các quy định mới tại Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, khiến biên lợi nhuận tiếp tục bị thu hẹp.
Biền lợ i nhuậ n gộ p và biền lợ i nhuậ n ròng của HBC 2015 - 2019
Biền lợ i nhuận gộp Biền lợi nhuận ròng
Biều đồ : Biên lợi nhuận gộp và biên lợi nhuận ròng của HBC 2015 - 2019
3.4.3 Hệ số sinh lời trên tài sản (ROA: Return on Assets)
Biểu đồ :Biến động ROA từ 2015 - 2019
Biểu đồ :Biến động ROA từ 2015 - 2019
Tỷ số này sẽ được tính theo công thức:
Lợi nhuận sau thuế TNDN
Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bỏ qua cấu trúc tài chính và tập trung vào mức sinh lời trên mỗi đồng tài sản Chỉ số này cho biết công ty tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận từ một đồng tài sản, phản ánh hiệu suất sử dụng tài sản để sinh lời và đo lường lợi nhuận trên tài sản (ROA).
Nhìn tổng quan 5 năm, ROA của tập đoàn luôn ở mức dưới 7%, cao nhất vào năm 2017 với 6.76%, cho thấy mỗi 100 đồng tài sản đầu tư chỉ tạo ra 6.76 đồng lợi nhuận ròng Theo biểu đồ, giai đoạn 2015-2017 cho thấy ROA tăng trưởng khá tốt và có thể kỳ vọng, nổi bật là năm 2016 với mức tăng 379.12% so với năm trước, cho thấy HBC đã sử dụng tài sản hiệu quả và công ty sẽ được đánh giá cao trên thị trường Tuy nhiên, xu hướng ROA từ 2017 đến 2019 lại liên tục giảm, cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngày càng kém đi Mặc dù tài sản tăng đều hàng năm, nhưng lợi nhuận tạo ra lại không tương xứng, và năm 2019 cho thấy sự yếu đi này khi ROA duy trì ở mức thấp và hiệu quả đầu tư chưa được cải thiện.
Số vòng quay tài sản 0.78 1.15 1.26 1.22 1.14
Lợi nhuận sau thuế TNDN
Doanh thu thuần Lợi nhuận sau thuế
Phương trình trên cho thấy tỷ suất lợi nhuận trên tài sản phụ thuộc 2 yếu tố:
Quy mô LNST của doanh nghiệp được tạo ra từ 1 đồng doanh thu thuần, thể hiện lợi nhuận ròng trên mỗi đồng doanh thu Tỷ suất này gián tiếp phản ánh khả năng quản lý chi phí và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp quản lý chi phí tốt, ROS (lợi nhuận trên doanh thu) có thể tăng lên và từ đó cải thiện ROA (lợi nhuận trên tài sản) Do đó, tối ưu hóa quản lý chi phí và hiệu quả vận hành sẽ giúp tăng LNST, ROS và ROA một cách bền vững.
Quy mô doanh thu thuần trên mỗi đồng vốn đầu tư vào tổng tài sản cho thấy hiệu quả khai thác tổng tài sản của doanh nghiệp Tỷ suất này đo lường mức độ sinh lời từ tài sản và phản ánh cách công ty sử dụng vốn đầu tư để tạo doanh thu Nhờ tăng hiệu quả khai thác tài sản, ROA sẽ được cải thiện, giúp doanh nghiệp tối ưu hoá lợi nhuận trên vốn và tăng giá trị doanh nghiệp.
Biến động của ROA năm 2016 chịu ảnh hưởng lớn từ ROS, khi ROS tăng từ năm 2015 sang 2016 đã tác động tích cực lên ROA và khiến ROA tăng 4,19%, cho thấy tập đoàn đã quản lý chi phí hiệu quả trong giai đoạn 2015–2016 Dù sự biến động của vòng quay tài sản không tác động lớn đến ROA, nó vẫn đóng góp tích cực và giúp ROA tăng thêm 0,61%.
Trong năm 2017, ROA tăng nhẹ 0.7% so với năm trước, cho thấy sự tác động tích cực của vòng quay tài sản và tỷ suất lợi nhuận thuần lên ROA Tuy nhiên năm nay cũng cho thấy công ty đã quản lý chi phí và hiệu quả hoạt động không còn ở mức tốt như trước Khả năng tạo ra lợi nhuận từ tài sản vẫn ảnh hưởng mạnh đến ROA, nhưng so với năm trước, mức đóng góp này đã giảm 3.47%.
Biến động ROA trong hai năm 2018 và 2019 cho thấy hiệu quả hoạt động của công ty ngày càng suy giảm và công tác quản lý chi phí gặp khó khăn khi tỷ suất lợi nhuận thuần ở cả hai năm ảnh hưởng tiêu cực đến ROA, khiến ROA giảm lần lượt 2,42% và 1,38% Hiệu quả sử dụng tổng tài sản cũng không tốt, với vòng quay tài sản có tác động tiêu cực đến ROA Trong hai năm này, công ty đối mặt với chi phí nguyên vật liệu và nhân công tăng cao và các chính sách nới lỏng thu hồi công nợ từ đối tác khiến lợi nhuận sau thuế vẫn chưa được ghi nhận đầy đủ.
3.4.4 Hệ số sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE: Return on Equity)
Biểu đồ :Biến động ROE từ 2015 - 2019
Biềắn độ ng ROE từ 2015-2019
Tỷ số này sẽ được tính theo công thức:
Lợi nhuận sau thuế TNDN
ROE Vốn chủ sở hữu BQ
Chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ vào kinh doanh sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ lệ ROE phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh và biến động của thị trường Bên cạnh đó, nó còn chịu ảnh hưởng bởi quy mô công ty và mức độ rủi ro mà doanh nghiệp đang đối mặt.
Nhìn vào biểu đồ ta sẽ thấy xu hướng ROE từ năm 2015 – 2017 là tăng khá cao, nhất là từ
2016 thì ROE đã tăng 388.8% so với năm trước đó Tỷ số này đạt mức cao nhất vào
Trong năm 2017, với mỗi 100 đồng vốn chủ sở hữu, công ty tạo ra 40.05 đồng lợi nhuận Tuy nhiên, giống như ROA, từ năm 2017 đến 2019 tỷ lệ này liên tục giảm và đến năm 2019 chỉ còn 11.79 đồng lợi nhuận trên mỗi 100 đồng vốn chủ sở hữu Nguyên nhân chính là lợi nhuận sau thuế của công ty ngày càng giảm mạnh trong khi vốn chủ sở hữu tăng lên theo từng năm, cho thấy công ty đã sử dụng vốn chủ sở hữu không hiệu quả để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Số vòng quay tài sản 0.78 1.15 1.26 1.22 1.14
ROS 1.63% 5.28% 5.37% 3.39% 2.18% Đòn bẩy tài chính 6.32 6.45 5.92 5.55 4.74
Lợi nhuận sau thuế TNDN
Doanh thu thuần Lợi nhuận sau thuế Tài sản BQ
Vốn chủ sở hữu BQ X
Phương trình trên cho thấy tỷ suất lợi nhuận trên VCSH phụ thuộc 3 yếu tố:
Ba chỉ số tài chính quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu cho thấy trình độ quản lý doanh thu và chi phí Vòng quay tài sản cho biết mức độ khai thác và sử dụng tài sản, từ đó phản ánh hiệu quả vận hành Hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng quản trị nguồn vốn và cấu trúc vốn phục vụ hoạt động kinh doanh.
Phân tích nhóm tỷ số giá thị trường
3.5.1 Tỷ số lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu (EPS)
Biềốn độ ng EPS từ 2015 - 2019
Tỷ số này sẽ được tính theo công thức:
Lợi nhuận sau thuế TNDN – Cổ tức của CP ưu đãi
EPS Khối lượng CP lưu hành BQ
EPS là chỉ số thể hiện hiệu quả hoạt động của công ty và được sử dụng để đánh giá định giá cổ phiếu Khi tính EPS, người ta thường dùng khối lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong kỳ báo cáo nhằm đảm bảo kết quả chính xác, vì số lượng cổ phiếu lưu hành có thể thay đổi theo thời gian EPS được xem là chỉ số quan trọng nhất trong việc xác định giá cổ phiếu và là thành phần chính để tính toán chỉ số P/E (tỷ lệ giá trên lợi nhuận mỗi cổ phiếu).
Qua biểu đồ EPS, năm 2017 là đỉnh cao trong 5 năm với EPS đạt 6.67 đồng/CP; năm 2015 là năm có EPS thấp nhất với 0.9 đồng/CP, nhưng từ 2015 đến 2017 EPS tăng liên tục, trong đó tăng 394.69% từ năm 2015 sang năm 2016 là mức tăng rất lớn Nguyên nhân chính là lợi nhuận của công ty tăng mạnh trong 3 năm này, trong khi số lượng cổ phiếu phát hành bình quân mỗi năm không tăng nhiều; từ 2016 sang 2017 lượng cổ phiếu tăng chỉ 0.93% Tuy nhiên, từ năm 2017 đến cuối năm 2019 EPS có xu hướng giảm liên tục và đến năm 2019 chỉ còn 1.85 đồng/CP, nguyên nhân là lợi nhuận giảm trong các năm gần đây, nhưng số cổ phiếu được phát hành mỗi năm vẫn tăng để công ty giảm đòn bẩy tài chính và tăng vốn chủ sở hữu.
3.5.2 Tỷ số giá trên thu nhập của mỗi cổ phiếu (P/E)
Tỷ số này sẽ được tính theo công thức:
P/E = Lợi nhuận sau thuế TNDN – Cổ tức của CP ưu đãi
Khối lượng CP lưu hành BQ
P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường và thu nhập trên mỗi cổ phiếu, cho thấy mức giá nhà đầu tư sẵn sàng trả cho mỗi đồng lợi nhuận cổ phiếu Nói cách khác, P/E phản ánh định giá cổ phiếu dựa trên lợi nhuận mà công ty tạo ra, giúp nhà đầu tư đánh giá xem cổ phiếu đang được định giá cao hay thấp so với tiềm năng sinh lời Đây là chỉ số hữu ích để so sánh định giá giữa các công ty cùng ngành và theo dõi biến động giá cổ phiếu dựa trên hiệu suất lợi nhuận.
Nhìn biểu đồ biến động P/E, ta thấy năm 2015 là năm có mức P/E cao nhất Tuy nhiên, khi phân tích tổng thể các chỉ số ở phần trên và tình hình lợi nhuận của công ty, ta nhận ra mức P/E cao không phải lúc nào cũng phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư về tăng trưởng thu nhập từ cổ phiếu, mà đôi khi xuất phát từ tình trạng kinh doanh kém hiệu quả của công ty năm 2015, khiến EPS chỉ đạt 0.9 Do đó, chỉ số P/E cao ở năm này phản ánh một bối cảnh lợi nhuận không thuận lợi thay vì tiềm năng tăng trưởng mạnh.
Trong giai đoạn 2016–2019, tỷ lệ này giảm xuống và dao động khá ít, đạt đỉnh 6.85 vào năm 2016 và thấp nhất 5.73 vào năm 2018 Nhìn vào 4 năm này cho thấy cổ phiếu HBC đang bị định giá thấp so với giá trị thực và đây là cơ hội cho các nhà đầu tư mạo hiểm nhắm tới lợi nhuận từ sự định giá rẻ của cổ phiếu HBC.